Đây là một phương pháp khoa học và có hệ thống để xác định, đánh giá và kiểm soát các mối nguy trong quá trình chế biến, sản xuất, bảo quản và sử dụng thực phẩm nhằm đảm bảo an toàn khi
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
QUẢN TRỊ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM
ĐỀ TÀI:TÌM HIỂU HỆ THỐNG QUẢN LÍ AN TOÀN THỰC PHẨM
THEO TIÊU CHUẨN ISO 22000:2005
Trang 2Bảng đánh giá thành viên
ST
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
Trang 3NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1 Sự hình thành và phát triển
2 Đặc điểm, cấu trúc
3 Nguyên tắc
4 Nội dung tiêu chuẩn
5 Vai trò và lợi ích của tiêu chuẩn
6 Ví dụ
Trang 41.Sự hình thành và phát triển của hệ thống an toàn thực phẩm theo tiêu chuẩn ISO 2200:2005
1.1 Sự hình thành của tiêu chuẩn ISO 22000:2005
An toàn thực phẩm đã trở thành một vấn đề được quốc tế quan tâm trước sự bùng nổ về nhiễm độc thực phẩm Kết quả nghiên cứu khoa học cho thấy: “Dioxin, một hoá chất gây ung thư được phát hiện trong thịt gia súc, gia cầm và trứng Listeria là một loại trực khuẩn gây bệnh thường được phát hiện trong các sản phẩm tươi sống bao gồm các loại thịt nguội, phomát và xúc xích” Năm 1999, sự kiện nhiễm khuẩn Listeria ở Mỹ đã gây ảnh hưởng tới hàng trăm người và 20 người chết do ăn phải xúc xích Sau đó, Cục quản lý Dược phẩm và Thực phẩm Mỹ (FDA) và Ban kiểm tra và an toàn thực phẩm (FSIS) đã yêu cầu các nhà sản xuất thực phẩm đồ nguội, đồ ăn nhanh phải đánh giá lại phương pháp quản lý an toàn thực phẩm Đồng thời, các nhà sản xuất phải tiến hành các hành động khắc phục cần thiết và xác định mối nguy về Listeria Ngày 29/11/2005, Hội nghị sơ kết đợt thanh tra vệ sinh an toàn thức ăn đường phố năm 2005 tại Hà Nội, Tp.HCM và Đà Nẵng đã công bố tỉ lệ thức ăn đường phố không đạt chỉ tiêu về vi sinh là 30% Ngoài ra, việc sử dụng phụ gia thực phẩm không thuộc danh mục cho phép của Bộ
Y tế vẫn còn khá phổ biến ISO 22000:2005 Food safety management systems Trước đó, Ủy ban thực phẩm Codex đã ban hành hệ thống HACCP (Hazard Analysis and Critical Control Point: Hệ thống phân tích các mối nguy và điểm kiểm soát tới hạn) như một công cụ quản lý an toàn thực phẩm Đây là một phương pháp khoa học và có hệ thống để xác định, đánh giá và kiểm soát các
mối nguy trong quá trình chế biến, sản xuất, bảo quản và sử dụng thực phẩm nhằm đảm bảo an toàn khi tiêu thụ
Tại Việt Nam, Tổng cục Tiêu chuẩn – Đo lường - Chất lượng đã qui định kể từ tháng 6/2005 những cơ sở đạt yêu cầu của HACCP mới được phép sản xuất, kinh doanh các mặt hàng thuộc 10 nhóm thực phẩm có nguy cơ cao Đó là thịt/sản phẩm
từ thịt; sữa/sản phẩm từ sữa; trứng/sản phẩm từ trứng; thủy sản tươi sống/chế biến; kem, nước đá/nước khoáng; các loại thực phẩm chức năng, bổ sung, phụ gia…;
Trang 5thực phẩm chế biến để ăn ngay; thực phẩm đông lạnh; sản phẩm từ đậu nành và cuối cùng là rau, củ, quả có thể ăn ngay
Ngày 04/01/1997, Tổng cục Tiêu chuẩn – Đo lường - Chất lượng đã ban hành Quyết định số 05/TĐC QĐ: Hướng dẫn chung về những nội dung cơ bản của điều kiện thực hành sản xuất tốt (GMP: Good Manufacturing Practice) áp dụng trong các cơ sở sản xuất thực phẩm Nhìn chung, một cơ sở sản xuất thực phẩm đều chịu chi phối bởi yêu cầu về HACCP và các qui định thực hành hiện đang triển khai áp dụng
Ngày 01/09/2005, Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa ISO (International Organization for Standardization) đã chính thức ban hành tiêu chuẩn ISO 22000:2005 Tiêu chuẩn này do Ủy ban kỹ thuật ISO/TC 34 soạn thảo Đây là tiêu chuẩn quốc tế về hệ thống quản lý an toàn thực phẩm nhằm đáp ứng yêu cầu của người tiêu dủng lẫn các bên quan tâm trên phạm vi toàn thế giới Tiêu chuẩn ISO 22000:2005 được nhìn nhận như sự tích hợp giữa HACCP và GMP trong sản xuất thực phẩm Qua đây tạo điều kiện hợp nhất và đơn giản hóa từng bước khi áp dụng các hệ thống quản lý cùng được triển khai trong một tổ chức
Áp dụng hệ thống quản lý an toàn thực phẩm theo ISO 22000:2005 tiết kiệm được nhiều công sức và chi phí đối với các tổ chức; đặc biệt khi phải vận hành một một lúc ISO 9001:2000, HACCP, GMP
1.2 Sự phát triển của tiêu chuẩn ISO 22000:2005
a, Trên thế giới:
Theo kết quả khảo sát về số liệu chứng nhận năm 2011 của Tổ chức Tiêu chuẩn hóa Quốc tế, tới cuối tháng 12 năm 2011, có ít nhất 19.980 công ty về thực phẩm tại 141 quốc gia trên toàn thế giới đã được cấp chứng nhận ISO 22000, tăng thêm 1.400 chứng chỉ (tương đương 8%) so với18.580 chứng chỉ đã được cấp năm 2010 tại 138 quốc gia và lãnh thổ Đứng đầu trong các quốc gia được chứng nhận nhiều nhất là Trung Quốc, Hy Lạp và Rumania, ba quốc gia có số lượng chứng chỉ tăng nhanh năm 2011 là Trung Quốc, Italia và Rumania Số công ty được chứng nhận nhiều nhất thuộc về châu Phi Nhiều thương hiệu nổi tiếng trong ngành thực phẩm như Coca Cola, Nestle, Danone đã áp dụng và được chứng nhận ISO 22000
Trang 6b, Tại Việt Nam:
Phiên bản hiện hành của ISO 22000 là ISO 22000:2005 và tiêu chuẩn quốc gia của Việt Nam tương đương là TCVN ISO 22000:2007 Tính đến hết tháng 12 năm
2011, cả nước chỉ có 198 doanh nghiệp được cấp chứng chỉ ISO 22000, tăng 22 doanh nghiệp (tương đương 12,5%) so với 176 doanh nghiệp năm 2010 Đây là một con số quá khiêm tốn so với số doanh nghiệp trong lĩnh vực thực phẩm của Việt Nam Mặt khác, ở nước ta hiện nay chưa có quy định bắt buộc áp dụng tiêu chuẩn ISO 22000 đối với các doanh nghiệp thực phẩm Tháng 3/2012, Bộ trưởng
Bộ Khoa học và Công nghệ đã ký Quyết định số 434/QĐ-BKHCN phê duyệt danh mục nhiệm vụ thuộc Dự án “Thúc đẩy hoạt động năng suất và chất lượng” thuộc Chương trình quốc gia “Nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hoá của doanh nghiệp Việt Nam đến năm 2020” Trong các nội dung thuộc chương trình, đặc biệt có nhấn mạnh đến nội dung triển khai chủ yếu về việc “Xây dựng mô hình điểm áp dụng quản lý an toàn thực phẩm ISO 22000 tại 10 doanh nghiệp điểm ngành công nghệ chế biến thực phẩm” Với quyết định này, trong những năm tới số lượng các doanh nghiệp thực phẩm tại Việt Nam triển khai và áp dụng ISO 22000 chắc chắn sẽ tăng lên
Hiện tại ở Việt Nam việc thực hiện các tiêu chuẩn này tại các doanh nghiệp vẫn chưa triệt để và toàn diện Các doanh nghiệp chủ yếu áp dụng theo kiểu tự phát và xuất phát từ nhu cầu của doanh nghiệp Trong quá trình triển khai và áp dụng ISO
22000, các doanh nghiệp thực phẩm còn gặp phải một số khó khăn, như:
- Cơ sở hạ tầng và trang thiết bị, các công tác vệ sinh cơ bản, các chương trình thực hành vệ sinh tốt còn hạn chế, doanh nghiệp không đủ mặt bằng nhà xưởng và trang thiết bị, nhà cửa không sạch sẽ, trang thiết bị cũ, bẩn
- Nhận thức và chuyên môn của người lao động trong quản lý an toàn thực phẩm còn hạn chế Các doanh nghiệp thiếu sự trợ giúp kỹ thuật, đặc biệt trong việc xác định các chất nguy hại có trong thực phẩm, tạo hệ thống truy tìm nguồn gốc hiệu quả, thiết lập các hành động khắc phục, xác định các chỉ tiêu kỹ thuật cho sản phẩm và nguyên liệu, tiến hành đo lường và phân tích
- Các trợ giúp về tài chính từ chính phủ và các tổ chức thương mại chưa đủ để tạo nên một sự thay đổi trong các doanh nghiệp hiện nay Ngoài ra các yêu cầu pháp lý ở mức tối thiểu để đảm bảo các điều kiện vệ sinh và an toàn thực phẩm
Trang 7cũng là một khó khăn mà các doanh nghiệp gặp phải Khi không có chế định từ chính phủ về việc triển khai áp dụng hệ thống quản lý an toàn thực phẩm, các doanh nghiệp thực phẩm không cảm thấy cần thiết và bắt buộc triển khai hệ thống này
- Ý thức kinh doanh và thái độ của các tổ chức công nghiệp và thương mại Các chứng chỉ hệ thống quản lý an toàn thực phẩm được yêu cầu như những chiếc vé vào cửa cho các thị trường thương mại quốc tế Các doanh nghiệp thực phẩm lớn phải tiến hành áp dụng các hệ thống quảnlý an toàn thực phẩm Các doanh nghiệp vừa và nhỏ chủ yếu là cung cấp sản phẩm cho thị trường trong nước, các khách hàng, người bán lẻ và cửa hàng ăn địa phương, nên không triển khai áp dụng hệ thống quản lý an toàn thực phẩm do khách hàng của họ không yêu cầu chứng chỉ
- Khó khăn từ sự nhận thức của khách hàng: Rất nhiều người tiêu dùng trong nước (đặc biệt ở những khu vực nghèo, kém phát triển) không nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề an toàn thực phẩm cũng như các chất gây hại cho sức khỏe
có trong thực phẩm Truyền thông đại chúng cần phải thực hiện trách nhiệm này một cách nghiêm túc hơn nữa để nâng cao nhận thức của người dân về tầm quan trọng của việc sử dụng những thực phẩm sạch và an toàn cũng như các phương thức để có được những thực phẩm an toàn này
2.Đặc điểm, cấu trúc
2.1Đặc điểm:
Hệ thống quản lý an toàn thực phẩm theo ISO 22000:2005 giúp các cơ sở sản xuất thực phẩm:
- Cải tiến phương pháp làm việc trong quản lý an toàn thực phẩm
- Tuân thủ các yêu cầu pháp luật và giảm bớt nghĩa vụ pháp lý
- Cải thiện những cơ hội xuất khẩu và thâm nhập vào thị trường khó tính
- Nâng cao độ tin cậy đối với khách hàng
- Giảm bớt tần suất của các hoạt động kiểm tra
Trang 8- Tạo lợi thế cạnh tranh và nâng cao hình ảnh cũng như uy tín của các cơ sở sản xuất thực phẩm trên thương trường
2.2Cấu trúc:
Trao đổi thông tin: Các thông tin rất cần thiết nhằm đảm bảo các mối nguy được xác định và kiểm soát một cách đầy đủ ở mỗi giai đoạn trong suốt chuỗi cung ứng thực phẩm Trao đổi thông tin với khách hang và các nhà cung ứng về các mối nguy đã được xác định và các biện pháp kiểm soát hướng đến đáp ứng công khai các yêu cầu của khách hàng
Quản lý hệ thống: Hệ thống quản lý an toàn thực phẩm hiệu quả nhất được thiết
lập, vận hành và cập nhật trên cơ sở cấu trúc của hệ thống quản lý và hợp nhất với các hoạt động quản lý chung của tổ chức Điều này đem lại lợi ích tối đa cho tổ chức và các bên hữu quan Tiêu chuẩn này được liên kết với tiêu chuẩn ISO
9001 nhằm tăng độ tương thích của hai tiêu chuẩn Tuy nhiên, tiêu chuẩn này vẫn
có thể áp dụng một cách độc lập với các hệ thống quản lý khác khi điều hành quản
lý tại một cơ sở sản xuất thực phẩm
Các chương trình tiên quyết (PRPs: Prerequisite programmes): Các chương trình
tiên quyết – PRPs là các điều kiện cơ bản và hoạt động cần thiết để duy trì một môi trường vệ sinh xuyên suốt chuỗi cung ứng thực phẩm Các điều kiện và hoạt động này cần phù hợp với yêu cầu sản xuất, sử dụng và cung cấp sự an toàn đối với sản phẩm cuối cùng cũng như người tiêu dùng PRPs là một trong những chuẩn mực
“cần và đủ” để các cơ sở đủ điều kiện tham gia sản xuất thực phẩm
3.Nguyên tắc
Trang 9Nguyên tắc : Tuân thủ theo nguyên tắc quản lí chất lượng.
1 Định huớng khách hàng
Các tổ chức theo nguyen tắc phụ thuộc vào khách hàng của mình, do đó họ cần phải hiểu các nhu cầu hiện tại và tiềm tàng của khách hàng, đáp ứng các yêu cầu và phấn đấu vợt sự mong đợi của khách hàng.”
2 Vai trò lãnh đạo
Lãnh đạo các tổ chức, doanh nghiệp cần phải xác định mục đích và phương hướng thống nhất cho tổ chức của mình Họ cần phải tạo và duy trì môi trờng nội bộ mà ở
đó mọi ngời tham gia tích cực vào việc đạt đợc các mục tiêu của tổ chức”
3 Sự tham gia của mọi người
Con người ở mọi vị trí, là tài sản quý nhất của mỗi tổ chức Thu hút đợc sự tham gia tích cực của mọi người cho phép khai thác khả năng của họ trong việc mang lại lợi ích cho tổ chức”
4 Định hướng quá trình
“ Kết quả mong muốn sẽ đạt đợc một cách hiệu quả hơn khi các nguồn lực và các hoạt động liên quan đợc quản lý nh một quá trình
5 Tiếp cận theo hệ thống
Việc xác định, nắm vững và quản lý một hệ thống bao gồm nhiều quá trình liên quan lẫn nhau nhằm đạt tới mục tiêu đã định giúp nâng cao hiệu quả và hiệu lực của tổ chức”
6 Liên tục cải tiến
Cải tiến liên tục phải được coi là một mục tiêu thờng trực của tổ chức”
7 Ra quyết định dựa trên dữ kiện
Quyết định chỉ có hiệu lực khi dựa trên kết quả phân tích thông tin và dữ liệu”
8 Mối quan hệ cùng có lợi với nhà cung ứng
Tổ chức và các nhà cung ứng phụ thuộc lẫn nhau, mối quan hệ hai bên cùng có lợi tạo điều kiện cho việc nâng cao khả năng của cả hai bên trong việc tạo giá trị
NGUYÊN TẮC : HACCP
1.Tiến hành phân tích các mối nguy
Xác định các mối nguy hiểm tiềm ẩn ở mỗi giai đoạn ảnh hưởng đến an toàn thực phẩm từ sơ chế , chế biến phân phối đến tiêu thụ cuối cùng Đánh giá khả năng xuấthện các mối nguy và biện pháp kiểm soát chúng
2 Xác định các điểm kiểm soát tới giới hạn ( CCP : critical Control Point) Xác đinh kiểm soát giới hạn của từng công đoạn cuả chuỗi cung ứng sản phẩm cần được kiểm soát để loại bỏ mối nguy hoặc hoặc hạn chế khả năng xuất hiện chúng
3 Xác lập các ngưỡng tới hạn
Xác định các ngưỡng giới hạn không vượt quá nhằm đảm bảo khống chế có hiệu quả các điểm kiểm soát diểm tới hạn
4.Thiết lập hệ thống giám sát các điểm kiểm soát tới hạn
Trang 10Xây dựng các hệ thống các chưng trình thử nghiệm hoặc quan sát hoặc giám sát tình trạng của các điểm kiểm soát tới hạn
5 Xác định các hoạt động khắc phục
Cần phải tiến hành khi hệ thống giám sát cho thấy tại một điểm kiểm soát tới hạn nào đó không được thực hiện đày đủ
6 Xác lập các thủ tục kiểm tra
Để khảng định hệ thống HACCP đang hoạt động có hiệu quả
7.Thiết lập hệ thống tài liệu
Liên quan đến mội thủ tục hoạt động của chương trình HACCP phù hợp với các nguyên tắc trên và các bước áp dụng chúng
4 NỘI DUNG
Nội dung của tiêu chuẩn iso 22000:2005
a) Phạm vi và đối tượng của tiêu chuẩn
- Hệ thống quản lý chất lượng
- Các quy phạm GMP,SSOP
- Các quy tắc HACCP
b) Gồm các yếu tố chính:
Trao đổi thông tin: Các thông tin rất cần thiết nhằm đảm bảo các mối nguy được xác định và kiểm soát một cách đầy đủ ở mỗi giai đoạn trong suốt chuỗi cung ứng thực phẩm Trao đổi thông tin với khách hàng và các nhà cung ứng về các mối nguy đã được xác định và các biện pháp kiểm soát hướng đến đáp ứng công khai các yêu cầu của khách hàng
Quản lý hệ thống: Hệ thống quản lý an toàn thực phẩm hiệu quả nhất được thiết lập, vận hành và cập nhật trên cơ sở cấu trúc của hệ thống quản lý và
Trang 11hợp nhất với các hoạt động quản lý chung của tổ chức Điều này đem lại lợi ích tối đa cho tổ chức và các bên hữu quan Tiêu chuẩn này được liên kết với tiêu chuẩn ISO 9001 nhằm tăng độ tương thích của hai tiêu chuẩn Tuy nhiên, tiêu chuẩn này vẫn có thể áp dụng một cách độc lập với các hệ thống quản lý khác khi điều hành quản lý tại một cơ sở sản xuất thực phẩm
Các chương trình tiên quyết (PRPs: Prerequisite programmes): Các chương trình tiên quyết – PRPs là các điều kiện cơ bản và hoạt động cần thiết để duy trì một môi trường vệ sinh xuyên suốt chuỗi cung ứng thực phẩm Các điều kiện và hoạt động này cần phù hợp với yêu cầu sản xuất, sử dụng và cung cấp sự an toàn đối với sản phẩm cuối cùng cũng như người tiêu dùng PRPs là một trong những chuẩn mực “cần và đủ” để các cơ sở đủ điều kiện tham gia sản xuất thực phẩm
Các nguyên tắc của HACCP: 7 nguyên tắc của HACCP
Các nội dung :
Phạm vi áp dụng
Tài liệu tham khảo
Thuật ngữ và định nghĩa
Hệ thống quản lý an toàn thực phẩm
Trách nhiệm của lãnh đạo
Quản lý nguồn lực
Hoạch định và tạo sản phẩm an toàn
Xác nhận giá trị sử dụng, kiểm tra xác nhận và cải tiến hệ thống quản lý an toàn thực phẩm
Trang 125 VAI TRÒ VÀ LỢI ÍCH
Lợi ích khi áp dụng ISO 20000:2005
Ứng dụng tiêu chuẩn này vào các doanh nghiệp sẽ mang lại những lợi ích thiết thực sau:
- Giảm giá thành sản phẩm do giảm chi phí xử lý sản phẩm sai hỏng, chi phí và thời gian đánh giá thử nghiệm trong quá trình giao nhận, đấu thầu;
- Có thể được xem xét miễn, giảm kiểm tra khi có giấy chứng nhận hệ thống quản
lý chất lượng (HTQL), chứng nhận hợp chuẩn hoặc hợp qui;
- Giấy chứng nhận hợp chuẩn, hợp qui, chứng nhận HTQL chất lượng là bằng chứng tin cậy và được chấp nhận trong đấu thầu;
- Gia tăng cơ hội cạnh tranh trên thị trường với bằng chứng được thừa nhận về sự phù hợp với một tiêu chuẩn đã được chấp nhận ở cấp độ quốc gia, khu vực hay quốc tế;
- Đáp ứng các yêu cầu luật định của quốc gia và có cơ hội để vượt qua rào cản kỹ thuật của nhiều thị trường trên thế giới với các thoả thuận thừa nhận song phương
và đa phương;
- Sử dụng kết quả chứng nhận hợp chuẩn, hợp qui, chứng nhận hệ thống quản lý trong công bố hợp chuẩn, hợp qui;
- Có được niềm tin của khách hàng, người tiêu dùng và cộng đồng
- Thoả mãn nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng về chất lượng và an toàn của sản phẩm
·