1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Vấn đề kiểm soát kê khai tài sản, thu nhập theo Luật Phòng chống tham nhũng

15 166 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 76,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.” Kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong PCTN là “tổng thể những biện

Trang 1

M c L c ụ ụ

Danh mục viết tắt

PCTN: Phòng chống tham nhũng

HĐND: Hội đồng nhân dân

UBND: Ủy ban nhân dân

Trang 2

A Mở đầu

Kê khai tài sản, thu nhập được xác định là một trong những giải pháp quan trọng trong công tác phòng ngừa tham nhũng Trong thời gian qua việc kê khai tài sản, thu nhập ở Việt Nam đang ngày càng được hoàn thiện về hành lang pháp lý, đạt được những kết quả bước đầu trong thực tế triển khai.Tuy nhiên, việc kê khai tài sản, thu nhập ở Việt Nam vẫn chưa đạt được mục đích và

sự kỳ vọng của xã hội Kê khai tài sản, thu nhập vẫn còn rất hình thức và mang tính đối phó Việc kê khai tài sản, thu nhập cần được nhìn nhận và thực thi một cách nghiêm túc với nhiều giải pháp Việc thực hiện kê khai tài sản, thu nhập là một vấn đề không chỉ có ở Việt Nam mà được thực hiện ở nhiều quốc gia trên thế giới.Pháp luật của nhiều nước quy định công chức, nhất là công chức giữ vai trò lãnh đạo, quản lý phải thực hiện việc kê khai tài sản, thu nhập Thời điểm

kê khai tài sản, thu nhập ở mỗi nước khác nhau như: trước khi tuyển dụng, đề bạt, bầu cử; sau khi tuyển dụng, đề bạt, bầu cử; kê khai hàng năm và công bố công khai kết quả kê khai cho người dân biết Ở Việt Nam, việc kê khai tài sản, thu nhập lần đầu tiên được luật hóa trong Pháp lệnh chống tham nhũng năm 1998 do Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa X ban hành Điều 14 trong Pháp lệnh quy định: “Người có chức vụ, quyền hạn phải kê khai nhà, đất và các loại tài sản khác có giá trị lớn của mình Người kê khai phải kê khai chính xác, trung thực và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung kê khai” Sau khi có Pháp lệnh, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 64/1998/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Pháp lệnh, trong đó có nội dung về kê khai tài sản (các văn bản ở thời điểm này chưa đề cập đến vấn đề kê khai thu nhập mà chỉ quy định kê khai tài sản) Nhìn chung, kê khai tài sản ở các văn bản pháp luật này còn đơn giản, chung chung, chưa đầy đủ, nhiều hạn chế Sau này Quốc hội, Chính phủ và các ngành chức năng đã xây dựng,

bổ sung nhiều văn bản pháp luật liên quan đến việc kê khai tài sản, thu nhập điển hình là Luật Phòng chống tham nhũng 2018 Chính vì vậy, em xin chọn đề tài “Vấn đề kiểm soát kê khai tài sản, thu nhập theo Luật Phòng chống tham nhũng”

Trang 3

B Nội dung Chương I Khái quát chung

I Khái niệm

Theo từ điển Tiếng Việt: “Kiểm soát” là xem xét để phát hiện, ngăn chặn những gì trái với quy định; “Thu nhập” là nhận được tiền bạc, của cải, vật chất từ một hoạt động nào đó Thu

nhập chỉ tồn tại dưới hai hình thức là bằng tiền và tài sản có giá trị Tiền có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ, tiền mặt, tiền séc Tài sản có giá có thể là bất cứ của cải, vật chất nào có giá trị hoặc

các chứng chỉ có giá khác Và theo Khoản 2 Điều 3 Luật Phòng chống tham nhũng 2018 “Người

có chức vụ, quyền hạn là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do tuyển dụng, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó”.

Theo Điều 105 Bộ luật Dân sự 2015 thì “tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản; Tài sản bao gồm bất động sản và động sản Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.”

Kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong PCTN là “tổng thể những biện pháp, cách thức mà Nhà nước sử dụng để theo dõi (biết được) số lượng, nguồn gốc tài sản

và giám sát sự biến động về tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn nhằm ngăn ngừa các chủ thể lợi dụng chức vụ, quyền hạn để tham nhũng; phát hiện và xử lý hành vi tham

nhũng”.

Từ những phân tích nêu trên, có thể đưa ra quan niệm về kiểm soát thu nhập của người có

chức vụ, quyền hạn trong khu vực tư như sau: “Kiểm soát thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn là tổng thể những biện pháp, cách thức mà Nhà nước sử dụng để biết được biến động về tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong khu vực tư nhằm phát hiện, ngăn chặn việc người có chức vụ, quyền hạn nhận tiền bạc, của cải, vật chất trái quy định của pháp luật hoặc

sử dụng tài sản của mình để thực hiện hành vi tham nhũng”.

II Đối tượng kiểm soát kê khai tài sản, thu nhập

Theo Điều 34 Luật Phòng chống tham nhũng 2018 thì đối tượng có nghĩa vụ kê khai tài sản gồm:

a Cán bộ, công chức

b Sĩ quan Công an nhân dân; sĩ quan Quân đội nhân dân, quân nhân chuyên nghiệp

Trang 4

c Người giữ chức vụ từ Phó trưởng phòng và tương đương trở lên công tác tại đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước, người được cử làm đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp

d Người ứng cử đại biểu Quốc hội, người ứng cử đại biểu HĐND

III Mục đích của kiểm soát kê khai tài sản, thu nhập

Trong nền công vụ hiện đại, việc kê khai, kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn sẽ góp phần minh bạch hóa hoạt động hệ thống công vụ; ngăn chặn, phòng ngừa những hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn vì động cơ vụ lợi Theo đó, người có chức vụ, quyền hạn có trách nhiệm kê khai, giải trình và chứng minh thu nhập của mình theo đúng quy định của pháp luật Bên cạnh đó, việc kê khai, kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn cũng được coi là một trong những biện pháp ngăn chặn sự dịch chuyển bất hợp pháp, tẩu tán tài sản Đây còn là biện pháp góp phần phòng ngừa, đấu tranh phòng, chống tham nhũng

(PCTN) Thực hiện có hiệu quả việc kê khai, kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn sẽ góp phần xây dựng chế độ công vụ liêm chính, công khai, minh bạch và hiệu quả

IV Quan điểm, chủ trương của Đảng về kê khai, kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn

Nhận thức được ý nghĩa và vai trò của việc kê khai, kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn, Đảng ta đã sớm quan tâm và có những chủ trương và biện pháp để thực hiện

có hiệu quả vấn đề này Nghị quyết số 04-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã chỉ rõ: “Thực hiện nghiêm việc kê khai tài sản, thu nhập theo quy định; xây dựng và hoàn thiện cơ chế giải trình và giám sát việc tăng giảm tài sản của cán bộ, đảng viên Cơ quan đề xuất đề bạt, bổ nhiệm cán bộ phải tiến hành thẩm định, xác minh, đánh giá tính trung thực của việc kê khai tài sản, thu nhập và công khai theo quy định” Chỉ thị số 33-CT/TW ngày 03/01/2014 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc kê khai và kiểm soát việc kê khai tài sản, Quy định số 85-QĐ/TW ngày 23/5/2017 của Bộ Chính trị về kiểm tra, giám sát việc kê khai tài sản của cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý, thể hiện tinh thần nêu gương và yêu cầu nêu gương đối với cán bộ cấp cao trong công tác kê khai và kiểm tra, giám sát việc kê khai tài sản Thể chế hóa quan điểm của Đảng về kê khai, kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn, Nhà nước đã ban hành nhiều quy định pháp luật, bảo đảm thực hiện có hiệu quả việc kê khai, tài sản thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn như Luật PCTN năm 2005, (sửa đổi, bổ sung năm 2007 và 2012) và gần đây là Luật PCTN năm 2018, Luật Cán bộ, công chức năm 2008, Luật Viên chức năm 2010, Luật Đấu thầu năm 2013, Luật Thanh tra năm 2010, Luật Phòng, chống rửa tiền năm

2012, Luật Thuế thu nhập cá nhân năm 2012, Luật Kiểm toán năm 2014, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Bộ luật Hình sự năm 2015…

Trang 5

Chương II Pháp luật về kiểm soát kê khai tài sản, thu nhập

I Pháp luật về kiểm soát kê khai tài sản, thu nhập theo Luật Phòng chống tham nhũng 2018

1 Nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập

Điều 33 Luật phòng, chống tham nhũng năm 2018 quy định nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập như sau:

- Người có nghĩa vụ kê khai phải kê khai tài sản, thu nhập và biến động về tài sản, thu nhập của mình, của vợ hoặc chồng, con chưa thành niên theo quy định của Luật phòng, chống tham nhũng

- Người có nghĩa vụ kê khai phải kê khai trung thực về tài sản, thu nhập, giải trình trung thực về nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm theo trình tự, thủ tục quy định tại Luật này và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc kê khai tài sản, thu nhập

2 tài sản, thu nhập nào phải kê khai

Theo Điều 35 Luật phòng, chống tham nhũng năm 2018 những tài sản, thu nhập sau phải kê khai:

- Quyền sử dụng đất, nhà ở, công trình xây dựng và tài sản khác gắn liền với đất, nhà ở, công trình xây dựng;

- Kim khí quý, đá quý, tiền, giấy tờ có giá và động sản khác mà mỗi tài sản có giá trị từ

50.000.000 đồng trở lên;

- Tài sản, tài khoản ở nước ngoài;

- Tổng thu nhập giữa 02 lần kê khai

3 Phương thức và thời điểm kê khai tài sản, thu nhập

Theo quy định tại Điều 36 Luật phòng, chống tham nhũng năm 2018 quy định về phương thức và thời điểm kê khai tài sản, thu nhập như sau:

Kê khai lần đầu được thực hiện đối với những trường hợp sau đây:

- Người đang giữ vị trí công tác (gồm cán bộ, công chức; Sĩ quan Công an nhân dân; sĩ quan Quân đội nhân dân, quân nhân chuyên nghiệp; Người giữ chức vụ từ Phó trưởng phòng và tương

Trang 6

đương trở lên công tác tại đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước, người được cử làm đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp) tại thời điểm Luật này có hiệu lực thi hành Việc

kê khai phải hoàn thành trước ngày 31 tháng 12 năm 2019;

- Người lần đầu giữ vị trí công tác (gồm cán bộ, công chức; Sĩ quan Công an nhân dân; sĩ quan Quân đội nhân dân, quân nhân chuyên nghiệp; Người giữ chức vụ từ Phó trưởng phòng và tương đương trở lên công tác tại đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước, người được cử làm đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp) Việc kê khai phải hoàn thành chậm nhất là 10 ngày kể từ ngày được tiếp nhận, tuyển dụng, bố trí vào vị trí công tác

Kê khai bổ sung được thực hiện khi người có nghĩa vụ kê khai có biến động về tài sản, thu nhập trong năm có giá trị từ 300.000.000 đồng trở lên Việc kê khai phải hoàn thành trước ngày

31 tháng 12 của năm có biến động về tài sản, thu nhập, trừ trường hợp đã kê khai hàng năm

Kê khai hằng năm được thực hiện đối với những trường hợp sau đây:

- Người giữ chức vụ từ Giám đốc sở và tương đương trở lên Việc kê khai phải hoàn thành trước ngày 31 tháng 12;

- Người không thuộc quy định tại điểm a khoản này làm công tác tổ chức cán bộ, quản lý tài chính công, tài sản công, đầu tư công hoặc trực tiếp tiếp xúc và giải quyết công việc của cơ quan,

tổ chức, đơn vị, cá nhân khác theo quy định của Chính phủ Việc kê khai phải hoàn thành trước ngày 31 tháng 12

Kê khai phục vụ công tác cán bộ được thực hiện đối với những trường hợp sau đây:

- Cán bộ, công chức; Sĩ quan Công an nhân dân; sĩ quan Quân đội nhân dân, quân nhân chuyên nghiệp; Người giữ chức vụ từ Phó trưởng phòng và tương đương trở lên công tác tại đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước, người được cử làm đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp có nghĩa vụ kê khai khi dự kiến bầu, phê chuẩn, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, cử giữ chức vụ khác Việc kê khai phải hoàn thành chậm nhất là 10 ngày trước ngày dự kiến bầu, phê chuẩn, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, cử giữ chức vụ khác;

- Người ứng cử đại biểu Quốc hội, người ứng cử đại biểu HĐND có nghĩa vụ kê khai Thời điểm

kê khai được thực hiện theo quy định của pháp luật về bầu cử

4 Tổ chức việc kê khai tài sản, thu nhập

Theo Điều 37 Luật phòng, chống tham nhũng thì việc tổ chức việc kê khai tài sản, thu nhập được thực hiện như sau:

- Cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý, sử dụng người có nghĩa vụ kê khai tổ chức việc kê khai tài sản, thu nhập như sau:

a) Lập danh sách người có nghĩa vụ kê khai và gửi cho Cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập có thẩm quyền;

Trang 7

b) Hướng dẫn việc kê khai tài sản, thu nhập cho người có nghĩa vụ kê khai;

c) Lập sổ theo dõi kê khai, giao, nhận bản kê khai

- Người có nghĩa vụ kê khai có trách nhiệm kê khai theo mẫu và gửi bản kê khai cho cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý, sử dụng người có nghĩa vụ kê khai

5 Tiếp nhận, quản lý, bàn giao bản kê khai tài sản, thu nhập

Theo Điều 38 việc tiếp nhận, quản lý, bàn giao bản kê khai tài sản, thu nhập được thực hiện như sau:

- Cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý, sử dụng người có nghĩa vụ kê khai có trách nhiệm tiếp nhận, quản lý bản kê khai

- Trường hợp bản kê khai không đúng theo mẫu hoặc không đầy đủ về nội dung thì cơ quan, tổ chức, đơn vị yêu cầu kê khai bổ sung hoặc kê khai lại Thời hạn kê khai bổ sung hoặc kê khai lại

là 07 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu, trừ trường hợp có lý do chính đáng

- Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được bản kê khai, cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý, sử dụng người có nghĩa vụ kê khai rà soát, kiểm tra bản kê khai và bàn giao 01 bản kê khai cho Cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập có thẩm quyền

6 Việc công khai bản kê khai tài sản, thu nhập

Điều 39 Luật phòng, chống tham nhũng năm 2018 qiu định việc công khai bản kê khai tài sản, thu nhập như sau:

- Bản kê khai của người có nghĩa vụ kê khai phải được công khai tại cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người đó thường xuyên làm việc

- Bản kê khai của người dự kiến được bổ nhiệm giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý tại cơ quan, tổ chức, đơn vị phải được công khai tại cuộc họp lấy phiếu tín nhiệm

- Bản kê khai của người ứng cử đại biểu Quốc hội, người ứng cử đại biểu HĐND phải được công khai theo quy định của pháp luật về bầu cử

- Bản kê khai của người dự kiến bầu, phê chuẩn tại Quốc hội, HĐND phải được công khai với đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND trước khi bầu, phê chuẩn Thời điểm, hình thức công khai được thực hiện theo quy định của Ủy ban Thường vụ Quốc hội

- Bản kê khai của người dự kiến bầu giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý tại doanh nghiệp nhà nước được công khai tại cuộc họp lấy phiếu tín nhiệm khi tiến hành bổ nhiệm hoặc tại cuộc họp của Hội đồng thành viên khi tiến hành bầu các chức vụ lãnh đạo, quản lý

Trang 8

II Những điểm mới về kiểm soát kê khai tài sản, thu nhập của Luật Phòng chống tham nhũng 2018

1 Mở rộng đối tượng phải kê khai tài sản, thu nhập.

Một trong những điểm mới của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 là mở rộng đối tượng phải kê khai tài sản, thu nhập Những người có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập được Luật này quy định tại Điều 34 Theo đó, các đối tượng phải kê khai tài sản, thu nhập không còn được gói gọn ở “một số cán bộ, công chức” như quy định tại Luật cũ, mà được mở rộng gồm: Cán bộ, công chức; Sĩ quan công an nhân dân; sĩ quan quân đội nhân dân, quân nhân chuyên nghiệp; Người giữ chức vụ từ Phó trưởng phòng và tương đương trở lên công tác tại các đơn vị

sự nghiệp công lập, doanh nghiệp Nhà nước, người được cử làm đại diện phần vốn Nhà nước tại doanh nghiệp; Người ứng cử đại biểu Quốc hội, ứng cử đại biểu HĐND (HĐND)

Bên cạnh đó, ngoài các loại tài sản, thu nhập phải kê khai như quy định trước đây, như: Nhà, đất; kim khí quý, đá quý, tiền, giấy tờ có giá mà mỗi tài sản có giá trị từ 50 triệu đồng trở lên; tài sản, tài khoản ở nước ngoài Luật mới yêu cầu các đối tượng nêu trên còn phải kê khai thêm công trình xây dựng và tài sản khác gắn liền với đất, nhà ở, công trình xây dựng Đồng thời, các đối tượng còn phải kê khai cả tổng thu nhập giữa 2 lần kê khai

Theo Khoản 2 Điều 36, người có nghĩa vụ kê khai phải thực hiện kê khai bổ sung khi có biến động về tài sản, thu nhập trong năm có giá trị từ 300 triệu đồng trở lên Trường hợp có biến động tài sản như trên mà không giải trình hợp lý về nguồn gốc tài sản, cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập có trách nhiệm xác minh Thời điểm kê khai tài sản, thu nhập trước ngày 31/12 Bản kê khai tài sản, thu nhập phải được công khai tại cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người đó thường xuyên làm việc

Một điểm mới cũng nhận được sự quan tâm khá nhiều của dư luận đó là, kê khai không trung thực có thể bị buộc thôi việc Theo Khoản 3 Điều 51, cán bộ, công chức kê khai không trung thực về tài sản, thu nhập có thể bị xử lý kỷ luật bằng một trong các hình thức: Cảnh cáo, hạ bậc lương, giáng chức, cách chức, buộc thôi việc hoặc bãi nhiệm

2 Phòng, chống tham nhũng trong doanh nghiệp, khu vực ngoài nhà nước.

Quy định phòng, chống tham nhũng trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước được quy định tại Chương VI So với luật hiện hành, đây là chuwng mới, nội dung mới của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, thể hiện sự nhấn mạnh vai trò của doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước trong phòng, chống tham nhũng Luật này quy định trách nhiệm của tất

cả doanh nghiệp, tổ chức kinh tế nói chung trong việc xây dựng quy tắc đạo đức nghề nghiệp, quy tắc đạo đức kinh doanh, quy tắc ứng xử, cơ chế kiểm soát nội bộ nhằm phòng ngừa tham nhũng Bên cạnh đó, Luật Phòng, chống tham nhũng 2018 quy định việc áp dụng Luật đối với các công ty đại chúng, tổ chức tín dụng, tổ chức xã hội do Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Nội vụ hoặc Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định thành lập hoặc phê duyệt điều lệ có huy động các khoản đóng góp của nhân dân Điều 80 của Luật này quy định các doanh nghiệp, tổ chức này phải áp dụng các quy định về công khai, minh bạch trong tổ chức và hoạt động; kiểm soát xung đột lợi ích; chế độ trách nhiệm của người đứng đầu Đồng thời, Luật cũng giao Chính phủ quy

Trang 9

định chi tiết về việc áp dụng các biện pháp phòng, chống tham nhũng trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước Luật cũng quy định về thanh tra việc thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng đối với doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước, quy định tại Điều 81

3 Nhiều quy định mới về xử lý tham nhũng.

Về việc xử lý tham nhũng và các hành vi khác vi phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng, quy định tại Chương IX Đây là chương có nhiều nội dung mới được bổ sung, thể hiện sự nghiêm minh trong xử lý tham nhũng và các hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng, tăng cường hiệu quả thực thi Luật Phòng, chống tham nhũng và hiệu quả của công tác phòng chống tham nhũng

Đối với xử lý tham nhũng, so với Luật hiện hành, Luật Phòng, chống tham nhũng 2018 đã quy định rõ các nguyên tắc về xử lý tham nhũng (từ điều 92 đến Điều 93) Đối với xử lý hành vi khác

vi phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng, Luật Phòng, chống tham nhũng 2018 đã bổ sung quy định về liệt kê các hành vi khác vi phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng và quy định mang tính nguyên tắc xử lý đối với các hành vi này Điều 95 của Luật cũng quy định xử lý hành

vi khác vi phạm quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước

4 Cơ quan xảy ra tham nhũng, người đứng đầu phải chịu trách nhiệm.

Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 đã quy định thành một chương riêng và sửa đổi, bổ sung nhằm cụ thể hóa và đề cao vai trò của người đứng đầu Theo đó, quy định nội dung trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trong phòng, chống tham nhũng (Điều 70); quy định trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trong việc áp dụng biện pháp tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển sang vị trí công tác khác (Điều 71) Điều 72 của Luật Phòng, chống tham nhũng cũng quy định về trách nhiệm của người đứng đầu và cấp phó khi để xảy ra tham nhũng trong cơ quan, tổ chức do mình quản lý, phụ trách Cụ thể: Người đứng đầu phải chịu trách nhiệm trực tiếp nếu người do mình trực tiếp quản lý, giao nhiệm vụ tham nhũng; Cấp phó phải chịu trách nhiệm trực tiếp nếu xảy ra tham nhũng trong lĩnh vực công tác và trong đơn vị do mình được giao trực tiếp phụ trách; người đứng đầu phải chịu trách nhiệm liên đới

Luật quy định như vậy nhằm tiếp tục thể chế hóa các chủ trương, Nghị quyết của Đảng về phòng, chống tham nhũng, đặc biệt là từng bước mở rộng hoạt động này ra khu vực ngoài nhà nước, kiểm soát có hiệu quả về tài sản, thu nhập của người có chức vụ quyền hạn Việc mở rộng phạm vi phòng, chống tham nhũng ra khu vực ngoài Nhà nước gồm nhiều nội dung là chương mới, nội dung mới, thể hiện sự nhấn mạnh vai trò của doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước trong phòng chống tham nhũng

Trang 10

Chương III: Thực tế việc kiểm soát kê khai tài sản, thu nhập tại Việt

Nam

I Thực trạng tổ chức kê khai tài sản, thu nhập

Công tác kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức, viên chức trong thời gian qua đã được đánh giá, tổng kết, theo đó, một số kết quả ban đầu đã được chỉ ra như: việc kê khai tài sản, thu nhập ở các cơ quan, tổ chức, đơn vị trên địa bàn cả nước đã được tiến hành khá thường xuyên, đều đặn hàng năm; những hạn chế và lúng túng trong triển khai thực hiện, kê khai không đúng trình tự, thủ tục đã được các cơ quan, tổ chức, đơn vị bước đầu khắc phục; việc chấp hành

về thời hạn kê khai, báo cáo kết quả kê khai đã có những chuyển biến tích cực; việc kê khai tài sản, thu nhập, trả lương qua tài khoản đã được triển khai rộng rãi, có tác động, tạo sự chuyển biến về ý thức, hành động của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; tính tự giác và trách nhiệm của các đối tượng trong diện phải kê khai tài sản, thu nhập đã có dấu hiệu được nâng lên; việc kê khai tài sản, thu nhập đã có những tác dụng ở góc độ giúp công tác quản lý cán bộ, công chức, viên chức chặt chẽ hơn…

Tuy nhiên, kê khai tài sản, thu nhập vẫn chưa đạt mục đích và đáp ứng sự kỳ vọng của nhân dân Những cụm từ được nhắc đến nhiều là: “hình thức”, “đối phó”, “kê nhưng không khai”,

“Lãng phí và tốn kém”.v.v đã phần nào phản ánh những bất cập, hạn chế, yếu kém trong việc tổ chức kê khai tài sản, thu nhập thời gian qua ở nước ta Những hạn chế, bất cập trong kê khai tài sản, thu nhập là:

- Theo quy định, ngoài việc kê khai tài sản thuộc quyền sở hữu cá nhân thì người có nghĩa vụ kê khai tài sản phải kê khai tài sản, mọi biến động về tài sản thuộc sở hữu của vợ hoặc chồng và con chưa thành niên Theo đó, người có nghĩa vụ kê khai tài sản chuyển tài sản của mình cho con đã thành niên (chưa kể chuyển cho các đối tượng khác), nhất là trong trường hợp người con này không thuộc diện kê khai tài sản thì cũng không thể đánh giá, giám sát một cách chính xác tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai Mặt khác, trong các quy định của pháp luật mới chỉ nhấn mạnh đến việc phải xác minh tài sản, thu nhập trong các trường hợp “có vấn đề” theo quy định Vì thế, các bản kê khai hầu như không có xác minh, đánh giá, kết luận

- Việc tổ chức kê khai tài sản, thu nhập được tiến hành trong thời gian qua vẫn nặng về có kê khai nhưng không công khai Số cơ quan, đơn vị công khai các bản kê khai còn ít và chưa làm theo đúng quy định Do đó, cán bộ, công chức, viên chức cơ quan, đơn vị và nhân dân hầu như không nắm được số liệu kê khai tài sản, thu nhập của các đối tượng có nghĩa vụ kê khai Điều này dẫn đến khó khăn trong việc so sánh, đánh giá đúng những tài sản mà người có nghĩa vụ kê khai đang sở hữu Do đó, việc kê khai đúng hay không, hợp lý hay không hợp lý khó định danh được chính xác

- Việc kê khai tài sản, thu nhập còn bỏ ngỏ khâu kiểm tra, xác minh, đánh giá, kết luận Người có nghĩa vụ kê khai đã “tự giác” kê khai theo bản mẫu quy định Tuy nhiên, nội dung kê khai hầu như không được bộ phận chức năng kiểm tra, xác minh, đánh giá và kết luận Vì thế, người có nghĩa vụ kê khai luôn tâm niệm “đến hẹn lại lên” với việc kê khai tài sản, thu nhập hàng năm Báo cáo tại Hội nghị tổng kết 10 năm thực hiện Luật phòng, chống tham nhũng ngày 12/7/2016

Ngày đăng: 21/05/2020, 15:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w