Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản, giữ vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế ở hầu hết cả nước, nhất là ở các nước đang phát triển.. Tuy nhiên ở những nước có nền công
Trang 1Hà Nội,năm 2019
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ ĐỊA CHẤT
KHOA KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÔN : KINH TẾ PHÁT TRIỂN
Đề tài: Nông nghiệp đối với sự phát triển của nền kinh tế
Việt Nam.
Người hướng dẫn: TH.S Phạm Ngọc Tuấn
NHÓM 06
Trang 2ĐỀ TÀI : NÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NỀN KINH TẾ VIỆT NAM.
NỘI DUNG CHÍNH:
- Phần 1: Vai trò của nông nghiệp với phát triển kinh tế Việt Nam.
- Phần 2: Thực trạng vai trò của nông nghiệp với phát triển kinh tế ở Việt Nam.
- Phần 3: Giải pháp và định hướng phát triển Nông nghiệp Việt Nam.
Trang 3PHẦN 1:
1 Ngành nông nghiệp cung cấp lương thực thực phẩm cho nhu cầu
xã hội
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản, giữ vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế ở hầu hết cả nước, nhất là ở các nước đang phát triển Ở những nước này còn nghèo, đại bộ phận sống bằng nghề nông Tuy nhiên ở những nước có nền công nghiệp phát triển cao, mặc dù
tỷ trọng GDP nông nghiệp không lớn, nhưng khối lượng nông sản của các nước này khá lớn và không ngừng tăng, đảm bảo cung cấp đủ cho đời sống cho con người những sản phẩm tối cần thiết đó là lương thực, thực phẩm Lương thực thực phẩm là yếu tố đầu tiên, có tính chất quyết định
sự tồn tại phát triển của con người và phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.
Xã hội càng phát triển, đời sống của con người ngày càng được nâng cao thì nhu cầu của con người về lương thực, thực phẩm cũng ngày càng tăng
cả về số lượng, chất lượng và chủng loại Điều đó do tác động của các nhân tố: sự gia tăng dân số và nhu cầu nâng cao mức sống của con người Thực tiễn lịch sử các nước trên thế giới đã chứng minh, chỉ có thể phát triển kinh tế một cách nhanh chóng, chừng nào quốc gia đó đã có an ninh lương thực Nếu không đảm bảo an ninh lương thực thì khó có sự ổn định chính trị và thiếu sự đảm bảo cơ sở pháp lý, kinh tế cho sự phát triển, từ
đó sẽ làm cho các nhà kinh doanh không yên tâm bỏ vốn vào đầu tư dài hạn.
2 Cung cấp yếu tố đầu vào cho phát triển công nghiệp và khu vực đô thị
.
Nông nghiệp của các nước đang phát triển là khu vực dự trữ và cung cấp lao động cho phát triển công nghiệp và đô thị Khu vực nông nghiệp còn cung cấp nguồn nguyên liệu to lớn cho công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến Thông qua công nghiệp chế biến, giá trị của sản phẩm nông nghiệp nâng lên nhiều lần, nâng cao khả năng cạnh tranh của nông sản hàng hoá, mở rộng thị trường…
Trang 4Khu vực nông nghiệp là nguồn cung cấp vốn lớn nhất cho sự phát triển kinh tế trong đó có công nghiệp, nhất là giai đoạn đầu của công nghiệp hóa, bởi vì đây là khu vực lớn nhất, xét cả về lao động và sản phẩm quốc dân Nguồn vốn từ nông nghiệp có thể được tạo ra bằng nhiều cách, như tiết kiệm của nông dân đầu
tư vào các hoạt động phi nông nghiệp, thuế nông nghiệp, ngoại
tệ thu được do xuất khẩu nông sản… trong đó thuế có vị trí rất quan trọng
3 Làm thị trường tiêu thụ của công nghiệp và dịch vụ
Nông nghiệp và nông thôn là thị trường tiêu thụ lớn của công nghiệp Ở hầu hết các nước đang phát triển, sản phẩm công nghiệp, bao gồm tư liệu tiêu dùng và tư liệu sản xuất Sự thay đổi về cầu trong khu vực nông nghiệp, nông thôn sẽ có tác động trực tiếp đến sản lượng ở khu vực phi nông nghiệp
Phát triển mạnh mẽ nông nghiệp, nâng cao thu nhập dân cư nông nghiệp, làm tăng sức mua từ khu vực nông thôn sẽ làm cho cầu về sản phẩm công nghiệp tăng, thúc đẩy công nghiệp phát triển, từng bước nâng cao chất lượng sản phẩm của nông nghiệp
và có thể cạnh tranh với thị trường thế giới
4 Nông nghiệp tham gia vào xuất khẩu
Nông nghiệp được coi là ngành đem lại nguồn thu nhập ngoại tệ lớn Các loại nông, lâm thủy sản dễ dàng gia nhập thị trường quốc tế hơn so với các hàng hóa công nghiệp Vì thế, ở các nước đang phát triển, nguồn xuất khẩu để có ngoại tệ chủ yếu dựa vào các loại nông, lâm, thủy sản
Tuy nhiên xuất khẩu nông, lâm thuỷ sản thường bất lợi do giá cả trên thị trường thế giới có xu hướng giảm xuống, trong lúc đó giá cả sản phẩm công nghiệp tăng lên, tỷ giá kéo khoảng cách giữa hàng nông nghiệp và hàng công nghệ ngày càng mở rộng làm cho nông nghiệp, nông thôn bị thua thiệt so với công nghiệp
và đô thị.Gần đây một số nước đa dạng hoá sản xuất và xuất khẩu nhiều loại nông lâm thuỷ sản, nhằm đem lại nguồn ngoại tệ đáng kể cho đất nước
Trang 55 Nông nghiệp có vai trò quan trọng trong bảo vệ môi trường
Nông nghiệp và nông thôn có vai trò to lớn, là cơ sở trong sự phát triển bền vững của môi trường vì sản xuất nông nghiệp gắn liền trực tiếp với môi trường tự nhiên: đất đai, khí hậu, thời tiết, thủy văn Nông nghiệp sử dụng nhiều hoá chất như phân bón hoá học, thuốc trừ sâu bệnh … làm ô nhiễm đất và nguồn nước Quá trình canh tác, sản xuất nông nghiệp dễ gây ra xói mòn ở các triền dốc thuộc vùng đồi núi và khai hoang mở rộng diện tích đất rừng Vì thế cần tìm những giải pháp thích hợp để duy trì và tạo ra sự phát triển bền vững của môi trường
PHẦN 2:
1.Thuận lợi.
Nông nghiệp là một trong những ngành kinh tế quan trọng của Việt Nam Hiện nay, phát triển kinh tế phụ thuộc nhiều vào nông nghiệp Giá trị sản lượng nông nghiệp năm 2009 đạt hơn 71.000
tỷ đồng , tăng 1,32% so với cùng kỳ năm 2008 và chiếm 13,85% tổng sản phẩm quốc nội
Tỷ trọng của nông nghiệp trong những năm gần đây giảm dần khi các ngành kinh tế khác như công nghiệp, dịch vụ tăng lên Đóng góp của ngành nông nghiệp trong việc tạo công ăn việc làm lớn hơn đóng góp của nó trong GDP Việt Nam
Năm 2018, GDP của ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,76%, mức cao nhất kể từ năm 2012 Kết quả này khẳng định sự chuyển đổi cơ cấu của ngành nông nghiệp đã có hiệu quả
Theo công bố dữ liệu kinh tế xã hội năm 2018 của Tổng cục Thống kê, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam mở rộng với tỷ lệ 7,08% hàng năm, mức cao nhất kể từ năm 2008 đến nay Trong sự tăng trưởng kinh tế chung của nền kinh tế,
Trang 6ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,76%, đóng góp 8,7% vào tăng trưởng chung của nền kinh tế
Đây cũng là tốc độ tăng trưởng cao nhất của ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản trong giai đoạn 2012-2018 Kết quả này khẳng định xu hướng chuyển đổi cơ cấu của ngành nông nghiệp
đã có hiệu quả đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản
- Trong lĩnh vực lâm nghiệp và ngư nghiệp, ngành nông nghiệp tiếp tục khẳng định xu hướng phục hồi rõ ràng khi đạt mức tăng trưởng 2,89%, đây cũng là mức tăng trưởng cao nhất trong giai đoạn 2012-2018, đóng góp 0,36 điểm phần trăm vào tốc độ tăng trưởng của tổng giá trị gia tăng của toàn bộ nền kinh tế
- Cơ cấu nhà máy đã được thay đổi theo hướng tích cực với các giống lúa mới, chất lượng cao đang dần thay thế các giống lúa truyền thống, mô hình VietGAP có giá trị kinh tế cao được phát triển Cùng với lúa, nhiều loại cây lương thực truyền thống với giá thị trường thấp cũng có xu hướng giảm mạnh về diện tích Trong khi đó, diện tích và sản xuất các loại cây trồng có giá trị cao gắn liền với tiềm năng xuất khẩu như rau, cây ăn quả và cây công nghiệp tiếp tục tăng trong diện tích trồng
- Sản lượng trái cây năm 2018 khá tốt vì nhiều loại cây trồng tăng diện tích và có thị trường tiêu thụ ổn định Sản lượng cam, quýt
và bưởi đạt 1.697,9 nghìn tấn, tăng 10,9% so với năm trước; xoài đạt 788,5 nghìn tấn, tăng 5,8%; thanh long đạt 1074,2 nghìn tấn, tăng 12,8%; Dứa đạt 674 nghìn tấn, tăng 9,1% Đặc biệt sản lượng của nhãn và vải cao do điều kiện thời tiết thuận lợi
- Cùng với nông nghiệp, ngành chăn nuôi, thủy sản và lâm nghiệp tiếp tục duy trì sự ổn định Sản lượng thủy sản ước tính là 7,756,5 nghìn tấn, tăng 6,1% so với năm trước Trong đó, nuôi trồng thủy sản đạt tốc độ tăng trưởng tốt với sản lượng ước tính hàng năm là 4,2 triệu tấn, tăng 6,7% trong đó sản lượng cá đạt 2902,5 nghìn tấn, tăng 6,9%; tôm đạt 804,3 nghìn tấn, tăng 8,1%.Đối với cá tra, mặc dù xuất khẩu rất tốt trong năm 2018,
Trang 7nhưng diện tích nuôi năm 2018 vẫn được kiểm soát theo hướng phát triển bền vững, ước tính đạt 22,4 nghìn ha, giảm 0,9% so với năm trước.Trong khi đó, sản lượng tôm sú ước tính đạt 274,3 nghìn tấn, tăng 5,5% so với cùng kỳ năm ngoái; tôm trắng đạt 492,3 nghìn tấn, tăng 10%, v.v … Cùng với nuôi trồng thủy sản, hoạt động đánh bắt năm 2018 cũng tăng khá tốt với sản lượng ước tính hàng năm là 3.602,7 nghìn tấn, tăng 5,3% so với năm 2017
2 Khó Khăn.
- Quỹ rừng, quỹ đất, quỹ nước, quỹ gien của nông nghiệp Việt Nam đang bị thu hẹp đến thời hạn thấp, ảnh hưởng đến phát triển nông nghiệp
- Rừng nhiệt đới đang suy giảm nhanh về số lượng và chất lượng Diện tích rừng chỉ còn chiếm 27,7% diện tích tự nhiên, thấp xa
so với độ an toàn của môi trường sinh thái
- Đất nông nghiệp và đất canh tác bình quân đầu người ngày càng giảm, do dân số vẫn tiếp tục tăng nhanh, dẫn đến sự thiếu hụt tư liệu cơ bản để phát triển sản xuất nông nghiệp Diện tích đất đai
bị xói mòn, thoái hoá do việc phá rừng gây ra cũng đang ngày càng tăng lên
- Quỹ nước dư thừa ở nhiều vào mùa mưa nhưng lại thiếu hụt vào mùa khô (nhất là vùng đồi núi)
- Quỹ gien thực vật và động vật nước ta cũng đang bị đe doạ giảm tính đa dạng sinh học, do khai thác có tính huỷ diệt nguồn tài
Trang 8nguyên (đốt phá rừng, săn bắt động vật, khai thác thuỷ sản bằng chất nổ, bằng điện, chất độc)
Môi trường sinh thái đang bị ô nhiễm nghiêm trọng ở một số địa phương do chất thải công nghiệp, do sử dụng bừa bãi phân hoá học, hoá chất trừ sâu, diệt cỏ, gây ô nhiễm đất canh tác, nguồn nước mặt, nước ngầm và để dư lượng chất độc hại trong nông sản thực phẩm
Đói nghèo đang còn tồn tại ở nhiều vùng miền núi cũng như vùng nông thôn đồng bằng Khi người dân chưa có đủ việc làm, không có thu nhập để mua lương thực, rơi vào tình trạng nghèo đói thì dễ dẫn đến kết cục là họ sẽ phá rừng, khai thác lâm sản bừa bãi
PHẦN 3:
1.Giải pháp
- Thực hiện hiệu quả hơn nữa chương trình tái cơ cấu nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới
- Đối với khối doanh nghiệp, hiệp hội, ngành hàng, đồng hành chặt chẽ để thực hiện bằng được phát triển nông nghiệp, nông
Trang 9thôn Coi doanh nghiệp là hạt nhân liên kết để thực hiện được nghị quyết sắp tới ban hành của chính phủ
- Đẩy mạnh chỉ đạo thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp để tăng nguồn đầu tư, thu hút nguồn lực đầu tư vào khu vực nông nghiệp và nông thôn
- Tuyên truyền, giáo dục về môi trường trong toàn xã hội nhằm nâng cao ý thức người dân, có các giải pháp về kiểm tra, kiểm soát môi trường chặt chẽ, hoàn thành hệ thống pháp luật về bảo
vệ môi trường (trong đó có những chế tài xử phạt: cưỡng chế hành chính và xử lí hình sự)
2.Định hướng.
- Đại hội Đảng lần thứ VIII đã đề ra mục tiêu chiến lược về CNH-HĐH đất nước là: từ nay (1996) đến năm 2020 phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp, có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất… Trong cơ cấu kinh tế, tuy nông nghiệp tiếp tục phát triển mạnh, song công nghiệp và dịch vụ sẽ chiếm tỷ trọng rất lớn trong GNP và trong lao động xã hội Đặc biệt coi trọng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn, phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản… Hình thành các vùng tập trung chuyên canh, có cơ cấu hợp lý về cây trồng, vật nuôi, có sản phẩm hàng hoá nhiều
về số lượng, tốt về chất lượng, đảm bảo an toàn về lương thực cho xã hội, đáp ứng được yêu cầu của công nghiệp chế biến và của thị trường trong và ngoài nước Thực hiện thuỷ lợi hoá, điện khí hoá, cơ giới hoá, sinh học hoá…
- Những nghành sản xuất hàng hóa quan trọng của Nông nghiệp trong 19 năm tới:
Trang 10+ Về sản xuất lương thực: lúa gạo là ngành sản xuất có thế mạnh Mức sản lúa ổn định khoảng 33 triệu tấn/năm, trong đó lúa gạo để ăn và dự trữ khoảng 25 triệu tấn/năm Giữ ổn định khoảng 4 triệu ha đất có điều kiện tưới tiêu chủ động để sản xuất lúa Cây màu lương thực chủ yếu là ngô, cần phát triển đạt mức 5-6 triệu tấn/năm đủ nguyên liệu để làm thức ăn chăn nuôi
+ Về cây công nghiệp ngắn ngày : Không xây dựng thêm các nhà máy đường mới, phát triển mạnh các loại cây có dầu như lạc (đậu phụng), đậu tương (đậu nành), vừng (mè), hướng dương…
để cung cấp dầu ăn, các loại cây có sợi như bông, dâu tằm gắn với ngành ươm tơ, dệt lụa phát triển thuốc lá nguyên liệu để giảm lượng thuốc lá nhập khẩu.Những cây công nghiệp lâu năm truyền thống có giá trị kinh tế cao là: cà phê với mức 400.000 ha
cà phê với hiện có, tập trung phát triển cà phê chè, sản lượng cà phê trong tương lai giữ mức khoảng 600.000 tấn/năm Phát triển mạnh cây điều ở miền Trung, tăng diện tích lên 500.000 ha, sản lượng khoảng 100.000 tấn nhân điều/năm Hồ tiêu là cây lâu năm có hiệu quả kinh tế cao, cần nâng diện tích lên 50.000 ha, sản lượng 100.000 tấn/năm Tập trung thâm canh 400.000 ha cao su hiện có, mở rộng vườn cây cao su để đạt 600.000 tấn cao
su mủ khô/năm Bên cạnh đó phát triển công nghiệp chế biến các sản phẩm từ mủ cao su, gỗ cao su Chè là cây dài ngày chủ lực ở các tỉnh miền núi phía Bắc Cần mở rộng 100.000 ha với công nghệ thâm canh để đạt sản lượng 100.000 tấn chè các loại/năm
+ Về rau, hoa quả và cây cảnh, ngoài các loại rau truyền thống, phát triển các loại rau cao cấp mới như: các loại đậu rau, ngô rau, măng, nấm ăn, nấm dược liệu…là những loại rau có giá trị dinh dưỡng cao, có thị trường tiêu thụ, tiếp tục phát triển các loại cây ăn quả có khả năng xuất khẩu: vải, nhãn, dứa, thanh long…
+ Về lâm nghiệp: ngoài việc bảo vệ, khoanh nuôi, tái sinh, trồng rừng phòng hộ, cần phát triển rừng sản xuất Cụ thể: phát triển các loại tre, trúc, keo, thông, các loại bạch đàn…làm nguyên liệu phát triển ngành giấy Tiếp tục phát triển các ngành sản xuất
Trang 11ván gỗ nhân tạo gồm ván ghép thành, ván dăm, ván sợi, công nghiệp chế biến và xuất khẩu đồ gỗ, thủ công mỹ nghệ…Phát triển các loại quế, hồi…,các loại cây gỗ quý hiếm như giáng hương, sao, lim, lát, pơmu, tếch…các loại cây đặc sản, cây lấy
gỗ làm nguyên liệu để chế biến sản phẩm thủ công, mỹ nghệ +Về chăn nuôi: phát triển đàn lợn phù hợp nhu cầu thị trường tiêu dùng trong nước, một số vùng nuôi lợn chất lượng cao để xuất khẩu, phát triển đàn bò thịt theo hướng bò Zêbu có năng suất cao, phấn đấu trong 10 năm tới có 200.000 con bò sữa, trong đó có 100.000 con bò cái vắt sữa với sản lượng 300.000 tấn sữa tươi/năm Phát triển đàn gia cầm chủ yếu là gà vịt
+Về thuỷ sản: Cùng với việc phát triển đánh bắt xa bờ, tập trung đầu tư phát triển bền vững ngành nuôi trồng thuỷ sản Tôm là ngành chủ lực trong ngành nuôi trồng thuỷ sản gồm tôm nước lợ (tôm sú, tôm he) và
tôm nước ngọt (tôm càng xanh) Diện tích nuôi thâm canh và bán thâm canh là 100.000 ha, sản lượng 300.000 tấn/năm Đồng thời phát triển mạnh nuôi trồng các loại cá nước ngọt, nước lợ, nước mặn và các loại đặc sản khác
Qua đúc kết kinh nghiệm trong nửa sau của thế kỷ 20 và tham khảo kinh nghiệm một số nước trong khu vực và thế giới, chúng ta có thể khẳng định con đường phát triển nông nghiệp Việt Nam từ thế kỷ 20 bước vào thế kỷ 21 là: nông nghiệp sản xuất hàng hoá trên cơ sở CNH-HĐH với mức độ phù hợp yêu cầu của nông nghiệp bền vững