1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quyền tự do ngôn luận trên internet trong pháp luật và thực tiễn việt nam

108 98 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với xu thế toàn cầu hóa hiện nay và với những yêu cầu mới đặt ra trong thời đại công nghệ số, việc phân tích thực tiễn và hệ thống pháp luật hiện hành của Việt Nam qua đó đề xuất các giả

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TSBùi Tiến Đạt

HÀ NỘI- 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Những số liệu, ví dụ và trích dẫn được nêu trong luận văn là trung thực, bảo đảm tính chính xác, tin cậy Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Tác giả luận văn

Nguyễn Minh Vọng

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: 8

LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THẾ GIỚI VỀ QUYỀN TỰ DO NGÔN LUẬN TRÊN INTERNET 8

1.1 Khái niệm và các hình thức biểu đạt của quyền tự do ngôn luận 8

1.2 Khái niệm quyền tự do ngôn luận trên internet 11

1.3 Pháp luật một số nước về quyền tự do ngôn luận trên internet và bài học kinh nghiệm 29

Kết luận chương 1 38

CHƯƠNG 2: 40

PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN VỀ QUYỀN TỰ DO NGÔN LUẬN TRÊN INTERNET Ở VIỆT NAM 40

2.1 Quyền tự do ngôn luận trên internet theo pháp luật Việt Nam 40

2.2 Thực tiễn về việc thực hiện và bảo đảm quyền tự do ngôn luận trên internet ở Việt Nam hiện nay 64

Kết luận Chương 2 78

CHƯƠNG 3: 80

GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM QUYỀN TỰ DO NGÔN LUẬN TRÊN INTERNET Ở VIỆT NAM 80

3.1 Nhóm các giải pháp chung 80

3.2 Nhóm các giải pháp cụ thể 84

Kết luận Chương 3 95

KẾT LUẬN 96

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ NGỮ VIẾT TẮT

- ARPA: Advanced Research Projects Agency (Cơ quan quản lý dự án nghiên cứu phát triển)

- BTTTT: Bộ Thông tin & Truyền thông

- ICCPR: International Covenant on Civil and Political Rights (Công ƣớc Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị)

- TCP/IP: Transmission Control Protocol/Internet Protocol (bộ giao thức liên mạng)

- WAN: Wide area network (Mạng diện rộng)

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

“Nếu có một quyền có giá trị hơn tất cả các quyền khác trong một xã hội dân chủ, thì đó chính là quyền tự do ngôn luận” [10, tr.36] - đây là nhận

định của Ông Melvin Urofsky, một Giáo sư lịch sử và chính sách công nổi tiếng người Mỹ Thật vậy, tự do ngôn luận và tự do báo chí là những quyền rất thiết yếu và là mục tiêu đấu tranh của các lực lượng tiến bộ tại nhiều quốc gia từ nhiều thế kỷ qua Những quyền này được gọi là “quyền bảo vệ quyền”, vì nếu không có chúng là thiếu đi một phương tiện quan trọng để bảo vệ các quyền khác [5,tr.307]

Quyền tự do ngôn luận là nền tảng mà không có nó, nhiều quyền con người khác cũng không được thực hiện Nó là một quyền cơ bản của con người không phân biệt về văn hóa, chính trị, tôn giáo, dân tộc hay các yếu

tố khác Quyền được giữ quan điểm và tự do ngôn luận là cơ sở để thực hiện đầy đủ nhiều quyền con người khác, ví dụ để hưởng quyền tự do hội họp, lập hội, quyền bầu cử, ứng cử thì quyền tự do ngôn luận là cơ sở để con người thực hiện đầy đủ các quyền này

Tự do ngôn luận theo cách truyền thống được thể hiện qua báo chí, thông qua biểu diễn nghệ thuật, hình ảnh… và nhiều hình thức biểu đạt mang tính cá nhân khác như nói, viết hay ngôn ngữ ký hiệu Tuy nhiên, trong thời đại công nghệ số hiện nay, thời đại của công nghệ 4.0 thì việc sử dụng phương tiện mạng internet để truyền tải thông tin là rất phổ biến Sự phát triển của mạng internet cho phép hình thành mạng lưới toàn cầu để trao đổi thông tin mà không nhất thiết phải dựa trên các hình thức truyền thông đại chúng phổ biến Nhận thức rõ điều này, Liên minh châu Âu đã ban hành khuyến nghị về tự do internet, trong đó trọng tâm là bảo đảm quyền tự do biểu đạt, quyền tự do hội họp, quyền riêng tư và quyền được hưởng chế tài hữu hiệu trên môi trường internet Như vậy, với sự ra đời và

Trang 7

phát triển của mạng internet đã trở thành một công cụ hữu dụng để con người thể hiện quyền tự do ngôn luận của mình

Sau khi trở thành thành viên Liên Hợp Quốc, Việt Nam đã từng bước tham gia hầu hết các Công ước quốc tế về quyền con người, trong đó có Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị ngày 16/12/1966, có hiệu lực từ ngày 23/3/1976 (Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam gia nhập ngày 24/9/1982) Việt Nam đã từng bước nội luật hóa các quy định của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, trong đó, quyền tự

do ngôn luận được ghi nhận không chỉ ở đạo luật có giá trị pháp lý cao nhất

là Hiến pháp mà còn được chi tiết hóa trong các văn bản pháp luật khác có liên quan Tuy nhiên ngay trong pháp luật và thực tế cũng còn có những điểm hạn chế nhất định cần được tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện để có thể đảm bảo việc ghi nhận, thực hiện đầy đủ quyền tự do ngôn luận nói chung

và quyền tự do ngôn luận trên internet nói riêng phù hợp với các quy định

và các giá trị phổ quát của quyền con người

Với xu thế toàn cầu hóa hiện nay và với những yêu cầu mới đặt ra trong thời đại công nghệ số, việc phân tích thực tiễn và hệ thống pháp luật hiện hành của Việt Nam qua đó đề xuất các giải pháp hướng đến hoàn thiện

hệ thống pháp luật, các cơ chế nhằm mục đích bảo vệ các quyền cơ bản của con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận trên internet, hiện là một yêu

cầu hết sức cần thiết Trong bối cảnh đó, học viên lựa chọn đề tài “Quyền tự

do ngôn luận trên internet trong pháp luật và thực tiễn Việt Nam” để thực

hiện luận văn thạc sĩ, với mong muốn nghiên cứu, phân tích, đánh giá một cách toàn diện các vấn thực tiễn và thực trạng pháp luật Việt Nam về quyền

tự do ngôn luận trên mạng internet, từ đó có những đề xuất các giải pháp hướng đến bảo đảm, bảo vệ quyền tự do ngôn luận trên internet

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong quá trình tìm hiểu, đã có một số công trình khoa học, bài nghiên

Trang 8

cứu liên quan tới nội dung quyền tự do ngôn luận trên internet Trong đó phải

kể đến Luận văn “Quyền tự do ngôn luận thông qua mạng xã hội ở Việt Nam

hiện nay” của tác giả Hoàng Đức Nhã (2016), Học viện Khoa học xã hội

Những công trình, bài nghiên cứu này chủ yếu nêu lên nội dung lý luận về tự

do ngôn luận nói chung, có đề cập đến tự do ngôn luận trong môi trường mạng xã hội nhưng với tính cách là một hiện tượng mang tính xã hội, đồng thời tập trung nhiều vào các biện pháp mang tính quản lý thông tin nhiều hơn, mà chưa đi sâu vào phân tích cụ thể về quyền tự do ngôn luận trên internet với tư cách là quyền con người cả dưới góc độ lý luận và góc độ pháp lý, thực tiễnViệt Nam

Theo đó, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách tổng thể, toàn diện và chuyên sâu về chủ đề này dưới góc độ nhân quyền cả về mặt lý luận

và thực tiễn Cụ thể, có thể kể đến một số sách tham khảo, luận văn, bài tạp chí tiêu biểu sau đây:

- Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội (2018), Phạm vi và giới hạn

của Tự do internet, Nxb Chính trị quốc gia sự thật;

- Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội (2012), Giới thiệu Công ước

quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, Nxb Hồng Đức;

- Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội (2015), Giới hạn chính đáng

đối với các quyền con người, quyền công dân trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, Nxb Hồng Đức;

- Hoàng Đức Nhã (2016), Quyền tự do ngôn luận thông qua mạng xã

hội ở Việt Nam hiện nay, Luận văn Thạc sĩ luật học – Học viện Khoa học xã

hội;

- Lê Minh Dũng (2016), “Cơ sở pháp lý của quyền tự do ngôn luận”,

Tạp chí Nghề luật;

- Nguyễn Hoàng Thanh (2016),“Hoàn thiện quy định về quyền tự do

báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí của công dân nhằm thực hiện Hiến

Trang 9

pháp năm 2013”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp;

- Đỗ Thị Hương (2016), “Quyền tiếp cận thông tin, quyền tự do ngôn

luận với việc đảm bảo quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Nghề luật;

- Vũ Thư, Bùi Đức Hiền (2010), “Tự do ngôn luận trên internet và

vấn đề quản lý nhà nước về thông tin mạng”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật

3 Mục tiêu nghiên cứu

3.1 Mục tiêu tổng quát

- Đưa ra cái nhìn toàn diện, có tính hệ thống và khoa học về các vấn

đề lý luận, thực tiễn liên quan đến quyền tự do ngôn luận trên internet dưới góc độ luật pháp quốc tế và pháp luật Việt Nam về quyền con người

- Đánh giá thực trạng về quyền tự do ngôn luận trên internet trong thực tiễn, từ đó đề xuất giải pháp bảo đảm ghi nhận, thực thi quyền tự do ngôn luận trên internet

3.2 Mục tiêu cụ thể

- Làm rõ các vấn đề lý luận về quyền tự do ngôn luận trên internet

- Nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật quốc tế, pháp luật một số nước trên thế giới và pháp luật Việt Nam về quyền tự do ngôn luận trên internet trên các khía cạnh ghi nhận, bảo đảm và bảo vệ quyền

- Thực trạng về quyền tự do ngôn luận trong thực tiễn, phân tích một

số vụ việc điển hình về quyền tự do ngôn luận trên internet và đưa ra quan điểm về việc bảo đảm tự quyền do ngôn luận trên internet

- Đưa ra được các giải pháp hướng đến bảo đảm quyền tự do ngôn luận trên internet

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn của tự do ngôn luận trên internet

Trang 10

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn

về quyền tự do ngôn luận trên internet, không mở rộng đến các quyền con người khác và các hình thức, phương tiện biểu đạt khác của tự do ngôn luận Tuy nhiên nhiều vấn đề của quyền tự do ngôn luận trên internet được nhìn nhận có tính chất tương tự như một phần của quyền tự do ngôn luận nói chung nhìn với góc độ là một quyền cơ bản của con người

Đề tài nghiên cứu từ góc độ pháp luật quốc tế, pháp luật của một số nước trên thế giới và pháp luật Việt Nam, thực tiễn ở Việt Nam về quyền tự

do ngôn luận trên internet

Thứ nhất, khái niệm và đặc trưng cơ bản của quyền tự do ngôn luận

trên internet; công cụ hỗ trợ quyền tự do ngôn luận trên internet; phạm vi và giới hạn của quyền tự do ngôn luận trên internet

Thứ hai, phân tích pháp luật quốc tế, pháp luật một số nước và pháp

luật Việt Nam về quyền tự do ngôn luận trên internet; thực trạng về tự do ngôn luận trên internet ở Việt Nam hiện nay dưới góc độ quyền thụ hưởng, giới hạn của quyền và bảo vệ quyền; phân tích, bình luận một số vụ việc điển

hình về tự do ngôn luận trên internet

Thứ ba, phân tích các quan điểm và đề xuất các giải pháp hướng đến

bảo đảm quyền tự do ngôn luận trên internet ở Việt Nam

6 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

6.1 Cơ sở lý luận

Trang 11

Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về Nhà nước và pháp luật, về quyền con người, quyền công dân Ngoài ra, luận văn còn dựa trên cơ sở lý luận của khoa học pháp luật về quyền con người, những lý luận

có tính phổ biến ở một số quốc gia về lĩnh vực này

6.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp luận của triết học Mác - Lênin, trực tiếp sử dụng các phương pháp của triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử như phương pháp kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, phương pháp lịch

sử cụ thể, phương pháp phân tích và tổng hợp Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu của các bộ môn khoa học khác như

phương pháp luận so sánh, phương pháp thống kê

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Luận văn là một trong số ít những công trình nghiên cứu chuyên sâu

về quyền tự do ngôn luận trên internet ở Việt Nam nhìn dưới góc độ nhân quyền Chính vì vậy, kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa lý luận và thực tiễn thiết thực trong việc thúc đẩy và bảo đảm các quyền con người, quyền công dân Luận văn cung cấp một cách chung nhất có tính hệ thống những kiến thức, thông tin, luận điểm và các giải pháp mới có giá trị tham khảo với việc thúc đẩy quyền tự do ngôn luận trên internet ở nước ta trong thời gian tới

Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan nhà nước trong xây dựng, sửa đổi và thực thi các văn bản pháp luật liên quan đến bảo đảm quyền tự do ngôn luận trên internet ở Việt Nam; đồng thời có thể phục vụ cho việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập trong pháp luật về lĩnh vực

này

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài các phần: Mở đầu; kết luận; lời cam đoan; danh mục tài liệu

Trang 12

tham khảo, nội dung của Luận văn được chia thành 3 Chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quyền tự do ngôn luận trên internet Chương 2: Pháp luật nước ngoài, pháp luật Việt Nam về tự do ngôn

luận trên internet và thực tiễn về quyền tự do ngôn luận ở Việt Nam qua phân tích, bình luận một số vụ việc điển hình

Chương 3: Giải pháp bảo đảm quyền tự do ngôn luận trên internet

Trang 13

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THẾ GIỚI VỀ QUYỀN

TỰ DO NGÔN LUẬN TRÊN INTERNET

1.1 Khái niệm và các hình thức biểu đạt của quyền tự do ngôn luận

Tự do ngôn luận là một quyền con người cơ bản, có vai trò quan trọng đối với mọi cá nhân và các xã hội dân chủ Trong lịch sử, quyền tự do này đã sớm được các nhà tư tưởng, các nhà lập hiến, lập pháp các quốc gia bảo vệ

Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, hệ thống pháp luật nhân quyền quốc tế cũng quan tâm bảo vệ quyền dân sự thiết yếu này chu[4; tr.15] Nhiều người cho rằng, nếu không có quyền tự do ngôn luận, thì nhiều quyền con người cũng không thể thực hiện được

Khái niệm tự do ngôn luận có thể được tìm thấy trong các văn kiện chính trị - pháp lý quốc tế từ rất sớm trong lịch sử nhân loại Bộ luật về

quyền (Bill of Right) của Vương Quốc Anh ngay từ năm 1680 đã quy định

hiến định về tự do ngôn luận và còn nguyên giá trị tới ngày nay Tuyên ngôn Dân quyền và Nhân quyền của Pháp năm 1789 cũng khẳng định tự do ngôn luận như là một quyền cố hữu của con người Điều 11 của Tuyên ngôn này

khẳng định “Trao đổi tự do các ý tưởng và quan điểm là một trong những

quyền quý giá nhất của con người Mọi người đều có quyền được nói, viết, in

ấn tự do; đồng thời chịu trách nhiệm trước pháp luật đối với những hành vi lạm dụng quyền tự do ngôn luận” [3,tr.51]

Về mặt nội hàm, một số nhà lập pháp và học giả cho rằng, tự do ngôn luận là một quyền đa diện và đa chiều (a multi-faceted right), vốn không chỉ bao gồm quyền biểu đạt, hay được phổ biến, chia sẻ thông tin và ý tưởng mà còn bao gồm ba khía cạnh đặc trưng sau đây: (1) Quyền tìm kiếm thông tin

và ý tưởng; (2) Quyền tiếp nhận thông tin và ý tưởng; (3) Quyền được phổ

Trang 14

biến thông tin và ý tưởng Như vậy, tự do ngôn luận và quyền tự do ngôn luận có mối liên hệ mật thiết với các quyền tự do biểu đạt, tự do thông tin… Thuật ngữ tự do biểu đạt (freedom of expression) đôi khi còn được dùng để

đề cập đến cả hành động tìm kiếm, tiếp nhận và chia sẻ thông tin hoặc quan niệm, bất kể bằng cách sử dụng phương tiện truyền thông nào [3,tr.52]

Ở một góc độ khác, tự do ngôn luận là quyền trình bày ý kiến một cách mạch lạc, rõ ràng của một người nào đó mà không sợ sự trả thù hoặc kiểm duyệt của chính quyền, hay chịu sự trừng phạt của xã hội Thuật ngữ này đồng nghĩa với tự do biểu đạt/diễn đạt hoặc tự do thể hiện đôi khi còn được dùng để nói đến cả hành động tìm kiếm, tiếp nhận và chia sẻ thông tin hoặc quan niệm, quan điểm, bất kể bằng cách sử dụng phương tiện truyền thông nào

https://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BB%B1_do_ng%C3%B4n_lu%E1%BA

%ADn (truy cập 5/2019) ]

Về mặt pháp lý, quyền tự do ngôn luận được thừa nhận là một quyền con người trong Điều 19 Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền và còn được ghi nhận tại Điều 19 Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị,

Điều này quy định: “Mọi người có quyền tự do ngôn luận Quyền này bao

gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt mọi thông tin, ý kiến, không phân biệt lĩnh vực, hình thức tuyên truyền bằng miệng, bằng bản viết, in hoặc dưới hình thức nghệ thuật, thông qua bất kỳ phương tiện thông tin đại chúng nào tùy theo sự lựa chọn của họ”

Tuy nhiên, cần thấy rằng theo luật nhân quyền quốc tế, quyền tự do ngôn luận là một loại quyền tự do (liberty rights) và là một loại tự do cơ bản (fundamental freedoms) của con người Mặc dù có thể có nhiều quan điểm khắc nhau về nguồn gốc hình thành của quyền con người, nhưng theo tác giả thì quyền cơ bản của con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận có nguồn gốc từ khi con người sinh ra và tồn tại mà không phụ thuộc vào hệ thống

Trang 15

pháp luật của bất kỳ quốc gia nào Cho dù hầu hết các hệ thống pháp luật ngày nay đều thể hiện các quyền con người cơ bản nhưng điều đó chẳng qua

là sự ghi nhận lại các quyền vốn có này Tuyên ngôn nhân quyền quốc tế

(1948) cũng đã nêu “….thừa nhận phẩm giá vốn có và các quyền bình đẳng

và không thể tách rời mọi thành viên trong gia đình nhân loại”, rồi trong

Tuyên ngôn Độc lập của Hợp chủng quốc Hoa kỳ (1976) cũng đã nêu “mọi

người sinh ra đều có quyền bình đẳng Tạo hóa ban cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong đó có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc …” Từ đó cho thấy rằng tự do ngôn luận là một

quyền tự do có yếu tố tự nhiên, vốn có và quan trọng của con người cần được bảo đảm, bảo vệ

Từ những luận điểm nêu trên, theo tác giả có thể hiểu một cách chung nhất, tự do ngôn luận là một quyền cơ bản của con người, đó là quyền tự do thể hiện ý chí, quan điểm của mình và tự do tìm kiếm, tiếp nhận, truyền đạt thông tin, ý tưởng

1.1.2 Các hình thức biểu đạt của quyền tự do ngôn luận

Tự do ngôn luận là một quyền đa diện bao gồm không chỉ là quyền được biểu đạt hay phát tán thông tin và tư tưởng, mà còn bao gồm ba khía cạnh sau: quyền tìm kiếm thông tin và tư tưởng, quyền tiếp nhận thông tin và

tư tưởng, quyền chia sẻ thông tin và tư tưởng

Về các hình thức biểu đạt của quyền tự do ngôn luận cũng rất phong phú, đó có thể là sự tiếp nhận và truyền đạt thông tin bằng lời nói (tại các hội thảo, cuộc họp, tọa đàm, phỏng vấn…), bằng bản viết, bản in hay qua các hình thức nghệ thuật như múa, kịch, sân khấu, các tác phẩm văn học nghệ thuật; có thể được truyền thông trực tiếp qua báo chí, truyền thanh và truyền hình, mà chúng còn thường được trình bày trong các loại hình nghệ thuật: tiểu thuyết, thi ca, điện ảnh, biếm họa, và ca từ… Con người có rất nhiều hình thức để biểu đạt quan điểm, tư tưởng hay cảm xúc của mình Có những

Trang 16

biểu đạt bằng cơ thể, thông qua khuôn mặt, mắt, chân, tay, ngón tay Cũng có những biểu đạt thông qua giọng nói, tiếng nói… Trong nhiều tình huống, sự

im lặng cũng là một cách biểu đạt Các hình thức biểu đạt của quyền tự do ngôn luận có thể được thực hiện thông qua bất kỳ phương tiện thông tin đại chúng nào, như: báo chí, phát thanh, truyền hình hay trên phương tiện internet

Quyền tự do ngôn luận thường không phải là một vấn đề có liên quan đến các hoạt động riêng tư, hướng nội, mà liên quan đến các hoạt động truyền thông đại chúng, hướng ngoại như: nói, viết ra một quan điểm, suy nghĩ về một vấn đề chính trị, tôn giáo, quan điểm sống, công bố một quyển sách, một bài thơ, một bài báo, hay một bức ảnh, phát sóng một chương trình phát thanh hay truyền hình, sáng tác và triển lãm một tác phẩm nghệ thuật, đọc một bài diễn văn trong một cuộc mít-tinh chính trị, hay có thể là đăng tải một bài phát biểu trên nhật ký web (weblog), mạng xã hội hay thu âm vào một hệ thống podcast…[31] Trong đó Internet trở thành một công cụ, phương tiện quan trọng để thực hiện các quyền tự do ngôn luận với nhiều hình thức đa dạng khác nhau từ nói, viết, chia sẻ thông tin, tìm kiếm, tiếp cận thông tin, truyền bá thông tin, lưu trữ thông tin, trao đổi, thảo luận

1.2 Khái niệm quyền tự do ngôn luận trên internet

1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của mạng internet

a Khái niệm mạng internet

Tiền thân của mạng internet ngày nay là mạng arpanet Cơ quan quản

lý dự án nghiên cứu phát triển ARPA thuộc Bộ Quốc phòng Mỹ liên kết bốn địa điểm đầu tiên vào tháng 7 năm 1969 bao gồm: Viện nghiên cứu Stanford, Đại học California, Los Angeles, Đại học Utah và Đại học California, Santa Barbara Đó chính là mạng liên khu vực (Wide Area Network - WAN) đầu tiên được xây dựng Thuật ngữ "Internet" xuất hiện lần đầu vào khoảng năm 1974 Lúc đó mạng vẫn được gọi là arpanet

Trang 17

Năm 1983, giao thức TCP/IP chính thức được coi như một chuẩn đối với ngành quân sự Mỹ và tất cả các máy tính nối với arpanet phải sử dụng chuẩn mới này Năm 1984, arpanet được chia ra thành hai phần: phần thứ nhất vẫn được gọi là arpanet, dành cho việc nghiên cứu và phát triển; phần thứ hai được gọi là milnet, là mạng dùng cho các mục đích quân sự [42]

Có thể hiểu một cách chung nhất và dễ hiểu nhất thì mạng internet là một hệ thống thông tin toàn cầu có thể được truy nhập công cộng gồm các mạng máy tính được liên kết với nhau Hệ thống này truyền thông tin

theo kiểu nối chuyển gói dữ liệu (packet switching) dựa trên một giao thức

liên mạng đã được chuẩn hóa (giao thức IP) Hệ thống này bao gồm hàng ngàn mạng máy tính nhỏ hơn của các doanh nghiệp, của các viện nghiên cứu

và các trường đại học, của người dùng cá nhân và các chính phủ trên toàn cầu… [42]

Với những tiện ích riêng có của mình, hiện nay, internet đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống hiện đại Có kể tới một số tiện ích siêu việt mà internet mang lại như: (i) giúp kết nối bạn bè, người thân, giao tiếp với mọi người ở khắp nơi trên thế giới thông qua các mạng xã hội Facebook, Twitter, Google+,… ; (ii) một kho chứa đựng lượng kiến thức khổng lồ, giúp chúng ta dễ dàng, nhanh chóng tìm kiếm những thông tin, tin tức; (iii) là một môi trường lí tưởng để phát triển kinh doanh, bán hàng online; (iv) góp phần quan trọng trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo, phát triển hình thức học trực tuyến hay đào tạo từ xa; (v) có thể dùng email để trao đổi thư từ với nhau một cách nhanh chóng thay bằng cách gửi thư truyền thống… Vì vậy, internet là một phương tiện truyền thông vô cùng hữu ích và không thể thiếu đối với chúng ta trong đời sống ngày nay Đặc biệt trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, vai trò của internet ngày càng trở nên quan trọng và là nền tảng, là cầu nối của mọi hoạt động kinh tế, xã hội quốc gia

b) Đặc điểm của mạng internet

Trang 18

Với vai trò là một phương tiện công nghệ và truyền thông mới, so với các phương tiện truyền thống, đối với quyền tự do ngôn luận thì internet là một phương tiện đặc biệt có nhiều ưu việt, với những đặc điểm sau đây:

Thứ nhất, về kỹ thuật, internet là mạng thông tin toàn cầu, tính kết nối

cao, chỉ với một thiết bị kết nối mạng internet, một cá nhân, một tổ chức, một doanh nghiệp có thể kết nối thông tin toàn cầu, không bị giới hạn bởi một không gian nhất định

Thứ hai, về tốc độ truyền tin và tiếp nhận, trao đổi thông tin trên mạng

interet do những ưu thế của mình nên khả năng lan truyền rất nhanh Cùng

với sự hỗ trợ của những công cụ tìm kiếm giúp thì việc tìm kiếm thông tin chỉ trong vài giây và việc chia sẻ thông tin cũng vô cùng dễ dàng Khoảng cách giữa con người với con người không kể không gian địa lý chỉ cách nhau vài cái click chuột

Thứ ba, về lượng thông tin, chưa có phương tiện truyền thông nào lại

có khả năng chứa đựng lượng thông tin khổng lồ, đa dạng và phong phú như trên intrenet Các thông tin được phân làm nhiều chủ đề với những lĩnh vực

và mức độ khác nhau: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học kỹ thuật,… từ mức độ là các mẩu thông tin cho đến các bài nghiên cứu, bình luận về hầu khắp các vấn đề trong nước, khu vực và thế giới; từ hình ảnh một

cá nhân, một tập thể đến cả các quốc gia, dân tộc… đều được trình bày với nhiều chiều, nhiều cách tiếp cận khác nhau [9, tr 20] Với internet, thông tin được cập nhật hàng giờ, hàng ngày, mọi người đều có thể biết được những gì đang xảy ra xung quanh mình và cả trên thế giới

Thứ tư, internet không chỉ hỗ trợ trong việc tìm kiếm và nắm bắt thông

tin mà giúp chúng ta bày tỏ ý kiến của mình về bất cứ vấn đề nào đó thông qua mục gửi ý kiến phản hồi tại những bài viết Đây là công cụ giúp cho mọi người thỏa sức sáng tạo và nêu ra ý kiến của mình, bảo vệ ý kiến của mình

Thứ năm, về giá cả, sử dụng thông tin trên internet giá rẻ hơn so với

Trang 19

nhiều phương tiện truyền thông khác như truyền hình hay báo giấy

1.2.2 Khái niệm tự do ngôn luận trên internet

Xã hội loài người ngày càng phát triển với những đòi hỏi mới cao hơn, theo đó, với sự phát triển nhanh chóng của internet và các phương thức truyền thông trực tuyến, các chuẩn mực nhân quyền quốc tế đã có những bước tiến để bảo vệ quyền tự do biểu đạt trực tuyến, vì nó có những đặc thù khác với tự do ngôn luận trên các phương tiện truyền thống cổ điển

Các quyền con người truyền thống khi bước vào thời đại internet sẽ được bảo vệ theo nguyên tắc chung là “các quyền mà mọi người có ngoại tuyến (ngoài đời/offline) cũng phải được bảo vệ tương tự trực tuyến (trên không gian internet/online)” Đây là điều đã được nhiều cơ quan bảo vệ nhân quyền của Liên Hợp Quốc khẳng định Như vậy, bên cạnh khả năng thực thi các quyền giáo dục, hội họp, giao kết hợp đồng… trên internet, việc thực thi quyền tự do biểu đạt trực tuyến là một biểu hiện cụ thể của nguyên tắc chung

đó trong kỷ nguyên kỹ thuật số [4; tr.15]

Trong các nguyên tắc nền tảng về việc bảo vệ quyền tự do ngôn luận tại Tuyên ngôn Quốc tế nhân quyền năm 1948 hay Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966, mạng internet không được nhắc đến trực tiếp Tuy nhiên, có thể diễn giải cụm từ “bất kỳ phương tiện truyền thông nào khác” (any other media) (Điều 19 Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966) bao gồm cả internet, bên cạnh các phương tiện truyền thông cổ điển như sách, báo chí, radio, truyền hình…

Như vậy, tự do ngôn luận trên internet cũng giống như tự do ngôn luận trên các phương tiện truyền thông khác về cơ bản đều được pháp luật bảo vệ

như nhau Tuy nhiên, với những đặc điểm vượt trội của mình, internet đã trở thành một phương tiện, nhân tố quan trọng “làm phẳng” thế giới, mạng toàn cầu đã tạo cơ hội cho con người sức mạnh thông tin và kết nối

[30] Con người bình đẳng gần như tuyệt đối trong việc tiếp cận và phổ biến

Trang 20

thông tin trên mạng internet Và cũng giống như các hình thức khác của tự do ngôn luận, tự do ngôn luận trên internet cũng có những giới hạn và sự kiểm soát nhất định, để tránh phương hại tới các quyền cơ bản khác của con người, tới an ninh quốc gia, an ninh toàn cầu và cả an ninh mạng

Từ những phân tích nêu trên, theo tác giả, tự do ngôn luận trên internet

là quyền tự do được tiếp cận thông tin, truyền đạt thông tin, thể hiện ý chí, quan điểm trên mạng internet phù hợp với các giá trị phổ quát của quốc tế về quyền con người

Tự do ngôn luận trên internet có mối liên hệ mật thiết với tự do internet, bởi khi tự do internet là cơ sở để có thể thực hiện được quyền tự do ngôn luận trên internet Mặc dù chưa có một khái niệm chính thức nào về tự

do internet và vấn đề này còn nhiều tranh cãi, nhưng có thể hiểu rằng tự do internet là tự do tiếp cận, sử dụng, khai thác internet mà không bị ngăn cản, cản trở một cách tùy tiện Tự do internet có thể là tự do sử dụng internet (và các ứng dụng trên internet như website, ứng dụng, phần mềm, mạng xã hội, công cụ tìm kiếm, lưu trữ, trao đổi thông tin …) cho việc kinh doanh, giao kết hợp đồng, quảng cáo, hoạt động nghệ thuật, giải trí, trao đổi thông tin, hội họp vv… Ở nghĩa hẹp, tự do internet thường được tập trung quan tâm ở khía cạnh tự do quan điểm và biểu đạt trực tuyến nên đôi khi tự do internet và tự

do ngôn luận trên internet được sử dụng chung theo nghĩa này

1.2.3 Đặc điểm cơ bản của quyền tự do ngôn luận trên internet

Quyền tự do ngôn luận trên internet là một quyền cơ bản của con người nên có đầy đủ tính chất chung như: (1) tính phổ quát (universal): đã là quyền con người nên cứ hễ là con người thì sẽ có quyền này, nó mang tính bẩm sinh, không phân biệt chủng tộc, giới tính, tôn giáo, …; (2) tính không thể tước bỏ (inalienable): đã là quyền con người thì không thể bị tước đạt, hạn chế một cách “tùy tiện” bởi bất kỳ ai, cá nhân hay cơ quan nhà nước; (3) tính không thể phân chia (indivisible): các quyền con người đều có giá trị

Trang 21

nhất định, không có sự phân chia mức độ quan trọng cao thấp; (4) tính liên

hệ và phụ thuộc lẫn nhau (interrelated, interdependent): nếu một quyền con người bị vi phạm thì nó có tác động tiêu cực đến các quyền khác và ngược lại nếu bảo vệt tốt quyền con người này thì có tác động tích cực tới các quyền

khác Trong các đặc trưng này, thì quyền tự do ngôn luận trên internet có vai

trò quan trọng, là cơ sở, tiền đề để thực hiện nhiều quyền con người, quyền công dân khác Thông qua việc thực hiện quyền tự do ngôn luận trên internet, thì cá nhân có thể thực hiện tự do hội họp, thảo luận các vấn đề chính trị, tôn giáo, tín ngưỡng, tìm kiếm việc làmu, làm việc, kinh doanh, nghiên cứu, học tập trên môi trường internet Chính vì vậy, tự do internet nói chung, tự do ngôn luận trên internet nói riêng có vai trò quan trọng giúp cho các các quyền con người khác được thực hiện, nhất là trong bối cảnh internet đang được áp dụng phổ biến, rộng rãi trong thời đại hiện nay

Ngoài ra, quyền tự do ngôn luận trên internet còn có những đặc điểm

cơ bản sau đây:

Thứ nhất, quyền tự do ngôn luận trên internet là một quyền dân

sự, chính trị cơ bản của con người được Luật nhân quyền quốc tế ghi nhận, bảo vệ

Quyền tự do ngôn luận lần đầu tiên được ghi nhận tại Điều 19 Tuyên ngôn nhân quyền năm 1948 Theo đó, mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ ý kiến; kể cả tự do bảo lưu quan điểm mà không bị can thiệp, cũng như tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền bá các ý tưởng và thông tin bằng bất kỳ phương tiện truyền thông nào

Tiếp đó, Điều 19 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 tái khẳng định lại nội dung quyền này Khoản 1 Điều 19 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 bảo vệ quyền tự do biểu

đạt mà không bị ai can thiệt Khoản 2 Điều 19 quy định: “Mọi người có

quyền tự do ngôn luận Quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và

Trang 22

truyền đạt mọi thông tin, ý kiến, không phân biệt lĩnh vực, hình thức tuyên truyền bằng miệng, bằng bản viết, in, hoặc dưới hình thức nghệ thuật, thông qua bất kỳ phương tiện thông tin đại chúng nào tùy theo sự lựa chọn của họ”

[5, tr.306] Theo đó, có thể hiểu, tự do ngôn luận được luật nhân quyền quốc

tế bảo vệ trên tất cả các lĩnh vực và dưới bất kỳ hình thức hay phương tiện nào

Năm 2011, Ủy ban Nhân quyền Liên Hợp Quốc (UNHRC, cơ quan có thẩm quyền giám sát việc thực thi Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị việc thực thi Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966) đã thông qua Bình luận chung số 34 thay thế cho Bình luận chung số

10 về Điều 19 Bình luận chung số 34, với tổng số 52 đoạn, bao trùm nhiều khía cạnh chi tiết của quyền tự do quan điểm và biểu đạt, trong đó đặc biệt lưu ý đến các phương tiện truyền thông hiện đại Trong văn kiện này, internet được nhắc đến trực tiếp ở một số nội dung Về vai trò của các phương tiện truyền thông nói chung, Ủy ban Nhân quyền kêu gọi các quốc gia thành viên cân nhắc đến mức độ phát triển công nghệ thông tin và truyền thông mà đã làm thay đổi đáng kể các hành vi thông tin trên toàn thế giới, ví dụ như các

hệ thống truyền thông dựa vào internet và điện thoại di động (đoạn 16) Về phạm vi giới hạn quyền, Ủy ban Nhân quyền lưu ý các quốc gia khi xây dựng pháp luật cần quan tâm đến “sự khác biệt giữa báo in, truyền thanh, truyền hình và internet” bên cạnh những điểm chung của các phương tiện này [4; tr.17]

Hội đồng nhân quyền Liên Hợp Quốc đã thông qua ít nhất ba nghị quyết về tự do internet (vào các năm 2012, 2014 và 2016) Năm 2012, xuất phát từ sáng kiến của Thụy Điển và được nhiều quốc gia ủng hộ, Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc đã thông qua Nghị quyết số 20/8 về thúc đẩy, bảo vệ và thụ hưởng quyền con người trên internet Nghị quyết số 20/8 khẳng định rằng: “các quyền mà mọi người có ngoại tuyến cũng được bảo vệ

Trang 23

như trực tuyến, đặc biệt là tự do ngôn luận, được áp dụng bất kể biên giới và thông qua bất kỳ phương tiện nào do một người lựa chọn, phù hợp với Điều

19 Tuyên ngôn nhân quyền năm 1948 và Công ước quốc tế về các quyền dân

sự và chính trị năm 1966” Gần đây, vào năm 2016, Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc lại thông qua một Nghị quyết (A/HRC/32/L.20) tái khẳng định các quyền mà mọi người có ngoài đời cũng phải được bảo vệ trên không

gian internet Nghị quyết đặc biệt lên án các hành động ngăn chặn tiếp cận internet, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của tiếp cận thông tin và quyền riêng tư trực tuyến để hiện thực hóa quyền tự do biểu đạt

và duy trì quan điểm mà không bị phân biệt

Thứ hai, quyền tự do ngôn luận trên internet là quyền chủ động,

do chủ thể (cá nhân) có quyền tự thực hiện và các chủ thể khác có nghĩa vụ tôn trọng, kiềm chế không can thiệp, cản trở quá trình thực hiện quyền của chủ thể có quyền Theo đó, bất kỳ ai cũng có quyền lên mạng, thông qua các thiết bị công nghệ để thể hiện ý tưởng, quan điểm của mình một cách tự do

mà không bị Nhà nước cản trở hay xử lý, kể cả khi quan điểm đó có liên quan đến các vấn đề chính trị hay dân sự, kinh tế, xã hội Các tổ chức, cá nhân khác cũng cần có quan điểm tôn trọng và không có hành vi cản trợ, ngăn chặn Ở khía cạnh tiếp cận thông tin, mọi cá nhân đều có thể sử dụng các công cụ tìm kiếm hỗ trợ như google.com, research.yahoo.com, để tìm kiếm thông tin, được truy cập vào các trang web công khai để tiếp cận thông tin, mà không bị hạn chế, ngăn chặn, cản trở bằng bất kỳ biện pháp nào, kể

cả biện pháp pháp lý hay biện pháp kỹ thuật

1.2.4 Phạm vi, giới hạn của quyền tự do ngôn luận trên internet

1.2.4.1 Phạm vi của quyền tự do ngôn luận trên internet

Hội đồng nhân quyền Liên Hợp Quốc đã công nhận tính chất toàn cầu

và cởi mở của internet như một “động lực đẩy nhanh tiến bộ phát triển theo

các hình thức khác nhau” và đã “kêu gọi tất cả các quốc gia thúc đẩy và hỗ

Trang 24

trợ tiếp cận internet và hợp tác quốc tế nhằm phát triển truyền thông và thông tin và các cơ sở truyền thông ở tất cả các quốc gia” (Nghị quyết số

20/8 của Hội đồng Nhân quyền, năm 2012) Tuy nhiên, tiếp cận kết nối intrenet có phải là một quyền con người hay không vẫn là một chủ đề tiếp tục tranh cãi và có nhiều quan điểm khác nhau Nhưng do quyền tự do ngôn luận trên internet được coi là một quyền cơ bản của con người nên quyền được tiếp cận thông tin qua internet cũng là một phần của quyền tự do ngôn luận trên internet

Bàn tới nội dung quyền tự do ngôn luận trên internet, tác giả xem xét vấn đề dưới góc độ tự do ngôn luận là một quyền con người cơ bản được thực hiện thông qua phương tiện internet, bao hàm cả quyền được tự do tiếp cận thông tin qua môi trường internet

Như vậy, trong phạm vi công trình nghiên cứu, nội hàm của quyền tự

do ngôn luận trên internet là bao gồm: tự do tìm kiếm, tự do tiếp nhận, tự do tiếp cận và truyền đạt mọi loại tin tức, ý kiến, biểu đạt trạng thái, thảo luận với mọi người thông qua mạng internet, có thể là qua các diễn đàn trực tuyến, mạng xã hội, tìm kiếm thông tin qua các công cụ tìm kiếm hay nhiều hình thức khác trên mạng internet…

Nhờ có internet mà mọi người dễ dàng tiếp cận thông tin hơn, bày tỏ quan điểm nhanh chóng hơn về các vấn đề xã hội, kinh tế, chính trị Phản ứng thông tin nhanh chóng từ xã hội giúp cho nhà nước, cơ quan chức năng năng nắm bắt, điều chỉnh chính sách kịp thời hoặc giải quyết các vấn đề nổi cộm của đời sống xã hội, của nền kinh tế Nhờ có internet mà cơ quan nhà nước dễ dàng minh bạch thông tin, công khai thông tin một cách nhanh chóng, kịp thời đến người dân, tạo dựng lòng tin của người dân vào các hoạt động của mình Như vậy, với quyền tự do ngôn luận trên internet, tất cả mọi người đều có quyền tự do nói ra quan điểm, ý tưởng mà không giới hạn các vấn đề chính trị, tôn giáo, kinh tế, xã hội

Trang 25

Như vậy, phạm vi của tự do ngôn luận trên internet không bị giới hạn trong lĩnh vực nào dù là chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, không giới hạn về không gian và thời gian Bất kỳ ai cũng có quyền như nhau, không phân biệt

độ tuổi, giới tính, sắc tộc, tôn giáo, thành phân kinh tế hay chế độ xã hội

1.2.4.2 Giới hạn của quyền tự do ngôn luận trên internet

Quyền tự do ngôn luận trên internet cũng như quyền tự do ngôn luận nói chung mặc dù là một quyền cơ bản của con người nhưng không phải là một quyền tuyệt đối

Giới hạn quyền là quy định được ghi nhận trong Tuyên ngôn quốc tế

về nhân quyền và một số điều ước quốc tế về quyền con người mà bản chất của nó là cho phép các quốc gia thành viên áp đặt một số điều kiện với việc thực hiện/thụ hưởng một số quyền con người nhất định Vấn đề này được ghi nhận trong pháp luật nhân quyền quốc tế và hiến pháp của nhiều quốc gia dưới những hình thức diễn đạt khác nhau và mức độ khác nhau Cụ thể, Điều

29 khoản 2 Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền nêu rằng: “Khi thực hiện các

quyền và tự do của mình, mọi người phải chịu những hạn chế do luật định, nhằm mục đích duy nhất là đảm bảo sự công nhận và tôn trọng thích đáng đối với các quyền và tự do của người khác, cũng như đáp ứng những yêu cầu chính đáng về đạo đức, trật tự xã hội và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ”

Cụ thể hơn trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (ICCPR) cũng có quy định cho phép hạn chế quyền trong trường hợp khẩn cấp (Điều 4) Ngoài ra theo quy định tại khoản 3 Điều 19 Công ước

quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 thì “Việc thực hiện những

quyền quy định tại khoản 2 điều này kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt Do đó, việc này có thể phải chịu một số hạn chế nhất định, tuy nhiên, những hạn chế này phải được quy định trong pháp luật và là cần thiết để: a) Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; b) Bảo vệ an

Trang 26

ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của xã hội”[5,

tr.306]

Điều 20 của ICCPR cũng đề cập đế hạn chế quyền tự do biểu đạt, tiếp

đó UNHRC cũng có làm rõ thêm trong Bình luận số 11 thông qua tại phiên họp lần thứ 19 năm 1983 của Ủy ban với nội dung:

Thứ nhất, việc cấm các hình thức tuyên truyền cho chiến tranh, gây

hằn thù, chia rẽ dân tộc, chủng tộc, tôn giáo hay kích động sư phân biệt đối

xử về chủng tộc , sự thù địch hoặc bạo lực là cần thiết và không mâu thuẫn với quyền tự do biểu đạt được quy định ở Điều 19 ICCPR;

Thứ 2, quy định cấm trong khoản 1 Điều 20 cũng áp dụng cho tất cả

các những hình thức tuyên truyền đe dọa thực hiện hành động xâm lược hay phá hoại hòa bình trái với Hiến chưog Liên Hợp Quốc Tuy nhiên khoản 1 Điều 20 không ngăn cấm việc cổ vũ các quyền tự quyết, quyền độc lập hay quyền tự vệ của các dân tộc mà phù hợp với Hiến chương Liên Hợp Quốc Trong khi đó, quy định cấm trong khoản 2 Điều 20 được áp dụng với những hành động khơi gợi lòng thù hằn dân tộc, chủng tộc, tôn giáo, từ đó kích động sự phân biệt đối xử, sự thù địch hay bạo lực, bất kể sự tuyên truyền diễn ra ở bên trong hay bên ngoài các quốc gia có liên quan

Ở cấp độ khu vực, Điều 10 Công ước nhân quyền Châu Âu cũng ghi nhận một danh sách các cơ sở để hạn chế tự do ngôn luận, trong đó, các quốc

gia phải bảo đảm rằng: “Việc thực hiện các quyền nói trên, bao gồm cả các

nghĩa vụ và trách nhiệm, hình thức, điều kiện, các hạn chế hoặc các biện pháp trừng phạt cần phải được ghi rõ trong các văn bản pháp luật có cân nhắc đến việc cần thiết đối với một xã hội dân chủ, vì lợi ích đối với an ninh quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, duy trì trật tự công cộng và ngăn ngừa tội phạm, bảo vệ sức khỏe và đạo đức, nhân phẩm hoặc danh dự của con người, ngăn ngừa việc phát tán các thông tin mật hoặc để bảo đảm quyền lực và tính độc lập của các cơ quan tư pháp” [7,tr.17]

Trang 27

Giới hạn của quyền tự do ngôn luận trên internet với quyền riêng tư trong mối quan hệ với nhau phải tuân thủ nguyên tắc tương xứng và nguyên tắc cân bằng nhất định Trong quá trình tự do khai thác một số loại siêu dữ liệu nhất định, khi được tổng hợp có thể tiết lộ thông tin cá nhân, thông tin chi tiết về hành vi, mối quan hệ xã hội Theo Nghị quyết số 68/167 ngày 18/12/2013 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc về quyền riêng tư trong kỷ nguyên số, thì các quốc gia cần: “tôn trọng và bảo vệ quyền riêng tư, kể cả trong bối cảnh giao tiếp kỹ thuật số; có biện pháp chấm dứt vi phạm các quyền đó và tạo điều kiện để ngăn chặn các vi phạm, bao gồm cả việc bảo đảm pháp luật quốc gia có liên quan tuân thủ nghĩa vụ của mình theo luật nhân quyền quốc tế; xem xét các thủ tục, thực hành và pháp luật của họ về giám sát thông tin liên lạc, đánh chặn và thu thập dữ liệu cá nhân, bao gồm giám sát khối lượng, đánh chặn và thu thập nhằm tăng cường quyền riêng tư bằng cách bảo đảm thực hiện đầy đủ và hiệu quả tất cả các nghĩa vụ của họ theo luật nhân quyền quốc tế”

Về giới hạn quyền tự do ngôn luận trên internet, Ủy ban Nhân quyền Liên Hợp Quốc có Bình luận chung số 34 như sau: “Bất kỳ hạn chế nào đối với hoạt động của websites, blog hoặc bất kỳ hệ thống phổ biến thông tin trên internet, điện tử hoặc thông tin nào khác, bao gồm các hệ thống hỗ trợ giao tiếp đó, chẳng hạn như nhà cung cấp dịch vụ internet hoặc công cụ tìm kiếm, chỉ được cho phép trong mức độ chúng phù hợp với khoản 3 Điều 19 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 Các giới hạn cho phép nói chung phải là nội dung cụ thể; các lệnh cấm chung về hoạt động của các trang và hệ thống nhất định được xem là không tương thích với khoản 3 Cũng bị xem là không phù hợp với khoản 3 khi cấm các trang web hoặc hệ thống phổ biến thông tin, xuất bản tài liệu chỉ vì nó phê phán chính quyền hoặc hệ thống chính trị xã hội được bảo trợ bởi chính quyền” Giới hạn cũng được quy định đối với các hình thức biểu đạt trực tuyến khác [11]

Trang 28

Internet là một môi trường mở toàn cầu và có yếu tố công nghệ, nơi

mà mọi đối tượng, thành phần đều có thể tham gia, can thiệp bằng nhiều các biện pháp khác nhau làm cho các thông tin có thể không được toàn vẹn Các thông tin, quan điểm trên môi trường trường mạng có thể gây ra các tác động đến tâm lý người khác về khía cạnh tốt, khía cạnh xấu, cũng có thể gây thiệt hại nếu thông tin không đúng sự thực do tốc độ lan truyền và khả năng tiếp cận nhanh chóng, rộng khắp Vì vậy nó cũng rất dễ tác động đến các quyền căn bản khác của con người hoặc có thể tác động đến trật tự xã hội hoặc an ninh quốc gia Chính vì vậy, Luật pháp mỗi quốc gia có thể đưa ra các hạn chế nhất định nhưng trên nguyên tắc phải đảm bảo là các hạn chế đó phải rất

cụ thể ví dụ như thông tin, ý tưởng không đúng sự thật nhằm cố ý gây hại về mặt tâm lý, tài chính của cá nhân, tổ chức khác hoặc không chung chung,

không được cấm nếu như “chỉ vì nó phê phán chính quyền hoặc hệ thống

chính trị xã hội được bảo trợ bởi chính quyền”

Theo Điều 5 của ICCPR thì nếu như quyền tự do ngôn luận trên internet được ghi nhận là một quyền tự do căn bản do ICCPR quy định thì không có một quy định nào của ICCPR có hàm ý cho phép quốc gia hay cá nhân nào được tham gia hay tiến hành các hành động nhằm phá hoại bất kỳ quyền và tự do nào đã được ICCPR công nhận hoặc nhằm giới hạn những quyền và tự do đó quá mức ICCPR quy định Nếu xét trên phương diện quy định của Luật nhân quyền quốc tế thì ngay cả khi việc bày tỏ thông tin trên internet là sai trái, không đúng sự thật, có xâm hại vào quyền lợi của người nào đó thì người đưa thông tin có thể bị xử lý về mặt hình sự, dân sự, hành chính chứ không thể vì thế mà bị ngăn cản việc đưa ra thông tin, ý tưởng hay hạn chế sự tiếp cận thông tin, bày tỏ thông tin trên môi trường internet

Như vậy, tự do ngôn luận trên internet cũng như quyền tự do ngôn luận nói chung là một quyền con người có giới hạn, nó được pháp luật nhân quyền quốc tế đặt trong cân nhắc với bảo đảm các quyền riêng tư của con

Trang 29

người cũng như các lợi ích về an ninh quốc gia, công cộng và đạo đức xã hội Các quy định giới hạn đối với quyền này nằm trong các nguyên tắc giới hạn quyền chung đã được pháp luật quốc tế ghi nhận

1.2.5 Chủ thể có nghĩa vụ bảo đảm quyền tự do ngôn luận trên internet

Như trên đã phân tích, quyền tự do ngôn luận trên internet là một quyền chủ động Do đó chủ thể có quyền thụ hưởng là các cá nhân, còn chủ thể có nghĩa vụ tôn trọng, không hạn chế, cản trợ việc thực hiện quyền là Nhà nước, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác Trong đó, Nhà nước có vai trò là chủ thể bảo vệ quyền Điều 2 của ICCPR có quy định:

“1 Các quốc gia thành viên Công ước cam kết tôn trọng và bảo đảm

cho mọi người trong phạm vi lãnh thổ và thẩm quyền tài phán của mình các quyền đã được công nhận trong Công ước này, không có bất kỳ sự phân biệt nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hoặc quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hoặc địa vị khác

2 Trong trường hợp quy định trên đây chưa được thể hiện bằng các biện pháp lập pháp hoặc các biện pháp khác, thì mỗi quốc gia thành viên Công ước cam kết sẽ tiến hành các bước cần thiết, phù hợp với trình tự pháp luật nước mình và những quy định của Công ước này, để ban hành pháp luật

và những biện pháp cần thiết khác nhằm thực hiện các quyền được công nhận trong Công ước này

3 Các quốc gia thành viên Công ước cam kết:

a) Bảo đảm rằng bất cứ người nào bị xâm phạm các quyền và tự do như được công nhận trong Công ước này đều nhận được các biện pháp khắc phục hiệu quả, cho dù sự xâm phạm này là do hành vi của những người thừa hành công vụ gây ra;

b) Bảo đảm rằng bất kỳ người nào có yêu cầu về các biện pháp khắc

Trang 30

phục sẽ được các cơ quan tư pháp, hành pháp hoặc lập pháp có thẩm quyền hoặc bất kỳ cơ quan nào khác có thẩm quyền do hệ thống pháp luật của quốc gia quy định, xác định quyền lợi cho họ và sẽ mở rộng khả năng áp dụng các biện pháp khắc phục mang tính tư pháp;

c) Đảm bảo rằng các cơ quan có thẩm quyền sẽ thi hành các biện pháp khắc phục đã được đề ra.”

Như vậy, Nhà nước có nghĩa vụ ghi nhận, tôn trọng, kiềm chế không can thiệp, trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc thụ hưởng các quyền con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận trên internet Nếu có ai đó vi phạm quyền

tự do ngôn luận trên internet thì Nhà nước có nghĩa vụ ngăn chặn sự vi phạm

đó, có chính chính sách phòng ngừa, cơ chế xử lý các hành vi vi phạm (nghĩa

vụ bảo vệ) Bên cạnh đó, Nhà nước cũng có nghĩa vụ bảo đảm người dân có quyền thụ hưởng cao nhất đối với quyền này, ví dụ cần có các chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần trong xã hội, tầng lớp trong xã hội được dễ dàng tiếp cận internet Vấn đề tiếp cận internet chính là một trong những nội hàm quan trọng của việc bảo đảm thực hiện quyền tự do ngôn luận trên internet

Thiếu phương tiện kết nối hoặc thiếu sự kết nối thuận tiện, quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí sẽ trở nên vô nghĩa trong thế giới trực tuyến Mặc

dù chưa chính thức được coi là một quyền con người theo pháp luật quốc tế, quyền tiếp cận internet đã được đề cập nhắc tới trong rất nhiều văn kiện, quy định pháp luật quốc tế

Một trong những thành tố cơ bản của quyền tiếp cận internet là nguyên tắc “trung lập về mạng” Nguyên tắc này bảo vệ quyền tiếp cận các nội dung, ứng dụng, dịch vụ và tài liệu internet của mọi người theo sự lựa chọn của cá nhân Nguyên tắc này yêu cầu các Chính phủ và công ty truyền thông đối xử công bằng, không phân biệt đối xử theo giới tính, người dùng, loại tài liệu, nội dung và nguồn dữ liệu, nghiêm cấm hành vi ưu ái truyền tải thông tin, lọc

Trang 31

chặn các dịch vụ nhất định [4; tr.170]

Bên cạnh Nhà nước là chủ thể có nghĩa vụ bảo đảm, bảo vệ quyền tự

do ngôn luận trên internet, các chủ thể khác bao gồm cá nhân, tổ chức cũng

có nghĩa vụ tôn trọng quyền tự do ngôn luận trên internet Các chủ thể này không được có các hành vi cản trở, ngăn cẳn việc thực hiện quyền tự do ngôn luận Ở góc độ mở rông hơn, đối với các tổ chức cung ứng các dịch vụ internet, dịch vụ lưu trữ không được sử dụng hay các biện pháp có tính chất ngăn chặn khả năng tiếp cận, hạn chế việc truy cập, đăng nhập vào các nguồn thông tin tự do, công khai trên mạng Việc ngăn chặn, dưới bất kỳ hình thức nào và phục vụ cho các cá nhân, tổ chức nào đều là vi phạm vào quyền tự do ngôn luận trên internet Ngoài ra, trong phạm vi các tổ chức, đoàn thể, việc ban hành các quy định nội bộ yêu cầu các thành viên, người lao động không được phát ngôn về một vấn đề gì đó hay không được dùng các mạng xã hội

để tham gia vào các vấn đề của xã hội cũng được coi là không tôn trọng quyền tự do ngôn luận trên internet của các cá nhân

1.2.6 Công cụ hỗ trợ thực hiện quyền tự do ngôn luận trên internet

Ngày nay, với sự phát triển nhanh của công nghệ thông tin, hầu hết các phương tiện như máy tính, điện thoại di động đều được kết nối internet Mọi người ở khắp nơi trên thế giới đều có thể thực hiện quyền tự do ngôn luận của mình, giúp họ tìm hiểu, thể hiện, chia sẻ quan điểm, thái độ, tình cảm về mọi lĩnh vực khác nhau về các vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… Mạng internet với rất nhiều hình thức thể hiện và có nhiều những công cụ được sử dụng hỗ trợ hữu hiệu cho việc thực hiện quyền tự do ngôn luận trên phương tiện này

1.2.6.1 Công cụ tìm kiếm

Khi sử dụng internet thì công cụ tìm kiếm là phương tiện chính để tìm

và truy cập thông tin Đây là một công cụ quan trọng đối với quyền tự do ngôn luận trên internet, vì chúng hoạt động như một trung gian giữa những

Trang 32

người tìm kiếm thông tin và những người cung cấp thông tin trên web

Công cụ tìm kiếm (search tool) là một phần mềm nhằm cho phép

người dùng tìm kiếm và đọc các thông tin có trong nội hàm phần mềm đó, trên một trang Web, một tên miền, nhiều tên miền khác nhau, hay trên toàn

bộ internet [44]

Mọi công cụ tìm kiếm đều sử dụng thuật toán tìm kiếm của mình – là một công thức toán học phức tạp mà quyết định hiển thị kết quả nào và theo thứ tự nào, để trả lời câu hỏi cụ thể của người dùng Quyền tự do ngôn luận của người dùng công cụ tìm kiếm có thể bị ảnh hưởng khi công cụ tìm kiếm được thiết kế để lọc chặn thông tin bởi nhà cung cấp dịch vụ internet hoặc các nhà cung cấp dịch vụ internet cũng có thể lọc chặn các trang web thông qua kết quả công cụ tìm kiếm chứa URL hoặc từ khóa cụ thể

Sự hình thành và phát triển của công cụ tìm kiếm đó là một sự phát triển tất yếu, phù hợp với nhu cầu của người dùng internet Hiện nay, có rất nhiều công cụ tìm kiếm, có thể kể đến một số công cụ tìm kiếm nổi tiếng như Google, Bing, Baidu, Yandex, Yahoo, Ask, Aol… Những công cụ tìm kiếm này được người dùng internet sử dụng thường xuyên trong việc tìm kiếm thông tin phục vụ nhu cầu tìm hiểu của mình

1.2.6.2 Mạng xã hội

Mạng xã hội hay gọi là mạng xã hội ảo (social network) là dịch vụ kết nối các thành viên cùng sở thích trên internet lại với nhau cho nhiều mục đích, không phân biệt không gian và thời gian Dịch vụ mạng xã hội về bản chất có nền tảng là một trang trực tuyến mà tập trung vào xây dựng và phản ánh mối quan hệ xã hội giữa người với người, dựa trên sự tương đồng về sở thích, môi trường hoặc lĩnh vực hoạt động giữa những thành viên [7,tr.6]

Mạng xã hội trên internet có những đặc điểm nổi bật như tính liên kết cộng đồng cao, tính đa phương tiện, tính tương tác và khả năng truyền tải và lưu trữ lượng thông tin khổng lồ Theo đó, hiện nay, các trang mạng xã hội

Trang 33

đang phát triển rất mạnh mẽ, đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy các tương tác xã hội, thông qua việc cho phép tất cả mọi người có thể phổ biến, chia sẻ và trao đổi kiến thức, thông tin Hiện tại, có một số trang mạng xã hội chủ chốt, lượt người tham gia nhiều nhất như Facebook, Twitter hay Weibo

Có thể thấy, mạng xã hội như một xã hội ảo cho phép người dùng chia sẻ thông tin, bày tỏ quan điểm, một hình thức để thực hiện quyền tự do ngôn luận của mình

1.2.6.3 Diễn đàn trực tuyến

Diễn đàn trực tuyến, hay được gọi là forum, là nơi để cho người dùng internet trao đổi, thảo luận và tán gẫu với nhau Phương thức thường được dùng trong diễn đàn trực tuyến là người đầu tiên gửi lên một chủ đề (topic, thread) trong một đề mục (category, forum) và sau đó những người tiếp theo sẽ viết những bài góp ý, thảo luận lên để trao đổi xung quanh chủ

đề đó

Diễn đàn là một nền tảng khác biệt so với mạng xã hội, nên cách thức tương tác của người dùng trên đó cũng khá đặc thù Tất cả các forum thành công đều chuyên biệt về một chủ đề, như công nghệ, thời sự, kinh tế, chính trị hay gia đình… Ngoài việc nội dung tập trung, diễn đàn còn khai thác được một yếu tố quan trọng của mạng xã hội đó là tính tương tác và khả năng thu hút người dùng chia sẻ nội dung và mang tính “mở” hơn bất kỳ một báo chuyên ngành nào Bên cạnh đó là tính công bằng và ít thiên vị của các thành viên cũng là một trong những điểm mạnh của các diễn đàn

1.2.6.4 Một số công cụ hỗ trợ khác

Với việc sử dụng mạng internet, con người còn có thể thực hiện quyền

tự do ngôn luận của mình thông qua rất nhiều công cụ hỗ trợ như biểu đạt quan điểm qua các cổng thông tin điện tử, qua blog , đọc báo, xem truyền hình trực tuyến như các phương tiện truyền thông truyền thống; hay xem các clip, video tư liệu trên các trang mạng như Youtube; có thể gửi thư từ, văn

Trang 34

bản một cách nhanh chóng thông qua email…

Ngày nay, hầu như các chủ thể nhất là các tổ chức đều thiết lập cho mình một trang web hay một trang chủ nào đó để giới thiệu về mình hay muốn bày tỏ mình với thế giới thông qua các công cụ hỗ trợ trên môi trường internet Ngoài ra các website của cơ quan nhà nước, tổ chức và doanh nghiệp dường như đều có tích hợp các công cụ hỗ trợ nhằm phản hồi trực tiếp ý kiến hoặc qua các kênh kết hợp như facebook, twitter, zalo, email, … Đây cũng là một cách tương tác và bày tỏ quan điểm, ý kiến hay phản ánh về các vấn đề như chất lượng dịch vụ, sản phẩm hay mong muốn khác Điều đó cho thấy các chủ thể đều mong muốn và có quyền được thể hiện mình trên các môi trường này Internet, nó không thể thiếu trong việc giới thiệu mình, bày tỏ và đưa ra các quan điểm đặc trưng của tổ chức, cá nhân

1.3 Pháp luật một số nước về quyền tự do ngôn luận trên internet

và bài học kinh nghiệm

1.3.1 Pháp luật một số nước về quyền tự do ngôn luận trên internet 1.3.1.1 Pháp luật Hoa Kỳ về tự do ngôn luận trên internet

Tự do ngôn luận được xem là một trong những giá trị truyền thống của nền dân chủ Hoa Kỳ, vì vậy, tại Hoa Kỳ nó được bảo vệ bằng Tu chính án thứ nhất (First Amendment), văn bản này nhấn mạnh tầm quan trọng của tự

do ngôn luận thông qua việc ấn định nghĩa vụ của Nhà nước phải bảo vệ

quyền này “Quốc hội sẽ không ban hành luật nào để hạn chế quyền tự do

ngôn luận hay tự do báo chí” Quy định trong Tu chính án thứ nhất của Hoa

Kỳ nhằm mục đích ngăn chặn nhà nước có những hành động tùy tiện tước bỏ hay hạn chế quyền tự do ngôn luận chứ không đồng nghĩa với việc xác định

tự do ngôn luận có tính chất tuyệt đối Năm 1798, do lo ngại các tư tưởng của cách mạng Pháp có thể lan qua Đại Tây Dương, Quốc hội Hoa Kỳ đã thông

qua Đạo luật về Phản loạn, trong đó quy định: “Việc viết, in, phát biểu hay

phổ biến… mọi văn bản sai sự thật, có tính chất xúc phạm hay ác ý chống

Trang 35

chính quyền đều là phạm tội” Thực chất mục đích của Đạo luật Phản loạn

để ngăn chặn việc tuyên truyền xuyên tạc, kích động chống đối chính quyền

Hoa Kỳ cũng là nơi khởi nguồn của internet và theo đánh giá của Freedom House đây là một trong những nước dẫn đầu về mức độ tự do internet Người dùng internet ở Hoa Kỳ chịu rất ít hạn chế của chính quyền đối với khả năng truy cập internet Nhìn chung, Chính phủ Hoa Kỳ không chặn hoặc lọc nội dung được truy cập trên internet, không kiểm duyệt bất kỳ nội dung nào liên quan đến quan điểm chính trị hoặc xã hội Pháp luật Hoa

Kỳ có rất ít quy định hạn chế nội dung được đăng tải và truyền đi trên internet, do quyền tự do ngôn luận và tự do biểu đạt được bảo vệ rất chặt chẽ theo Tu chính án thứ nhất [4; tr.304]

Về ứng xử trên internet, Điều 230 Luật Ứng xử truyền thông của Hoa

Kỳ, quy định: không một nhà cung cấp hoặc người sử dụng vi tính nào sẽ được coi là người phát ngôn, người xuất bản của bất kỳ thông tin nào khác với thông tin mà nhà cung cấp dịch vụ tạo ra Như vậy, có thể hiểu rằng, tại Hoa Kỳ, các nhà cung cấp dịch vụ, các công ty mạng xã hội được miễn trừ trách nhiệm đối với các phát ngôn của người sử dụng [4; tr.270]

Cũng như nhiều nước khác, tự do ngôn luận tại Hoa Kỳ được bảo vệ nhưng không được xem là quyền tuyệt đối, sự giới hạn của tự do ngôn luận ở Hoa Kỳ được thể hiện chủ yếu qua án lệ của các tòa án, đặc biệt là Tòa án tối cao Có hai nhóm chủ thể có lợi ích đặc thù được pháp luật ưu tiên bảo vệ hơn so với tự do internet đó là trẻ em và các chủ sở hữu quyền tác giả Nội dung khiêu dâm trẻ em và nội dung xâm phạm quyền tác giả có thể bị buộc phải gỡ bỏ Ngoài hai trường hợp trên, việc chính quyền buộc các nhà cung cấp dịch vụ internet gỡ bỏ nội dung không phải là phổ biến Các trang mạng

xã hội có thể gỡ bỏ nội dung vi phạm các điều khoản và điều kiện sử dụng của trang đó

Trang 36

Ngoài ra, còn một số phát ngôn mà chính quyền có thể ngăn chặn và trừng phạt người thực hiện mà không bị xem là vi hiến, bao gồm cả những phát ngôn mang tính xúc phạm và những từ ngữ gây hấn Tòa cũng định nghĩa “những từ ngữ gây hấn” là những câu từ do một người đưa ra nhằm chỉ trích trực tiếp một cá nhân khác mà có khả năng kích động bạo lực với người nghe Tuy nhiên, tại Hoa Kỳ, quan điểm về sự giới hạn của “phát ngôn thù ghét”, “phỉ báng” đang dần hẹp lại, chủ yếu bởi niềm tin vào tầm quan trọng của quyền tự do ngôn luận, sau đó là xuất phát từ tư duy rằng việc hạn chế nội dung ngôn luận sẽ không hiệu quả bằng các việc làm thiết thực khác của chính quyền như giáo dục, thay đổi chính sách, hay tìm cách hướng dẫn để những người khác phản ứng với các phát ngôn phỉ báng một cách hòa bình, hoặc tạo điều kiện cho người dân được tiếp cận công lý để bảo đảm quyền của mình khi bị phỉ báng

1.3.1.2 Pháp luật Pháp về tự do ngôn luận trên internet

Tự do biểu đạt là một quyền cơ bản được ghi nhận tại Điều 11 Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền năm 1789 của Pháp: “Tự do biểu đạt các ý tưởng, ý nghĩ là một trong những quyền quý báu nhất của con người Tất cả công dân có quyền phát ngôn, viết, xuất bản một cách tự do, trừ trường hợp xác định để giới hạn quyền này theo luật”

Từ những năm 1990, việc sử dụng internet bắt đầu phát triển trong xã hội Pháp Để thúc đẩy sự ứng dụng của internet, các cơ quan công quyền đưa

ra một chính sách ủng hộ các công nghệ thông tin và truyền thông mới Vào

kỷ nguyên của internet, quyền tự do ngôn luận ở Pháp cũng được mở rộng đáng kể Hội đồng bảo hiến trong Quyết định số 2009-580DC ngày 10/6/2009 đã cho rằng: dựa trên bối cảnh hiện tại của các phương tiện truyền thông, dựa trên sự phát triển phổ biến của các dịch vụ này đối với sự tham gia của công chúng vào đời sống dân chủ, vào việc thể hiện các tư tưởng và ý

Trang 37

kiến, thì việc thực hiện quyền tự do thông tin và biểu đạt được hiểu là bao hàm quyền tự do truy cập vào internet [4; tr.334]

Trong Quyết định ban hành ngày 10/6/2019, Hội đồng Bảo hiến tuyên

bố cơ chế bảo vệ Hiến pháp về quyền tự do giao tiếp và biểu đạt được áp dụng cho internet do vai trò ngày càng tăng của phương tiện này trong việc tiếp cận thông tin của công dân Hội đồng Bảo hiến cũng nhấn mạnh rằng internet là công cụ, thông qua email, mạng xã hội, blog và các diễn đàn thảo luận khác, thực hiện quyền tự do ngôn luận và góp phần phổ biến thông tin

và tham gia lưu thông, trao đổi ý tưởng Đứng từ góc độ tự do biểu đạt thì internet mang đến cả ba bình diện: chiều thụ động, tức là thông qua các trang báo mạng, tin mạng hay truyền hình mạng; và chiều chủ động, với email, sự bùng nổ của các mạng xã hội, blog và các diễn đàn khác, để thực hiện tự do ngôn luận Nó thực sự là một phương tiện mới cung cấp cho người dùng internet khả năng đóng góp cho việc phổ biến thông tin và tham gia vào việc lưu thông và trao đổi ý kiến Như vậy, quyền truy cập và sử dụng internet được coi như một phần của tự do biểu đạt và là quyền cơ bản của con người,

có giá trị hiến định ở Pháp Điều này xuất phát từ đặc thù của pháp luật Pháp: bên cạnh Hiến pháp thì các phán quyết của Hội đồng Bảo hiến, các điều khoản của Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền năm 1789 được coi là các quy phạm có giá trị Hiến pháp [4; tr.335]

Cũng như bất kỳ phương tiện nào khác, tại Pháp tự do ngôn luận và giao tiếp trên internet không phải là một sự tự do tuyệt đối, nó cũng đi kèm với những hạn chế nhất định Điều 11 Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền năm 1789 của Pháp đã ghi nhận, sự tôn trọng tự do ngôn luận không có nghĩa

là cho phép phỉ báng, tấn công vào phẩm giá của những người khác bằng những thông điệp, âm thanh, hình ảnh hoặc dàn dựng việc khiêu dâm trẻ em

Trong các phiên tòa ở Pháp, thẩm phán cân nhắc đến cả những trao đổi được thực hiện trên mạng, ví dụ như trên Facebook, mà bị xem là vi phạm

Trang 38

pháp luật Các cuộc trò chuyện trên Twitter hoặc Facebook nếu xúc phạm hay ảnh hưởng đến người khác vẫn có thể trở thành đối tượng của các vụ kiện thông thường Những hạn chế cũng có thể được áp dụng nhằm mục đích bảo vệ các quyền cơ bản khác, chẳng hạn như quyền riêng tư và quyền sở hữu trí tuệ Ngoài ra, Chính phủ Pháp cũng đặt ra các quy định mang tính quy định các giới hạn cho sự kiểm duyệt internet của quốc gia nhằm bảo đảm thực hiện các mục tiêu an ninh quốc gia và những mục tiêu kinh tế, xã hội nhất định

1.3.1.3 Pháp luật Trung Quốc về tự do ngôn luận trên internet

Chính sách của Chính phủ Trung Quốc đối với mạng internet là kiểm soát rất chặt chẽ về thông tin, cũng như sự phát triển các trang mạng và dịch

vụ trong nước và ngăn cản sự thâm nhập của các trang mạng nước ngoài Trung Quốc đã ban hành 03 văn bản pháp luật về sử dụng internet: (1) Quy chế tạm thời về việc quản lý thông tin mạng máy tính kết nối quốc tế, trong

đó quy định “Không một đơn vị hoặc cá nhân nào được phép tự tạo những kết nối quốc tế trực tiếp Tất cả những kết nối trực tiếp với internet phải thông qua bốn nhà cung cấp mạng chính của Trung Quốc là: ChinaNet, GBNet, CERNET và CTSNET”; (2) Pháp lệnh về bảo vệ an ninh của các hệ thống thông tin máy tính, trong đó quy định việc “giám sát, kiểm tra và hướng dẫn công tác bảo vệ an ninh” và “điều tra và truy tố các trường hợp phạm pháp”; (3) Pháp lệnh quy định về thông tin độc hại trên internet, trong

đó định nghĩa “thông tin độc hại” và chỉ ra 5 loại hoạt động có hại liên quan đến việc sử dụng internet [7,tr.28]

Chính phủ Trung Quốc xác định việc quản lý internet với ba cấp độ, trong đó ở cấp độ một là quản lý các mạng chủ và các nhà cung cấp dịch vụ mạng Về vấn đề này, một trong những kế hoạch quan trọng là “Dự án Trường thành lửa”, được Bộ Công an Trung Quốc khởi xướng vào năm 1988

và đưa vào sử dụng từ tháng 1/2003 Hệ thống này hoạt động dựa trên một số

Trang 39

nguyên tắc cơ bản như khóa địa chỉ IP, lọc và dẫn đến một tên miền mới, lọc URL, lọc gói tin và xác lập lại kết nối Hệ thống này khiến cho không chỉ mạng xã hội mà rất nhiều công ty về internet nổi tiếng thế giới ở Mỹ và phương Tây thất bại khi thâm nhập thị trường rộng lớn này do chính sách kiểm duyệt thông tin trên internet gắt gao của Chính phủ Trung Quốc Những người dùng internet thông thường ở Trung Quốc hiện tại bị chặn không cho truy cập vào nhiều trang web và dịch vụ web nước ngoài

Giống như ở các quốc gia khác, các vấn đề về giới hạn và xử lý các vi phạm quyền tự do ngôn luận trên mạng internet ở Trung Quốc cơ bản cũng được áp dụng như với quyền tự do ngôn luận nói chung Tuy nhiên, do những đặc điểm nêu trên, sự hạn chế với tự do ngôn luận trên internet ở Trung Quốc cũng khắt khe hơn so với ở nhiều nước khác

1.3.2 Một số bài học kinh nghiệm

Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc, tại Nghị quyết về thúc đẩy, bảo

vệ và hưởng thụ các quyền con người, đã khẳng định: “các quyền tương tự

mà mọi người có ngoại tuyến cũng phải được bảo vệ trực tuyến, đặc biệt là tự

do ngôn luận, được áp dụng bất kể giới hạn và thông qua bất kỳ phương tiện nào của sự lựa chọn của người đó, phù hợp với các Điều 19 của Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948 và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966” [4; 105]

Trách nhiệm của mọi quốc gia là tôn trọng đầy đủ cho tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt thông tin, đồng thời thúc đẩy và tạo điều kiện để mọi người có thể tiếp cận với internet, hợp tác quốc tế nhằm phát triển các phương tiện truyền thông, thông tin và công nghệ truyền thông nhằm quảng

bá, bảo vệ và tạo điều kiện để con người có thể hưởng thụ được các quyền cơ bản của họ, trong đó có quyền tự do ngôn luận trên internet Do vậy, mọi biện pháp nhằm mục đích củng cố, ngăn chặn làm gián đoạn việc truy cập hoặc phổ biến thông tin trực tuyến đều phải được cân nhắc, quan tâm sâu sắc

Trang 40

Liên Hợp Quốc còn lưu ý đặc biệt đến yếu tố bình đẳng giới liên quan đến quyền tự do biểu đạt trên internet: “thúc đẩy, tôn trọng và bảo đảm phụ

nữ tự do về ý kiến và biểu hiện, cả ngoại tuyến và trực tuyến”, “tạo thuận lợi cho việc tham gia, tiếp cận, sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông như internet, áp dụng quan điểm giới và khuyến khích hợp tác quốc tế nhằm phát triển các phương tiện truyền thông và thông tin ở tất cả các nước” [4; tr 108]

Quyền tự do ngôn luận là quyền con người, là giá trị mang tính phổ quát được thừa nhận chung và rộng rãi Trong ý nghĩa tích cực của nó, cá nhân khi bày tỏ ý kiến của mình là mong muốn được người khác, được xã hội biết đến để cùng bàn luận, giải quyết các vấn đề xã hội đặt ra Quyền được thông tin là cơ sở để thực hiện quyền làm chủ, trong đó quyền được thông tin về hoạt động của Nhà nước cũng đóng góp một phần rất quan trọng

Qua việc nghiên cứu thực tiễn ở các nước trên thế giới cho thấy các quốc gia phát triển đều rất coi trọng quyền tự do ngôn luận, các nước càng phát triển thì tự do ngôn luận càng được chú ý, đề cao và được bảo vệ Nhìn chung, quốc gia nào cũng không cho rằng sự phát ngôn là tùy tiện, tự do một cách tuyệt đối Các quốc gia trên thế giới từ rất sớm đã nhận ra vai trò đặc biệt quan trọng của internet trong việc thực thi nguyền tự do ngôn luận Có quốc gia thì có chính sách mở rộng, tạo điều kiện, nhưng cũng có các quốc gia thì tìm cách thắt chặt, quản lý Tuy nhiên, quốc gia nào cũng đều có các nguyên tắc tối thiểu trong việc bảo vệ các nhóm dễ bị xâm hại, yếu thế như trẻ em, các nhóm quyền dễ bị tác động đến đời sống xã hội mỗi quốc gia và tập trung bảo vệ các lợi ích chính trị cốt lõi của quốc gia đó

Liên quan đến môi trường internet, một học giả người Mỹ nào đó đã từng phát biểu: thật điên rồ khi không có một quy định pháp luật về quản lý thông tin trên mạng internet Tuy nhiên có quan điểm cho rằng việc quản lý

Ngày đăng: 21/05/2020, 14:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Minh Dũng (2016), “Cơ sở pháp lý của quyền tự do ngôn luận”, Tạp chí Nghề luật (số 1/2016), tr. 62-68 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở pháp lý của quyền tự do ngôn luận
Tác giả: Lê Minh Dũng
Năm: 2016
2. Đỗ Thị Hương (2016), “Quyền tiếp cận thông tin, quyền tự do ngôn luận với việc đảm bảo quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Nghề luật (số 3/2016), tr. 40-45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền tiếp cận thông tin, quyền tự do ngôn luận với việc đảm bảo quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Đỗ Thị Hương
Năm: 2016
3. Chu Thị Thúy Hằng (2015), “Việt Nam với việc nội luật hóa quy định của pháp luật quốc tế về quyền tự do ngôn luận”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, tập 31 số 3, tr. 51-59 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Việt Nam với việc nội luật hóa quy định của pháp luật quốc tế về quyền tự do ngôn luận”
Tác giả: Chu Thị Thúy Hằng
Năm: 2015
4. Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội (2018), Phạm vi và giới hạn của Tự do internet, Nxb. Chính trị quốc gia sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Phạm vi và giới hạn của Tự do internet
Tác giả: Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia sự thật
Năm: 2018
5. Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội (2012), Giới thiệu Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, Nxb. Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới thiệu Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị
Tác giả: Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Nxb. Hồng Đức
Năm: 2012
6. Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội (2015), Giới hạn chính đáng đối với các quyền con người, quyền công dân trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, Nxb. Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới hạn chính đáng đối với các quyền con người, quyền công dân trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam
Tác giả: Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Nxb. Hồng Đức
Năm: 2015
7. Hoàng Đức Nhã (2016), Quyền tự do ngôn luận thông qua mạng xã hội ở Việt Nam hiện nay, Luận văn Thạc sĩ luật học; Bảo vệ tại Học viện khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền tự do ngôn luận thông qua mạng xã hội ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Hoàng Đức Nhã
Năm: 2016
8. Nguyễn Hoàng Thanh (2016),“Hoàn thiện quy định về quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí của công dân nhằm thực hiện Hiến pháp năm 2013”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp (số 06), tr.20-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ),“Hoàn thiện quy định về quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí của công dân nhằm thực hiện Hiến pháp năm 2013”
Tác giả: Nguyễn Hoàng Thanh
Năm: 2016
9. Vũ Thƣ, Bùi Đức Hiền (2010), “Tự do ngôn luận trên internet và vấn đề quản lý nhà nước về thông tin mạng”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật (số 3/2010), tr. 18-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tự do ngôn luận trên internet và vấn đề quản lý nhà nước về thông tin mạng”
Tác giả: Vũ Thƣ, Bùi Đức Hiền
Năm: 2010
10. Melvin Urofsky, Các quyền con người được Hiến pháp bảo đảm – Tự do cá nhân và Tuyên ngôn Nhân quyền Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w