Là một cán bộ quản lý ở trường trung học phổ thông, tôi nhận thức được vai trò, tầm quan trọng của công tác quản lý hoạt động dạy học, đặc biệt đối với môn Vật lí, cần quản lý hoạt động
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN VĂN LÊ
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng luận văn là kết quả nghiên cứu của bản thân tôi.Các kết quả nghiên cứu trong Luận văn là trung thực, không trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào của tác giả khác
Thái Nguyên, ngày 25 tháng 11 năm 2019
Tác giả luận văn
Vũ Đình Chung
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn khoa học này được hoàn thành với sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy giáo, cô giáo và sự nỗ lực học tập, nghiên cứu của tác giả trong suốt thời gian học tập tại Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên
Trước hết, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám hiệuTrường Đại học Sư phạm- Đại học Thái Nguyên; Các thầy giáo, cô giáo Khoa Tâm lí - Giáo dục Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyênđã tạo điều kiện tốt nhất giúp tác giả hoàn thành chương trình học tập, có được những kiến thức, kỹ năng cần thiết để nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất gửi đến
PGS.TS Nguyễn Văn Lê - người đã tận tâm, nhiệt tình hướng dẫn khoa học, định
hướng nghiên cứu và giúp đỡ tác giả trong thời gian thực hiện nhiệm vụ của đề tài
Tác giả xin chân thành cảm ơn tới các cán bộ quản lý, giáo viên và các em học sinh các trường THPThuyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn đã tạo điều kiện giúp đỡ tác giả trong quá trình điều tra, khảo sát, thu thập các dữ liệu liên quan đến đề tài Xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, các bạn đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên tác giả trong suốt quá trình học tập cũng như thời gian làm luận văn
Mặc dù có nhiều cố gắng để hoàn thiện luận văn, song không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được sự quan tâm, góp ý của Quý thầy/cô cũng như bạn bè, đồng nghiệp để tác giả hoàn thiện luận văn
Xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 25 tháng 11 năm 2019
Tác giả
Vũ Đình Chung
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG SỐ v
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Phạm vi nghiên cứu 3
7 Các phương pháp nghiên cứu 3
8 Cấu trúc luận văn 5
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DẠY HỌC MÔN VẬT LÍ THEO HƯỚNG TĂNG CƯỜNG KỸ NĂNG THỰC HÀNH CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG THPT 6
1.1 Tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
1.1.1 Trên thế giới 6
1.1.2 Trong nước 7
1.2 Một số khái niệm cơ bản 9
1.2.1 Quản lý 9
1.2.2 Quản lý giáo dục 11
1.2.3 Hoạt động dạy học 12
1.2.4 Quản lý hoạt động dạy học 14
1.2.5 Quản lý hoạt động dạy học môn Vật lí 14
1.2.6 Kỹ năng thực hành 15
1.2.7 Dạy học Vật lý theo hướng tăng cường kỹ năng thực hành 16
1.3 Dạy học môn Vật lý ở trường trung học phổ thông 17
1.3.1 Đặc điểm của môn Vật lí 17
1.3.2 Vị trí, vai trò môn Vật lí ở trường trung học phổ thông 17
1.3.3 Mục tiêu, nội dung chương trình, phương pháp dạy học môn Vật lí ở trường trung học phổ thông 18
Trang 61.3.4 Đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học
sinh môn Vật lí 22
1.4 Hoạt động dạy học môn Vật lí theo hướng tăng cường kĩ năng thực hành cho học sinh ở trường trung học phổ thông 25
1.4.1 Hoạt động dạy môn Vật lí của giáo viên theo hướng tăng cường kĩ năng thực hành cho học sinh trung học phổ thông 25
1.4.2 Hoạt động học môn Vật lí của học sinh theo hướng tăng cường kĩ năng thực hành 26
1.4.3 Các điều kiện dạy học môn Vật lí theo hướng tăng cường kĩ năng thực hành 30
1.5 Quản lý hoạt động dạy học môn Vật lí ở trường trung học phổ thông theo hướng tăng cường kỹ năng thực hành cho học sinh 30
1.5.1 Quản lý hoạt động dạy môn Vật lí của giáo viên 30
1.5.2 Quản lý hoạt động học môn Vật lí của học sinh 35
1.5.3 Quản lý các điều kiện dạy học môn Vật lí 36
1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý dạy học môn Vật lí ở trường trung học phổ thông theo hướng tăng cường kĩ năng thực hành 38
1.6.1 Yêu cầu đổi mới giáo dục 38
1.6.2 Sự tiến bộ của khoa học và công nghệ 38
1.6.3 Điều kiện kinh tế - xã hội địa phương 39
1.6.4 Trình độ năng lực, phẩm chất của cán bộ quản lý trường học 39
1.6.5 Trình độ năng lực, phẩm chất của đội ngũ giáo viên dạy Vật lí 40
Tiểu kết chương 1 41
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ DẠY HỌC MÔN VẬT LÍ THEO HƯỚNG TĂNG CƯỜNG KÝ NĂNG THỰC HÀNH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN 42
2.1 Giáo dục trung học phổ thông huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn 42
2.1.1 Tình hình kinh tế văn hóa xã hội huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn 42
2.1.2 Khái quát về giáo dục phổ thông huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn 43
2.2 Tổ chức nghiên cứu thực trạng 46
2.2.1 Mục tiêu khảo sát 46
2.2.2 Nội dung khảo sát 46
2.2.3 Mẫu và địa bàn khảo sát 46
2.2.4 Phương pháp khảo sát 47
2.2.5 Xử lý kết quả 47
2.3 Thực trạng hoạt động dạy học môn Vật lí ở các trường trung học phổ thông huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn theo hướng tăng cường kỹ năng thực hành 48
Trang 72.3.1 Thực trạng hoạt động dạy môn Vật lí của giáo viên 48
2.3.2 Thực trạng hoạt động học môn Vật lí của học sinh 55
2.3.3 Thực trạng các điều kiện dạy học môn Vật lí theo hướng tăng cường kĩ năng thực hành 58
2.4 Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Vật lí ở các trường trung học phổ thông huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn theo hướng tăng cường kỹ năng thực hành 60
2.4.1 Thực trạng quản lý hoạt động dạy môn Vật lí của giáo viên theo hướng tăng cường kỹ năng thực hành 60
2.4.2 Thực trạng quản lý hoạt động học môn Vật lí của học sinh 66
2.4.3 Thực trạng quản lý các điều kiện dạy học môn Vật lí theo hướng tăng cường kĩ năng thực hành 68
2.5 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động dạy học môn Vật lí ở trường trung học phổ thông huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn theo hướng tăng cường kỹ năng thực hành 69
2.6 Đánh giá chung thực trạngquản lý hoạt động dạy học môn Vật lí theo hướng tăng cường kỹ năng thực hành cho học sinh ở các trường THPT huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn 71
2.6.1 Kết quả đạt được 71
2.6.2 Một số hạn chế 71
2.6.3 Những vấn đề đặt ra cần giải quyết 72
Tiểu kết chương 2 73
Chương 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN VẬT LÍ THEO HƯỚNG TĂNG CƯỜNG KỸ NĂNG THỰC HÀNH CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG THPT HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN 74
3.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp quản lý dạy học môn Vật lí ở các trường trung học phổ thông 74
3.1.1 Đảm bảo tính pháp lý 74
3.1.2 Đảm bảo tính hệ thống 74
3.1.3 Đảm bảo tính thực tiễn 75
3.1.4 Đảm bảo tính toàn diện và đồng bộ 76
3.1.5 Đảm bảo tính hiệu quả, hiệu lực 76
3.2 Biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Vật lí theo hướng tăng cường kỹ năng thực hành cho học sinh ở trường trung học phổ thông huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn 76
Trang 83.2.1 Tổ chức bồi dưỡng nâng cao nhận thức về vai trò của kỹ năng thực hành
trong việc nâng cao chất lượng dạy học môn Vật lí ở trường trung học phổ
thông cho cán bộ quản lý, giáo viên học sinh 76
3.2.2 Xây dựng kế hoạch dạy học môn Vật lí theo hướng tăng cường kỹ năng thực hành cho học sinh một cách khoa học, hợp lý 79
3.2.3 Chỉ đạo việc bồi dưỡng kỹ năng khai thác, sử dụng thiết bị dạy học môn Vật lí cho giáo viên Vật lí 82
3.2.4 Tổ chức bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu của học sinh đối với môn Vật lí thông qua thí nghiệm thực hành 84
3.2.5 Chỉ đạo việc đổi mới phương pháp dạy học môn Vật lí theo hướng tích cực sử dụng thiết bị thí nghiệm trong các tiết học 86
3.2.6 Tổ chức mua sắm, sửa chữa, bảo quản cơ sở vật chất, thiết bị dạy học môn Vật lí theo đúng tiêu chuẩn của Bộ Giáo dục và Đào tạo 88
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 90
3.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 93
3.4.1 Khảo nghiệm tính cần thiết của các biện pháp 93
3.4.2 Khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp 95
3.4.3 Đánh giá chung về tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp 97
Tiểu kết chương 3 98
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 99
1 Kết luận 99
2 Khuyến nghị 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 103 PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CBQL Cán bộ quản lý CNTT Công nghệ thông tin CSVC Cơ sở vật chất CTGD Chương trình giáo dục GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo
QLGD Quản lý giáo dục TBDH Thiết bị dạy học THPT Trung học phổ thông
Trang 10DANH MỤC BẢNG SỐ
Bảng 2.1 Quy mô trường lớp trong các năm học 43
Bảng 2.2 Kết quả Xếp loại hạnh kiểm của học sinh năm học 2018 -2019 45
Bảng 2.3 Kết quả Xếp loại học lực của học sinh năm học 2018 -2019 45
Bảng 2.4 Kết quả tốt nghiệp THPT năm 2019 46
Bảng 2.5 Kết quả khảo sát thực trạng công tác soạn bài, chuẩn bị lên lớp của GV 48
Bảng 2.6 Kết quả khảo sát thực trạng hoạt động dạy học trên lớp của GV 49
Bảng 2.7 Kết quả khảo sát thực trạng đổi mới phương pháp dạy học môn Vật lí 53
Bảng 2.8 Kết quả khảo sát thực trạng đổi mới kiểm tra, đánh giá môn Vật lí 54
Bảng 2.9 Kết quả khảo sát thực trạng hoạt động học môn Vật lí trên lớp của HS 56
Bảng 2.10 Kết quả khảo sát thực trạng tự học, tự nghiên cứu môn Vật lí của HS 57
Bảng 2.11 Kết quả khảo sát thực trạng cơ sở vật chất, thiết bị dạy học môn Vật lí 58
Bảng 2.12 Kết quả khảo sát thực trạng xây dựng và thực hiện các kế hoạch 61
Bảng 2.13 Kết quả khảo sát thực trạng phân công giảng dạy môn Vật lí 62
Bảng 2.14 Kết quả khảo sát thực trạng quản lý hoạt động dạy trên lớp môn Vật lí của GV 63
Bảng 2.15 Kết quả khảo sát thực trạng đổi mới phương pháp dạy học 64
Bảng 2.16 Kết quả khảo sát thực trạng đổi mới đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS 65
Bảng 2.17 Kết quả khảo sát thực trạng quản lý hoạt động học môn Vật lí của HS 67
Bảng 2.18 Kết quả khảo sát thực trạng quản lý cơ sở vật chất, thiết bị dạy học môn Vật lí của GV 68
Bảng 2.19 Kết quả khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động dạy học môn Vật lí 70
Bảng 3.1 Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết của các biện pháp 93
Bảng 3.2 Kết quả khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp 95
Trang 11DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong giai đoạn hiện nay, sự phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh toàn cầu hoá đặt ra những yêu cầu mới đối với nguồn nhân lực, do đó cũng đặt ra những yêu cầu mới cho sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ với mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Một trong những định hướng cơ bản của việc đổi mới giáo dục hướng đến việc hình thành năng lực hành động, phát huy tính chủ động, sáng tạo của người học Việc đổi mới căn bản và toàn diện Giáo dục và Đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế theo Nghị quyết 29/NQ-TW ngày 04/11/2013 đã và đang được triển khai thực hiện Định hướng quan trọng trong đổi mới phương pháp dạy học
là phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo, phát triển năng lực hành động, năng lực cộng tác làm việc của người học Đó cũng là những xu hướng quốc tế trong cải cách phương pháp dạy học ở nhà trường phổ thông
Dạy học là nhiệm vụ trọng tâm của nhà trường, quản lý nhà trường thực chất
là quản lý HĐDH và GD Hiện nay, Cách mạng Công nghiệp 4.0 tác động tới tất cả các lĩnh vực, trong đó ảnh hưởng lớn tới giáo dục, tới các nhà trường Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin đòi hỏi mỗi nhà trường, mỗi người cán bộ quản lý, mỗi giáo viên, học sinh phải làm chủ được công nghệ thông tin, ứng dụng công nghệ trong quản lý, trong dạy và học Hơn nữa,để sáng tạo ra những sản phẩm có tính ứng dụng cao thì việcdạy học môn Vật lí ở các bậc học phổ thông, đặc biệt là THPT là điều kiện không thể thiếu
Môn Vật lí là môn học quan trọng của CTGDPT, là một trong những môn học
có tính tương tác cao, được áp dụng trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội như sản xuất, kinh doanh, môi trường, y học, Môn Vật lí là một môn thi, là thành phần để xét tuyển vào các trường đại học, cao đẳng, do đó, nâng cao chất lượng dạy học môn Vật
lí là một nhiệm vụ cần thiết của mỗi nhà trường phổ thông Quản lý tốt hoạt động dạy học môn Vật lí sẽ có những đóng góp thiết thực cho việc nâng cao chất lượng dạy học môn Vật lí và qua đó nâng cao chất lượng GD của trường phổ thông, giúp nhà trường đạt được mục tiêu GD đã xác định
Trang 13Huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn là một huyện nghèo ở vùng núi phía bắc, điều kiện kinh tế, xã hội còn gặp rất nhiều khó khăn Trong những năm vừa qua, cùng với ngành giáo dục Bắc Kạn, các trường THPT trên địa bàn huyện Ba Bể đã cố gắng đổi mới công tác quản lý giáo dục, tăng cường cơ sở vật chất cho giáo dục, qua đó đã đạt được những thành quả đáng khích lệ Đặc biệt đối với môn Vật lí, là một môn học khó đối với học sinh miền núi
Tuy nhiên, trong quá trình dạy học môn Vật lí cấp trung học phổ thông, những năm qua, mặc dù đã cố gắng chuyển dần từ tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực nhưng số học sinh đáp ứng được yêu cầu của môn học còn thấp, đặc biệt là kỹ năng thực hành môn Vật lí của học sinh còn nhiều điểm yếu, khả năng vận dụng kiến thức Vật lí trong thực tế còn hạn chế, kết quả đạt được chưa cao Số lượng học sinh tham gia thi học sinh giỏi cấp tỉnh còn ít, không có học sinh tham gia đội tuyển thi học sinh giỏi cấp Quốc gia
Là một cán bộ quản lý ở trường trung học phổ thông, tôi nhận thức được vai trò, tầm quan trọng của công tác quản lý hoạt động dạy học, đặc biệt đối với môn Vật lí, cần quản lý hoạt động dạy học môn Vật lí theo hướng tăng cường kỹ năng thực hành cho học sinh, nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Vật lí của nhà trường
Hiện nay chưa có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về quản lý dạy học môn Vật lí theo hướng tăng cường kỹ năng thực hành học sinh ở các trường THPT Đặc biệt tại các trường THPT tỉnh Bắc Kạn chưa có công trình nghiên cứu về dạy học môn Vật
lí theo hướng tăng cường kỹ năng thực hành cho học sinh
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài “Quản lý dạy học môn Vật lí theo hướng tăng cường kỹ năng thực hành cho học sinh ở trường THPT huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn” làm đề tài nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý dạy học môn Vật lý tại các trường THPT huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn để đề xuất các biện pháp quản lý dạy học môn Vật
lí theo hướng tăng cường kỹ năng thực hành cho học sinh ở trường THPT huyện Ba
Bể, tỉnh Bắc Kạn đáp ứng yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông nhằm nâng cao chất lượng dạy học mônVật lí
Trang 143 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động dạy học môn Vật lí ở các trường trung học phổ thông theo hướng tăng cường kỹ năng thực hành
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện Pháp quản lý hoạt động dạy học môn Vật lí theo hướng tăng cường kỹ năng thực hành cho học sinh ở các trường trung học phổ thông huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn
4 Giả thuyết khoa học
Quản lý dạy học môn Vật lí ở các trường trung học phổ thông tỉnh Bắc Kạn đã đạt được những kết quả nhất định song vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt là kỹ năng thực hành của học sinh chưa thể đáp ứng được hết các yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông Nếu áp dụng các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Vật lí theo hướng tăng cường kỹ năng thực hànhdo tác giả đề xuất thì đáp ứng được yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông, góp phần nâng cao chất lượng môn học này
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về hoạt động dạy học và quản lý hoạt động dạy
học môn Vật lí ở trường trung học phổ thôngtheo hướng tăng cường kỹ năng thực hành cho học sinh đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông
5.2 Khảo sát đánh giá thực trạng hoạt động dạy học và quản lý hoạt động dạy học môn Vật lí theo hướng tăng cường kỹ năng thực hành ở các trường trung học phổ thông huyên Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn
5.3 Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Vật lí theo hướng tăng cường kỹ năng thực hành cho học sinh ở các trường trung học phổ thông huyện Ba
Bể, tỉnh Bắc Kạn nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Vật lí, đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông và tiến hành khảo nghiệm các biện pháp đề xuất
6 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu quản lý hoạt động dạy học môn Vật lí theo hướng tăng cường kỹ năng thực hành cho học sinh ở các trường trung học phổ thông huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn trong năm học 2017- 2018, và năm học 2018-2019
7 Các phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận
Sử dụng phương pháp tổng hợp - phân tích, hệ thống hóa, khái quát hóa các văn kiện, tài liệu, nghị quyết, thông tư, quyết định, báo cáo chính trị của Đảng và Nhà nước;
Trang 15các quy định, quy chế, thông tư do Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành… và các tài liệu có liên quan tới các vấn đề lý luận về dạy học môn Vật lí ở các trường trung học phổ thông theo hướng tăng cường kỹ năng thực hành cho học sinh
7.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi lấy ý kiến cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh về dạy học môn Vật lí theo hướng tăng cường kỹ năng thực hành cho học sinh ở các trường trung học phổ thông huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn đáp ứng yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông
Cụ thể: Sử dụng các mẫu phiếu khảo sát với các lực lượng có liên quan trực tiếp đến
đề tài là: Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, giáo viên, học sinh các trường THPT huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn với số lượng 4 CBQL, 29 giáo viên; 100 học sinh THPT
Nội dung điều tra:
- Hoạt động dạy học môn Vật lí theo hướng tăng cường kỹ năng thực hành cho học sinh ở các trường THPT huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn (Phiếu điều tra phụ lục số 1, số 2)
- Quản lý hoạt động dạy học môn Vật lí theo hướng tăng cường kỹ năng thực hành cho học sinh ở các trường THPThuyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn (Phiếu điều tra phụ lục số 1, số 2)
7.2.2 Phương pháp phỏng vấn
Trực tiếp phỏng vấn, điều tra sâu một số đối tượng như: cán bộ quản lý sở, huyện, chuyên gia, giáo viên, học sinh,… nhằm thu thập thông tin để kiểm tra, bổ sung, củng cố những kết luận khoa học
7.2.3 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm quản lý giáo dục
Phương pháp tổng kết kinh nghiệm quản lý giáo dục thông qua các buổi trao đổi, tọa đàm về dạy học môn Vật lí theo hướng tăng cường kỹ năng thực hành cho học sinh ở các trường trung học phổ thông huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông
7.2.4 Phương pháp nghiên cứu các sản phẩm hoạt động
Nghiên cứu sản phẩm, chất lượng sản phẩm, kết quả học tập của học sinh nhằm làm sáng tỏ vấn đề dạy học môn Vật lí ở các trường trung học phổ thông tỉnh Bắc Kạn đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông
Trang 167.3 Các phương pháp xử lý thông tin
Sử dụng các phương pháp thống kê toán học để xử lý và phân tích về mặt định hướng các số liệu, kết quả nghiên cứu, đồng thời xác định mức độ tin cậy của việc điều tra và kết quả nghiên cứu
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục Luận văn bao gồm 3 chương sau:
Chương 1.Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học môn Vật lí theo hướng
tăng cường kỹ năng thực hành cho học sinh các trường trung học phổ thông
Chương 2 Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Vật lí theo hướng tăng
cường kỹ năng thực hànhcho học sinh ở trường trung học phổ thông huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn
Chương 3 Biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Vật lí theo hướng tăng
cường kỹ năng thực hành cho học sinh ở trường trung học phổ thông huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn
Trang 17Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DẠY HỌC MÔN VẬT LÍ THEO HƯỚNG TĂNG CƯỜNG KỸ NĂNG THỰC HÀNH
CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG THPT
1.1 Tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ở phương Đông, Khổng Tử (551-479 TCN) đã nêu lên quan điểm về phương pháp dạy học là dùng cách gợi mở, từ gần đến xa, từ đơn giản đến phức tạp, đò hỏi người học phải tích cực suy nghĩ, phải luyện tập, hình thành nền nếp, thói quen tronghọc tập Trong dạy học, ông coi trọng việc tự học, tự rèn luyện phát huy mặt tích cực, sáng tạo, dạy học sát đối tượng Kết hợp học với hành, lý thuyết gắn với thực tiễn, phát huy động cơ học tập đúng đắn, tạohứng thú và quyết tâm của người học
Với nhiều công trình nghiên cứu, Jêm Amot Comenxki (1592-1670) cho rằng, quá trình dạy học để truyền thụ và tiếp nhận tri thức là phải dựa vào sự vật, hiện tượng
do học sinh tự quan sát, tự suy nghĩ mà hiểu biết Ông là ngườ đầu tiên trong lịch sử đã nêm lên một hệ thống các nguyên tắc trong dạy học như: nguyên tắc phát huy tính tích cực, tự giác của học sinh; nguyên tắc hệ thống và liên tục, nguyên tắc dạy học thao khả năng tiếp thu của học sinh, dạy học theo nguyên tắc cá biệt…
P.V.Zimin, M.I.Korđakôp, N.I.Saxerđôtôp đi sâu nghiên cứu việc lãnh đạo công tác giảng dạy, giáo dục trong nhà trường và xem đây là khâu then chốt trong hoạt động quản lý của Hiệu trưởng [37]
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, Chủ nghĩa Mác - Lênin với các tácphẩm kinh điển đã định hướng cho các hoạt động giáo dục Trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin, nhiều nhà khoa học của Liên Xô đã có những thành tựu đáng trân trọng về quản
lý giáo dục và quản lý dạy học [38]
Trang 18Trên thực tế và lý luận, nhiều tác giả của các nước trên thế giới đã rất quan tâm nghiên cứu hoạt động dạy học và quản lý hoạt động dạy học để tìm ra những biện pháp quản lý hữu hiện nhằm nâng cao hiệu quả của quá trình dạy học
1.1.2 Trong nước
Trong những năm gần đây, có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết về vấn đề dạy học phát triển năng lực học sinh được biên soạn, công bố Vấn đề quản lý dạy học môn Vật lí theo hướng tăng cường kỹ năng thực hành cho học sinh ở trường THPT đã được giới nghiên cứu, khai thác ở một số khía cạnh và mức độ nhất định trong hai nhóm tài liệu sau đây:
Nhóm công trình nghiên cứu về dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh
Nhóm tài liệu này chiếm số lượng khá lớn Bao gồm chủ yếu là các sách chuyên khảo được xuất bản trong một vài năm trở lại đây
Cuốn Dạy học tích hợp phát triển năng lực học sinh của các tác giả Đỗ Hương
Trà (chủ biên), Nguyễn Văn Biên, Trần Khánh Ngọc (Nxb Đại học Sư phạm, 2015) cung cấp một số cơ sở lý luận cần thiết về dạy học tích hợp theo định hướng phát triển năng lực Đồng thời, cuốn sách còn giới thiệu các chủ đề tích hợp với các mức độ tích hợp khác nhau, từ tích hợp ở mức độ lồng ghép/liên hệ đến tích hợp ở mức độ hội tụ - vận dụng kiến thức liên môn, mức độ hoà trộn và tích hợp dựa trên các nguyên lý vận động, phát triển chung của giới tự nhiên
Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục Quản lý hoạt động dạy học ở trường trung
học phổ thông theo định hướng phát triển năng lực học sinh của Trần Trung Dũng bảo
vệ tại Đại học Vinh năm 2016 là một nghiên cứu hệ thống và chuyên sâu về dạy học phát triển năng lực Luận án xoay quanh việc trình bày cơ sở lí luận của vấn đề quản lí hoạt động dạy học ở trường trung học phổ thông theo định hướng phát triển năng lực học sinh; phân tích, đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp quản lí hoạt động dạy học ở trường trung học phổ thông theo định hướng phát triển năng lực học sinh
Cùng năm 2016, nhóm tác giả Trần Thị Bích Liễu (chủ biên), Lê Kim Long, Hồ
Thị Nhật cho ấn hành cuốn Dạy học phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh phổ
thông: Lý thuyết và thực hành (Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội) Nội dung cuốn sách
trình bày những vấn đề chung về phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh Điểm đáng chú ý là cuốn sách cung cấp các tiêu chí đánh giá, mẫu bài soạn, mẫu quan sát giờ dạy
Trang 19phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh; hướng dẫn phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh trong một số môn học và qua câu lạc bộ sáng tạo
Gần đây, cuốn Phương pháp dạy học phát triển năng lực học sinh phổ thông
của nhóm tác giả Huỳnh Văn Sơn, Nguyễn Kim Hồng, Nguyễn Thị Diễm My (Nxb Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, 2017) tiếp tục nghiên cứu lí luận về năng lực, phát triển năng lực học sinh phổ thông, phương pháp dạy học và đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực Trên cơ sở đó, trình bày nội dung phương pháp dạy học phát triển năng lực học sinh phổ thông
Ngoài ra, vấn đề dạy học phát triển năng lực học sinh ở trường phổ thông còn được
đề cập đến trong nhiều nghiên cứu khác như bài báo Tổng quan nghiên cứu vấn đề giáo
dục theo định hướng phát triển năng lực học sinh của Trần Trung Dũng đăng trên Tạp chí
Giáo dục Số 362 (2015); bài báo Vận dụng dạy học dự án trong môn sinh học ở trường
phổ thông theo định hướng phát triển năng lực học sinh của các tác giả Văn Thị Thanh
Nhung, Phạm Thị Hồng Hạnh đăng trên Tạp chí Giáo dục số 368 (2015);…
Nhóm công trình nghiên cứu về dạy học môn Vật lí
Nhóm tài liệu này có số lượng khiêm tốn hơn, chủ yếu tập trung vào những vấn
đề như tổ chức hoạt động nhận thức, ứng dụng công nghệ thông tin, sử dụng thí nghiệm… Có thể kể đến một vài nghiên cứu tiêu biểu:
Tác giả Nguyễn Thị Hồng Việt với cuốn Tổ chức hoạt động nhận thức cho học
sinh trong dạy học vật lí ở trường trung học phổ thông (Nxb Giáo dục, 2003) Cuốn
sách giới thiệu chung về phương pháp dạy học, sự vận dụng các phương pháp nhận thức khoa học Vật lí trong quá trình dạy học Vật lí nhằm bồi dưỡng các phương pháp này cho học sinh
Tác giả Phạm Hữu Tòng trong cuốn Dạy học Vật lí ở trường phổ thông theo
định hướng phát triển hoạt động học tích cực, tự chủ, sáng tạo và tư duy khoa học (Nxb
Đại học Sư phạm, 2004) đã nêu lên những vấn đề cơ bản của hoạt động dạy học ở các mức độ của học sinh; tổ chức, định hướng hoạt động tìm tòi sáng tạo giải quyết vấn đề
và tư duy khoa học của học sinh; định hướng nghiên cứu chiến lược dạy học, khoa học
về hoạt động dạy học môn vật lí ở trường phổ thông
Cuốn Ứng dụng tin học trong dạy học Vật lí của tác giả Trần Huy Hoàng (Nxb
Giáo dục, 2012) Cuốn sách gồm hai phần nội dung: một là tổng quan về ứng dụng tin học trong dạy học; các chức năng hỗ trợ, ứng dụng cụ thể của máy tính trong dạy học Vật lí; quan điểm cơ bản để thiết kế phần mềm cùng một số tiêu chuẩn để xây dựng và
Trang 20đánh giá phần mềm dạy học Hai là cuốn sách giới thiệu một số phần mềm hỗ trợ dạy học Vật lí; thiết kế bài giảng điện tử; việc sử dụng internet hỗ trợ dạy học Vật lí
Trên tạp chí Giáo dục học, nhiều nghiên cứu về dạy học Vật lí trong nhà trường
được công bố Đáng chú ý như Khai thác và sử dụng Internet trong việc thiết kế bài
dạy học Vật lí (Lê Công Triêm, Nguyễn Hoàng Nam, Tạp chí Giáo dục, 2005, số 113,
tr.33-34); Tổ chức hoạt động dạy học chương "từ trường" (Vật lí 11) theo hướng phát
triển năng lực học sinh (tác giả Nguyễn Lâm Đức, Tạp chí Giáo dục, 2015, số 353, tr
48-50); …
Bên cạnh các sách xuất bản và bài tạp chí, dạy học Vật lí cũng là đề tài của nhiều luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ giáo dục học Có thể kể đến tác giả Huỳnh Trọng Dương
trong Luận án Tiến sĩ Giáo dục học Nghiên cứu xây dựng và sử dụng thí nghiệm theo
hướng tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh trong dạy học Vật lí ở trường trung học cơ sở bảo vệ tại Đại học Huế năm 2007; tác giả Nguyễn Ngọc Lê Nam với
Luận án Tiến sĩ Giáo dục học Tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh trong
dạy học Vật lí nhờ sử dụng thí nghiệm với sự hỗ trợ của máy vi tính (thể hiện qua chương "Dòng điện trong các môi trường" lớp 11 THPT chương trình nâng cao) bảo
vệ tại Đại học Vinh năm 2012; …
Như vậy, mặc dù nguồn tài liệu xuất bản liên quan đến đề tài khá phong phú, đa dạng, giải quyết nhiều khía cạnh khác nhau của vấn đề, tuy nhiên số công trình đề cập trực tiếp đến quản lý dạy học môn Vật lí theo hướng tăng cường kỹ năng thực hành cho học sinh ở trường THPT còn hạn chế Trên cơ sở kế thừa các công trình nghiên
cứu đi trước, luận văn “Quản lý dạy học môn Vật lí theo hướng tăng cường kỹ năng thực hành cho học sinh ở trường trung học phổ thông huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn”là
nghiên cứu đầu tiên về đề tài này
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Quản lý
“Quản lý” là một thuật ngữ phổ biến trong xã hội Mọi hoạt động của tổ chức,
xã hội đều cần tới quản lý Quản lý diễn ra trong mọi lĩnh vực, mọi cấp độ và liên quan đến mọi người Quản lý trở thành một khoa học, một nghệ thuật và là một nghề trong
xã hội hiện đại Có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý tùy thuộc vào cách tiếp cận, góc độ nghiên cứu vàhoàn cảnh xã hội, kinh tế, chính trị Có thể điểm qua một số quan điểm đó như sau:
Trang 21Karl Marx cho rằng: “Tất cả mọi lao động xã hôi trực tiếp hay lao động chung
nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ
sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc cần phải có một nhạc trưởng” (dẫn theo [7])
Như vậy Karl Marx đã lột tả được bản chất quản lý là một hoạt động lao động
để điều khiển lao động, một hoạt động tất yếu vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển của xã hội loài người, Quản lý đã trở thành một hoạt động phổ biến, mọi lúc, mọi nơi, mọi lĩnh vực, mọi cấp độ và có liên quan đến mọi người Đó là loại hoạt động xã hội bắt nguồn từ tính chất cộng đồng dựa trên sự phân công và hợp tác để làm một công việc nhằm đạt một mục tiêu chung
Các tác giả Việt Nam có nhiều công trình nghiên cứu về khoa học quản lý:
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là hoạt động có mục đích, có kế
hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [28]
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt động quản lý là
tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (nhà quản lý) đến khách thể quản lý (đối tượng bị quản lý) trong một tổ chức nhằm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [8]
Tác giả Phan Văn Kha khẳng định: “Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức,
lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên thuộc một hệ thống đơn vị và việc
sử dụng các nguồn lực để đạt được các mục đích đã định” [18]
Hiểu một cách chung nhất, quản lý là một quá trình tác động có định hướng, có
tổ chức, có kế hoạch và hệ thống của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý dựa trên những thông tin về tình trạng của đối tượng hình thành một môi trường phát huy một cách hiệu quả các tiềm năng, các cơ hội của cá nhân và tổ chức để đạt được mục tiêu
Trang 22- Tổ chức
Đây là quá trình sắp xếp và phân bổ công việc, quyền hành và nguồn lực cho các bộ phận, các thành viên của tổ chức để họ có thể hoạt động và đạt được các mục tiêu của tổ chức một cách có hiệu quả
- Lãnh đạo, điều hành
Đây là quá trình tác động, huy động và giúp đỡ những cán bộ dưới quyền thực hiện những nhiệm vụ được phân công Lãnh đạo là quá trình tác động đến con người làm cho họ tự nguyện và nhiệt tình tự giác, nỗ lực phấn đấu đạt các mục tiêu
- Kiểm tra, đánh giá
Kiểm tra nhằm đánh giá, phát hiện và điều chỉnh kịp thời, giúp cho tổ chức vận hành tối ưu, đạt được mục tiêu đề ra Đó là những hoạt động của chủ thể quản lý nhằm xác định kết quả thực hiện kế hoạch trên thực tế, tìm ra những mặt ưu điểm, mặt hạn chế, phát hiện những sai lệch, đề ra biện pháp điều chỉnh
Các chức năng quản lý có liên hệ biện chứng chặt chẽ Tùy theo thời điểm, nội dung mà một số chức năng có thể tiến hành đồng thời, đan xen và ảnh hưởng lẫn nhau
1.2.2 Quản lý giáo dục
Nhà nước quản lý mọi hoạt động của xã hội trong đó có hoạt động giáo dục, quản lý giáo dục là quản lý một lĩnh vực xã hội Quản lý giáo dục là điển hình nhất về quản lý con người, quản lý sự hình thành và phát triển nhân cách Nhà nước quản lý giáo dục thông qua tập hợp các tác động hợp quy luật được thể chế hóa bằng pháp luật của chủ thể quản lý, nhằm tác động đến các phân hệ quản lý để thực hiện mục tiêu giáo dục mà kết quả cuối cùng là chất lượng đào tạo thế hệ trẻ
Đã có nhiều nghiên cứu về quản lý nói chung cho nên cũng có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý giáo dục
Theo M.I.Kônđacốp:“QLGD là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và
hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau, đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ Bộ đến trường) nhằm mục đích đảm bảo việc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên
cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của xã hội cũng như các quy luật của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực và tâm lý trẻ em”(dẫn theo [10])
Theo Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối của Đảng
trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh,…” [11]
Trang 23Theo tác giả Trần Kiểm: “QLGD là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý
thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau nhằm mục đích đảm bảo
sự hình thành nhân cách của thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng các quy luật chung của xã hội cũng như các quy luật của quản lý giáo dục, sự phát triển tâm lý, thể lực của trẻ em” [21]
Có thể đưa ra khái niệm QLGD ở 2 cấp độ:
Ở cấp độ hệ thống: QLGD là những tác động có hệ thống, có ý thức, hợp quy
luật của chủ thể QL ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống giáo dục nhằm đảm bảo cho hệ thống giáo dục vận hành bình thường và liên tục phát triển, mở rộng cả về số lượng cũng như chất lượng
Ở cấp độ trường học: QLGD là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch,
hợp quy luật của chủ QL nhà trường làm cho nhà trường vận hành theo đường lối, quan điểm giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường mà tiêu điểm là quá trình dạy học - giáo dục, đưa nhà trường tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất, góp phần thực hiện mục tiêu chung của giáo dục: nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài phục vụ sự nghiệp CNH - HĐH đất nước
Từ những quan niệm trên chúng ta có thể khái quát rằng: Quản lý giáo dục là
hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng giáo dục nhằm đẩy mạnh công tác Giáo dục và Đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội Trong hệ thống giáo dục, con người giữ vai trò trung tâm của mọi hoạt động Con người vừa là chủ thể quản lý, vừa
là khách thể quản lý Mọi hoạt động giáo dục và QLGD đều hướng vào việc đào tạo
và phát triển nhân cách thế hệ trẻ, bởi vậy con người là nhân tố quan trọng nhất trong QLGD
1.2.3 Hoạt động dạy học
Theo tác giả Phạm Viết Vượng: "Dạy học là một bộ phận của quá trình sư phạm
tổng thể, là một trong những con đường để thực hiện mục đích giáo dục Quá trình dạy học được tổ chức trong nhà trường bằng phương pháp sư phạm đặc biệt, nhằm trang
bị cho học sinh hệ thống kiến thức khoa học và hình thành hệ thống kỹ năng vận dụng
Theo thuyết hoạt động, dạy học gồm hai hoạt động: hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò, hai hoạt động này luôn luôn gắn bó mật thiết với nhau, tồn tại
trong quá trình giáo dục tổng thể của nhà trường
Trang 24Như vậy, hoạt động dạy học là một trong những hoạt động giao tiếp sư phạm mang ý nghĩa xã hội Chủ thể của hoạt động dạy học bao gồm người dạy và người học,
họ tiến hành các hoạt động khác nhau, song song tồn tại và phát triển trong cùng một quá trình nhưng không hề đối lập nhau mà được thống nhất và hỗ trợ cho nhau Kết quả học tập của học sinh được đánh giá không chỉ là kết quả của hoạt động học mà còn
là kết quả của hoạt động dạy, kết quả dạy của thầy không thể đánh giá tách rời kết quả học tập của trò
Lí thuyết tương tác ra đời vào những năm 70 của thế kỉ XX với kết quả nghiên cứu của Guy Brouseau, Claude Comiti,… thuộc Viện Đại học đào tạo Giáo viên ở Gremnoble (Dẫn theo tác giả Trịnh Lê Hồng Phương) [27] Các tác giả đã đưa thêm yếu tố môi trường vào trong dạy học và từ đó cấu trúc dạy học gồm bốn nhân tố ra đời: người dạy, người học, nội dung kiến thức, môi trường dạy học.Những kết quả nghiên cứu đã phân tích sâu sắc yếu tố người dạy, người học trong môi trường để hướng tới mục tiêu môn học đồng thời còn chỉ ra cơ chế của sự tác động qua lại giữa các yếu tố thuộc cấu trúc dạy học
Trong tác phẩm “Tiến tới một phương pháp sư phạm tương tác”, hai tác giả người Canada là Jean Marc Denommes và Madeleine Roy cũng đã mô tả logic của dạy học và
mở ra một quan điểm sư phạm tương tác với cấu trúc dạy học là một “Bộ ba” gồm: người học, người dạy và môi trường, còn nội dung kiến thức được coi như là một yếu tố khách quan mà người dạy muốn hướng người học chiếm lĩnh.” Theo lý thuyết dạy học tương tác thì các yếu tố trong quá trình dạy học có mối quan hệ tác động mật thiết hỗ trợ nhau hướng tới đạt mục tiêu dạy học, khi đó người học giữ vai trò trung tâm, chủ động trong dạy học; người thầy luôn giữ vài trò định hướng, tư vấn, hỗ trợ và giữ mối liên hệ mật thiết, hiểu và hỗ trợ người học giúp người học lĩnh hội tri thức, kinh nghiêm một cách hiệu quả nhất Lý thuyết này được luận văn coi trọng vì liên quan đến dạy học lấy người học làm trung tâm, phát huy năng lực người học
Như vậy, hoạt động dạy học là hoạt động đặc trưng của nhà trường, được tổ chức có mục đích, có kế hoạch, có sự chỉ dẫn điều hành của nhà giáo dục và có hoạt động tích cực, tự giác của người học trong tất cả các loại hình hoạt động học tập Trong nhà trường, hoạt động dạy học là sự thống nhất biện chứng của hai thành tố cơ bản là hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh Trong đó [25]:
Trang 25- Hoạt động dạy: Là hoạt động của người thầy để dẫn dắt, định hướng quá trình
học tập của HS, giúp HS tìm tòi khám phá tri thức, qua đó thực hiện có hiệu quả chức năng học của bản thân
- Hoạt động học: Là hoạt động tự giác, tích cực, chủ động của người học, tự tổ
chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức - học tập của mình nhằm thu nhận, xử lý và biến đổi thông tin bên ngoài thành tri thức của bản thân, qua đó người học thể hiện mình, tự làm phong phú giá trị của bản thân
Hoạt động dạy học bao gồm hai hoạt động dạy và hoạt động học thâm nhập vào nhau Hai hoạt động này luôn gắn bó mật thiết với nhau, tồn tại cùng nhau để tạo nên hiệu quả cho quá trình dạy học
1.2.4 Quản lý hoạt động dạy học
Nội dung của quản lý hoạt động dạy học được xác định tùy theo các tiếp cận khác nhau Trong đó, theo tiếp cận nội dung hoạt động thì quản lý hoạt động dạy học bao gồm: Quản lý hoạt động dạy của giáo viên; Quản lý hoạt động học của học sinh; Quản lý cơ sở vật chất và các điều kiện phục vụ dạy học; Quản lý đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh
Quản lý hoạt động dạy học chính là sự tác động lên đội ngũ giáo viên, học sinh qua việc thực hiện các chức năng quản lý: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra, điều chỉnh hoạt động dạy học nhằm đạt mục tiêu đã đề ra Trong toàn bộ quá trình quản lý nhà trường thì quản lý hoạt động dạy học của người HT là hoạt động cơ bản nhất, nó chiếm thời gian, công sức rất lớn của HT
Quản lý hoạt động dạy học là những tác động có chủ đích, có kế hoạch của Hiệu trưởng đến tập thể giáo viên, học sinh, những lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm huy động họ tham gia, cộng tác, phối hợp trong các hoạt động của nhà trường giúp quá trình dạy học vận động tối ưu tới mục tiêu dự kiến
Thực chất quản lý hoạt động dạy học là quản lý việc thực hiện nhiệm vụ dạy học của từng GV và đội ngũ giáo viên Nhiệm vụ chính của GV là giảng dạy, tổ chức hoạt động học tập, rèn luyện cho HS kỹ năng, kỹ xảo, đắp bồi cho HS những giá trị tư tưởng, đạo đức và nhân văn
1.2.5 Quản lý hoạt động dạy học môn Vật lí
Từ khái niệm ở mục 1.2.4, có thể định nghĩa “quản lý hoạt động dạy học môn Vật lí” là những tác động có chủ đích, có kế hoạch của Hiệu trưởng đến đội ngũ giáo viên dạy học môn Vật lí, học sinh, những lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường
Trang 26nhằm huy động họ tham gia, cộng tác, phối hợp trong các hoạt động của nhà trường giúp quá trình dạy học môn Vật lý vận động tối ưu tới mục tiêu dự kiến
Quản lý hoạt động dạy học môn Vật lí nằm trong toàn bộ quá trình quản lý các hoạt động dạy và học nói chung của nhà trường Tuy nhiên do đặc thù bộ môn nên cần
có cách quản lý riêng cho phù hợp
1.2.6 Kỹ năng thực hành
1.2.6.1 Kỹ năng
TheoTừ điển TiếngViệt:“Kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận
được vào thực tế” [36]
Theo Từ điển Giáo dục học, Kỹ năng là:“Khả năng thực hiện đúnghành động,
hoạt động phù hợp với những mục tiêu và điều kiện cụ thể tiếnhành hành động ấy cho
dù đó là hành động cụ thể hay hành động trí tuệ” [15]
Tác giả Nguyễn Công Khanh cho rằng:“Kỹ năng là khả năng thực hiện một hành
động hay hoạt động nào đó, bằng cách lựa chọn và vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm, kỹ xảo đã có để hành động phù hợp với những mụct iêu và những điều kiện thực tế đã cho” [19]
Kỹ năng được xem là sự vận dụng thành thạo những tri thức, kinh nghiệm của bản thân mỗi người đã được tích lũy qua lý luận và thực tiễn để thực hiện hoạt động đạt chất lượng, hiệu quả cao; giải quyết, xử lý hiệu quả những vấn đề xảy ra trong công
việc và cuộc sống
Có thể phân loại kĩ năng gồm 5 mức độ sau đây(theo đề xuất của Dave R.H (1970):
1 Bắt chước (imitation): Làm theo một hành động đã được quan sát nhưng thiếu
sự phối hợp giữa cơ bắp và hệ thần kinh
2 Thao tác (manipulation): Làm theo một hành động đã được quan sát thường theo sự chỉ dẫn, thể hiện một số sự phối hợp giữa cơ bắp và hệ thần kinh
3 Làm chuẩn xác (precison): Thực hiện một hành động thể lực với sự chuẩn xác, cân đối và chính xác
4 Liên kết (articulation): Thực hiện thành thạo một hành động thể lực có sự phối hợp của một loạt các hành động khác
5 Tự nhiên hoá (naturalization): Biến một hành động thể lực thành công việc thường làm để mở rộng nó ra và làm cho nó trở thành một sự đáp ứng tự động, không
gò bó và cuối cùng thành một sự đáp ứng thuộc về tiềm thức hay bản năng
Trang 27Thậm chí, các động tác, các thao tác phải được thực hiện nhiều lần để có sự thành thạo, đảm bảo cho kết quả chính xác hay nói cách khác, kỹ năng được hình thành nhờ quá trình luyện tập của cá nhân trong việc vận dụng các kiến thức, kinh nghiệm của bản thân để giải quyết các vấn đề thực tiễn Kỹ năng có thể là kỹ năng chung để giải quyết những vấn đề chung để giải quyết mọi công việc và kỹ năng riêng để giải quyết những vấn đề có tính chất đặc thù
1.2.6.2 Kỹ năng thực hành môn Vật lí
Thực hành Vật lí là việc vận dụng các kiến thức Vật lí thu được để tiến hành các thí nghiệm Vật lí nhằm mục đích hình thành kiến thức mới, giải thích các hiện tượng liên quan hoặc kiểm nghiệm lại các kiến thức Vật lí đã có Việc thực hành thí nghiệm Vật lí có thể được diễn ra ở trên lớp, ở trong các phòng thực hành, phòng học bộ môn hoặc ở nhà Việc thực hiện các thí nghiệm thực hành Vật lí của học sinh có thể do giáo viên hướng dẫn hoặc do học sinh tự làm
Kỹ năng thực hành thí nghiệm Vật lí là loại kỹ năng riêng, có tính đặc thù Nó
là khả năng thực hiện các thí nghiệm Vật lí, là khả năng vận dụng các kiến thức Vật lí
để thực hiện các thao tác thí nghiệm nhằm đạt được mục đích thí nghiệm Các kỹ năng thực hành Vật lí như kỹ năng xác định mục đích thí nghiệm, xây dựng phương án thí nghiệm, lựa chọn dụng cụ thí nghiệm, lắp ráp các dụng cụ thí nghiệm, kỹ năng điều chỉnh sự thay đổi các đại lượng Vật lí, sử dụng các dụng cụ đo, kỹ năng quan sát hiện tượng, đọc, thu thập dữ liệu, xử lý số liệu bằng biểu đồ, tính toán, xác định sai số của phép đo, viết báo cáo, kết luận,…
Để tăng cường kỹ năng thực hành Vật lí cho học sinh ta cần cho học sinh rèn luyện từng kỹ năng thành phần trong quá trình làm thí nghiệm thực hành như: kỹ năng xác định mục đích thí nghiệm, xây dựng phương án thí nghiệm, lựa chọn dụng cụ thí nghiệm, lắp ráp các dụng cụ thí nghiệm, kỹ năng sử dụng các thiết bị thí nghiệm, dụng
cụ đo, kỹ năng quan sát hiện tượng, đọc, thu thập dữ liệu, xử lý số liệu bằng biểu đồ, tính toán, xác định sai số của phép đo, viết báo cáo, kết luận…
1.2.7 Dạy học Vật lý theo hướng tăng cường kỹ năng thực hành
Dạy học Vật lý theo hướng tăng cường kỹ năng thực hành là hoạt động được tổ chức có mục đích, có kế hoạch, có sự điều hành của nhà giáo giục và hoạt động tự giác học tập của người học Trong đó:
Người thầy bằng các yêu cầu, các thao tác thí nghiệm thực hành môn Vật lý, hướng học sinh tích cực, chủ động nghiên cứu tìm ra kiến thức cơ bản của môn Vật lý
Trang 28thông qua các thí nghiệm thực hành đồng thời dúng các thí nghiệm thực hành để kiểm chứng lại các kiến thức lý thuyết vừa được học
Người học, bằng hoạt động chủ động, sáng tạo, chủ động tham gia vào các tình huống học tập, tích cực sử dụng các thiết bị thí nghiệm thực hành để tìm ra kiến thức mới, kiểm nghiệm lại kiến thức đã được học theo chuẩn kiến thức, từ đó hình thành kỹ năng thực hành để hiểu sâu các kiến thức Vật lý, vận dụng các kiến thức Vật lý vào đời sống một cách hiệu quả, nâng cao kết quả của việc học tập
1.3 Dạy học môn Vật lý ở trường trung học phổ thông
1.3.1 Đặc điểm của môn Vật lí
Môn Vật lí trong chương trình phổ thông có một số đặc điểm sau [5]:
- Vật lí học là cơ sở của nhiều ngành kỹ thuật quan trọng Sự phát triển của vật
lí gắn bó chặt chẽ và có tác động qua lại trực tiếp với sự tiến bộ của khoa học, kỹ thuật
Vì vậy những hiểu biết và nhận thức vật lí có giá trị to lớn trong đời sống và sản xuất, đặc biệt trong công cuộc công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước
- Vật lí học sẽ giúp HS giải thích các hiện tượng trong tự nhiên, trong đời sống
và trong kỹ thuật nên dễ gây hứng thú cho HS trong học tập Vì thế môn Vật lí là môn học lý thú song nó đòi hỏi phải tư duy một cách linh động
- Vật lí là một môn khoa học thực nghiệm Phương pháp chủ yếu được sử dụng
để nghiên cứu vật lí là phương pháp thực nghiệm: quan sát và thí nghiệm
- Môn Vật lí có mối quan hệ gắn chặt chẽ, qua lại với các bộ môn khác Nhiều kiến thức, kỹ năng đạt được qua môn Vật lí là cơ sở đối với việc học tập các môn khoa học khác, đặc biệt là môn Sinh học, Hoá học và Công nghệ Mặt khác, vì Vật lí học là một khoa học thực nghiệm đã được toán hoá ở mức độ cao nên nhiều kiến thức và kỹ năng toán học được sử dụng rộng rãi trong việc học tập môn Vật lí
1.3.2 Vị trí, vai trò môn Vật lí ở trường trung học phổ thông
- Môn Vật lí trong trường trung học phổ thông là một môn khoa học tự nhiên tập trung vào sự nghiên cứu vật chất và chuyển động của nó trong không gian và thời gian, cùng với những khái niệm liên quan như năng lượng và lực Một cách rộng hơn,
nó là sự phân tích tổng quát về tự nhiên, được thực hiện để hiểu được cách biểu hiện của vũ trụ
- Môn Vật lí ở trường phổ thông góp phần hoàn chỉnh học vấn phổ thông và làm phát triển nhân cách của học sinh, chuẩn bị cho học sinh bước vào cuộc sống lao động, sản xuất, bảo vệ Tổ quốc hoặc tiếp tục học lên Vật lí tạo cho học sinh tiếp cận với thực
Trang 29tiễn kĩ thuật ở trong nước và xây dựng tiềm lực để tiếp thu được các kĩ thuật hiện đại của thế giới
1.3.3 Mục tiêu, nội dung chương trình, phương pháp dạy học môn Vật lí ở trường trung học phổ thông
1.3.3.1 Mục tiêu dạy học môn Vật lí ở trường trung học phổ thông theo chương trình giáo dục phổ thông
a) Mục tiêu dạy học môn Vật lí ở trường THPT theo chương trình hiện hành Theo Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 05/5/2006 của Bộ trưởng Bộ
GD&ĐT, môn Vật lí ở Trung học phổ thông nhằm giúp học sinh [5]:
(1) Về kiến thức: Đạt được một thống kiến thức vật lí phổ thông, cơ bản và phù
hợp với những quan điểm hiện đại, bao gồm: Các khái niệm về các sự vật, hiện tượng
và quá trình vật lí thường gặp trong đời sống và sản xuất; Các đại lượng, các định luật
và các nguyên lý cơ bản cơ bản; Những nội dung chính của một số thuyết vật lí quan trọng nhất; Những ứng dụng phổ biến của Vật lí trong đời sống và trong sản xuất; Các phương pháp chung của nhận thức khoa học và những phương pháp đặc thù của Vật lí, trước hết là phương pháp thực nghiệm và phương pháp mô hình
(2) Về kỹ năng:
- Biết quan sát các hiện tượng và các quá trình vật lí trong tự nhiên, trong đời sống hằng ngày hoặc trong các thí nghiệm; biết điều tra, sưu tầm, tra cứu tài liệu từ các nguồn khác nhau để thu thập các thông tin cần thiết cho việc học tập môn Vật lí
- Sử dụng được các dụng cụ đo phổ biến của vật lí, có kỹ năng lắp ráp và tiến hành các thí nghiệm vật lí đơn giản
- Biết phân tích, tổng hợp và xử lý các thông tin thu được để rút ra kết luận, đề
ra các dự đoán đơn giản về các mối quan hệ hay về bản chất của các hiện tượng hoặc quá trình vật lí, cũng như đề xuất phương án thí nghiệm để kiểm tra dự đoán đã đề ra
- Vận dụng được kiến thức để mô tả và giải thích các hiện tượng và quá trình vật lí, giải các bài tập vật lí và giải quyết các vấn đề đơn giản trong đời sống và sản xuất ở mức độ phổ thông
- Sử dụng được các thuật ngữ vật lí, các biểu, bảng, đồ thị để trình bày rõ ràng, chính xác những hiểu biết, cũng như những kết quả thu được qua thu thập và xử lý thông tin
Trang 30(3) Về thái độ:
- Có hứng thú học vật lí, yêu thích tìm tòi khoa học; trân trọng đối với những đóng góp của vật lí học cho sự tiến bộ của xã hội và đối với công lao của các nhà khoa học
- Có thái độ khách quan, trung thực; có tác phong tỉ mỉ, cẩn thận, chính xác và
có tinh thần hợp tác trong việc học tập môn Vật lí, cũng như trong việc áp dụng các hiểu biết đã đạt được
- Có ý thức vận dụng những hiểu biết vật lí vào đời sống nhằm cải thiện điều kiện sống, học tập cũng như để bảo vệ và giữ gìn môi trường sống tự nhiên
Mục tiêu tổng quát của chương trình Vật lí THPT là góp phần phát triển kết quả của giáo dục THCS, hoàn thiện học vấn phổ thông vật lí chuẩn bị cho HS tiếp tục học lên cao đẳng, đại học, các trường chuyên nghiệp, học nghề hoặc tham gia vào các lao động học thuật thích ứng với cuộc sống của một xã hội công nghiệp hoá - hiện đại hoá
Cung cấp cho HS những kiến thức phổ thông, cơ bản, tương đối có hệ thống, toàn diện về Vật lí học Hệ thống kiến thức này phải thiết thực, có tính kỹ thuật tổng hợp và phải phù hợp với những quan điểm hiện đại của vật lí
Góp phần xây dựng cho HS thế giới quan khoa học và đạo đức cách mạng: giáo dục cho HS lòng yêu nước và yêu chủ nghĩa xã hội Rèn luyện cho HS những phẩm chất cần thiết của người lao động mới: tác phong làm việc cẩn thận, chu đáo; óc tìm tòi sáng tạo; tính trung thực, cần cù, ham học hỏi; thái độ đúng đắn đối với lao động và quý trọng thành quả lao động
b) Mục tiêu dạy học môn Vật lí THPT theo định hướng đổi mới giáo dục
Theo Chương trình giáo dục phổ thông mới, mục tiêu giáo dục môn Vật lí cụ thể: Cùng với các môn học và hoạt động giáo dục khác, môn Vật lí giúp HS đạt được các phẩm chất và năng lực được quy định trong CT GDPT tổng thể Giúp HS đạt được năng lực tìm hiểu thế giới tự nhiên dưới góc độ vật lí, với các biểu hiện sau: (1) có được những kiến thức phổ thông cốt lõi về: các mô hình hệ vật lí; chất, năng lượng và sóng; lực và trường; (2) có và vận dụng được một số kỹ năng tiến trình khoa học; bước đầu sử dụng được toán học, tin học làm ngôn ngữ, công cụ giải quyết vấn đề; (3) vận dụng được một số tri thức vào thực tiễn, ứng xử được với thiên nhiên phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững xã hội và bảo vệ môi trường; (4) nhận biết đúng được một số năng lực, sở trường của bản thân và lựa chọn được một số ngành nghề liên quan đến lĩnh vực mà môn học đề cập
Trang 311.3.3.2 Nội dung chương trình dạy học môn Vật lí ở trường trung học phổ thông theo chương trình giáo dục phổ thông
a) Nội dung chương trình môn Vật lí cấp THPT hiện nay
Theo Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 05/5/2006 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT, nội dung môn Vật lí theo Chương trình chuẩn, cụ thể [5]:
- Đối với khối 10: Với thời lượng 35 tuần, 70 tiết học/năm học, nội dung chương trình Vật lí gồm: Động học chất điểm; Động lực học chất điểm; Cân bằng và chuyển động của vật rắn; Các định luật bảo toàn; Chất khí; Cơ sở của nhiệt động lực học; Chất rắn và chất lỏng, sự chuyểnthể
- Đối với khối 11: Thời lượng 35 tuần, 70 tiết/năm học, học sinh sẽ học về các nội dung: Điện tích, điện trường; Dòng điện không đổi; Dòng điện trong các môi trường; Từ trường; Cảm ứng điện từ; Khúc xạ ánh sáng; Mắt, các dụng cụ quang
- Đối với khối 12: Thời lượng 35 tuần, 70 tiết/năm học, các nội dung sẽ học gồm: Dao động cơ; Sóng cơ và sóng âm; Dòng diện xoay chiều; Dao động điện từ,sóng điện từ; Sóng ánh sáng; Lượng tử ánh sáng; Hạt nhân nguyêntử
Đối với Chương trình nâng cao:
- Cả 3 khối lớp đều có thời lượng học là 35 tuần, khối 10 và 11 học 87,5 tiết/năm học; riêng khối 12 học 105 tiết/năm học
- Về nội dung: Ngoài các nội dung như Chương trình chuẩn, còn học một số nội dung như: Cơ học chất lưu; Động lực học vật rắn; Sơ lược về thuyết tương đối hẹp; Từ
vi mô đến vĩ mô
b) Nội dung giáo dục môn Vật lí cấp THPT theo định hướng đổi mới giáo dục
Theo Chương trình giáo dục phổ thông mới, nội dung giáo dục môn Vật lí ở THPT, cụ thể:
- Đối với khối lớp 10: Học sinh được học các nội dung: Vật lí trong một số ngành nghề; Động học; Động lực học; Công, năng lượng, công suất; Động lượng; Chuyển động tròn; Biến dạng của vật rắn; Trái Đất và bầu trời; Vật lí với giáo dục về bảo vệ môi trường
- Đối với khối lớp 11: Gồm các nội dung: Trường hấp dẫn; Dao động; Sóng; Truyền thông tin bằng sóng vô tuyến; Điện trường; Dòng điện, mạch điện; Mở đầu về điện tử học
Trang 32- Đối với khối lớp 12: Học sinh được học các nội dung: Vật lí nhiệt; Khí lý tưởng; Từ trường; Dòng điện xoay chiều; Vật lí hạt nhân và phóng xạ; Một số ứng dụng vật lí trong chẩn đoán y học; Vật lí lượng tử
Ở cấp THPT, trên cơ sở nội dung nền tảng đã trang bị cho HS ở giai đoạn giáo dục cơ bản, CT môn Vật lí lựa chọn phát triển những vấn đề cốt lõi thiết thực nhất, đồng thời chú trọng đến những vấn đề mang tính ứng dụng cao là cơ sở của nhiều ngành
kỹ thuật, khoa học và công nghệ
Ở bậc học phổ thông, thí nghiệm, thực hành đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành khái niệm, quy luật, định luật vật lí Vì vậy, bên cạnh việc sử dụng các
mô hình vật lí và toán học, chương trình môn Vật lí chú trọng thích đáng đến việc hình thành năng lực tìm tòi khám phá các thuộc tính của sự vật, hiện tượng vật lí thông qua các nội dung thí nghiệm, thực hành dưới các góc độ khác nhau
Coi trọng việc rèn luyện cho học sinh kỹ năng vận dụng tri thức vật lí vào việc tìm hiểu và giải quyết ở mức độ nhất định một số vấn đề của thực tiễn, đáp ứng đòi hỏi của cuộc sống; vừa bảo đảm phát triển năng lực trên nền tảng những năng lực chung
và năng lực tìm hiểu thế giới tự nhiên đã hình thành ở giai đoạn giáo dục cơ bản, vừa đáp ứng yêu cầu định hướng vào một số ngành nghề cụ thể
Cùng với các nội dung giáo dục cốt lõi có thời lượng 70 tiết/năm học, những HS
có định hướng nghề nghiệp cần vận dụng nhiều tri thức vật lí được học thêm 35 tiết chuyên đề/năm học Trong các chuyên đề này; một số có tác dụng mở rộng, nâng cao kiến thức và năng lực đáp ứng yêu cầu phân hoá ở cấp THPT; một số nhằm tăng cường hoạt động thực hành, vận dụng thực tế, giúp HS phát triển tình yêu, sự say mê, ham thích tìm hiểu khoa học, định hướng nghề nghiệp
1.3.2.3 Phương pháp dạy học môn Vật lí ở trường trung học phổ thông
Giáo viên cần vận dụng mọi phương pháp dạy học hiện có một cách linh hoạt, đồng thời từng bước vận dụng các phương pháp dạy học hiện đại như PPDH hợp tác (PPDH cùng tham gia), PPDH giải quyết vấn đề nhằm giúp học sinh biết cách tự học, biết cách hợp tác trong tự học; tích cực chủ động, sáng tạo trong việc phát hiện và giải quyết vấn đề để vừa có được những kiến thức cần thiết, vừa rèn luyện được các năng lực hành động
Phương pháp thuyết trình là một trong những phương pháp truyền thống, có tác dụng tích cực trong việc truyền đạt cho học sinh những kiến thức một cách có hệ thống, logic Phương pháp đàm thoại gợi mở có tác dụng tích cực đến việc cung cấp cho học
Trang 33sinh những kiến thức cơ bản dựa trên cơ sở phát huy tính tích cực học tập của học sinh Các phương pháp nêu trên đều là những phương pháp được sử dụng phổ biến trong dạy học ở trường THPThiện nay Nếu biết kết hợp hài hoà các phương pháp theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động học tập của học sinh, thì chất lượng dạy và học môn Vật lí ở trường THPT sẽ được nâng cao
Về hình thức tổ chức dạy học, áp dụng các hình thức tổ chức dạy học một cách linh hoạt, phối hợp dạy học cá nhân và dạy học theo nhóm nhỏ, theo lớp; phối hợp dạy học ở trong và ngoài lớp, ở nhà trường và ở hiện trường (cơ sở sản xuất địa phương)
Ngoài ra, do đặc thù là môn khoa học tự nhiên, nên với mỗi dạng bài học sẽ có phương pháp và kỹ thuật dạy học khác nhau Ví dụ: Đối với các giờ học lý thuyết các phương pháp thường sử dụng đó là phương pháp thuyết trình, phương pháp đặt câu hỏi, phương pháp đàm thoại ; Đối với các giờ làm thí nghiệm, thực hành sử dụng phương pháp làm việc nhóm, quan sát, phương pháp thuyết trình, dạy theo góc…
1.3.4 Đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh môn Vật lí
1.3.7.1 Đổi mới phương pháp dạy học môn Vật lí
Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động phối hợp thống nhất của giáo viên
và học sinh trong quá trình dạy học, được tiến hành dưới vai trò chủ đạo của giáo viên nhằm thực hiện tối ưu mục tiêu và các nhiệm vụ dạy học
Có thể phân loại PPDH thành 03 nhóm cơ bản: Nhóm PP dạy học sử dụng ngôn ngữ (Thuyết trình, Vấn đáp, Sử dụng sách giáo khoa và tài liệu); Nhóm PP dạy học sử dụng trực quan (Quan sát, Minh họa, Biển diễn thí nghiệm); Nhóm PP dạy học thực hành (Làm thí nghiệm, Luyện tập)
Mỗi PPDH đều có ưu điểm và hạn chế riêng, do vậy cần sử dụng phối hợp PPDH một cách linh hoạt, sáng tạo, thể hiện sự tác động thống nhất giữa GV và HS khiến bài dạy sinh động, HS hứng thú học tập
Đối với môn Vật lí, do đặc thù là môn khoa học tự nhiên, nên với mỗi dạng bài học sẽ có phương pháp và kỹ thuật dạy học khác nhau.Trong các giờ học lý thuyết các phương pháp thường sử dụng đó là phương pháp thuyết trình, phương pháp đặt câu hỏi, phương pháp đàm thoại ; Đối với các giờ làm thí nghiệm, thực hành sử dụng phương pháp làm việc nhóm, quan sát, phương pháp thuyết trình, dạy theo góc…
Để tăng cường kỹ năng thực hành môn Vật lí cho học sinh, phương phápcông tácthí nghiệm là rất quan trọng:PP công tác thí nghiệm là PP thực hành dưới sự chỉ đạo
Trang 34của GV, HS sử dụng thiết bị và tiến hành thí nghiệm nhằm làm sáng tỏ, khẳng định những vấn đề lý thuyết mà GV đã trình bày, qua đó củng cố, đào sâu những tri thức mà
họ đã lĩnh hội được hoặc vận dụng lý luận để nghiên cứu vấn đề do thực tiễn đề ra.PP này có ý nghĩa rất lớn, vì thông qua đó sẽ giúp HS nắm vững tri thức, biến tri thức thành niềm tin, hình thành những kỹ năng, kỹ xảo làm công tác thực nghiệm khoa học,
kỹ năng, kỹ xảo thực hiện những hành động trí tuệ- lao động, kích thích hứng thú học tập bộ môn và bồi dưỡng những phẩm chất cần thiết của người lao động mới như óc qua sát, tính chính xác, tính cẩn thận, tính cần cù, tiết kiệm, tổ chức lao động có khoa học
Đổi mới PPDH là một yêu cầu bắt buộc đối với mỗi người giáo viên khi đứng trên bục giảng Để thực hiện đổi mới PPDH trước hết cần thay đổi nhận thức của GV
về tầm quan trọng của việc đổi mới PPDH trong việc nâng cao chất lượng dạy học Đối với môn Vật lí, đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo của học sinh trong quá trình học tập từ đó giúp cho học sinh rèn luyện được khả năng tự học, tự nghiên cứu và chủ động vận dụng kiến thức lý thuyết vào thực tiễn
Đổi mới phương pháp dạy học không có nghĩa là loại bỏ các phương pháp truyền thống để thay bằng các phương pháp hoàn toàn mới Đổi mới phương pháp dạy học phải được hiểu là sự vận dụng phối hợp một cách hợp lý, khoa học các phương pháp dạy học trong đó đặc biệt chú ý sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại có ứng dụng của công nghệ thông tin phù hợp với từng bài dạy để phát huy tối đa tính chủ động, tích cực học tập của học sinh
Trong việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tăng cường kỹ năng thực hành cho học sinh, GV ứng dụng CNTT và truyền thông vào bài dạy là rất cần thiết, đặc biệt là môn Vật lí Trước tiên, người GV phải trang bị cho mình những kiến thức về tin học để có thể soạn thảo văn bản, soạn bài có ứng dụng CNTT (có hình ảnh, videos, clip,…), trình chiếu các thí nghiệm ảo thay thế cho các thí nghiệm thật khi không có điều kiện thí nghiệm Bên cạnh đó, người GV phải biết tìm kiếm, khai thác các thông tin trên mạng internet về bộ môn Vật lí Tuy nhiên tác động khai thác nguồn lợi từ truyền thông và CNTT là hai mặt đòi hỏi người GV phải có sự vận dụng linh hoạt, sáng tạo, chịu tìm tòi, nghiên cứu và chắt lọc mới đem lại hiệu quả ứng dụng CNTT trong dạy học một cách tốtnhất
1.3.7.2 Đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Vật lí của học sinh
Trang 35Kiểm tra là quá trình giáo viên thu thập thông tin về kết quả học tập của học sinh Giúp giáo viên kiểm soát quá trình dạy học, phân loại và giúp đỡ học sinh
Đánh giá là thu thập thông tin, diễn giải thông tin về kết quả học tập của học sinh để ra quyết định…
Kiểm tra, đánh giá là 1 khâu quan trọng của quá trình dạy học Giúp GV thu thập kết quả học tập của HS, phát hiện thực trạng, nguyên nhân để điều chỉnh Giúp
HS có cơ hội ôn tập củng cố tri thức HS có cơ hội tự kiểm tra mức độ lĩnh hội của bản thân…Cần sử dụng phối hợp các hình thức, PP kiểm tra, đánh giá khác nhau để kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh đạt hiệu quả
Ở trường trung học thường sử dụng các dạng kiểm tra:Kiểm tra thường ngày; Kiểm tra định kỳ; Kiểm tra tổng kết Được thực hiện qua các PP kiểm tra:Kiểm tra miệng (vấn đáp): PP kiểm tra này không chỉ sử dụng được khi học bài mới, mà cả trong
và sau khi học bài mới, khi ôn tập, khi mở đầu cho công tác thực hành, công tác thí nghiệm; Kiểm tra viết: PP này được sử dụng cả trước và sau khi học một tiết học, một phần chương, một chương, một số chương hoặc toàn bộ môn học.Tuỳ theo yêu cầu của nội dung kiểm tra mà thời gian dành cho nó cũng khác nhau, trong khoảng 10- 15 phút, hoặc cả tiết học…
Đánh giá kết quả học tập môn Vật lí của HS cần phải: Dựa vào chuẩn kiến thức,
kĩ năng; yêu cầu cơ bản cần đạt về kiến thức, kĩ năng, thái độ của HS; Phối hợp giữa đánh giá thường xuyên và đánh giá định kì, giữa đánh giá của GV và tự đánh giá của HS;Giáo viên đánh giá sát đúng trình độ học sinh với thái độ khách quan, công minh
và hướng dẫn học sinh biết tự đánh giá năng lực của mình; Kết hợp giữa hình thức đánh giá bằng trắc nghiệm khách quan và tự luận nhằm phát huy những ưu điểm của mỗi hình thức đánh giá này; Có công cụ đánh giá thích hợp nhằm đánh giá toàn diện, công bằng, trung thực, có khả năng phân loại, giúp GV và HS điều chỉnh kịp thời việc dạy
và học
Thực hiện đúng quy định của quy chế đánh giá, xếp loại học sinh trung học phổ thông do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, tiến hành đủ số lần kiểm tra thường xuyên, kiểm tra định kì, kiểm tra học kì cả lí thuyết và thực hành.Cần kết hợp một cách hợp lí hình thức tự luận với hình thức trắc nghiệm khách quan trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh, chuẩn bị tốt cho việc đổi mới các kì thi theo chủ trương của
Bộ Giáo dục và Đào tạo
Trang 36Trong nội dung, hình thức và phương pháp kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển năng lực HS, chương trình môn Vật lí tạo điều kiện để chú trọng tập trung đánh giá các thành phần của năng lực vật lí Bên cạnh đánh giá kiến thức, coi trọng đánh giá khả năng đề xuất các phương án thí nghiệm và các kỹ năng thực hành vật lí Do hình thức trắc nghiệm khách quan không phù hợp cho đánh giá kỹ năng thực hành nên CT quan tâm hợp lý đến việc sử dụng cách đánh giá qua các sản phẩm thực hành của HS (ví dụ sản phẩm của các dự án học tập) cũng như các đánh giá mang tính tích hợp (ví
từ GV đến HS
- Công tác soạn bài, chuẩn bị lên lớp của giáo viên: Giáo viên phải soạn bài trước khi đến lớp; Bài soạn môn Vật lí phải xác định rõ ràng mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học với các năng lực (bao gồm năng lực chung và năng lực vật lí), phẩm chất cần hình thành và phát triển cho HS với mức độ cụ thể, đo được, có tính thực tiễn và khả thi; Mục tiêu dạy học của mỗi bài dạy phải góp phần phát triển năng lực Vật lí và các năng lực chung khác của HS theo quy định của CT giáo dục cấp học; Những mục tiêu này là cơ sở để lựa chọn phương pháp và hình thức tổ chức dạy học phù hợp và phải được chia sẻ với HS ngay từ đầu môn học, giờ học để định hướng việc dạy học
- Hoạt động dạy học trên lớp của giáo viên cần phải: Thực hiện tiến trình một giờ dạy Vật lí (ổn định, kiểm tra bài cũ, nghiên cứu bài mới, vận dụng, củng cố kiến thức, giao nhiệm vụ về nhà); Tổ chức các hoạt động phù hợp cho học sinh chiếm lĩnh kiến thức; Lựa chọn, sử dụng các phương pháp dạy học thích hợp, phù hợp với môn Vật lí và phù hợp với học sinh; Tiến hành đầy đủ các thí nghiệm biểu diễn trong giờ Vật lí; Tạo cơ hội cho học sinh được tiến hành các thí nghiệm trên lớp (kể cả thí nghiệm
Trang 37biểu diễn); Hướng dẫn, trợ giúp học sinh tiến hành các thí nghiệm thực hành (trong các giờ thực hành); Giao cho học sinh chủ động tự nghiên cứu các thí nghiệm thực hành,
tự tiến hành thí nghiệm, đo đạc các kết quả, xử lý số liệu, viết báo cáo (trong các giờ thực hành); Quan sát thái độ của học sinh trong khi thực hiện các nhiệm vụ học tập, trợ giúp học sinh hợp lý trong quá trình học sinh hoạt động; Củng cố, khắc sâu kiến thức môn học, mở rộng, liên hệ thực tiễn có tính giáo dục; Giao nhiệm vụ về nhà một cách
cụ thể, phù hợp với năng lực của học sinh; Hướng dẫn học sinh cách tự học, tự nghiên cứu môn Vật lí; Giao học sinh làm các thiết bị thí nghiệm, máy móc tự làm theo các nguyên tắc Vật lí được học; Tổ chức ngoại khóa Vật lí
- Sử dụng đa dạng, linh hoạt các hình thức kiểm tra, đánh giá để xác định được mức năng lực HS đạt được trong quá trình dạy học nhằm điều chỉnh kịp thời việc dạy, việc học để đạt mục tiêu dạy học
- Giáo viên cần thường xuyên cập nhật tri thức, bồi dưỡng năng lực để đáp ứng yêu cầu dạy học
1.4.2 Hoạt động học môn Vật lí của học sinh theo hướng tăng cường kĩ năng thực hành
1.4.2.1 Hoạt động học môn Vật lí trên lớp của học sinh
Để phát triển năng lực, phẩm chất trong quá trình học tập, HS phải thực sự là chủ thể của quá trình học, trong đó:
- Chủ động, tích cực, có hứng thú học tập, biết đặt mục tiêu học tập, xây dựng
kế hoạch, lựa chọn phương pháp học tập phù hợp với năng lực cá nhân, yêu cầu môn học và điều kiện thực tế
- Học sinh phải học bài, chuẩn bị bài trước khi đến lớp theo nhiệm vụ được GV giao và yêu cầu môn học; Đối với môn Vật lí, HS phải thường xuyên hệ thống hoá kiến thức, nắm vững kiến thức lớp trước để làm tiền đề cho lớp sau; làm nhiều bài tập, phân dạng bài tập để luyện tập, củng cố
- Phải tích cực suy nghĩ, chủ động tham gia vào các hoạt động học tập trên lớp được GV định hướng, dẫn dắt; Xây dựng thái độ, hành vi đúng
- Phải tích cực sử dụng thiết bị, đồ dùng học tập, làm thí nghiệm, thực hành vận dụng kiến thức đã học để phân tích, đánh giá, giải quyết các tình huống và các vấn đề đặt ra trong thực tiễn; Chủ động vận dụng kiến thức Vật lí vào thực tiễn để phát triển năng lực
Trang 38- Chủ động hỏi bạn, hỏi thầy khi gặp vấn đề khó để kịp thời giải quyết, mạnh dạn trình bày, nêu và bảo vệ quan điểm cá nhân về vấn đề học tập; Biết tự đánh giá và đánh giá các ý kiến, các sản phẩm học tập của mình và của bạn
- Nghiêm túc trong kiểm tra, thi
Để thực hiện được các nhiệm vụ đó, HS phải rèn luyện các kỹ năng cá nhân, năng lực phương pháp trong quá trình học tập, như: Năng lực nghiên cứu tài liệu học tập; kỹ năng nghe giảng, ghi chép, sử dụng vở nháp, ôn tập, phát hiện và giải quyết vấn
đề vật lí…
Kế thừa và phát triển những ưu điểm của CT, SGK giáo dục phổ thông hiện hành, phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của nền văn hóa Việt Nam và phù hợp với xu thế quốc tế, đồng thời đổi mới toàn diện mục tiêu, nội dung, phương pháp
và hình thức tổ chức giáo dục, thi, kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục theo yêu cầu phát triểnphẩm chất và năng lực HS; khắc phục tình trạng quá tải; tăng cường thực hành và gắn với thực tiễn cuộc sống Trong dạy học vật lí cần đảm bảo các yêu cầu sau:
(1) Yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực chung:
- Môn Vật lí góp phần thực hiện các yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực chung theo các mức độ phù hợp với môn học, cấp học đã được quy định trong CT tổng thể
- Thông qua chương trình môn Vật lí, HS hình thành và phát triển được thế giới quan khoa học; rèn luyện được sự tự tin, trung thực, khách quan; cảm nhận được vẻ đẹp của thiên nhiên; yêu thiên nhiên, tự hào về thiên nhiên của quê hương, đất nước; tôn trọng các quy luật của thiên nhiên, trân trọng, giữ gìn và bảo vệ thiên nhiên, ứng
xử với thiên nhiên phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững; đồng thời hình thành và phát triển được các năng lực tự chủ và tự học, giao tiếp và hợp tác, giải quyết các vấn
đề sáng tạo
(2) Yêu cầu cần đạt về năng lực đặc thù:
Môn Vật lí hình thành và phát triển ở HS năng lực vật lí, với những biểu hiện
cụ thể như sau:
* Năng lực nhận thức vật lí: Nhận thức được kiến thức phổ thông cốt lõi về: mô
hình hệ vật lí; chất, năng lượng và sóng; lực và trường; nhận biết được một số ngành, nghề liên quan đến vật lí; với các biểu hiện cụ thể sau đây:
Trang 39- Nhận biết, kể tên, phát biểu, nêu được các đối tượng, khái niệm, hiện tượng, quy luật, quá trình vật lí
- Trình bày được các hiện tượng, quá trình vật lí; đặc điểm, vai trò của các hiện tượng, quá trình vật lí bằng các hình thức biểu đạt như nói, viết, đo, tính vẽ, lập sơ đồ, biểu đồ
- Phân loại được các đối tượng, hiện tượng, quá trình vật lí theo các tiêu chí khác nhau
- Phân tích được các đặc điểm của một đối tượng, hiện tượng, quá trình vật lí theo một logic nhất định
- So sánh, lựa chọn được các đối tượng, hiện tượng, quá trình vật lí,… dựa theo các tiêu chí
- Lập được dàn ý, tìm được từ khoá; sử dụng được thuật ngữ khoa học khi đọc
và trình bày các văn bản khoa học; kết nối được thông tin theo logic có ý nghĩa
- Giải thích được mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng, quá trình (nguyên nhân - kết quả, cấu tạo - chức năng,…)
- Nhận ra điểm sai và chỉnh sửa được một vấn đề, lời giải thích; thảo luận đưa
ra được những nhận định phê phán có liên quan đến chủ đề
- Nhận ra được một số ngành nghề phù hợp với thiên hướng của bản thân
* Năng lực tìm hiểu thế giới tự nhiên dưới góc độ vật lí: Tìm hiểu được một số
hiện tượng, quá trình vật lí đơn giản, gần gũi trong đời sống và trong thế giới tự nhiên theo tiến trình; sử dụng được các chứng cứ khoa học để kiểm tra các dự đoán, lí giải các chứng cứ, rút ra các kết luận; với các biểu hiện cụ thể sau đây:
- Đề xuất vấn đề liên quan đến vật lí: Nhận ra và đặt được câu hỏi liên quan đến vấn đề; phân tích được bối cảnh để đề xuất được vấn đề nhờ kết nối tri thức và kinh nghiệm đã có và dùng ngôn ngữ của mình để biểu đạt vấn đề đã đề xuất
- Đưa ra phán đoán và xây dựng giả thuyết: Phân tích vấn đề để nêu được phán đoán; xây dựng và phát triển được giả thuyết cần tìm hiểu
- Lập kế hoạch thực hiện: Xây dựng được khung logic nội dung tìm hiểu; lựa chọn được phương pháp thích hợp (quan sát, thực nghiệm, điều tra, phỏng vấn, tra cứu
tư liệu,…); lập được kế hoạch triển khai tìm hiểu
- Thực hiện kế hoạch: Thu thập, lưu giữ được dữ liệu từ kết quả tổng quan, thực nghiệm, điều tra; đánh giá được kết quả dựa trên phân tích, xử lí các dữ liệu bằng các
Trang 40tham số thống kê đơn giản; so sánh được kết quả với giả thuyết; giải thích, rút ra được kết luận và điều chỉnh khi cần thiết
- Viết, trình bày báo cáo và thảo luận: Sử dụng ngôn ngữ, hình vẽ, sơ đồ, biểu bảng để biểu đạt được quá trình và kết quả tìm hiểu; viết được báo cáo sau quá trình tìm hiểu; hợp tác được với đối tác bằng thái độ lắng nghe tích cực và tôn trọng quan điểm, ý kiến đánh giá do người khác đưa ra để tiếp thu tích cực và giải trình, phản biện, bảo vệ được kết quả tìm hiểu một cách thuyết phục
- Ra quyết định và đề xuất ý kiến, giải pháp: Đưa ra được quyết định xử lí cho vấn đề đã tìm hiểu; đề xuất được ý kiến khuyến nghị vận dụng kết quả tìm hiểu, nghiên cứu, hoặc vấn đề nghiên cứu tiếp
* Năng lực vận dụng kiến thức, kỹ năng đã học: Vận dụng được kiến thức vật lí
để mô hình hoá các hệ vật lí đơn giản, bước đầu sử dụng toán học như một ngôn ngữ
và công cụ để giải quyết được vấn đề; với các biểu hiện cụ thể sau đây:
- Giải thích, chứng minh được một vấn đề thực tiễn
- Đánh giá, phản biện được ảnh hưởng của một vấn đề thực tiễn
- Đề xuất, thực hiện được một số phương pháp, biện pháp mới, thiết kế mô hình,
1.4.2.2 Hoạt động tự học môn Vật lícủa học sinh
Tự học là quá trình nỗ lực chiếm lĩnh tri thức của bản thân người học bằng hành động của chính mình, hướng tới những mục đích nhất định Tự học là một hình thức học có tính cá nhân do bản thân người học nỗ lực thực hiện Để tiến hành công việc này, người học phải tự giác, huy động các năng lực trí tuệ, phẩm chất, tâm lý trong quá trình chiếm lĩnh tri thức khoa học Do đó, dạy học phải kích thích được năng lực của người học
Đối với môn Vật lí, hoạt động tự học của học sinh được thể hiện ở việc: Chuẩn
bị bài trước khi đến lớp (học bài cũ, chuẩn bị bài mới); Tự học lý thuyết, tự làm các bài tập trong SGK; Tự làm các bài tập trong sách bài tập Vật lí; Tự làm các thí nghiệm Vật lí; Tổ chức nhóm học tập, tự nghiên cứu môn Vật lí; Sưu tầm các tài liệu học tập môn Vật lí; Tự học Vật lí qua internet; Tự làm các thiết bị thí nghiệm; Tự chế tạo các dụng
cụ, máy móc trên hoạt động theo nguyên tắc Vật lí