Thực tiễn: Sinh học là môn khoa học thực nghiệm, phương pháp nghiên cứu chủ yếu là dựa trên cách quan sát thực tế, các thí nghiệm, thực hành để rút ra những kiến thức chung, khái qu
Trang 1MỤC LỤC
Phần I MỞ ĐẦU
Chương II: Thực trạng công tác giảng dạy môn sinh học trường THCS
Trang 2PHẦN I: MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
a Lý luận:
Trong những năm gần đây Giáo dục luôn được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm và chú trọng Giáo dục là quốc sách hàng đầu vì thế việc triển khai các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục, dạy học theo chuẩn kiến thức kĩ năng, đổi mới kiểm tra đánh giá, ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy, nhằm phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh trong học tập, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh
Để đạt được điều này, người thầy đóng vai trò rất quan trọng Thầy là người có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ vững vàng, có lòng nhiệt tình và tâm huyết nghề nghiệp Bên cạnh đó thầy phải biết vận dụng hợp lý các phương pháp dạy học
(PPDH) với từng kiểu bài, từng nội dung kiến thức, đề ra những biện pháp tích cực
nhằm giúp học sinh vận dụng kiến thức lý thuyết vào thực hành và thực tiễn cuộc
sống, định hướng cho học sinh có những tri thức và kỹ năng vững chắc bước vào
cuộc sống
b Thực tiễn:
Sinh học là môn khoa học thực nghiệm, phương pháp nghiên cứu chủ yếu là
dựa trên cách quan sát thực tế, các thí nghiệm, thực hành để rút ra những kiến thức chung, khái quát về các hiện tượng tự nhiên và các quy luật của Sinh học Bên cạnh đó số bài có thực hành thí nghiệm, thực hành quan sát theo hướng dẫn điều chỉnh nội dung dạy học của Bộ GD&ĐT và Sở GD&ĐT Vĩnh Phúc chiếm số tiết khá cao
(Sinh 6: 8/70 tiết) Vì vậy mà yêu cầu đặt ra cho giáo viên khá cao và học sinh cũng
gặp nhiều khó khăn khi học các tiết có thực hành thí nghiệm, thực hành quan sát
Để dạy thành công một bài thực hành là vấn đề rất khó, nếu thực hành không
thành công sẽ không đạt được yêu cầu bài học Sự thành công của tiết dạy phụ thuộc vào nhiều yếu tố, vậy làm thế nào để phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, rèn kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, đem lại niềm vui và hứng thú học tập bộ môn
Qua thực tế giảng dạy và tiếp tục vận dụng đổi mới phương pháp giảng dạy tôi
xin ghi lại một vài kinh nghiệm mà bản thân đã thực hiện để bạn bè, đồng nghiệp cùng tham khảo và đóng góp ý kiến để việc dạy các tiết thực hành đạt hiệu quả cao nhất Đó là lý do của đề tài:
'' Một số kinh nghiệm trong vận dụng đổi mới phương pháp giảng dạy
ở các tiết thực hành Sinh học 6 "
2 Mục đích nghiên cứu:
Qua nghiên cứu tôi muốn nêu ra một vài ý kiến về vấn đề dạy một tiết thực hành sinh học như thế nào để thu được hiệu quả cao nhất Đó là mục đích nghiên cứu của đề tài Từ thực trạng như đã nêu trên, qua tìm tòi nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm với đồng nghiệp, bản thân tôi đã đúc rút được một số kinh nghiệm, có thể xem đó là tính mới của đề tài: Làm thế nào để dạy một tiết thực hành đạt hiệu quả trên cơ sở vận dụng các kĩ thuật, PPDH tích cực và ứng dụng công nghệ thông tin
Trang 3học sinh tích cực tham gia giờ học, tìm tòi, nghiên cứu khoa học, vận dụng và giải quyết các vấn đề trong học tập và thực tế cuộc sống
3 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu ở đây là vấn đề dạy tiết thực hành trong chương trình sinh học lớp 6 Đối tượng nhận thức ở đây là học sinh lớp 6 của trường THCS Khai Quang do tôi trực tiếp giảng dạy
4 Phương pháp nghiên cứu:
- Theo dõi kết quả học tập, thái độ học tập của học sinh qua các tiết thực hành, thí
nghiệm từ năm học 2010 đến nay, tìm ra nguyên nhân: Vì sao chất lượng các tiết dạy thực hành chưa thật cao, việc vận dụng lý thuyết học tập của học sinh vào các bài thực hành và thực tế cuộc sống còn nhiều khó khăn?
- Điều tra, tổng hợp, thống kê số liệu về kết quả học tập của học sinh ở các tiết thực hành ba năm học liền kề từ năm 2010 đến nay
- Khảo sát, thu thập, tổng hợp các bài làm của học sinh qua các năm học, có kế hoạch lưu trữ các tư liệu, bài báo cáo kết quả tốt khá (đóng tập)
- Điều tra lấy ý kiến của học sinh qua các tiết dạy thực hành, thí nghiệm GV đã thiết kế và có kế hoạch điều chỉnh cho phù hợp thực tế và khả năng học sinh
5 Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi nghiên cứu: Vấn đề dạy các tiết thực hành trong chương trình sinh học THCS khối 6 theo phương pháp đổi mới
- Học sinh lớp 6A,D trường THCS Khai Quang được thực hiện qua các tiết học từ đầu năm học cho đến nay
Phần II: NỘI DUNG
Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
- Mục tiêu của Giáo dục hiện nay không chỉ đơn thuần giúp học sinh ( HS) cách nắm bắt, tiếp thu kiến thức mà còn cần hướng dẫn các em cách vận dụng kiến thức như thế nào? Giúp các em có năng lực phát hiện, biết ghi chép và đề xuất ý kiến về một số vấn đề có liên quan kiến thức đã học, đồng thời góp phần hình thành nhân cách cho các em, hình thành một số kĩ năng cần thiết
- Đề tài nghiên cứu nhằm xây dựng các giờ học theo hướng lấy học sinh làm trung tâm của quá trình dạy-học, xây dựng các tiết dạy thực hành thí nghiệm, thực hành quan sát theo hướng nghiên cứu, hạn chế dạy minh họa và qua đó rèn kỹ năng thực nghiệm cho học sinh, kích thích óc tìm tòi, nghiên cứu, tích cực tham gia trong quá trình học tập Học sinh nắm được mục tiêu, đối tượng, các bước tiến hành, tự lực giải thích được kết quả thực hành, trên cơ sở đó khám phá kiến thức mới hoặc củng
cố kiến thức lý thuyết và biết vận dụng vào giải thích thực tế hoặc sản xuất ở gia đình, địa phương
Trang 4- Nhiệm vụ của đề tài: Trao đổi một số vấn đề về:
+ Vai trò của thực hành, thí nghiệm trong dạy học Sinh học
+ Làm thế nào để dạy một tiết thực hành đạt kết quả cao nhất?
+ Rèn học sinh các kĩ năng cần thiết liên quan, trong đó có một số kĩ năng giáo viên cần đặc biệt quan tâm: kĩ năng quan sát, thu thập thông tin, viết báo cáo, báo cáo, hợp tác nhóm
Chương II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC DẠY HỌC MÔN SINH HỌC
TRƯỜNG THCS KHAI QUANG HIỆN NAY
Sinh học là môn học khoa học thực nghiệm, kiến thức sinh học được hình thành chủ yếu bằng phương pháp quan sát, mô tả, tìm tòi thực nghiệm… Do đó, dạy học sinh học không chỉ có tranh ảnh, mô hình, vật mẫu, mà còn phải tiến hành các thí nghiệm và thực hành nhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh (HS) Nhưng với đa số các em học sinh, việc tiến hành thí nghiệm, thực hành quan sát hay tìm tư liệu viết báo cáo được xem là không cần thiết, các em nghĩ rằng chỉ cần học thuộc những gì ghi nhận trên lớp là xong Tiến hành thí nghiệm, tìm tư liệu vừa mất thời gian, vừa không được gì nên việc thực hiện các yêu cầu của giáo viên về chuẩn bị các điều kiện cho thí nghiệm hay thực hành quan sát thì nhiều học sinh có thói quen tiến hành một cách qua loa, chiếu lệ như: Thao tác không như hướng dẫn, điều kiện thí nghiệm không đúng, vật mẫu không đạt yêu cầu, tư liệu không theo chủ đề, các bài báo cáo, thu hoạch viết sơ sài Nói chung các em chưa thật sự tích cực và chưa có kỹ năng hoạt động hợp tác theo nhóm, chưa quen với việc tự mình làm chủ, tiến hành thực hành, thí nghiệm để tìm ra kiến thức mới, khắc sâu kiến thức đã học
Từ thực trạng trên đã chi phối không nhỏ đến kết quả các bài thực hành của các
em: Chỉ khoảng hơn 40% học sinh có kỹ năng thực hành, thí nghiệm; biết thao tác
trên mẫu vật, biết quan sát ghi lại kết quả, biết khai thác thông tin và viết báo cáo
Số học sinh còn lại (gần 60%) gặp khó khăn từ việc thực hành, thí nghiệm đến viết thu hoạch, báo cáo, thuyết trình trước lớp trên vật mẫu thí nghiệm hoặc bài viết Đây là vấn đề làm tôi suy nghĩ rất nhiều: Vận dụng đổi mới phương pháp dạy học như thế nào? Hình thức tổ chức ra sao? Yếu tố quyết định sự thành công của các tiết thực hành là gì?
Thấy được những thuận lợi, khó khăn trong giảng dạy các tiết thực hành, thí nghiệm trong nhà trường, tôi đã đưa vấn đề này vào một trong những nhiệm vụ và cũng để tìm giải pháp thực hiện Từ những năm học trước, việc giảng dạy các tiết thực hành được tôi chú ý hướng tới phát triển năng lực tích cực, độc lập hoạt động của học sinh trong học tập Điều này đồng nghĩa với việc làm cho học sinh thích thú với những tiết thực hành, hăng say với những đề tài được phân công và đó là nguồn dẫn đến kiến thức bằng con đường khám phá
+Vai trò của thực hành, thí nghiệm trong dạy học Sinh học:
- Thí nghiệm (TN) là cầu nối giữa lý thuyết và thực hành để đi đến thực tiễn.
Trang 5- TN giúp học sinh đi sâu tìm hiểu bản chất các hiện tượng, các quá trình Sinh học, hoàn thiện và kiểm chứng, chứng minh một vấn đề đã được đề cập
- TN có thể do giáo viên (GV) biểu diễn, do HS tự tiến hành hoặc xem băng hình
TN có thể tiến hành trên lớp, trong phòng TN, tại nhà hoặc tại một địa điểm nào đó
Vai trò, vị trí của giáo viên và học sinh trong tiết dạy thực hành, thí
nghiệm:
- GV là người hướng dẫn, tổ chức cho HS hoạt động giúp HS tự tìm ra kết luận và ghi nhớ GV chỉ là người cố vấn, theo dõi, giám sát các hoạt động của HS
- HS ở vị trí người nghiên cứu, sau khi nhận biết được mục tiêu của tiết thực hành,
HS hoạt động nhóm để tiến hành THTN dưới sự hướng dẫn của GV, chủ động hoạt động giành tri thức
*Điều tra nắm vững chất lượng học bộ môn đầu năm
Khối
lớp
6(A,D)
* Xây dựng kế hoạch
HS
khối
6(A,D)
Chương III: BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
I Những yêu cầu chính của phương pháp:
- GV phải đặt vấn đề rõ ràng, giải thích cụ thể mục đích yêu cầu, nội dung, các bước tiến hành của tiết thực hành thí nghiệm
- Cần hướng dẫn học sinh ghi chép những hiện tượng xảy ra trong quá trình thực hành thí nghiệm, những số liệu, hình ảnh … thu thập được trong quá trình điều tra Điều này là rất cần thiết vì học sinh có cơ sở giải thích, khái quát rút ra kết luận
- GV cần chuẩn bị tốt các câu hỏi, bài tập, biểu bảng, tư liệu cần thu thập…các câu hỏi và bài tập này được GV nêu ra ở phần dặn dò của tiết học trước (Sử dụng phiếu học tập để giao nhiệm vụ, hướng dẫn cách tiến hành), khuyến khích HS khai thác thông tin theo một số chủ đề có liên quan trên mạng internet Yêu cầu các câu hỏi phải phù hợp chủ đề bài học có tính chất định hướng, kích thích được hứng thú, sự tìm tòi độc lập, sáng tạo của HS để sau khi tìm được câu trả lời sẽ giúp học sinh nắm vững, hiểu sâu bản chất của vấn đề Trong giảng dạy GV phải linh hoạt, có tính đến các yếu tố như: Thời gian (Ví dụ: Bài 21 Quang hợp-Sinh học 6- tiết 23),
Trang 6thời tiết (Ví dụ: Các thí nghiệm cần điều kiện bên ngoài như xem các bộ phận của hạt, điều kiện nảy mầm của hạt )
* Ví dụ 1: Bài 21: Quang hợp (Sinh học 6 - tiết 23) Yêu cầu ở bài này GV
cung cấp thông tin, HS quan sát tranh vẽ kết hợp kiến thức đã học rút ra kết luận lá cây chế tạo tinh bột khi có ánh sáng và nhả ra khí oxi Bài này không tiến hành được thí nghiệm (TN) trên lớp vì thời gian tiến hành TN là 48 giờ trong điều kiện chiếu sáng liên tục, vì vậy khi dạy tôi đã sử dụng các tư liệu phim của Thư viện Giáo dục và phần mềm Microsoft Power Points trình chiếu nên HS vẫn có thể quan
sát TN “thật” qua băng hình trong thời gian chỉ có vài phút HS dễ dàng hơn
trong việc quan sát TN với quan sát tranh, từ đó rút ra nhận xét, kết luận (Giáo án bài dạy kèm theo ở đĩa CD)
* Kết quả:
Sau khi áp dụng hình thức này vào quá trình dạy học, kết quả đạt được như sau:
Thứ nhất: đã tạo được hứng thú học tập sôi nổi, khơi dậy niềm say mê học hỏi
và nghiên cứu khoa học trong học sinh, kỹ năng thực hành được phát triển, phương pháp học tập có nhiều tiến bộ
Thứ hai: ý thức trách nhiệm của học sinh với môn học được hình thành thường
xuyên, tạo thói quen lành mạnh trong học tập; phát huy tính độc lập, tự giác và sáng tạo của học sinh Sự đoàn kết, giúp đỡ bạn bè trong học tập được nâng cao, phần nào có kế hoạch cụ thể cho chặng đường tiếp theo Tư tưởng sợ học môn Sinh được loại bỏ
* Giải pháp:
- Thí nghiệm (TN) nhất thiết phải có phần đối chứng để kiểm tra kết quả TN, giúp
HS tìm được mối quan hệ nhân quả của các hiện tượng xảy ra trong TN Với các
TN đơn giản hơn thì không nhất thiết phải có đối chứng
- Phải bảo đảm tính sư phạm, tính khoa học của việc biểu diễn thí nghiệm, dự đoán trước những thắc mắc của HS có thể đưa ra khi quan sát TN, lường trước thất bại có thể xảy ra để giải thích HS rõ nguyên nhân, tránh mất lòng tin đối với HS
- Trong dạy học Sinh học, có những thí nghiệm cần nhiều thời gian, khó thành công (Bài 21: Quang hợp -Sinh học 6 tiết 23) hoặc có những bài thực tế địa phương không có địa điểm tiến hành thực hành quan sát được, thời gian không cho phép, tư liệu ít GV sử dụng đĩa CD có các tư liệu hình ảnh, một số thí nghiệm khó thành công hoặc cần nhiều thời gian, máy chụp hình và trình chiếu qua Power Points để tăng tính thuyết phục
- Đối với TN diễn tả cùng một bản chất hay cùng một qui luật trong những điều kiện khác nhau, GV nên biểu diễn song song để cho hiệu quả cao hơn hình thức biểu diễn lần lượt từng TN
II Quá trình áp dụng:
- Trong thực tế giảng dạy bản thân đã tiếp tục vận dụng các phương pháp, kĩ thuật
dạy học tích cực trong dạy học Sinh học, đặc biệt là các tiết thực hành Biến các em trở thành chủ thể của quá trình học tập, đưa các em vào vị trí chủ động, đòi hỏi các
em phải tích cực suy nghĩ, tư duy bằng những câu hỏi tình huống có tính chất nêu
Trang 7vấn đề, gợi mở… biết phân tích nguyên nhân, kết quả và liên hệ thực tế vận dụng vào cuộc sống
- GV cần nắm rõ từng đối tượng học sinh ở các lớp giảng dạy, bằng các phương pháp dạy học tích cực tạo nhu cầu nhận thức có mong muốn tìm hiểu các hiện tượng sinh học, các vấn đề thực tế hướng dẫn học sinh tự lực tham gia vào các hoạt động giáo viên đã thiết kế tạo điều kiện cho các em bộc lộ khả năng nhận thức, biết cách thu thập thông tin, trình bày và bảo vệ ý kiến của mình khi thảo luận
ở nhóm, tranh luận trước lớp
- Khuyến khích học sinh nêu thắc mắc, nêu tình huống có vấn đề và tham gia giải quyết vấn đề, đề xuất ý kiến khắc phục, giải quyết
- Sau đây là một số bài dạy THTN tôi đã áp dụng kĩ thuật dạy học tích cực lồng ghép với giáo dục môi trường, giáo dục kĩ năng sống cho các em kết hợp với việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học
a/ Đối với các thí nghiệm có sự tham gia của học sinh trong thực hiện thí
nghiệm:
- Kiểm tra việc thực hiện thí nghiệm của học sinh, ghi nhận nhanh kết quả thực hiện của các nhóm: nhóm làm tốt, nhóm làm chưa tốt
- Cho học sinh quan sát thí nghiệm giáo viên đã tiến hành học sinh so sánh với kết quả nhóm đã thực hiện
- Cho 1 đến 2 nhóm học sinh trình bày các bước tiến hành thí nghiệm trên cơ sở nhóm đã thực hiện, nêu kết quả thu được, các nhóm nhận xét bổ sung
- Giáo viên nêu nhận xét tóm tắt các bước chủ yếu trong quá trình tiến hành làm thí nghiệm, nhận xét kết quả thí nghiệm của các nhóm, khen ngợi nhóm làm tốt, hỏi về nguyên nhân thí nghiệm chưa thành công, giải thích cụ thể trên từng thí nghiệm hỏng và rút kinh nghiệm chung cho cả lớp Qua bài dạy rèn kĩ năng tìm kiếm và xử lý thông tin khi đọc SGK tìm hiểu cách tiến hành thí nghiệm và quan sát TN, kĩ năng tự tin khi trình bày kết quả làm việc của nhóm, kĩ năng giải quyết vấn đề giải thích các hiện tượng thực tế cuộc sống liên quan sự vận chuyển các chất trong thân
* Ví dụ 2: Tiết 18: Thực hành " Vận chuyển các chất trong thân"
Mục 1 Vận chuyển nước và muối khoáng hòa tan trong thân, GV dạy bằng phương pháp thực hành.
- Bước 1: Giáo viên giới thiệu mục đích của tiết thực hành: Xác định nước và
muối khoáng vận chuyển qua bộ phận nào của thân?
- Bước 2: Chuẩn bị 2 bình thủy tinh, 1 bình đựng mực xanh hoặc đỏ, 1 bình
đựng nước cất, 2 cành hoa trắng (hoa hồng hoặc hoa huệ), kính lúp, dao con
- Bước 3: GV hướng dẫn HS các thao tác thực hành.
- Bước 4: HS tiến hành thực hành theo nhóm (để dễ quan sát HS làm trước thí
nghiệm ở nhà)
- Bước 5: HS tiến hành khai thác thông tin từ kết quả thực hành:
Trang 8+ Khi quan sát thấy cánh hoa chuyển màu, rõ nhất là gân hoa, cánh hoa có màu giống màu mực Vậy nó được chuyển qua bộ phận nào của thân?
+ Cắt ngang qua thân, dùng kính lúp quan sát bộ phận nhuộm màu Kết luận: Nước và muối khoáng được vận chuyển từ rễ lên thân, lá nhờ mạch gỗ của cây?
Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh
+ GV sau khi kiểm tra và ghi nhận sơ
lược kết quả thí nghiệm của các
nhóm Yêu cầu nhóm trình bày thí
nghiệm đã tiến hành trước ở nhà về
sự vận chuyển nước và muối khoáng
hòa tan
+ GV cho HS cả lớp xem TN của
mình tiến hành trên cành mang hoa
(cành hoa hồng trắng hoặc cành huệ
trắng ), cành mang lá (cành dâu)
Hỏi: Vì cần thực hiện thí nghiệm trên
cả cành hoa hồng và cành dâu?
+ GV hướng dẫn HS cắt lát mỏng
qua cành của nhóm quan sát bằng
kính lúp, kính hiển vi xác định chỗ
bị nhuộm màu
+ Yêu cầu h/s thảo luận nhóm, cho
biết:
1/ Phần nào của thân đã bị nhuộm
màu ? Vì sao em biết?
2/ Vậy nước và muối khoáng được
vận chuyển từ rễ lên thân, lá nhờ bộ
phận nào của cây?
+ HS hoạt động theo nhóm, đại diện nhóm trình bày trước lớp các bước tiến hành TN và kết quả thực hiện của nhóm mình
- Nhóm khác nhận xét bổ sung
- Các nhóm so sánh xem nhóm nào có kết quả tốt
- Quan sát
HS trả lời: Chứng minh có sự vận chuyển các chất trong thân lên hoa và lá
+ HS tiến hành TN theo nhóm: Cắt lát mỏng ngang cành dâu và cành hoa hồng, quan sát nơi bị nhuộm màu
+ Các nhóm thảo luận
- Đại diện 1 2 nhóm trình bày kết quả của nhóm mình dựa trên vật mẫu thí nghiệm hoặc vẽ lên bảng cho cả lớp theo dõi nhóm khác bổ sung
Trang 9+ GV nhận xét, đánh giá cho điểm
nhóm trả lời tốt
* GV nêu nhận xét về kết quả thí
nghiệm của nhóm làm tốt, làm chưa
tốt, cho h/s tự giải thích nguyên nhân
tóm tắt ý chính của hoạt động
kết luận
* Kết luận:
Nước và muối khoáng được vận
chuyển từ rễ lên thân nhờ mạch gỗ.
b/ Đối với các thí nghiệm do giáo viên tiến hành, học sinh chỉ dựa trên quan sát phân tích để thu nhận kiến thức.
- Yêu cầu học sinh nghiên cứu các thông tin liên quan đến thí nghiệm như: Mục đích thí nghiệm, điều kiện để thực hiện thí nghiệm, các bước tiến hành thí nghiệm, kết quả thí nghiệm
- Cho học sinh trình bày các bước tiến hành thí nghiệm thông qua các dụng cụ được giáo viên chuẩn bị sẵn Rèn kỹ năng tìm kiếm và xử lý thông tin khi đọc SGK để tìm hiểu cách tiến hành TN và quan sát TN, kĩ năng trình bày thí nghiệm, thực hành thí nghiệm
- Cho học sinh quan sát thí nghiệm mẫu đã có kết quả do giáo viên chuẩn bị trao đổi thảo luận để tìm ra kiến thức được cung cấp thông qua thí nghiệm
Ví dụ 3: Bài 23: "Cây có hô hấp không?", thí nghiệm 1: chứng minh hiện
tượng cây thải ra môi trường khí cacbônic
Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh
Trang 10Thí nghiệm 1 (tr 77, SGK) :
+ Cho 1 HS đọc thông tin
+ Sau khi HS đọc xong, GV hỏi: Khi để
cốc nước vôi trong trong không khí có
lớp váng trắng đục mỏng, vì sao?
+ Cho HS gạch dưới các từ sau: “ Cốc
nước vôi trong để một thời gian, có lớp
váng trắng đục mỏng vì trong không khí
có khí cacbônic” chính khí cacbônic
làm cho cốc nước vôi trong có váng trắng
đục mỏng, điều đó diễn ra như thế nào
các em sẽ được học ở chương trình hóa
học sau này
+ Yêu cầu HS đọc thí nghiệm 1 nắm
cách tiến hành, kết quả của thí nghiệm
Cho HS nêu các bước tiến hành thí
nghiệm thông qua dụng cụ được giáo
viên chuẩn bị sẵn: 2 chuông A, B; 2 tấm
kính ướt; 2 cốc nước vôi trong; 1 cây nhỏ
trồng trong cốc; 2 túi giấy đen
+ Cho một số học sinh quan sát kết quả thí
nghiệm 1
Thảo luận: trả lời các câu hỏi
- Không khí trong hai chuông có chất khí
gì? Vì sao em biết?
- Vì sao trên mặt cốc nước vôi trong
chuông A có lớp váng trắng đục dầy
hơn?
- Từ kết quả thí nghiệm 1 ta có thể rút ra
được kết luận gì?
- GV hoàn thiện đáp án tiểu kết
* Kết luận: Khi không có ánh sáng, cây
đã thải ra nhiều khí cacbônic.
+ HS đọc thông tin SGK tr.77 + Trả lời câu hỏi
+ HS thực hiện theo yêu cầu của giáo viên
+ Quan sát hình 23.1 đọc thí nghiệm tìm hiểu về chuẩn bị, cách tiến hành, kết quả
H/s thực hiện và nêu các bước tiến hành thí nghiệm thông qua dụng
cụ có sẵn
+ HS quan sát kết quả thí nghiệm
mà GV đã thực hiện
+ HS thảo luận nhóm nhỏ
- Không khí trong hai chuông đều có khí cacbônic, vì trên mặt cốc nước vôi trong 2 chuông đều có lớp váng trắng đục
- Lớp váng trắng trên mặt cốc nước vôi trong chuông A dày hơn
vì trong chuông có nhiều khí cacbônic hơn
- Cây đã thải ra nhiều khí cacbônic.
* Ví dụ 4: Bài 21: Quang hợp (Sinh học 6- tiết 23) HS tìm hiểu và phân tích
thí nghiệm để tự rút ra kết luận: Khi có ánh sáng lá có thể tự chế tạo được tinh bột
và nhả ra khí ôxi Bài này sử dụng kỹ thuật dạy học theo" Góc"
* Hoạt động 1: Hướng dẫn hoạt động học theo Góc.