ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HỌC DÂN GIAN VIỆT NAM ĐỐI VỚI THƠ NÔM – ĐƯỜNG LUẬT CỦA HỒ XUÂN HƯƠNG Lời mở đầu Văn học chưa bao giờ thoát ly khỏi mối quan hệ giữa con người và xã hội, trong sự tươ
Trang 1MỤC LỤC
Lời mở đầu 1
1 Về kết cấu 2
1.1 Khái niệm kết cấu văn học 2
1.2 Những ảnh hưởng trong kết cấu của VHDG đối với thơ Nôm – Đường luật Hồ Xuân Hương 2
1.2.1 Cách mở đầu “thân em” 2
1.2.2 Tư duy khái quát 2
1.2.3 Tư duy hình tượng 3
2 Về việc sử dụng từ láy 2.1 Đôi nét về từ láy 5
2.2 Từ láy trong văn học dân gian: 5
2.3 Từ láy trong thơ Nôm Đường luật Hồ Xuân Hương 6
3 Về việc sử dụng tính từ mạnh 8
3.1 Đặc điểm 8
3.2 Phân loại từ 9
3.3 Cách sử dụng tính từ trong thơ Nôm Đường luật của HXH 9
3.3.1 Tính từ là từ láy 9
3.3.2 Tính từ là từ ghép 10
3.3.3 Tính từ là từ đơn 10
3.3.4 Các tính từ kết hợp khác 10
4 Về việc sử dụng động từ mạnh 11
5 Nghệ thuật nói lái 13
5.1 Giới thiệu 13
5.2 Tìm hiểu vài nét về nghệ thuật nói lái trong văn học dân gian 13
5.2.1 Khái niệm 13
5.2.2 Cách thức: Có nhiều cách nói lái 14
5.2.3 Lĩnh vực biểu hiện 14
5.3 Nghệ thuật nói lái trong thơ Hồ Xuân Hương 14
Trang 2
ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HỌC DÂN GIAN VIỆT NAM ĐỐI VỚI THƠ NÔM – ĐƯỜNG LUẬT CỦA HỒ XUÂN HƯƠNG
Lời mở đầu
Văn học chưa bao giờ thoát ly khỏi mối quan hệ giữa con người và xã hội, trong sự tương quan của quan hệ biện chứng, con người phát triển tới đâu, xã hội thay đổi và vận động tới đó Khi con người bắt đầu có nhu cầu nâng đời sống, xã hội vận động và phát triển, thoát ra khỏi chuẩn mực cũ để đưa mình lên tầm của những chuẩn mực mới, tốt hơn, lý tưởng hơn, hoàn thiện và đồng thời khắt khe hơn để loại bỏ hoàn toàn cái cũ Tuy nhiên, có những con người sinh ra không phải để ghi tên mình vào sự thay đổi đó, họ sinh ra để khác biệt, để minh chứng một vài quan điểm là sai, chuẩn mực chưa chắc đã đạt chuẩn, rồi lặng lẽ rời đi như một nếp gấp hằn lên lịch sử Giữa xã hội nho giáo còn nhiều khe khắt, Hồ Xuân Hương xuất hiện với đúng một vai trò như thế Trải qua một quá trình phát triển rất dài, có lúc suy, lúc thịnh, văn học trung đại tự chuyển mình qua từng giai đoạn lịch sử, tạo nên một giai đoạn văn học phong phú về nội dung và chủ đề, vừa giữ vững tinh thần là niềm tự hào của tầng lớp phong kiến, nho học, vừa là chuẩn mực đánh giá con người Nhưng chưa bao giờ, văn học trung đại thoát ly hết ra khỏi những ảnh hưởng của nền văn học dân gian sinh động và phong phú
Mãi sau này, khi chữ Nôm cùng văn học Nôm ra đời, văn học trung đại mới gần gũi hơn đôi phần với người nông dân chân lấm tay bùn, hai sương một nắng Khi văn học gần hơn với con người, nó tự khoác lên mình những giá trị mới mà chuẩn mực cũ khó chấp nhận – điều mà Hồ Xuân Hương đã làm rất thành công trong suốt cuộc đời sáng tác thơ của bà Hôm nay, nhìn từ góc độ văn học dân
gian, đặc biệt là sự cấu thành thơ của bà, chúng ta sẽ nhìn nhận chất bình dân
thiên tài trong thơ của bà chúa thơ Nôm với sự ảnh hưởng của nền văn học dân
gian lâu đời
Trang 31 Về kết cấu
1.1 Khái niệm kết cấu văn học
Theo “Từ điển thuật ngữ văn học”, kết cấu là toàn bộ tổ chức phức tạp và sinh động của tác phẩm
Kết cấu của một tác phẩm thường bị hiểu sai sang bố cục Thực chất, kết cấu mang ý nghĩa rộng hơn thuật ngữ bố cục rất nhiều Nếu thuật ngữ bố cục chỉ
nhằm “chỉ sự sắp xếp, phân bố các chương đoạn, các bộ phận của tác phẩm
theo một trình tự nhất định”, thì thuật ngữ kết cấu thể hiện “nội dung rộng rãi
và phức tạp hơn” Bố cục chỉ là một phương diện của kết cấu, bên cạnh rất nhiều các yếu tố như tổ chức hệ thống tính cách; tổ chức thời gian và không gian nghệ thuật của tác phẩm,…
Nhìn chung lại, kết cấu “bộc lộ nhận thức, tài năng và phong cách của nhà văn” Đối với những sáng tác thơ Nôm – Đường luật của Hồ Xuân Hương đã
có sự biến đổi rất nhiều so với các tác phẩm trước cùng thời đại, một phần do ảnh hưởng của chữ Nôm, một phần do chính ý thức hệ và nhận thức của nữ sĩ
về thời cuộc, và cũng chính do một số ảnh hưởng của văn học dân gian mà người viết sắp phân tích sau đây
1.2 Những ảnh hưởng trong kết cấu của VHDG đối với thơ Nôm – Đường luật Hồ Xuân Hương
1.2.1 Cách mở đầu “thân em”
Một điều rất dễ thấy trong ca dao Việt Nam, những bài hát bộc lộ nỗi cảm thương đau xót cho người phụ nữ thường bắt đầu với cụm từ “thân em”
Thân em như trái bần trôi Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu
Thân em như hạt mưa rào Hạt rơi xuống giếng, hạt vào vườn hoa Thì trong thơ HXH, ta cũng bắt gặp hình ảnh thân em này Nếu có khác, họa chăng, “thân em” trong thơ HXH là sự kiêu hãnh, nhận thức rõ ràng hơn về bản thân và thân phận của chính mình, không còn những thân em chung chung hay an phận với nỗi đau khổ phải chịu đựng mà không hề có ý thức phản kháng
1.2.2 Tư duy khái quát
Trong VHDG, đặc biệt là tục ngữ, luôn có mối quan hệ chặt chẽ giữa cái cụ thể và cái khái quát Trong quá trình vận động không ngừng để giải thích, truyền tụng cũng như gửi gắm kinh nghiệm trong cả đời sống tinh thần và lao động, với mong muốn vận dụng được vào nhiều trường hợp khác nhau, đằng
Trang 4sau cái cụ thể hiển thị rõ ràng thường ẩn chứa một cái khái quát bằng cái câu phiếm chỉ, hay phép ẩn dụ, hoán dụ… đó cũng chính là nghĩa đen và nghĩa bóng rất hay nghe trong các bài phân tích tục ngữ
Đến với thơ HXH, đặc biệt là các bài thơ viết dành riêng để bày tỏ sự đồng cảm, trân trọng của bà chúa thơ Nôm dành cho thân phân người phụ nữ qua các đề tài quen thuộc: làm vợ lẻ, chửa hoang, góa chồng… ta luôn nhận thấy cách thể hiện gián tiếp thông qua các hình ảnh, hiện tượng hay biểu tượng quen thuộc với đối tượng là người đọc bình dân, giản dị
Thân em như quả mít trên cây
Da nó xù xì múi nó dày Quân tử có yêu xin đóng cọc Đừng mân mó nữa nhựa ra tay
(Quả mít) Thân em vừa trắng lại vừa tròn Bảy nổi ba chìm với nước non Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn
Mà em vẫn giữ tấm lòng son
(Bánh trôi nước)
1.2.3 Tư duy hình tượng
Người xưa khai thác và sử dụng triệt để các hình tượng xung quanh, từ đó, càng làm nổi bật lên ý nghĩa hay ngụ ý qua các hình thức của VHDG Từ các hình tượng thường thấy như người anh hùng cho đến hình tượng mai ý nghĩa biểu tượng như đá, nước, VHDG phản ánh một bộ mặt phong phú của sinh động của tư duy chất phác về cuộc sống, con người và vượt ra khỏi rào cản của thời gian và không gian
Chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo
Dù ai nói ngả nói nghiêng Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân Với HXH, nữ sĩ vận dụng tư duy hình tượng với mục đích phê phán
Mát mặt anh hùng khi tắt gió, Che đầu quân tử lúc sa mưa
Nâng niu ướm hỏi người trong trướng, Phì phạch trong lòng đã sướng chưa
Trang 5Không phải những hình tượng mang tính chất bác học, quá cao siêu, thanh thoát như trong văn học chữ Hán trước đó, HXH thoát tục theo cách rất riêng của bà bằng những hình tượng mà bất cứ người dân cày nào nghe qua cũng hiểu
Mùa hè hây hẩy gió nồm đông, Thiếu nữ nằm chơi quá giấc nồng
Lược trúc chải cài trên mái tóc, Yếm đào trễ xuống dưới nương long
Đôi gò Bồng đảo sương còn ngậm, Một lạch Đào nguyên nước chửa thông
Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt,
Đi thì cũng dở, ở không xong
Từ hình ảnh người thiếu nữ ngủ ngày lại phô bày một bộ mặt rất chi khác của hình tượng “quân tử” Với HXH, không dừng lại ở dùng hình tượng để bày tỏ quan điểm, ý thức hệ hay nhân sinh quan, nữ sĩ còn giải thiêng những hình tượng vốn trước đây rất được coi trọng, đề cao và mang tính bất khả xâm phạm trong Nho giáo Nếu nhìn dưới góc độ lí giải liên tục và đi tìm nguyên nhân, bản chất của các hiện tượng trong xã hội, như việc người dân xưa luôn cố gắng giải thích các hiện tượng thiên nhiên kì lạ, để rồi khi triết học Đông phương chất phác còn chưa thành hình rõ rệt, chúng ta có các câu chuyện về thần lửa, thần sét, thần mưa Nhưng xét cho cùng, đó cũng đơn thuần là các hiện tượng thiên nhiên, khoan hãy bàn về việc HXH có mục đích đả kích, phê phán hay trêu cợt cái hình tượng “quân tử” kia, việc giải thiêng cũng đã phản ánh phần nào sự ảnh hưởng của VHDG đến thơ của bà
Thơ HXH mang nặng một chữ “tục”, không ít các bài phê bình, bút chiến thậm chí là phê bình lẫn nhau của các nhà nghiên cứu văn học đã xuất hiện để bàn về vấn đề này Một điều không thể chối cãi khi đọc thơ HXH là hình tượng tính dục, hoạt động tính dục được bà nói đến rất thoải mái và thậm chí là rất nghệ thuật
Bốn cột khen ai khéo khéo trồng, Người thì lên đánh kẻ ngồi trông, Trai co gối hạc khom khom cật Gái uốn lưng ong ngửa ngửa lòng
Bốn mảnh quần hồng bay phấp phới, Hai hàng chân ngọc duỗi song song
Chơi xuân đã biết xuân chăng tá
Cọc nhổ đi rồi, lỗ bỏ không
(Đánh đu) Một lỗ xâu xâu mấy cũng vừa, Duyên này tác hợp tự ngàn xưa
Chành ra ba góc da còn thiếu, Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa
(Cái quạt)
Trang 6Việc tôn thờ hoạt động sinh sản, bộ phận sinh dục vốn được nhắc đến trong đạo phồn thực của người xưa, thời sơ khai, khi việc sinh nở và duy trì nòi giống còn được đề cao, kéo dài cho đến chế độ mẫu hệ Tính dục là một đề tài không những rất lạ mà còn rất khó tiếp nhận với các nhà nho sĩ, nhưng lại hoàn toàn bình thường và gần gũi với người nông dân Thật ra, cái khó tiếp nhận chính là ở việc khó thừa nhận bản năng tính dục tồn tại sẵn trong tiềm thức của các “quân tử” giai đoạn đó
2 Về việc sử dụng từ láy
2.1 Đôi nét về từ láy
a Khái niệm:
Từ láy là từ trên hai tiếng, được tạo nên bởi các tiếng giống nhau về âm, về vần hoặc cả âm và vần Trong đó, có thể có một tiếng có nghĩa hoặc tất cả các tiếng đều không có nghĩa
b Công dụng:
Từ láy đươc dung để nhấn mạnh, miêu tả hình dạng, tâm trạng, tâm lý tinh thần, tình trạng…của người, sự vật, hiện tượng
c Phân loại từ láy: từ láy được chia làm hai loại chính là: từ láy toàn bộ và
từ láy bộ phận
Từ láy toàn bộ:
+ Là những từ có các tiếng lặp lại hoàn toàn cả âm và vần (xanh xanh, khom khom, …)
+ Một số từ láy có tiếng thay đổi thanh điệu hoặc phụ âm cuối, để tạo sự hài hòa về âm thanh (ngoan ngoãn, thoang thoảng, lanh lảnh…)
Từ láy bộ phận:
+ Là những từ có tiếng lặp lại về phần âm, người ta thường gọi là từ láy
âm (da dẻ, lấp lánh, thấp thỏm, xinh xắn…) + Hoặc lăp lại phần vần, người ta gọi là từ láy vần (lờ đờ, chênh vênh, càu nhàu…)
2.2 Từ láy trong văn học dân gian:
- Từ láy trong văn học dân gian Việt Nam chủ yếu được sử dụng trong ca dao trữ tình Nhờ sử dụng từ láy, những bài ca dao trở nên phong phú về hình tượng, giàu giá trị biểu cảm, hấp dẫn hơn đối với người đọc
- Một số từ láy trong các bài ca dao:
Thân em như chẽn lúa đòng đòng Phất phơ dưới ngọn nắng hông ban mai
Thân em như tấm lụa đào
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai
Qua những từ láy trên, ta thấy được thân phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến
Cày đồng đang buổi ban trưa
Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày
Dù cho ruộng cả ao sâu Không bằng có cái cần câu rành nghề
Dù cho ruộng tốt bề bề,
Trang 7Không bằng có một cái nghề trong tay
Những từ láy trên giàu tính hình tượng, làm nổi bật sự vất vả của người lao động trên đồng ruộng và kinh nghiệm sống của ông cha ta
Qua đình ngả nón trông đình,
Vì đâu nên nỗi duyên tình dở dang
Thức lâu mới biết đêm dài
Ở lâu mới biết lòng người sắt son
Thương nhau trông đợi mỏi mòn
Đã già nhân ngãi còn non vợ chồng
Chồng già vợ trẻ nâng niu,
Chồng trẻ vợ trẻ nhiều điều đắng cay
Tình cảm lứa đôi làm cho những bài ca dao trở nên hấp dẫn hơn, phần lớn nhờ vào các từ láy
Tác giả dân gian cũng mượn từ láy để diễn tả nỗi nhớ trong tình yêu đôi lứa
Nhớ ai bổi hổi bồi hồi
Như đứng đống lửa như ngồi đống than
2.3 Từ láy trong thơ Nôm Đường luật Hồ Xuân Hương
Hồ Xuân Hương là một nhà thơ có phong cách ngôn ngữ độc đáo: sử dụng sáng tạo ngôn ngữ văn học dân gian, vận dụng một cách tự nhiên mà điêu luyện ngôn ngữ đời sống, tạo nên tính đa nghĩa trong ngôn ngữ thơ qua cách nói lấp lửng, nói lái, chơi chữ và sử dụng từ láy…Tất cả đã hội tụ và kiến tạo nên một Hồ Xuân Hương rất riêng, rất dân dã, rất Việt Nam
Từ láy mang tính tạo hình, tính biểu cảm rõ nét Đó là kết quả của sự hòa phối hai mặt ngữ âm và ngữ nghĩa tạo nên từ láy Từ láy là từ loại được sử dụng rộng rãi trong dân gian nói chung và trong thơ Hồ Xuân Hương nói riêng Theo thống kê của
Lã Nhân Thìn trong tổng số 268 câu thơ có 79 từ láy (chiếm 29,4%) Từ láy trong thơ
có nhiều tác dụng, nó có chức năng hạn chế tính công thức ước lệ, làm cho câu thơ trở nên biểu cảm hơn, đậm tính dân tộc hơn và góp phần thể hiện phong cách tác giả Thơ Hồ Xuân Hương là thơ của sức sống, của chân đạp, tay vung, thơ của nhịp điệu
cơ thể và cuộc sống con người, thơ của tâm trạng Từ láy trong thơ Hồ Xuân Hương thường có tác dụng biểu lộ tình cảm, thể hiện con người tác giả
-Từ láy trong thơ Hồ Xuân Hương rất phong phú:
+ Từ láy phụ âm đầu:
Da nó xù xì, múi nó dày,
Xin đừng mân mó nhựa ra tay (Quả mít)
Nâng niu ướm hỏi người trong trướng:
“ Phì phạch trong lòng đã sướng chưa?”( Vịnh cái quạt)
Dắt díu nhau lên đến cửa chiền (Bọn đồ dốt)
Đêm ngày lăn lóc đám cỏ hôi (Ốc nhồi)
+ Từ láy phần vần:
Sóng dồn mặt nước vỗ long bong (Kẽm trống)
Trang 8Ai về nhắn bảo phường lòi tói (Bọn đồ dốt)
Con thuyền vô trạo cúi lom khom (Động Hương Tích)
Lách khe nước rỉ mó lam nham (Hang Thánh Hóa Chùa Thầy)
Kẽ hầm rêu mốc trơ toen hoẻn (Hang Cắc Cớ)
Vần của từ láy trong thơ Hồ Xuân Hương cũng được dùng rất độc đáo Chẳng hạn như:
Khuôn vần "un" "um" dùng để cấu tạo một số từ mang nghĩa tập hợp nhiều
sự vật, nhiều biểu hiện ở cả dáng vẻ và hành vi : Tùm hum, lún phún, um tùm, khúm núm
"Cửa son đỏ loét tùm hum nóc, hòn đá xanh rì lún phún rêu"
(Đèo Ba Dội)
Câu thơ thể hiện rõ gam màu đỏ , với hàng loạt những rêu xanh đang mọc "lún phún" trên đỉnh đèo, miêu tả cảnh vật hoang sơ, thanh tịnh, cảnh núi non hiểm trở của đèo của hang
Khuôn vần "eo" dùng để cấu tạo một số từ láy miêu tả tâm trạng buồn rầu,
nhỏ bé, hiu quạnh, hàm ý chỉ sự khó khăn cách trở Trong bài thơ "Quán nước
bên đường" Khuôn vần "eo" đã được bà sử dụng nhiều lần :
Đứng tréo trông theo cảnh hắt heo Đường đi thiên thẹo quán cheo leo
Xỏ kẽ, kèo tre đốt khẳng kheo Một dòng nước biếc, cỏ leo teo
Bài thơ là một loạt những cảnh tượng thật buồn, vắng lặng, heo hắt, con đường làng quanh co, nhà cửa tiêu điều, xơ xác, con người thưa thớt Tất cả hiện lên là một bức tranh thôn quê thật nghèo nàn, ảm đạm Chỉ bằng một khuôn vần "eo" với sự thông minh, khéo léo Hồ Xuân Hương đã tạo nên một loạt từ láy mang nhiều cung bậc của cảm xúc đem lại giá trị biểu đạt cao, nhằm đưa đến cho người đọc có một cảm giác man mác buồn, cô đơn, vắng lặng
Bên cạnh đó khuôn vần "om" cũng đã được Hồ Xuân Hương sử dụng khá nhiều trong các sáng tác của mình Nếu như khuôn vần "eo", biểu hiện cảm giác buồn thì khuôn vần "om" lại biểu thị một ý nghĩa khác:Nó thể hiện sự dở dang "Sau giận vì duyên để mõm mòm" (Ngẫu cảm); không vững vàng, yếu
ớt "Ngứa gan thằng Cuội đứng lom khom" (Hỏi trăng) Ở đây ta thấy nghĩa
của từ láy biểu thị ở một mức độ mạnh hơn so với hình vị gốc : “Hỏm hòm hom, lõm bõm, om om, mõm mòm, phập phòm” Điều đó cho thấy mức độ ngữ nghĩa cứ tăng dần lên, biểu thị sự gấp gáp, cuống quýt, dồn nén, một cảm giác như muốn nổ tung ra, bung ra, phơi bày ra tất cả để người đọc có thể hình dung một cách bao quát nhất Phải chăng đó là con người Hồ Xuân Hương, một người không bao giờ tự bó hẹp mình trong một khuôn khổ, phạm vi nào cả
mà lúc nào bà cũng tự đặt mình ngang hàng với các đấng mày râu để nói lên tiếng nói phê phán đả kích, châm biến xã hội bảo vệ quyền sống, quyền bình
Trang 9đẳng cho những người phụ nữ vốn chịu nhiều thiệt thòi, khổ đau Đó mới chính là bản ngã Hồ Xuân Hương
+ Từ láy trong thơ Hồ Xuân Hương còn có từ láy phần vần và phụ âm đầu:
Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi!(Mời trầu)
Thương chồng nên phải khóc tì ti (Khóc chồng làm thuốc)
“Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom”(Tự tình I)
+ Từ láy hoàn toàn, chủ yếu là láy từ:
Bày đặt kìa ai khéo khéo phòm (Động Hương Tích)
Con đường vô ngạn tối om om (Hang Cắc Cớ)
Lâng lâng chẳng bợn chút lòng ai (Thăm Đài Khán Xuân)
+ Từ láy ba âm tiết trở lên:
Làm chi một chút tẻo tèo teo (Sư hoạnh dâm)
Nứt ra một lỗ hỏm hòm hom (Hang Cắc Cớ)
- Về phương diện biểu hiện, từ láy trong thơ Hồ Xuân Hương gồm:
+ Từ láy tạo thanh: “Phì phạch”, “ thánh thót”, “long bong”, “lõm bõm”…
+ Từ láy chỉ màu sắc: “phau phau” (trắng phau phau ), “om om” (tối om om)… + Từ láy chỉ hình dáng: “xù xì”,“khom khom”, “ngửa ngửa”, “nho nhỏ”…
+ Từ láy thể hiện trạng thái, tính chất: “ Đêm ngày lăn lóc đám cỏ hôi”, “lều mái
cỏ tranh xơ xác”…;
+Từ láy thể hiện hành động: “Dắt díu”, “Nâng niu”, Của em bưng bít vẫn bùi
ngùi”, “Lợp “mân mó”
Từ láy là thứ ngôn ngữ được sử dụng khá phổ biến trong thơ ca dân tộc Hơn nữa, từ láy bản thân nó còn mang lại giá trị biểu đạt rất cao Nghĩa của từ láy khá phong phú, lấp lửng rất phù hợp với lối thơ nghịch ngợm, bông đùa Điều đó đã góp phần làm cho câu thơ mang nhiều tầng nghĩa: biểu lộ tình cảm, khắc họa hình tượng, đường nét, hình ảnh một cách rõ nét và phong phú hơn Nó làm cho người đọc vừa
dễ thuộc, dễ hiểu, dễ nhớ Điều đó phần nào đã tạo nên một phong cách thơ Hồ Xuân Hương khó trộn lẫn với bất cứ nhà thơ đương thời nào
3 Về việc sử dụng tính từ mạnh
3.1 Đặc điểm:
Trong hệ thống từ loại tiếng Việt, tính từ là một trong những từ loại cơ bản của thực từ, chiếm số lượng lớn và có vị trí quan trọng Khi nghiên cứu về ngữ pháp của tiếng Việt các nhà khoa học đều quan tâm tìm hiểu tính từ và họ đều quan tâm đến việc đưa ra định nghĩa về tính từ
Trong cuốn Từ loại tiếng Việt hiện đại của tác giả Lê Biên thì tính từ là những
thực từ gọi tên tính chất, đặc trưng của sự vật, thực thể hoặt của vận động , quá trình, hoạt động
Hai tác giả Diệp Quang Ban và Hoàng Văn Thung thì cho rằng tính từ là lớp từ chỉ
ý nghĩa, đặc trưng của thực thể hay đặc trưng của quá trình
Như vậy , việc đưa ra một định nghĩa về tính từ chưa có sự thống nhất giữa các nhà nghiên cứu, các tác giả vì mỗi người lại chú ý nhiều hơn đến một đặc điểm của loại từ này
Để có cái nhìn bao quát về tính từ tiếng Việt chúng ta nên dựa vào đặc điểm về mặt ý nghĩa, khả năng kết hợp, chức vụ cú pháp của tính từ:
Trang 10- Về mặt ý nghĩa: Tính từ gọi tên tính chất, đặc trưng của sự vật, thực thể hoặc của vận động , quá trình, hoạt động Đặc trưng đó còn là những thuộc tính về màu sắc , mùi vị, hình dáng, phẩm chất…
- Về khả năng kết hợp: Tính từ có khả năng kết hợp với các nhóm phụ từ
- Về chức vụ cú pháp: Tính từ là thực từ nó có khả năng đảm nhiệm vai trò trung tâm và vai trò là thành tố phụ trong câu Tính từ có khả năng đảm nhiệm tất cả các chức năng ngữ pháp trong câu: Làm vị ngữ , định ngữ, bổ ngữ…trong câu
3.2 Phân loại tính từ
Có 2 loại tính từ đáng chú ý là :
- Tính từ chỉ đặc trưng không xác định thang độ
- Tính từ chỉ đặc trưng xác định thang độ
a Tính từ chỉ đặc trưng không xác định thang độ
- Đây là lớp tính từ chỉ đặc trưng không biểu thị ý nghĩa thang độ tự thân Chúng thường kết hợp với phụ từ chỉ ý nghĩa thang độ: rất, hơi, khí, quá, lắm, cực kì…hoặc kết hợp với thực từ chỉ ý nghĩa thang độ
Tính từ chỉ đặc trưng không xác định thang độ gồm:
+ Những tính từ chỉ đặc trưng hình thể: vuông, tròn, thẳng, cong, méo, gầy… + Những tính từ chỉ đặc trưng màu sắc: xanh, đỏ, nâu, đậm, nhạt…
+ Những tính từ chỉ đặc trưng âm thanh: ồn, vắng, im, im lìm…
+ Những tính từ chỉ đặc trưng mùi vị: thơm, thối, đắng, cay…
b Tính từ chỉ đặc trưng xác định thang độ:
Lớp tính từ này chỉ đặc trưng đồng thời biểu thị thang độ của đặc trưng trong ý nhĩa tự thân, thường ở mức độ tuyệt đối Do đó chúng không kết hợp với phụ từ trình
độ như: rất, hơi, quá, lắm…và cũng không đòi hỏi thực từ đi kèm làm bổ ngữ
Tính từ chỉ đặc trưng có xác định thang độ thường là mức độ cao nhất
3.3 Cách sử dụng tính từ trong thơ Nôm Đường luật của Hồ Xuân Hương
3.3.1 Tính từ là từ láy:
Tính từ là từ láy được HXH sử dụng nhiều nhất trong các tác phẩm thơ của bà, nó lại được chia thành hai loại: Láy bộ phận và láy hoàn toàn
Ví dụ: Láy bộ phận:
“Cỏ gà lún phún leo quanh mép
Cá diếc le te lách giữa đồng”
( Giếng thơi)
Láy hoàn toàn:
“Bốn cột khen ai khéo khéo trồng,
Người thì lên đánh kẻ ngồi không”
( Thiếu nữ ngủ ngày )