KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, PHÂN LOẠI VỐN.1.1 Khái niệm về vốn - Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn tồn tại và phát triển được đều cần phải có nguồn
Trang 1I KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, PHÂN LOẠI VỐN.
1.1 Khái niệm về vốn
- Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn tồn tại và phát triển được đều cần phải có nguồn tài chính đủ mạnh, đây là một trong ba yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp có thể duy trì hoạt động của mình, nhiều quan niệm về vốn, như:
- Vốn là một khối lượng tiền tệ nào đó được ném vào lưu thông nhằm mục đích kiếm lời, tiền đó được sử dụng muôn hình muôn vẻ Nhưng suy cho cùng là để mua sắm tư liệu sản xuất và trả công cho người lao động, nhằm hoàn thành công việc sản xuất kinh doanh hay dịch vụ nào đó với mục đích
là thu về số tiền lớn hơn ban đầu Do đó vốn mang lại giá trị thặng dư cho doanh nghiệp
- Theo nghĩa hẹp thì: vốn là tiềm lực tài chính của mỗi cá nhân, mỗi doanh nghiệp, mỗi quốc gia
- Theo nghĩa rộng thì: vốn bao gồm toàn bộ các yếu tố kinh tế được bố trí để sản xuất hàng hoá, dịch vụ như tài sản hữu hình, tài sản vô hình, các kiến thức kinh tế, kỹ thuật của doanh nghiệp được tích luỹ, sự khéo léo về trình
độ quản lý và tác nghiệp của các cán bộ điều hành, cùng đội ngũ cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp, uy tín của doanh nghiệp
- Theo quan điểm của Mác thì: vốn (tư bản) không phải là vật, là tư liệu sản xuất, không phải là phạm trù vĩnh viễn Tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư bằng cách bóc lột lao động làm thuê Để tiến hành sản xuất, nhà tư bản ứng tiền ra mua tư liệu sản xuất và sức lao động, nghĩa là tạo ra các yếu
tố của quá trình sản xuất Các yếu tố này có vai trò khác nhau trong việc tạo
ra giá trị thặng dư Mác chia tư bản thành tư bản bất biến và tư bản khả biến
Tư bản bất biến là bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thức tư liệu sản xuất (máy móc, thiết bị, nhà xưởng,¼) mà giá trị của nó được chuyển nguyên vẹn vào sản phẩm Còn tư bản khả biến là bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thức lao động, trong quá trình sản xuất thay đổi về lượng, tăng lên do sức lao động của hàng hoá tăng
- Theo David Begg, Stenley Ficher, Rudiger Darubused trong cuốn (Kinh tế học) thì: vốn hiện vật là giá trị của hàng hoá đã sản xuất được sử dụng để tạo
ra hàng hoá và dịch vụ khác Ngoài ra còn có vốn tài chính Bản thân vốn là
Trang 2một hàng hoá nhưng được tiếp tục sử dụng vào sản xuất kinh doanh tiếp theo
- Một số nhà kinh tế học khác lại cho rằng: Vốn có nghĩa là phần lượng sản phẩm tạm thời phải hi sinh cho tiêu dùng hiện tại của nhà đầu tư, để đẩy mạnh sản xuất tiêu dùng trong tương lai
- Có thể thấy, các quan điểm khác nhau về vốn ở trên, một mặt thể hiện được vai trò tác dụng trong điều kiện lịch sử cụ thể với các yêu cầu, mục đích nghiên cứu cụ thể Mặt khác, trong cơ chế thị trường hiện nay, đứng trên phương diện hạch toán và quản lý, các quan điểm đó chưa đáp ứng được đầy
đủ các yêu cầu về quản lý đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Từ những vấn đề nói trên,có thể nói quan niệm về: Vốn là phần thu nhập quốc dân dưới dạng tài sản vật chất và tài chính được cá nhân, các doanh nghiệp bỏ ra để tiến hành sản xuất kinh doanh nhằm mục đích tối đa hoá lợi ích
1.2 Phân loại vốn
- Vốn được chia thành 2 loại: vốn đầu tư và vốn sản xuất
1 Vốn đầu tư
Theo cách hiểu chung nhất, có thể định nghĩa : Đầu tư là việc xuất vốn hoạt động nhằm thu lợi Theo định nghĩa này mục tiêu là các lợi ích mà nhà đầu tư mong muốn mà phương tiện của họ là vốn đầu tư xuất ra
a Khái niệm về vốn đầu tư: Vốn đầu tư là tiền tích luỹ của xã hội, của các đơn vị sản xuất kinh doanh, dịch vụ, là tiền tiết kiệm của dân và vốn huy động từ các nguồn khác nhau như liên doanh, liên kết hoặc tài trợ của nước ngoài nhằm để : tái sản xuất, các tài sản cố định để duy trì hoạt động của các cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có, để đổi mới và bổ sung các
cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế, cho các ngành hoặc các cơ sở kinh doanh dịch vụ, cũng như thực hiện các chi phí cần thiết tạo điều kiện cho sự bắt đầu hoạt động của các cơ sở vật chất kỹ thuật mới được
bổ sung hoặc mới được đổi mới
b Các loại đầu tư:
- Đầu tư tài chính: là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra cho vay hoặc mua các chứng chỉ có giá để hưởng lãi suất định trước ( gửi tiết kiệm, mua trái
Trang 3phiếu chính phủ) hoặc lãi suất tuỳ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
- Đầu tư thương mại: Là loại đầu tư trong đó nguời có tiền bỏ tiền ra để mua hàng hoá và sau đó bán với giá cao hơn nhằm thu lợi nhuận do chênh lệch giá khi mua
và khi bán
=> Hai loại đầu tư này đều không tạo tài sản mới cho nền kinh tế (nếu không xét đến ngoại thương ), mà chỉ làm tăng tài sản tài chính của người đầu tư trong quá trình mua đi bán lại, chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá giữa người bán và người đầu tư với khách hàng của họ
- Đầu tư phát triển: người có tiền bỏ tiền ra để tiến hành các hoạt động nhằm tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, làm tăng tiềm lực sản xuất kinh doanh và mọi hoạt động xã hội khác, là điều kiện chủ yếu để tạo việc làm, nâng cao đời sống của mọi người dân trong xã hội
=> Đó chính là việc bỏ tiền ra xây dựng, sửa chữa nhà cửa và các kết cấu hạ tầng, mua sắm trang thiết bị và lắp đặt chúng trên nền bệ và bồi dưỡng đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện các chi phí thường xuyên gắn liền với sự hoạt động của các tài sản này nhằm duy trì tiềm lực hoạt động của các cơ sở đang hoạt động và tạo tiềm lực mơi cho nền kinh tế xã hội
c Đặc điểm về vốn đầu tư:
Thứ nhất, đầu tư được coi là yếu tố khởi đầu cơ bản của sự phát triển và sinh lời Thứ hai, đầu tư đỏi hỏi một khối lượng vốn lớn, khối lượng vốn đầu tư lớn thường
là tất yếu khách quan nhằm tạo ra những điều kiện vật chất kỹ thuật cần thiết đảm bảo cho tăng trưởng và phát triển kinh tế
Thứ ba, quá trình đầu tư XDCB phải trải qua một quá trình lao động rất dài mới có thể đưa vào sử dụng được, thời gian hoàn vốn vì sản phẩm XDCB mang tính đặc biệt và tổng hợp
Quá trình đầu tư thường gồm ba giai đoạn: Xây dựng dự án, thực hiện dự án và khai thác dự án
Thứ tư, đầu tư là một lĩnh vực có rủi ro lớn Rủi ro, trong lĩnh vực đầu tư XDCB chủ yếu do thơi gian của quá trình đầu tư kéo dài
Trang 4- Vốn đầu tư của nến kinh tế được hình thành từ hai nguồn chính vốn trong nước và vốn nước ngoài.
Vốn trong nước:
Cơ sở vật chất - kỹ thuật để có thể tiếp thu và phát huy tác dụng của vốn đầu tư nước ngoài đối với sự phát triển kinh tế của đất nước chính là khối lượng vốn đầu
tư trong nước Tỷ lệ giữa vốn huy động được ở trong nước để tiếp nhận và sử dụng
có hiệu quả vốn nước ngoài tuỳ thuộc vào đặc điểm và điều kiện phát triển kinh tế
xã hội của mỗi nước
Xét về lâu dài thì nguồn vốn đảm bảo cho sự tăng trưởng kinh tế một cách liên tục, đưa đất nước đến sự phồn vinh một cách chắc chắn và không phụ thuộc phải là nguồn vốn đầu tư trong nước
Vốn ngân sách nhà nước: gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương Vốn ngân sách được hình thành từ vốn tích luỹ của nền kinh tế và được Nhà nước duy trì trong kế hoạch ngân sách để cấp cho đơn vị thực hiện các công trình thuộc kế hoạch Nhà nước
Vốn của các doanh nghiệp quốc doanh: Được hình thành từ lợi nhuận để lại của các doanh nghiệp để bổ sung cho vốn kinh doanh
Vốn của tư nhân và của hộ gia đình:Trong xu hướng khuyến khích đầu tư trong nước và cổ phần hoá những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ thì nguồn vốn đầu tư từ khu vực này ngày càng lớn về quy mô và tỷ trọng so với vốn đầu tư của khu vực Nhà nước
Vốn nước ngoài: Vốn đầu tư nước ngoài là vốn của các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vào trong nước dưới các hình thức đầu tư gián tiếp hoặc đầu tư trực tiếp
Vốn đầu tư gián tiếp: là vốn của các Chính Phủ, các tổ chức quốc tế như: Viện trợ không hoàn lại, cho vay ưu đãi với lãi suất thấp với thời hạn dài, kể cả vay theo hình thức thông thường Một hình thức phổ biến của đầu tư gián tiếp tồn tại dưới hình thức ODA-Viện trợ phát triển chính thức của các nước công nghiệp phát triển Vốn đầu tư gián tiếp thương lớn, cho nên tác dụng mạnh và nhanh đối với việc giải quyết dứt điểm các nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội của nước nhận đầu tư Tuy nhiên, tiếp nhận vốn đầu tư gián tiếp thường gắn với việc trả giá bằng chính trị và
Trang 5nợ nần chồng chất nếu không sử dụng có hiệu quả vốn vay và thực hiện nghiêm ngặt chế độ trả nợ vay Các nước Đông Nam Á và NICS Đông Á đã thực hiện giải pháp vay dài hạn, vay ngắn hạn rất hạn chế và đặc biệt không vay thương mại Vay dài hạn lãi suất thấp, việc trả nợ không khó khăn ví có thời gian hoạt động đủ để thu hồi vốn
Vốn đầu tư trực tiếp (FDI): là vốn của các doanh nghiệp và cá nhân nước ngoài đầu tư sang các nước khác và trực tiếp quản lý hoặc tham gia quản lý quá trình sử dụng và thu hồi vốn bỏ ra Vốn này thường không chỉ đủ lớn để giải quyết dứt diểm từng vấn đề kinh tế xã hội của nước nhận đầu tư Nước nhận đầu tư trực tiếp phải chia sẻ lợi ích kinh tế do đầu tư đem lại với người đầu tư theo mức độ góp vốn cuả họ Vì vậy, có quan điểm cho rằng đầu tư trực tiếp sẽ làm cạn kiệt tài nguyên của nước nhận đầu tư
Theo tình hình Việt Nam hiện nay thì các nguồn vốn trong nước chỉ đáp ứng được một nửa nhu cầu, nửa còn lại phải huy động tử bên ngoài Đó chính là vồn ODA và FDI, trong đó dự kiến thu hút khoảng 11-12 tỷ USD vốn ODA và 15-17 tỷ vốn FDI tổng cộng 25-28 tỷ USD vốn nước ngoài ( theo chiến lược phát triển kinh tế do Bộ
Kế hoạch và Đầu tư dự thảo )
2 Vốn sản xuất:
a Khái niệm: Vốn sản xuất là giá trị của những tài sản được sử dụng làm phương tiện trực tiếp phục vụ cho quá trình sản xuất và dịch vụ, bao gồm vốn cố định và vốn lưu động
b Vốn đầu tư sản xuất:
- Vốn đầu tư sản xuất là toàn bộ các khoản chi phí nhằm duy trì hoặc gia tăng mức vốn sản xuất Vốn đầu tư sản xuất được chia thành : vốn đầu tư vào tài sản cố định và vốn đầu tư vào tài sản lưu động Vốn đẩu tư vào tài sản cố định lại chia thành: vốn đầu tư cơ bản và vốn đầu tư sửa chữa lớn Vốn đầu
tư cơ bản làm tăng khối lượng thực thể của tài sản cố định, bảo đảm bù đắp
số tài sản cố định bị hao mòn và tăng thêm phần xây lắp dở dang Vốn sửa chữa lớn không làm tăng khối lượng thực thể của tài sản, do đó nó không có trong thành phần của vốn đầu tư cơ bản Nhưng vai trò của vốn sửa chữa lớn
Trang 6tài sản cố định cũng giống như vai trò kinh tế của vốn đầu tư cơ bản và nhằm đảm bảo thay thế tài sản bị hư hỏng
- Như vậy, hoạt động đầu tư cho sản xuất là việc sử dụng vốn đầu tư để phục hồi năng lực sản xuất cũ và tạo thêm năng lực sản xuất mới, nói cách khác,
đó là quá trình thực hiện tái sản xuất các loại tài sản sản xuất Hoạt động đầu
tư là hết sức cần thiết, xuất phát từ 3 lý do:
- Đầu tư trực tiếp là hoạt động đầu tư mà người có vốn tham gia trực tiếp vào quá trình hoạt động và quản lý đầu tư, họ biết được mục tiêu đầu tư cũng như phương thức hoạt động của các loại vốn mà họ bỏ ra Hoạt động đầu tư này có thể được thực hiện dưới các dạng: hợp đồng, liên doanh, cồn ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn
Đầu tư gián tiếp là hình thức bỏ vốn vào hoạt động kinh tế nhằm đem lại hiệu quả cho bản thân người có vốn cũng như cho xã hội, những người có vốn không trực tiếp thường được thực hiện dưới dạng: cổ phiếu, tín phiếu…Hình thức đầu tư này thường ít gặp rủi ro hơn so với đầu tư trực tiếp
II THỰC TRẠNG SỬ DỤNG VỐN Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2011-2015.
- Vốn đầu tư có vai trò quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi Quốc gia Ngay từ những năm 1950, các nhà kinh tế học của Liên Hợp Quốc
đã coi sự thiếu hụt về vốn là một hạn chế chủ yếu của tang trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển
- Là một quốc gia đang phát triển công nghiệp hóa, nguồn lực còn rất hạn chế việc huy động và sử dụng các nguồn vốn đầu tư có hiệu quả là nhân tố quyết định trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
- Việt Nam đang bước những bước đầu tiên trong quá trình cải cách nền kinh tế, nhưng nói một cách chính xác hơn thì đây phải là quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng, khi mà mô hình tăng trưởng cũ đã tỏ ra quá lạc hậu với quá nhiều bất cập và thậm chí có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng
Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2015 được thực hiện trong bối cảnh tình hình quốc tế có những diễn biến phức tạp, tình hình kinh tế trong nước gặp nhiều khó khăn Năm 2015 - năm cuối của kế hoạch kinh tế 5 năm
Trang 72011-2015 khép lại với tăng trưởng kinh tế phục hồi ở mức cao nhất trong vòng
5 năm qua, lạm phát thấp, tỷ lệ nợ xấu giảm, nhập siêu nằm trong mức mục tiêu
đề ra
Vốn đầu tư có vai trò quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Là quốc gia đang phát triển, công nghiệp hóa, nguồn lực còn rất hạn chế, việc huy động và sử dụng các nguồn vốn đầu tư có hiệu quả là nhân
tố quyết định trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
Thực trạng sử dụng vốn cửa Việt Nam giai đoạn 2011-2015
* Nguồn vốn của khu vực Nhà nước
- Nguồn lực tài chính nhà nước dành cho đầu tư phát triển thường được tập trung cho các dự án trọng điểm, là động lực cho sự phát triển và tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân Sử dụng hiệu quả nguồn vốn này sẽ khơi thông các nguồn vốn đầu tư khác trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội từ các thành phần kinh tế khác, giúp cho phát triển cân đối ngành, vùng kinh tế
- Tỷ trọng nguồn vốn khu vực nhà nước trong tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội có xu hướng giảm nhanh: giai đoạn 2011-2015 là 39,1%, riêng năm 2013 là 40,4% Xu hướng giảm này là phù hợp với quá trình thực hiện chủ trương cấu trúc lại nền kinh tế và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường Điều này cũng phù hợp với định hướng chiến lược của Đảng ta, Nhà nước là chỉ nắm giữ những lĩnh vực có vị trí chiến lược quốc gia, có vai trò then chốt của nền kinh tế quốc dân mà không đầu
tư tràn lan, mặt khác Nhà nước sẽ chuyển dần nguồn vốn sang các lĩnh vực, vùng
mà khu vực tư nhân ít đầu tư hoặc không đủ khả năng, tiềm lực để đầu tư, đảm bảo tính cân đối nền kinh tế quốc dân
- Thực tế cho thấy, nguồn vốn đầu tư nhà nước đóng vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế, có tác dụng định hướng và tạo môi trường thuận lợi trong việc thu hút các nguồn vốn khác, có ý nghĩa quyết định đến quá trình tăng trưởng kinh
tế Tỷ trọng của nguồn vốn từ khu vực Nhà nước giảm trong khi vẫn bảo đảm được tốc độ tăng trưởng (ICOR giảm) cũng cho thấy tính hiệu quả đầu tư của khu vực này được nâng lên
- Quy mô nguồn vốn khu vực nhà nước phụ thuộc lớn vào thu ngân sách nhà nước Tuy nhiên, nguồn thu ngân sách của nước ta hiện nay còn một số yếu tố thiếu vững chắc Trong cơ cấu tổng thu ngân sách nhà nước, thu nội địa chiếm tỷ lệ thấp, chủ yếu thu từ dầu thô và từ thuế nhập khẩu Khoản thu này không trực tiếp
Trang 8phản ánh hiệu quả của sản xuất kinh doanh, đồng thời các nội dung thu này sẽ bị ảnh hưởng bởi nguồn dầu thô ngày càng cạn kiệt và lộ trình cắt giảm thuế quan
* Nguồn vốn từ khu vực ngoài nhà nước
- Tỷ lệ nguồn vốn từ khu vực ngoài Nhà nước trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng dần qua các giai đoạn Giai đoạn 2011-2015 là 38,3% Điều này cho thấy, kinh tế ngoài nhà nước ngày càng phát triển và có vai trò quan trọng trong nền kinh
tế nhiều thành phần, đã phát huy hiệu quả sức mạnh tổng hợp của các thành phần kinh tế cho sự phát triển chung của đất nước Đó là kết quả của cơ chế thị trường
đã khai thông các nguồn vốn nói chung và vốn ngoài nhà nước nói riêng Hiệu quả
sử dụng nguồn vốn này rất cao vì tính linh hoạt và thận trọng trong sử dụng đồng vốn Tuy quy mô vốn của các doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước còn nhỏ nhưng tính linh hoạt trong điều kiện nền kinh tế mở đã góp phần giúp nền kinh tế quốc dân thích nghi nhanh với những thay đổi của kinh tế toàn cầu
Nguồn vốn từ khu vực nước ngoài
- VỐN ODA
Nguồn vốn ODA tại Việt Nam được thực hiện dưới 3 hình thức chủ yếu gồm nguồn vốn ODA viện trợ không hoàn lại (chiếm khoảng 10%-12%), nguồn vốn ODA vay ưu đãi (chiếm khoảng 80%) và nguồn vốn ODA hỗn hợp (chiếm khoảng 8%-10%) Trong những năm qua, ODA cho Việt Nam không ngừng tăng lên cả về
số vốn cam kết cũng như vốn giải ngân
Giai đoạn 2011-2015, tỷ lệ giải ngân được cải thiện đáng kể, tuy nhiên tổng vốn đã ký kết của giai đoạn này chuyển sang giai đoạn 2016-2020 khoảng 22 tỷ USD Hơn 80 tỷ USD mà các nhà tài trợ đã cam kết dành cho Việt Nam trong gần
20 năm qua không chỉ mang đến cho Việt Nam nguồn vốn bổ sung quan trọng, phục vụ quá trình phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, phát triển nông nghiệp, nông thôn, xây dựng hạ tầng, đào tạo phát triển nguồn nhân lực mà quan trọng hơn là sự cam kết này cũng đồng thời khẳng định sự ủng hộ mạnh mẽ của cộng đồng quốc tế đối với công cuộc đổi mới và chính sách phát triển đúng đắn của Đảng và Chính phủ Việt Nam, sự tin tưởng của các nhà tài trợ vào hiệu quả tiếp nhận và sử dụng nguồn vốn ODA của Việt Nam
Trong 5 năm 2011-2015, có 152 dự án hoàn thành đưa vào sử dụng, chủ yếu là các
dự án cấp nước, thủy điện, truyền tải và phân phối điện, chế biến lâm sản, đường giao thông vốn ODA chủ yếu được phân bổ ưu tiên cho các chương trình, dự án đầu tư công (chiếm khoảng 44% tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội giai đoạn 2011- 2015) nhưng hệ số sử dụng vốn (ICOR) vẫn còn rất cao Mặt khác, quá trình tái cơ cấu đầu tư công còn chậm, vẫn còn tình trạng đầu tư dàn trải, thi công chậm
Trang 9tiến độ, tham nhũng, lãng phí là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến ICOR cao, hiệu quả đầu tư thấp
Mặc dù chỉ chiếm gần 3% so với GDP nhưng nguồn vốn ODA và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài giai đoạn 2011-2015 đã hỗ trợ Việt Nam phát triển
hạ tầng kinh tế - xã hội và giảm nghèo một cách bền vững
Nhìn lại giai đoạn 2011-2015, đã có khoảng 904 dự án dự kiến hoàn thành với tổng
số vốn giải ngân đạt khoảng 21,2 tỷ USD và 348 dự án ODA không hoàn lại với tổng số vốn khoảng 1,4 tỷ USD Đóng góp của ODA và vốn vay ưu đãi trong giai đoạn này như sau:
Lĩnh vực giao thông vận tải chiếm tỷ trọng cao nhất (35,68%), đạt trên 9.913 triệu USD Nhiều công trình trọng điểm quốc gia sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi như Cao tốc Nội Bài – Lào Cai, Cao tốc thành phố Hồ Chí Minh – Long Thành – Dầu Giây, cầu Vĩnh Thịnh, cầu Nhật Tân, đường nối Nhật Tân – Nội Bài, Nhà ga T2 Nội Bài…và nhiều công trình khác, góp phần nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế trong bối cảnh hội nhập sâu rộng
Trong lĩnh vực môi trường (cấp thoát nước, ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng trưởng xanh…) và phát triển đô thị, tổng vốn ODA và vốn vay ưu đãi ký kết trong thời kỳ 2011-2015 đạt khoảng 5.181 triệu USD, bằng 18,65% Nhờ nguồn vốn này
mà chương trình nâng cấp đô thị quốc gia đã được triển khai nhằm hỗ trợ các vùng còn khó khăn như Đồng bằng Sông Cửu Long, miền núi phía Bắc…
Lĩnh vực năng lượng và công nghiệp đứng thứ ba về tỷ trọng, đạt khoảng 4.762 triệu USD, bằng 17,14% Nguồn vốn này được sử dụng hiệu quả, thể hiện qua sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống điện về nguồn điện, lưới điện truyền tải, phân phối… đóng góp đáng kể vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Một số nguồn và hệ thống truyền tải phân phối điện quan trọng như: Đường dây
500 KV Pleiku – Mỹ Phước – Cầu Bông, Dự án cáp ngầm 110 KV xuyên biển Hà Tiên – Phú Quốc, Dự án Nhà máy Nhiệt điện Nghi Sơn 1…
Trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn kết hợp với xóa đói giảm nghèo, tổng vốn ODA và vốn vay ưu đãi đạt trên 2.632 triệu USD, bằng 9,47% Trong lĩnh vực y tế - xã hội, tổng vốn ODA và vốn vay ưu đãi ký kết đạt khoảng 1.292 triệu USD, bằng 4,65% Các chương trình, dự án vốn vay được sử dụng để tăng cường trang thiết bị y tế cho một số bệnh viện tuyến tỉnh và thành phố, các
Trang 10bệnh viện huyện và trạm y tế xã, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ y tế thông qua việc cung cấp trang thiết bị y tế cơ bản và các trang thiết bị y tế kỹ thuật cao… Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, tổng vốn vay đạt 930 triệu USD, bằng 3,35% Nét nổi bật là quyết định của Chính phủ sử dụng vốn vay, kể cả vốn ưu đãi để hỗ trợ xây dựng một số trường đại học xuất sắc nhằm hướng đến trình độ đại học khu vực và quốc tế
Trong lĩnh vực khoa học công nghệ, tổng vốn ODA và vốn vay ưu đãi ký kết thời
kỳ 2011-2015 đạt 3.070 triệu USD, bằng 11,05% Nhiều công nghệ, kỹ năng và kinh nghiệm quản lý tiên tiến đã được chuyển giao Điển hình là dự án hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và tăng cường năng lực quản lý, Dự án hỗ trợ chính sách thương mại và đầu tư của châu Âu, Dự án nâng cao năng lực cho ngành công nghiệp và thương mại Việt Nam nhằm kiểm soát phát thải khí nhà kính và tăng cường khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu…
-VỐN FDI
Trong giai đoạn 2010-2015 tổng số vốn nước ngoài được Thủ tướng giao là 96.519
tỷ đồng Ước tính giải ngân vốn nước ngoài giai đoạn 2010-2015 đạt khoảng 237.933 tỷ đồng
Giai đoạn từ 2011 đến nay, dù có những khó khăn xuất phát từ bất ổn nội tại của nền kinh tế Việt Nam nhưng nhìn chung vẫn đạt được kế hoạch thu hút FDI đề ra, bình quân trên dưới 20 tỷ USD/năm, vốn giải ngân cũng khá ổn định và có tăng trưởng tốt
Theo số liệu thống kê của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), tính đến ngày 20/12/2016, cả nước đang có 22.509 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký đạt gần 293,25 tỷ USD Vốn thực hiện lũy kế của các dự án FDI ước đạt hơn 154,54 tỷ USD (bằng gần 53% tổng vốn đăng ký còn hiệu lực) Khu vực FDI
đã đầu tư vào 19 trong tổng số 21 ngành, trong đó lĩnh vực công nghiệp chế biến
và chế tạo chiếm tỷ trọng lớn nhất (chiếm 58,8% tổng vốn đăng ký), kinh doanh bất động sản đứng thứ hai (chiếm 17,7% tổng vốn đăng ký)
Đến nay, FDI đã có mặt tại 63 tỉnh, thành phố trên cả nước, trong đó tập trung chủ yếu tại các địa bàn trọng điểm, có lợi thế Xếp theo quy mô vốn, thành phố Hồ Chí Minh dẫn đầu với 6.737 dự án còn hiệu lực, vốn đăng ký hơn 44,82 tỷ USD,