Lý luận của C.MÁC về phương pháp sản xuất giá trị thặng dư dưới chủ nghĩa tư bản Khái niệm: - Giá trị thặng dư là phần giá trị dôi ra bên ngoài giá trị sức lao động do công nhân làm thuê
Trang 1Những nguyên lý cơ bản của chủ
nghĩa Mác - Lênin
Đề tài : Lý luận của C.Mác về phương pháp sản xuất giá trị thặng dư dưới chủ nghĩa tư bản Ý nghĩa thực tiễn đối với
nước ta hiện nay.
Nhóm: 10
BÀI THẢO LUẬN
Trang 2Danh sách thành viên nhóm 10
Trang 3Bố cục
• A Lý luận của C.MÁC về phương pháp sản xuất giá trị thặng dư dưới chủ nghĩa tư bản
I Bản chất giá trị thặng dư
II Các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư
1 Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối
2 Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối
• B Ý nghĩa thực tiễn đối với nước ta hiện nay
Trang 4A Lý luận của C.MÁC về phương pháp sản
xuất giá trị thặng dư dưới chủ nghĩa tư bản Khái niệm:
- Giá trị thặng dư là phần giá trị dôi ra bên ngoài
giá trị sức lao động do công nhân làm thuê sáng
tạo ra và bị tư bản chiếm đoạt
- Quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư là quá trình sản xuất ra giá trị vượt khỏi điểm mà ở đó sức lao động của người công nhân đã tạo ra một lượng giá trị mới ngang bằng với giá trị sức lao động hay mức tiền công mà nhà tư bản đã trả họ Thực chất của sản xuất giá trị thặng dư là sản xuất ra giá trị vượt khỏi giới hạn tại điểm đó là sức lao động được trả ngang giá
I Bản chất giá trị thặng dư
Trang 5II.Các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư
Sản xuất giá trị thặng dư
Tuyệt đối Tương đối
Trang 6II.Các phương pháp sản xuất giá
trị thặng dư
1 Giá trị thặng dư tuyệt đối
Sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối là phương pháp sản xuất ra
giá trị thặng dư được thực hiện trên cơ sở kéo dài thời gian
lao động vượt quá thời gian lao động tất yếu, trong điều kiện
năng suất lao động, giá trị sức lao động và thời gian lao động
tất yếu không thay đổi Giá trị thặng dư được sản xuất ra bằng
phương pháp này được gọi là giá trị thặng dư tuyệt đối
Giả sử ngày lao động có 8h, trong đó có 4h là thời gian lao động tất yếu và 4h là thời gian lao động thặng dư Khi đó m’ = 100% Giả định nhà TB kéo dài thời gian lao động thêm 2h trong khi thời gian tất yếu không đổi thì m’ tăng lên, đạt 150%
Trang 7II.Các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư
Sản xuất giá trị thặng dư tương đối là phương pháp sản xuất ra giá trị thặng dư được thực hiện bằng cách rút ngắn thời gian lao động tất yếu lại để kéo dài một cách tương ứng thời gian lao động thặng dư trên cơ
sở tăng năng suất lao động xã hội trong điều kiện độ dài ngày lao động không đổi Giá trị thặng dư được sản xuất ra bằng phương pháp này được gọi là giá trị thặng dư tương đối
2.Giá trị thặng dư tương đối
Giả sử ngày lao động là 8h và nó được chia thành 4h là thời gian lao động tất yếu và 4h là thời gian lao động thặng dư Giả định rằng ngày lao động không thay đổi, nhưng bây giờ công nhân chỉ cần 3h lao động đã tạo ra được một lựơng giá trị mới bằng với giá trị sức lao động của mình Do đó, tỷ lệ phân chia ngày lao động sẽ thay đổi: 3h là thời gian lao động tất yếu và 5h là thời gian lao động thặng dư tỷ suất giá trị thặng dư đã tăng từ 100% lên 166%
Trang 8B Ý nghĩa thực tế của phương pháp sản xuất
giá trị thặng dư đối với nước ta
1 Thực trạng
• Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, việc bóc lột sức lao động không công của người công nhân không còn nữa, nhưng không có nghĩa là giá trị thặng dư không tồn tại mà giá trị thặng dư được sử dụng vào mục đích khác không giống như giai cấp tư sản
• Việt Nam vận dụng các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư vào trong công cuộc xây dựng đất nước, trong đó tiến hành công nghiệp hóa hiện đại hóa là một nhiệm vụ hàng đầu, đây cũng là một quy luật đặc biệt của quá trình phát triển kinh tế mỗi quốc gia
Trang 9Thực trạng
a Kinh tế Việt Nam trước đổi mới
• Các doanh nghiệp nhà nước áp dụng phương pháp sản xuất tuyệt
đối
• Bao cấp hoàn toàn nền kinh tế trì trệ
Năm
1976-1980 Tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm đạt 0,4%/năm
Năm 1980 Thị trường tài chính không ổn định, Nhà nước
bị bội chi 18,1%
Năm 1985 Bội chi tiền mặt 36,6%
Trang 10• Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối ở Việt
Nam thường áp dụng cho các công việc mang tính chất mùa vụ
Trang 11b Kinh tế Việt Nam sau đổi mới
• Áp dụng phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối
• Sự tràn vào của hang hóa nước ngoài tạo áp lực cho các doanh nghiệp trong nước
Đổi mới công nghệ, tăng sức cạnh tranh Các doanh nghiệp tư nhân
ra đời
Năm 1988 Ban hành luật đầu tư nước ngoài, phát
triển doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp hợp tác 100% vốn nước ngoài
Năm 2000 Có 1063 doanh nghiệp vốn đầu tư nước ngoài,
2787 doanh nghiệp hỗn hợp
Trang 122 Sự vận dụng phương pháp sản xuất giá trị thặng dư vào nước ta
a Thành tựu
Hơn 20 năm đổi mới và hội nhập, kinh tế Việt Nam không ngừng
phát triển với tốc độ cao, Việt Nam đã thoát ra khỏi nhóm các
nước có mức thu nhập thấp, mức sống người dân được cải thiện,
tỷ lệ nghèo giảm mạnh, nền kinh tế đang chuyển theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 13b Hạn chế
- Công nghệ được cải tiến nhưng vẫn thua kém nước ngoài
- Nguồn vốn hạn hẹp trong khi Khoa học – Kĩ thuật đang tiến bộ từng ngày
- Nguồn lao động chất lượng cao vẫn còn hạn chế, đầu tư vào giáo dục chưa có hiệu quả
Trang 14c Giải pháp
Nâng cấp các trang thiết bị hiện đại để tăng năng
suất lao động
Trang 15c Giải pháp
Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao để tạo
ra nhiều giá trị thặng dư
Trang 16c Giải pháp
Tiến hành hợp tác với các doanh nghiệp nước ngoài tạo điều kiện giúp doanh nghiệp Việt Nam có được những
công nghệ tiên tiến để phát triển sản xuất
Trang 17c Giải pháp
Kết hợp giờ làm việc hợp lý với các hoạt động giải trí và chương trình bảo hiểm
cho công nhân