HỌC VIỆN NGÂN HÀNG BÀI TẬP LỚN MÔN: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH CHỦ ĐỀ: PHÂN TÍCH QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ GIÁO DỤC LIÊN HỆ VỚI NỀN GIÁO DỤC VIỆT NAM HIỆN NAY Giảng viên hướng dẫn : Cô
Trang 1HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
BÀI TẬP LỚN MÔN: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
CHỦ ĐỀ: PHÂN TÍCH QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ GIÁO DỤC LIÊN HỆ VỚI NỀN GIÁO DỤC
VIỆT NAM HIỆN NAY
Giảng viên hướng dẫn : Cô Kiều Yến Nhóm thực hiện : Nhóm 6
Trang 2Mục lục
A LỜI MỞ ĐẦU………3
B NỘI DUNG……….4
I Lý thuyết……… 4
1 Khái quát tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa:………4
1.1: Định nghĩa……… 4
1.2:Quan điểm của Hồ Chí Minh về chức năng của văn hóa trong đời sống xã hội………5
2 Văn hóa giáo dục:……….6
2.1: Mục tiêu…… ……….6
2.2: Nội dung…… ……….6
2.3: Phương pháp, phương châm.……….6
II Liên hệ nền giáo dục Việt Nam hiện nay.……….……… 7
1 Thành tựu……… 7
2 Yếu kém, hạn chế……… 10
3 Nguyên nhân……….12
4 Giải pháp……….13
III Quan điểm chỉ đạo của Đảng trong việc vận dụng sáng tạo tư tưởng Hô Chí Minh hiện nay ……… 13
1 Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về nền giáo dục……… 14
1.1: Tư tưởng của Hồ Chí Minh về vai trò của nền giáo dục………14
1.2: Tư tưởng của Hồ Chí Minh về nội dung giáo dục…….……….15
1.3: Tư tường Hồ Chí Minh về chất lượng – phương pháp giáo dục…15 2 Thực trạng giáo dục Việt Nam hiện nay……… …….… 15
3 Quan điểm chỉ đạo của Đảng……….…15
C KẾT LUẬN…….… ……… ………16
Trang 3A Lời mở đầu
- Tính cấp thiết của vấn đề:
Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà tư tưởng, nhà cách mạng thiên tài của Việt Nam Trong toàn bộ hệ thống tư tưởng của Người thì tư tưởng văn hóa chiếm một vị trí vô cùng quan trọng Văn hóa chính là động lực của sự phát triển xã hội Đối với nước ta hiện nay, phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm, quan trọng hàng đầu của Đảng và toàn dân Tuy nhiên đó phải là sự phát triển bền vững, hài hòa giữa kinh tế và văn hóa Chúng ta không chỉ xây dựng 1 nền kinh
tế mới mà còn phải xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc Năm 1945, cùng với thắng lợi chính trị, nhân dân ta đã xóa đi một nền giáo dục đồi bại, xảo trá của thực dân Pháp - một nền giáo dục chỉ dạy nhân dân ta sùng bái kẻ mạnh hơn mình, dạy nhân dân ta yêu tổ quốc không phải tổ quốc của mình, dạy nhân dân ta khinh rẻ nguồn gốc, dòng giống mình Đó là một nền giáo dục vô cùng nguy hiểm Sau khi giành lại được chính quyền, cùng với việc thiết lập nền dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi việc giải quyết nạn dốt là một vấn đề cấp bách Bởi “ một dân tộc dốt là 1 dân tộc yếu”
mà “ yếu thì dại, dại thì hèn” Quan điểm của Bác là phải làm sao cho nhân dân
ta biết đọc, biết viết, từng bước nâng cao dân trí Công cuộc kháng chiến kiến quốc đổi mới, xây dựng đất nước là trách nhiệm của dân bởi nước ta là một nước dân chủ - của dân, do dân và vì dân Để làm được điều đó thì cần phải có giáo dục Xuất phát từ những lí do trên nhóm chúng mình đã chọn đề tài “ Quan điểm, tư tưởng của Hồ Chí Minh về văn hóa giáo dục Liên hệ nền giáo dục Việt Nam hiện nay"
- Đối tượng nghiên cứu : nền văn hoá giáo dục Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí
Minh, quan điểm của Đảng về văn hoá giáo dục và giáo dục hiện nay
- Phương pháp nghiên cứu: Phân tích và đánh giá
Trang 4B Nội dung
1 Khái quát tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa:
1.1: Định nghĩa:
1.1.1: Theo nghĩa rộng:
“Vì lẽ sinh tồn cùng như mục đích của cuộc sống, loại người mới sáng tạo và
phát triển ra ngôn ngữ, chữ viết, đao đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, ,mặc, ở, phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn giá Văn hóa là tổng hợp mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của
nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng nhu câu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn.”
( Tháng 8/1943 – Hồ Chí Minh)
Thật thú vị khi định nghĩa của chủ tịch Hồ Chí Minh có rất nhiều tương đồng với quan niện hiện đại về văn hóa Từ định nghĩa trên, có thể thấy quan điểm của Hồ Chí Minh về văn hóa :
Văn hóa có nội hàm rất rộng: văn hóa không chỉ bao gôm toàn bộ
những gía trị vật chất (những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về
ăn, ,mặc, ở, phương thức sử dụng ) mà còn bao gôm oàn bô những giá trị tinh thần (ngôn ngữ, chữ viết, đao đức, pháp luật, khoa học, tôn
giáo, văn học, nghệ thuật ) Tất cả giá trị đó hợp thành văn hóa,
Chủ thể sáng tại ra văn hóa là con người : văn hóa là những giá trị mà
loại người đã sáng tạo trong quá khứ và hiên tại Văn hóa ra đời, tồn tại
và phát triển của xã hội loài người Hay nói cách khác văn hóa chính là sản phẩm của con người
Vai trò của văn hóa : văn hóa giúp con người tồn tại, phát triển Con người sáng tạo ra văn hóa để nhằm thích ứng những nhu cầu của cuộc
sống và đòi hỏi của sự sinh tồn.
1.1.2: Theo nghĩa hẹp:
Văn hóa là đời sống tinh thần của xã hội: văn hóa được tạo thành bởi
một hệ các giá trị tạo nên bản sắc của mỗi dân tộc, các giá trị này thấm nhuần trong mỗi con ngươi và cả xã hội, được tiếp qua cac thể hệ Nó tác đọng hằng ngà đến cuộc sống vật chất tinh thần của con người, của cộng đồng, của xã hội
Trang 5 Văn hóa thuộc về kiến trúc thượng tầng của xã hội: văn hóa là một
hình thái ý thức xã hội
1.2: Quan điểm của Hồ Chí Minh về chức năng của văn hóa trong đời sống
xã hội:
1.2.1: Bồi dưỡng tư tưởng đúng đắn và tình cảm cao đẹp của con người:
Đây là hai vấn đề chủ yếu nhất của con ngườ trong đời sống tinh thần Hay nói cách khác là hai yếu tố này quyết định đến lối sống cũng như tinh thần của con người Và để
có một cuộc sống tinh thần phong phú, đa dạng,lành mạnh thì văn hóa đã giúp ta làm điều đó
Bồi dưỡng tư tưởng đúng đắn : lý tưởng mà Hồ Chí Minh muốn bồi
dưỡng cho đảng cũng như là nhân dân chính là tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với XHCN, thực hiện giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người
Bồi dưỡng tình cảm cao đẹp : văn hóa phải đi sau tâm lý của nhân dân
để xây dụng tình cảm lớn hơn như: long yêu nước, thuong yêu con người, đề cao cái chân, thiện, mỹ, sống thẳng thắn, thủy cung, ghét thói hư tật xấu, những sa đọa biến chất
Theo quam điểm của Hồ Chí Minh văn hóa giúp con người phát triển về
tư tưởng, rèn dũa tình cách, trau dồi tình cảm Văn hóa giúp cho chúng ta
sống lành mạnh, có ích hơn
1.2.2: Mở rộng hiểu biết, nâng cao dân trí:
Văn hóa giúp mở rộng sự hiểu biết, nâng cao trình độ dan trí, kiến thức cho con
người Văn hóa giúp chúng ta hiểu về lịch sử hào hùng của dân tộc, biết quyền lợi và
nghĩa vụ của bản than, biết được những khoa học công nghệ tiên tiến, biết các nước khác phát triển như thế nào,…
Văn hóa đấp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dụng và bảo về đất nước
1.2.3: Bồi dưỡng những phẩm chất, phong cách và lối sống tốt đẹp, lành mạnh; hướng con người tới chân, thiện, mỹ để hoàn thiện bản thân.
Văn hóa bồi dưỡng những phẩm chất tố đẹp( phẩm chất đạo đức, chính
trị, chuyên môn nghiệp vụ,…) là cái làm nên giá trị nghiệp vụ của con người trong thời đại mới
Sửa đổi những thói quen, phong tục tập quán cũ, lạc hậu; bồi dưỡng hình thành những phong tục tập quán lành mạnh trong nhân dân.
Trang 6 Văn hóa hướng con người tới cái chân, cái thiện, cái mỹ, từ cái hiện có
vươn tới cái lý tưởng, từ cái chưa hoàn thiện vươn đến cái hoàn thiện luôn luôn ở phía trước, đặc biệt là việc hoàn thiện bản thân của mỗi người
2 Văn hóa giáo dục:
2.1: Mục tiêu:
Mục tiêu củ văn hóa là thực hiện ba chức năng của văn hóa bằng giáo dục thông qua dạy và học
Dạy và học để nâng cao dân trí; bồi dưỡng tư tưởng đúng đắn và tình cảm
cao đẹp,những phẩm chất trong sáng phong cách lành mạnh cho nhân dân Đào tạo những con người vừa có đức vừa có tài Học đển làmviệc, làn người, làm cán bộ,chứ không phải học để chạy theo bằng cấp
Cải tạo trí thức cũ, đào tạo trí thức mới, thực hiện công nông trí thức hóa,
trí thức công nông hóa Xây dựng đội ngũ trí thức ngày càng dông đảo và
có trình độ ngày càng cao
Nền văn hóa giáo dục phải đào tạo những lớp kế tục sự nghiệp cách
mạng, xây dựng đất nước giàu mạnh văn minh để theo kịp các nước trên
toàn cầu, sánh vại với các cường quốc năm châu
2.2: Nội dung:
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng giáo dục phải có tính toàn diện “Trong việc
giáo dục và học tập phải chú trọng đủ các mặt: đạo đức cách mạng, giác
mộ xã hội chủ nghĩa, văn hóa, khoa học- kỹ thuật, lao động, sản xuất” Trong thư gửi các em học sinh nhân ngày mở trường (24/10/1955), Người nhắn nhủ việc giáo dục gồm có:
- “Thể dục: Để làm thân thể mạnh khoẻ, đồng thời cần giữ vệ sinh riêng và
vệ sinh chung
- Trí dục : Ôn lại những điều đã học, học thêm những tri thức mới
- Mỹ dục : Để phân biệt cái gì là đẹp, cái gì là không đẹp
- Đức dụ c: Là yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, yêu
trọng của công”
Phải học khoa học kĩ thuật vì chúng ta đang sống trong thời kì cách mạng
công nghiệp khoa học đang tiến như vũ bão Loài người vận dụng những thành tựu của công nghệ khoa học để đẩy manhj sản xuất, phát triển, thay đổi bộ mặt thế giới nếu chúng ta k có kiến thức về mảng này sẽ bị các quốc gia khác bỏ xa
Theo Bác, nếu chỉ học văn hóa kĩ thuật mà bỏ qua chính trị thì ta sẽ không
khác gì nhắm mắt mà đi Cần phải học chính trị để có thể hiểu rõ nhiệm vụ cách
mạng từ đó vững tin vào lí tưởng cách mạng, tránh bị kích động gây ra những sai lầm đáng tiếc
Trang 7 Cả bốn nội dung trên của giáo dục được Chủ tịch Hồ Chí Minh khái quát lại
trong hai chữ “tài” và “đức” Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong giáo dục, kiến thức là rất cần thiết, nhưng Người cũng chỉ ra rằng, đạo đức đóng vai trò quan trọng không kém
Ở khía cạnh khác, nội dung của giáo dục theo tư tưởng Hồ Chí Minh cần
phù hợp với mỗi lứa tuổi, mỗi cấp học, mỗi bậc học
Trong bức thư gửi giáo viên, học sinh, cán bộ và thanh niên ngày 31/10/1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn:
- “Đối với Đại học thì cần kết hợp lý luận khoa học với thực hành, ra sức học tập lý luận và khoa học tiên tiến của các nước bạn, kết hợp với thực tiễn của nước ta, để thiết thực giúp ích cho công cuộc xây dựng nước nhà”
- “Trung học thì cần đảm bảo cho học trò những tri thức phổ thông chắc chắn, thiết thực, thích hợp với nhu cầu và tiền đồ xây dựng nước nhà, bỏ những phần nào không cần thiết cho đời sống thực tế”
- “Tiểu học thì cần giáo dục các cháu thiếu nhi: Yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, trọng của công”
Người cũng lưu ý, nội dung giáo dục được đưa vào giảng dạy phải theo
nguyên tắc “Quý hồ tinh bất quý hồ đa” Nghĩa là giáo dục không phải chạy
đua theo số lượng càng nhều càng tốt điều đó không quý, mà điều đáng quý
đó chính là chất lượng Ít nhưng mà giỏi còn hơn là nhiều mà không biết gì
Giáo dục phải phù hợp với thực tiễn nước nhà
2.3: Phương châm, phương pháp:
Phương châm phải luôn gắn với nội dung giáo dục với thực tiễn Việt Nam,
học đi đôi với hành , lý luận phải liên hệ với thực tế, học tập phải kết hợp với lao động.
Muốn đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục phải kết hợp cả ba khâu, gia định,
nhà trường, xã hội Sự yếu kém ở bất cứ khâu nào cũng hạn chế đên kết
quả giáo dục và để lại những hậu quả khôn lường đổi với lứa tuổi đang cần giáo dục
Học mọi nơi, mọi lúc; học mọi người, học suốt đời; coi trọng việc tự học,
tự đào tạo và đào tạo lại Đối với mỗi người ngoài học ở lớp một phần còn
học chủ yếu trong lao động, công tấc, không chỉ học thầy, mà còn học ở bạn
bè, đông chí, học không bao giờ đủ, còn sống còn phải học
Học tập là một quá trình lao động gian khổ, phải rèn luyện những đức tính
tập quán tốt trong học tập Phải có tinh thần say mê học hỏi, phải có quyết tâm và phương pháp học tập.
II NỀN GIÁO DỤC VIỆT NAM HIÊN NAY :
1 Thành tựu
Trang 8 Hệ thống trường lớp và quy mô giáo dục phát triển nhanh , thực hiện nền giáo
dục toàn dân, đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng tăng của nhân dân và nâng cao
được trình độ đào tạo và kĩ năng nghề nghiệp của người lao động:
Các trường Đại học Việt Nam phân bố theo vùng
Cơ cấu sinh viên theo nhóm ngành
Trang 9Bên cạnh đó, tỷ lệ sinh viên ra trường có việc làm ngày càng tăng cao: Theo khảo sát của Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2018 ghi nhận sự cải thiện về tỷ lệ sinh viên ra trường có việc làm Thông qua phỏng vấn trực tiếp 25.000 sinh viên tốt nghiệp sau 12 tháng của 50 trường đại học ở cả ba miền cho thấy, tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp có việc làm trung bình là 84% (chưa tính số người
đi học tiếp), nhiều trường đạt từ 85 - 97%
Dưới sự lãnh đạo của Đảng người dân Việt Nam không chỉ thoát nạn mù chữ mà ngày càng phát triển cao về trí tuệ và tài năng; có nhiều mặt ngang bằng với các nước phát triển nhất thế giới Giáo dục là quốc sách giúp dân tộc Việt Nam thoát khỏi sự “nô dịch” về văn hóa của ngoại bang, phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm
đà bản sắc dân tộc, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội
Chất lượng giáo dục và đào tạo được nâng lên , góp phần đáp ứng yêu cầu nhân
lực phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc
Việt Nam ngày càng chú trọng vào chất lượng giáo dục và đào tạo nước nhà Thực
tế được chứng minh bằng những thành tích xuất sắc trong các kỳ thi Olympic khu vực
và Thế giới
Ngoài ra, năm 2018, Việt Nam vinh dự có 2 trường Đại học lọt top 1000 trường tốt nhất trên Thế giới Đó là trường Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Quốc gia TP.HCM
Cơ sở vật chất – kĩ thuật của hệ thống giáo dục và đạo tạo được tăng thêm và từng bước hiện đại hóa Nhà nước ta hiện nay đang xã hội hóa giáo dục, hợp tác
quốc tế được đẩy mạnh, đạt nhiều kết quả quan trọng:
Hệ thống các trường quốc tế ở Việt Nam được hình thành nhằm mục đích góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và tạo bệ phóng để học sinh Việt Nam có đủ năng lực và sự tự tin sánh vai với bạn bè năm châu Quốc tế hóa là trọng tâm trong mảng
Trang 10giáo dục và cũng là ưu tiên của chính phủ Việt Nam trong việc nâng cao chất lượng giáo dục và khoa học
2 Hạn chế và yếu kém
Nền giáo dục nước nhà xét một cách toàn diện vẫn là nền giáo dục theo tư duy của
xã hội truyền thống nên chất lượng của giáo dục nói chung và đào tạo nguồn nhân lực nói riêng chưa đáp ứng được nhu cầu của xã hội phát triển ngày một nhanh và đa dạng
Tư duy và cách làm giáo dục chưa theo kịp thời đại : nền giáo dục của Việt Nam
chưa thoát khỏi cách nghĩ và cách làm giáo dục của xã hội truyền thống Do sự phát triển chậm và ít biến đổi của khoa học và công nghệ nên xã hội truyền thống đặt cho sứ mạng của nhà trường phải trang bị đầy kiến thức để con người có đủ khả năng làm việc suốt đời, song lại xem nhẹ việc bồi dưỡng năng lực của người học vận dụng những kiến thức đó để giải quyết những vấn đề mà công việc và cuộc sống đặt ra Tư duy này hiện vẫn đang ngự trị ở không ít tổ chức và những
cá nhân có trách nhiệm trong hệ thống quản lý giáo dục dẫn đến nền giáo dục Việt Nam hiện nay đang:
Chú trọng vào việc truyền đạt kiến thức, mang nặng tính nhồi nhét ; Quá coi trong bằng cấp và kết quả thi cử mà chưa chú trọng đến năng lực và phẩm chất của người học Cách tổ chức thi hiện nay phần lớn mới chỉ dừng lại việc
đánh giá nhận thức sách vở của người học
Nền giáo dục bị khép kín trong nhà trường và chủ yếu dựa trên sự tương tác
giữa thầy và trò trong phạm vi của sách giáo khoa, thiếu sự tương tác với xã
hội Vai trò của gia đình, đoàn thể và xã hội ngày một mờ nhạt trong giáo dục
thế hệ trẻ
Việc sử dụng nguồn lực đầu tư của Nhà nước và xã hội thiếu hiệu quả Nguồn
lực tài chính đầu tư của Nhà nước tuy có tăng nhưng vẫn chưa đáp ứng được các yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo do quản lý manh mún và phân tán, chạy theo việc mở trường và nâng cấp các trường đại học cao đẳng làm cho giữa quy mô đào tạo và chất lượng đào tạo không tương xứng Bản thân các trường chạy theo mục tiêu trước mắt, thường tranh thủ mở rộng quy mô mà quên đi chất lượng dẫn đến bộ máy quản lý cồng kềnh gây lãng phí, hiệu quả đầu tư kém