1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phân tích tác động của ô nhiễm môi trường nước sông nhuệ đến sức khỏe con người

32 117 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 216,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thấy vai trò quan trọng của hệ thống sông Nhuệ đối với sự phát triểnbền vững của thành phố Hà Nội và các tỉnh phía Nam sông Nhuệ cũng như để có cơ sở đề xuất các giải pháp quản lý,

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ -o0o -

TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ MÔI TRƯỜNG

Đề tài: PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NƯỚC

SÔNG NHUỆ ĐẾN SỨC KHỎE CON NGƯỜI

Trang 2

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 2

Lời mở đầu 3

1 Tổng quan 5

1.1 Tổng quan về tình hình ô nhiễm môi trường nước ở Việt Nam 5

1.2 Tình hình nghiên cứu về về môi trường và nguồn nước khu vực sông Nhuệ 6

1.3 Khoảng trống nghiên cứu 6

1.4 Phương pháp nghiên cứu 7

2 Thực trạng 8

2.1 Thực trạng ô nhiễm môi trường nước sông Nhuệ 8

2.2 Ảnh hưởng của ô nhiễm nguồn nước sông Nhuệ đến sức khỏe con người 14

3 Giải pháp: 18

3.1 Giải pháp tuyên truyền 18

3.2 Giải pháp Khoa học – Công nghệ: 19

Trang 3

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BVMT: Bảo vệ môi trường

BOD: Biochemical oxygen Demand- nhu cầu oxy sinh hoá COD: Chemical Oxygen Demand - nhu cầu oxy hóa học

DO: Dissolved Oxygen - lượng oxy hoà tan trong nước

TSS: Turbidity & Suspendid Solids - tổng chất rắn lơ lửng

Trang 4

Lời mở đầuTính cấp thiết của đề tài

Sông Nhuệ là một con sông nhỏ, dài khoảng 76 km, với diện tích lưu vựckhoảng 1.075 km2 Sông Nhuệ lấy nước từ sông Hồng qua cống Liên Mạc, cấpnước tưới cho hệ thống thủy nông Đan Hoài Bên cạnh đó, sông Nhuệ còn có nhiệm

vụ tiều nước cho thành phố Hà Nội, thị xã Hà Đông và chuyển nước cho sông Đáytại thành phố Phủ Lý Do đó, việc nghiên cứu, đánh giá chất lượng nước sông cũngnhư tác động đến đời sống là vô cùng cần thiết cho công tác quản lý môi trường củasông Nhuệ

Trong những năm gần đây, sự phát triển kinh tế- xã hội trong lưu vực sôngNhuệ diễn ra rất mạnh mẽ, đem lại nhiều lợi ích kinh tế, góp phần nâng cao đờisống cho người dân, giải quyết việc làm cho một số lượng lớn người dân lao động.Song, ngoài những lợi ích mang lại thì tình trạng ô nhiễm môi trường nói chung vàmôi trường nước nói riêng trong lưu vực ngày càng nghiêm trọng Hiện nay, sôngNhuệ đang bị bồi lắng và ô nhiễm rất nặng do nước thải công nghiệp và sinh hoạt từthành phố Hà Nội (một phần là do nối với sông Tô Lịch gần Văn Điển), Hà Đông

và ảnh hưởng rất nhiều tới sức khỏe của những người dân sống trong lưu vực lượngnước thải vào sông Nhuệ với hàm lượng DO hầu như không còn nữa đã biến consông thành “con sông chết” vì tôm cá không thể nào sống ở mức độ đó Vào mùakhô thì dòng sông cạn kiệt, trơ đáy bùn nên nhiều khúc sông không khác gì bãi rác

lô thiên

Nhận thấy vai trò quan trọng của hệ thống sông Nhuệ đối với sự phát triểnbền vững của thành phố Hà Nội và các tỉnh phía Nam sông Nhuệ cũng như để có cơ

sở đề xuất các giải pháp quản lý, giải pháp kĩ thuật nhằm cải thiện chất lượng nước

sông Nhuệ, đề tài “Phân tích tác động của ô nhiễm môi trường nước sông Nhuệ đến sức khỏe con người” đã được thực hiện.

Trang 5

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Môi trường nước sông Nhuệ trên địa bàn Hà Nội và các tác động ô nhiễm môitrường nước đến sức khỏe con người

Cấu trúc: Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo bài tiểu luận có

các nội dung chính sau:

Phần 1: Tổng quan

Phần 2: Thực trạng

Phần 3: Giải pháp

Trang 6

NỘI DUNG

1 Tổng quan

1.1 Tổng quan về tình hình ô nhiễm môi trường nước ở Việt Nam

Việt Nam có khoảng hơn 2.360 con sông trải dài khắp mọi miền đất nước,trong đó có 109 sông chính Nước ta đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đạihóa tuy nhiên việc khai thác, sử dụng tài nguyên nước chưa hợp lý đã dẫn đếnnhững hệ lụy nghiêm trọng Đó là suy giảm số lượng và chất lượng nước mặt.Nhiều vùng trên lãnh thổ Việt Nam ở trong tình trạng thiếu nước mùa hạn hán vànguồn nước mặt bị ô nhiễm nghiêm trọng

Những hoạt động trong đời sống của con người đã tác động mạnh mẽ đến cácquá trình trong chu trình thuỷ văn, gây nên những ảnh hưởng có lợi cũng như bất lợitới số lượng và chất lượng tài nguyên nước Nhu cầu dùng nước ngày càng tăng caotrong sinh hoạt và phát triển kinh tế - xã hội, cùng với sự biến đổi thất thường củakhí hậu toàn cầu đã làm cho tài nguyên nước ngày càng bị tác động theo chiềuhướng xấu đi cả về chất và lượng Do đó, công tác quản lý tài nguyên nước để đảmbảo an ninh về nước cho phát triển kinh tế - xã hội bền vững đang là một vấn đềnóng bỏng trên khắp thế giới cũng như ở nước ta hiện nay

Hầu hết các sông, hồ lớn ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, nơi có dân cưđông đúc đều bị ô nhiễm Phần lớn là lượng nước thải từ sinh hoạt và công nghiệpđược đổ thẳng xuống sông, hồ mà không qua xử lý đã ảnh hưởng nghiêm trọng đếncác con sông, hồ trong thành phố Trong những năm qua sự gia tăng nhanh dân số

và sự khai thác quá mức tài nguyên nước đã làm suy kiệt nguồn nước và nguồnnước ngày càng bị ô nhiễm Điều này đã đặt ra những thách thức đối với nguồnnước mặt của Việt Nam Vì lẽ đó cần có những giải pháp tốt cho việc quản lý tàinguyên nước mặt

Có thể thấy Việt Nam cũng giống như các nước trên thế giới đang gặp nhữngvấn đề về nguồn nước Quá trình sinh hoạt, sản xuất kèm theo đó là chất thải từ các

Trang 7

khu công nghiệp, nhà máy, nước thải sinh hoạt đã gây ra ảnh hưởng đến chất lượngnước đặc biệt là nước trong các con sông.

1.2 Tình hình nghiên cứu về về môi trường và nguồn nước khu vực sông Nhuệ

Sông Nhuệ nằm giữa đồng bằng Bắc bộ, phía Bắc lưu vực sông Nhuệ là sôngHồng, phía Tây là sông Đáy, phía Nam là sông Châu Giang Sông chảy qua địa bànthành phố Hà Nội và hai huyện của tỉnh Hà Nam Diện tích của toàn bộ lưu vực là107.530 ha, trong đó: Hà Nội chiếm 87.820 ha và tỉnh Hà Nam chiếm 19.710 ha.Sông Nhuệ (đoạn chảy qua thành phố Hà Nội) bắt nguồn từ sông Hồng tại cửa cốngLiên Mạc - Từ Liêm và chảy qua các quận, huyện gồm: Từ Liêm, Hà Đông, ThanhTrì, Thanh Oai, Thường Tín, Ứng Hòa, Phú Xuyên và cuối cùng đổ vào sông Đáy ởkhu vực thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam

Lưu vực sông Nhuệ có hướng dốc từ Bắc xuống Nam là nguồn cấp nước tướiphục vụ sản xuất nông nghiệp và thoát nước của thành phố Lưu vực sông Nhuệ có

hệ thống sông ngòi và đầm hồ dày đặc, trong đó bao gồm nhiều sông lớn nhỏ khácnhau Các sông lớn chảy ở phía ngoài như sông Hồng, sông Đáy

Lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy là khu vực dân số tập trung với mật độ caonhất cả nước, các đoạn sông chảy qua khu dân cư tập trung, đô thị lớn phải gánhchịu lượng nước thải sinh hoạt của hàng chục triệu người Bên cạnh đó, tốc độ pháttriển kinh tế và đô thị hóa nhanh, các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ các

đô thị, làng nghề, khu – cụm công nghiệp, dịch vụ xả nước thải không qua xử lýhoặc xử lý chưa đạt quy chuẩn cho phép đã dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trườngnước diễn biến phức tạp, tồn tại kéo dài qua nhiều năm, đặc biệt trong những thángmùa khô

Lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy là 1 trong 3 lưu vực bị đưa vào danh sách cómức độ ô nhiễm cao, ảnh hưởng lớn đến sức khỏe con người và xung quanh Tại địabàn có sông Nhuệ, sông Đáy chảy qua nhiều người dân mắc các loại bệnh liên quanđến nguồn nước ô nhiễm như bệnh đường tiêu hóa, bệnh ngoài da, Tỷ lệ các xãven sông mắc bệnh cao hơn các xã ở xa nguồn nước

Trang 8

1.3 Khoảng trống nghiên cứu

Mặc dù chất lượng nước giảm sút cùng với ô nhiễm nguồn nước lưu vựcsông Nhuệ đoạn chảy qua Thành phố Hà Nội đã được nêu trong nhiều nghiên cứu,báo cáo, đánh giá tuy nhiên thực tế thì tình trạng nước sông bốc mùi, chuyển thànhmàu đen vẫn chưa được giải quyết triệt để và còn gây ảnh hưởng tới đời sống sinhhoạt và sản xuất của người dân xung quanh, không có nhiều báo cáo chuyên sâu vềảnh hưởng của ô nhiễm nước sông Nhuệ đến sức khỏe người dân Hà Nội

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp tổng hợp tài liệu và thống kê số liệu

Nhóm nghiên cứu, thu thập số liệu, tài liệu đã có: từ internet về các nội dungliên quan đến đề tài ở trong nước và thế giới

Thu thập các thông tin, thống kê số liệu về điều kiện tự nhiên, tình hình kinh

tế, xã hội của khu vực

Tổng hợp các hướng dẫn, tiêu chuẩn, quy chuẩn lấy mẫu và phân tích mẫunước sông

Nhóm nghiên cứu dựa trên Luật, Quyết định, Nghị định để làm cơ sở pháp lýnhằm đưa ra giải pháp hạn chế ảnh hưởng của chất lượng nước sông tới sức khỏe,đời sống sinh hoạt và sản xuất của người dân xung quanh

Phương pháp khảo sát

Nhóm nghiên cứu thực hiện khảo sát bằng phiếu online về ảnh hưởng của ônhiễm sông Tô Lịch (1 nhánh của sông Nhuệ) đến sức khỏe con người

Nội dung chính của phiếu phỏng vấn:

1 Thông tin chung người được phỏng vấn

Trang 9

2 Khoảng cách từ nơi ở đến nguồn nước ô nhiễm sông Tô Lịch

3 Chi phí y tế của các bệnh liên quan đến ô nhiễm nướcQua khảo sát, thu được 41 kết quả

Phương pháp phân tích định lượng

Thu thập số liệu phiếu khảo sát, phân tích định lượng bằng phần mềm stata

để thu được kết quả về ảnh hưởng của ô nhiễm nước đến sức khỏe con người Kếtquả phân tích được nêu ở phần sau

2 Thực trạng

2.1 Thực trạng ô nhiễm môi trường nước sông Nhuệ

Chất lượng nước của sông Nhuệ biến đổi theo từng năm, có xu hướng ngàykém hơn do có nhiều nguồn nước thải lớn đổ vào hệ thống Khu vực ô nhiễm nặngnhất trên dòng chính sông Nhuệ là từ sau cống Hà Đông về hạ du

Kết quả giám sát từ năm 2005 đến 2016 do Viện Quy hoạch Thủy lợi thựchiện cho thấy, đoạn từ Cầu Diễn đến đập Đồng Quan: hàm lượng COD (nhu cầuhóa học), BOD5 (nhu cầu oxy sinh học) đều vượt quá giới hạn B2 của QCVN 08-MT: 2015/BTNMT (Dùng cho mục đích tưới tiêu, thủy lợi hoặc các mục đích sửdụng khác có yêu cầu chất lượng nước tương tự) từ 2,2 đến 9 lần Đặc biệt, chỉ số

DO (ôxy hòa tan trong nước) thấp, giảm mạnh trong những năm gần đây Qua cácđợt giám sát đều cho thấy chỉ số DO có giá trị < 1 mg/l; hàm lượng NH4+ vượt quágiới hạn B2 từ 0,4 đến 11 lần; hàm lượng vi khuẩn Coliform vượt quá giới hạn B2

từ 1.5 ÷ 30 lần Bên cạnh đó, nước sông có màu đen, có váng, cặn lắng và có mùihôi tanh nồng nặc Đặc biệt vào mùa khô, không có nguồn nước sông Hồng đổ vàopha loãng cho sông Nhuệ, nước sông Nhuệ càng bị ô nhiễm nghiêm trọng Vào mùamưa, tuy nước sông Nhuệ có nguồn bổ sung nhưng các thông số đặc trưng cho ônhiễm như BOD5, COD, SS, cùng vớỉ các hợp chất dinh dưỡng chứa Nitơ, Phốt

Trang 10

pho và Coliform trong nước sông vẫn vượt quá nhiều lần so với tiêu chuẩn quốcgia.

Theo báo cáo quy hoạch bảo vệ môi trường lưu vực sông Nhuệ đến năm

2015 và định hướng đến năm 2020 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, nguồn nướcngầm đang bị ô nhiễm nghiêm trọng Số liệu điều tra tại Hà Nội, thành phố bị ônhiễm Asen (Thạch tín) nặng nhất, thì tại đây có tới 11.455/39.648 mẫu phân tíchhàm lượng As vượt quy chuẩn cho phép (chiếm 28,9%)

Để đánh giá rõ hơn về mức độ ô nhiễm nước sông Nhuệ, một nhóm nghiêncứu Đại học Khoa học Tự nhiên đã tiến hành nghiên cứu đánh giá 12 chỉ tiêu tại 16

vị trí trên sông Kết quả ô nhiễm thể hiện rõ qua các chỉ số, cụ thể như sau:

*Chỉ tiêu pH: Giá trị pH đặc trưng cho độ axit/bazơ của nước

Giá trị pH của nước sông Nhuệ thể hiện đặc trưng kiềm nhẹ, dao động trongkhoảng từ 7,0 đến 7,4 Tại tất cả các vị trí giá trị pH đều đạt QCVN08:2008/BTNMT (loại B1) Giá trị pH mùa mưa thấp hơn mùa khô và có giá trị gầnvới pH trung tính, ngược lại mùa khô giá trị pH mang tính kiềm nhẹ ở hầu hết cácđiểm quan trắc và thể hiện đặc trưng kiềm nhẹ

*Chỉ tiêu DO: Thể hiện hàm lượng ôxi hòa tan trong nước

Hàm lượng DO tại tất cả các vị trí quan trắc đều thấp hơn quy chuẩn cho phépquy định bởi QCVN 08:2008/BTNMT loại B1 (>4), dao động trong khoảng từ 2,6đến 3,1 mg/l và chỉ đáp ứng yêu cầu của loại B2 giao thông thủy và các mục đíchkhác với yêu cầu chất lượng nước thấp Mùa mưa hàm lượng DO cao hơn mùa khô

do lưu lượng nước mùa mưa cao hơn, quá trình xáo trộn vùng bề mặt nước tốt hơnmùa khô; đồng thời do quá trình phân huỷ các chất ô nhiễm hữu cơ thấp hơn mùakhô nên hàm lượng DO trong nước có giá trị tốt hơn

* Chỉ tiêu Chất rắn lơ lửng (TSS):

Hàm lượng chất rắn lơ lửng (TSS) từ vị trí NR1 đến NR4 không vượt mứcgiới hạn tối đa cho phép quy định bởi QCVN 08:2008/BTNMT (loại B1), còn lại

Trang 11

các điểm khác đều vượt vượt mức giới hạn tối đa cho phép, đặc biệt từ vị trí NR5đến NR8 Nguyên nhân của tình trạng này có thể sông Nhuệ chịu tác động mạnhcủa hoạt động sinh hoạt và phát triển đô thị của các khu dân cư trong thủy vực nhậnnước của sông.

Hàm lượng chất rắn lơ lửng (TSS) mùa mưa thấp hơn mùa khô

* Chỉ tiêu COD:

Hàm lượng COD tại tất cả các vị trí quan trắc đều vượt mức giới hạn tối đacho phép quy định bởi QCVN 08:2008/BTNMT (loại B1) Nguyên nhân của tìnhtrạng này có thể sông Nhuệ chịu tác động mạnh của hoạt động sinh hoạt và pháttriển đô thị của các khu dân cư trong thủy vực nhận nước của sông Các vị trí NR1,NR2, NR3 không vượt quy chuẩn cho phép Hàm lượng COD mùa mưa thấp hơnmùa khô tại hầu hết các vị trí, riêng chỉ có vị trí NR15 hàm lượng COD mùa khôthấp hơn mùa mưa

* Chỉ tiêu BOD:

Hàm lượng BOD5 tại vị trí từ NR1 đến NR3 thấp không vượt quy chuẩn, từ vịtrí NR4 đến NR16 giá trị BOD5 rất cao vượt quá quy chuẩn cho phép nhiều lần.Nguyên nhân của tình trạng này có thể sông Nhuệ chịu tác động mạnh của hoạtđộng sinh hoạt và phát triển đô thị của các khu dân cư trong thủy vực nhận nướccủa sông.Hàm lượng BOD5 mùa mưa thấp hơn mùa khô tại hầu hết các vị trí quantrắc, riêng chỉ có vị trí NR15 hàm lượng BOD5 mùa mưa bằng với mùa khô

* Chỉ tiêu NO3 - :

Hàm lượng NO3 - tại tất cả các vị trí quan trắc đều không vượt mức giới hạntối đa cho phép quy định bởi QCVN 08:2008/BTNMT (loại B1) Hàm lượng NO3 -mùa mưa cao hơn mùa khô tại vị trí NR1, NR2, NR3, NR4, NR5, MNR6 hàmlượng NO3 - mùa khô lại cao hơn mùa mưa tại vị trí NR8 đến NR14

* Chỉ tiêu PO4-:

Hàm lượng PO4- trong nước sông Nhuệ tương đối cao và dao động trongkhoảng từ 0,51 đến 3,66 mg/l Tất cả các vị trí quan trắc đều vượt mức giới hạn tối

Trang 12

đa cho phép ở tất cả các loại (A1-B2) Kết quả nghiên cứu này cũng phù hợp vớicác công bố trước đây về chất lượng nước sông Nhuệ Theo mùa: Hàm lượng PO4 -mùa khô cao hơn mùa mưa tại hầu hết các vị trí quan trắc

* Chỉ tiêu Fe:

Hàm lượng Fe tại các vị trí NR1, NR2, NR3 đều đạt quy chuẩn cho phép củaQCVN 08:2008/BTNMT loại B1 Các vị trí còn lại vượt mức giới hạn tối đa chophép quy định bởi QCVN 08:2008/BTNMT loại B1, vị trí NR8 vượt 2,2 lần Theomùa: Hàm lượng Fe mùa mưa thấp hơn mùa khô tại các vị trí NR5 đến NR11, tạicác vị trí NR1, NR3, NR4, NR12, NR13, NR15, NR16 hàm lượng Fe trong mẫunước sông Nhuệ vào mùa mưa cao hơn mùa khô

*Chỉ tiêu Ni:

Hàm lượng Ni dao động trong khoảng từ 0,003 đến 0,017 mg/l Tại tất cả các

vị trí quan trắc đều đạt quy chuẩn cho phép Theo mùa: Hàm lượng Ni vào mùa khôcao hơn mùa mưa tại tất cả các vị quan trắc

* Chỉ tiêu Zn:

Hàm lượng Zn dao động trong khoảng 0,02 đến 0,07 mg/l Giá trị Zn tạiccác

vị trí quan trắc được trong tháng 11 năm 2011 đều đạt quy định cho phép củaQCVN 08:2008/BTNMT loại B1 Theo mùa: Hàm lượng Zn mùa khô cao hơn mùamưa tại các vị trí quan trắc NR1, NR2, NR3, NR4, NR6, NR7, NR8, NR9, NR10,NR12, NR13, NR14, NR16 Vị trí NR5, NR15 hàm lượng Zn vào mùa mưa cao hơnmùa khô

* Chỉ tiêu As:

Hàm lượng As dao động trong khoảng 0,001 đến 0,01 mg/l Giá trị As tại các

vị trí quan trắc được trong tháng 11 năm 2011 đều đạt quy định cho phép củaQCVN 08:2008/BTNMT loại B1 Theo mùa: Hàm lượng As mùa mưa cao hơn mùakhô tại các vị trí NR5, NR6, NR8, NR9, NR10 Tại các vị trí NR2, NR7, NR11,NR12, NR13, NR14, NR16 hàm lượng As vào mùa mưa thấp hơn mùa khô

Trang 13

* Chỉ tiêu C6H5OH:

Hàm lượng Phenol trong các mẫu nước tại phía hạ lưu sau Cầu Diễn có xu hướngcao và cao hơn mức quy định tối đa cho phép của QCVN 08:2008/BTNMT loại B1.Theo mùa: Hàm lượng C6H5OH vào mùa mưa thấp hơn mùa khô tại các vị trí NR1đến NR5, NR7 đến NR11, NR15; tại các vị trí còn lại hàm lượng C6H5OH vào mùamưa cao hơn mùa khô

Nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường nước sông Nhuệ

Nguồn nước sông Nhuệ chịu ảnh hưởng của nguồn nước thải thành phố Hà Nội nên

bị ô nhiễm nghiêm trọng

Về hiện trạng chất lượng nước: Trên dọc trục sông Nhuệ có rất nhiều các nguồn

điểm xả thải trực tiếp, Theo số liệu thống kê từ thượng lưu về hạ lưu bao gồm: sôngĐăm, sông Cầu Ngà, sông Tô Lịch, Kênh AI-17, kênh Hoà Bình, kênh Xuân La,kênh Phú Đô Tại tất cả các vị trí khảo sát trên dòng chính sông Nhuệ đều xảy ratình trạng ô nhiễm các chất hữu cơ Theo các số liệu quan trắc vào các tháng 1, 2 vàtháng 9 tại vị trí cống Liên Mạc không bị ô nhiễm chất hữu cơ hoặc ô nhiễm nhẹ bởi

lý do cống Liên Mạc là điểm đầu lấy nước vào hệ thống, tại vị trí này nguồn nướcsông Nhuệ chính là nguồn nước của dòng chính sông Hồng Kết quả giám sát chothấy chất lượng nước khá tốt Nguồn nước sông Nhuệ bắt đầu bị ô nhiễm sau điểmnhập lưu của sông Đăm, kênh Xuân La vào sông Nhuệ Đặc biệt khi đến Hà Đông

do ảnh hưởng của nước thải quận Hà Đông, nước thải từ sông Đăm, sông Cầu Ngà,trạm bơm Đồng Bông (tiêu thoát khu vực Mễ Trì, Mỹ Đình) Tình trạng ô nhiễmxảy ra cao đặc biệt tại vị trí Cầu Tó khi đập Thanh Liệt mở cống và hiện tượng ônhiễm duy trì đến tại vị trí cầu Xém rồi xuống đến cầu Thần, có những tháng sự ônhiễm xuống tận đập Nhật Tựu Qua vị trí đập Nhật Tựu hàm lượng các chất ônhiễm giảm dần đi cho đến cuối trục sông

Theo các tài liệu, kết quả điều tra- khảo sát của Bộ Tài nguyên và Môi trường và các địa phương trong vùng cho thấy nguyên nhân chính gây ra tình trạng ô nhiễm nước sông Nhuệ là do các loại nguồn nước thải sau đây:

1 Các khu đô thị và khu dân cư tập trung

Trang 14

2 Các cơ sở sản xuất công nghiệp và làng nghề.

3 Các bệnh viện và cơ sở y tế

4 Nước thải từ khu vực sản xuất nông nghiệp.

- Nước thải sinh hoạt: Lưu vực sông Nhuệ là nơi tập trung hàng loạt các khu đô

thị với mật độ lớn, đó là thành phố Hà Nội và bên cạnh đó là hàng loạt các khu đôthị vệ tinh như: thành phố Ninh Bình, thành phố Phủ Lý, thị trấn Đồng Văn, DuyTiên v.v Từ các khu đô thị này đã tạo ra nguồn thải nước sinh hoạt và đổ vào sôngNhuệ Theo ước tính sông Nhuệ nhận khoảng 550.000 m3 nước thải chưa được xửlý/ ngày đêm Chỉ tính trung bình mỗi người dân nội thành Hà Nội dùng 0,2 kg bộtgiặt/tháng, với dân số khu vực nội thành hơm 7 triệu người thì mỗi ngày dòng sôngNhuệ tiếp nhận trên 45 tấn chất tẩy rửa Phía Tây Nam và phía Nam các huyện thịcủa hai tỉnh, thành phố là Hà Nội và Hà Nam cũng có một lượng lớn nước thải đổvào sông Nhuệ như quận Hà Đông, các huyện như Đan Phượng, Hoài Đức, ThanhOai, Thường Tín, Ứng Hòa, Phú Xuyên, Kim Bảng, Duy Tiên v.v

- Nước thải các khu công nghiệp và làng nghề: Hiện nay, Hà Nội là địa phương có

lượng nước thải công nghiệp đóng góp nhiều nhất: 56.100 m3 /ngày đêm chiếm60% tổng lượng nước thải ra lưu vực sông Nhuệ, chỉ tính riêng ngành công nghiệphóa chất Hà Nội đã đóng góp 26.000 m3 nước thải ngày đêm Đứng thứ hai là cáchuyện như Đan Phượng, Hoài Đức, Thanh Oai, Thường Tín, Ứng Hòa, Phú Xuyênchiếm 28% và tỉnh Hà Nam chiếm 12% Trên lưu vực sông Nhuệ theo các số liệuthống kê có khoảng 450 làng nghề với các quy mô lớn nhỏ khác nhau và hơn45.500 cơ sở sản xuất kinh doanh hộ cá thể Hầu hết các làng nghề trong lưu vựcđều hình thành tự phát có quy mô nhỏ và phương thức sản xuất thủ công, lạc hậu,lại nằm xen kẽ giữa các khu dân cư đông đúc nên chưa được quy hoạch, xây dựng

hệ thống thoát nước và xử lý nước thải Theo số liệu điều tra 450 làng nghề trêntoàn lưu vực mỗi ngày đêm thải từ 55.000 m3 ÷ 65.000 m3 Hàm lượng các chất ônhiễm theo kết quả điều tra khảo sát vượt tiêu chuẩn cho phép từ vài lần đến gần

1000 lần

Trang 15

- Nước thải từ bệnh viện: Trên lưu vực sông Nhuệ có hàng trăm cơ sở y tế, bệnh

viện lớn, với trên 10.000 gường bệnh Ở vùng ngoại thành, mỗi huyện, thị trấn đều

có một bệnh viện Chất thải y tế là loại chất thải đặc biệt nguy hiểm cần phải được

xử lý triệt để trước khi thải ra môi trường Hiện nay chỉ có các bệnh viện lớn có hệthống thiêu hủy chất thải rắn đạt tiêu chuẩn quốc gia, một số bệnh viện còn lại mớichỉ dừng lại ở khâu thu gom và chôn lấp mà không có sự kiểm tra, giám sát thườngxuyên Các chất thải bệnh viện có ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe cộng đồng nếunhư công tác quản lý không thực hiện đúng theo yêu cầu

- Nước thải từ khu sử dụng nước nông nghiệp: Với diện tích đất nông nghiệp

trong khu vực khá lớn (trên 80.000 ha) cùng với việc thâm canh tăng vụ và nângcao năng suất vì vậy lượng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật sử dụng cũng ngàymột tăng lên, do đó ảnh hưởng đến ô nhiễm nguồn nước sông Nhuệ Đánh giáchung các nguồn gây ô nhiễm chủ yếu trên sông Nhuệ là do nước thải sinh hoạt từcác khu dân cư tập trung, nước thải từ các khu công nghiệp, các cụm làng nghề (nhưlàng nghề dệt, may, làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, làng nghề thủ công

mỹ nghệ ) mà phần lớn nước thải đều chưa được xử lý, hoặc xử lý chưa đạt tiêuchuẩn Tổng lượng nước xả thải vào hệ thống khoảng 850.000 m3 /ngày đêm, trong

đó nguồn gây ô nhiễm chủ yếu tại các khu dân cư, khu công nghiệp, cơ sở sản xuấtnhỏ và làng nghề thuộc thành phố Hà Nội chảy vào ra bốn sông: Kim Ngưu, TôLịch, Lừ, Sét và một số các kênh mương khác Lượng nước thải này hầu hết khôngđược xử lý và chảy trực tiếp vào trục chính sông Nhuệ gây ra tình trạng ô nhiễmnặng nề, tác động lớn đến sức khỏe của người dân và phát triển kinh tế trong vùng

2.2 Ảnh hưởng của ô nhiễm nguồn nước sông Nhuệ đến sức khỏe con người.

2.1 Ảnh hưởng chung

Như phần phân tích trên, tình trạng ô nhiễm môi trường nước tại khu vựcsông Nhuệ ngày càng nghiêm trọng, dòng chảy bị hạn chế, gây ảnh hưởng đến sứckhỏe cho cộng đồng

Nguồn nước ô nhiễm sông Nhuệ đang ngày càng đe dọa sức khỏe của ngườidân Hà Nội:

Trang 16

Dẫn chứng về thôn Thống Nhất, xã Đông Lỗ, huyện Ứng Hòa, Hà Nội cạnhsông Nhuệ lọt vào top 10 làng có tỉ lệ ung thư cao nhất cả nước công bố năm 2015(tương tự Làng Yên Lão tại tỉnh Hà Nam bên cạnh sông Nhuệ cũng trong danh sáchnày) Theo thông kê chưa đầy đủ của UBND xã Đông Lỗ, số người chết do ung thưcủa xã từ năm 2014 đến 2016 là 26/133 người chết, số người mắc bệnh của xã có 12người.

Thôn Nội (xã Văn Hoàng, huyện Phú Xuyên, Hà Nội) nằm sát bên sôngNhuệ, có 30 người chết do mắc bệnh ung thư theo thống kê của thông từ năm 2010-

2015, năm 2015 có 9 bị ung thư và nguyên nhân chủ yếu được cho là do sử dụngnguồn nước ô nhiễm

Không chỉ có ung thư, các loại bệnh người dân mắc phải liên quan đếnnguồn nước ô nhiễm gây nên như bệnh ung thư, bệnh về đường tiêu hóa (viêmnhiễm, tiêu chảy ), bệnh ngoài da, bệnh phụ khoa,bệnh mắt hột và đặc biệt là bệnhsốt xuất huyết đang hoành hành tại Hà Nội và có khả năng gây tử vong

Các bệnh liên quan đến ô nhiễm gây ra nhiều thiệt hại về kinh tế cho ngườidân và chi phí được ước tính như sau:

- Công thức tính chi phí chữa bệnh i:

COIi=αi.pop.βi.vi.phealthαi.pop.βi.vi.phealthi.pop.βi.vi.phealthi.vi.phealthi

- Công thức tính tổng phí tổn do những ngày bị bệnh (người ốm sẽ phải nghỉlàm)

COIPi=αi.pop.βi.vi.phealthαi.pop.βi.vi.phealthi.pop.βi.vi.phealthi.dhi.ptime

Trong đó:

 αi.pop.βi.vi.phealthi: Tỷ lệ bị mắc bệnh i

 pop: Số dân của vùng tiến hành nghiên cứu

 βi.vi.phealthi: Tỷ lệ mắc bệnh i do ô nhiễm môi trường

Ngày đăng: 21/05/2020, 11:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w