Các khoản thu nhập chịu thuế Thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân gồm các loại thu nhập sau đây, trừ thunhập được miễn thuế quy định tại Điều 4 của Luật này: 2.1 Thu nhập từ kinh doanh, b
Trang 1Theo đó, thuế TNCN được xây dựng trên nguyên tắc công bằng và khả năng nộpthuế Thuế thu nhập cá nhân không đánh vào những cá nhân có thu nhập thấp, vừa
đủ nuôi sống bản thân và gia đình ở mức cần thiết
Do đó việc nộp thuế thu nhập cá nhân cũng góp phần làm giảm hợp lý khoảng cáchchênh lệch giữa các tầng lớp dân cư
1.2 Đặc điểm thuế thu nhập cá nhân:
+ Thuế thu nhập cá nhân là một hình thức động viên mang tính bắt buộc trênnguyên tắc theo luật định Phân phối khoản thu nhập qua thuế thu nhập cá nhângắn với quyền lực, sức mạnh của Nhà nước
+ Thuế thu nhập cá nhân là khoản đóng góp không hoàn trả trực tiếp cho ngườinộp Nó vận động một chiều, không phải là khoản thù lao mà người nộp thuế phảitrả cho Nhà nước do được hưởng các dịch vụ Nhà nước cung cấp
+ Thuế thu nhập cá nhân luôn gắn với chính sách xã hội của mỗi quốc gia hầu hếtcác quốc gia đều gắn chính sách thuế thu nhập cá nhân với một số chính sách xãhội khác ( như phúc lợi công cộng, chăm sóc sức khỏe…)
+ Thuế thu nhập cá nhân là thuế trực thu Do vậy, người nộp thuế cũng là ngườichịu thuế
+ Thuế thu nhập cá nhân có diện thu thuế rất rộng, tất cả các cá nhân có thu nhậpbao gồm: công dân nước sở tại và người nước ngoài cư trú thường xuyên haykhông thường xuyên tại nước đó và hầu như tất cả số thu nhập có được của các cá
Trang 2nhân đều phải tính thuế không kể nguồn thu nhập phát sinh trong nước hay ngoàinước Chính vì vậy, khả năng tạo nguồn thu cho ngân sách của thuế thu nhập cánhân rất cao.
+ Việc đánh thuế thu nhập cá nhân thường áp dụng theo nguyên tắc thuế suất lũytiến từng phần Đặc điểm này xuất phát từ vai trò chủ yếu của thuế thu nhập cánhân là điều tiết mạnh người có thu nhập cao, góp phần thực hiện công bằng xãhội Do vậy, việc sử dụng thuế suất lũy tiến từng phần sẽ đáp ứng được nhu cầu đó
vì phần thu nhập tăng thêm càng cao thì sẽ phải tính thuế suất càng cao
+ Xét về góc độ kinh tế, thuế thu nhập cá nhân có tính trung lập cao hơn so với cácloại thuế khác vì việc tăng hay giảm thuế thu nhập cá nhân hầu như không kéo theonhững biến đổi về cơ cấu kinh tế[1]
2 Các khoản thu nhập chịu thuế
Thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân gồm các loại thu nhập sau đây, trừ thunhập được miễn thuế quy định tại Điều 4 của Luật này:
2.1 Thu nhập từ kinh doanh, bao gồm:
a) Thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ;
b) Thu nhập từ hoạt động hành nghề độc lập của cá nhân có giấy phép hoặcchứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật
2.2 Thu nhập từ tiền lương, tiền công, bao gồm:
a) Tiền lương, tiền công và các khoản có tính chất tiền lương, tiền công;b) Các khoản phụ cấp, trợ cấp, trừ các khoản phụ cấp, trợ cấp theo quy địnhcủa pháp luật về ưu đãi người có công, phụ cấp quốc phòng, an ninh, phụ cấp độchại, nguy hiểm đối với những ngành, nghề hoặc công việc ở nơi làm việc có yếu tốđộc hại, nguy hiểm, phụ cấp thu hút, phụ cấp khu vực theo quy định của pháp luật,
Trang 3trợ cấp khó khăn đột xuất, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, trợ cấp mộtlần khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi, trợ cấp do suy giảm khả năng lao động,trợ cấp hưu trí một lần, tiền tuất hàng tháng, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làmtheo quy định của Bộ luật lao động, các khoản trợ cấp khác do Bảo hiểm xã hội chitrả, trợ cấp giải quyết tệ nạn xã hội;
c) Tiền thù lao dưới các hình thức;
d) Tiền nhận được từ tham gia hiệp hội kinh doanh, hội đồng quản trị, bankiểm soát, hội đồng quản lý và các tổ chức;
đ) Các khoản lợi ích khác mà đối tượng nộp thuế nhận được bằng tiền hoặckhông bằng tiền;
e) Tiền thưởng, trừ các khoản tiền thưởng kèm theo các danh hiệu được Nhànước phong tặng, tiền thưởng kèm theo giải thưởng quốc gia, giải thưởng quốc tế,tiền thưởng về cải tiến kỹ thuật, sáng chế, phát minh được cơ quan nhà nước cóthẩm quyền công nhận, tiền thưởng về việc phát hiện, khai báo hành vi vi phạmpháp luật với cơ quan nhà nước có thẩm quyền
2.3 Thu nhập từ đầu tư vốn, bao gồm:
a) Tiền lãi cho vay;
b) Lợi tức cổ phần;
c) Thu nhập từ đầu tư vốn dưới các hình thức khác, trừ thu nhập từ lãi tráiphiếu Chính phủ
2.4 Thu nhập từ chuyển nhượng vốn, bao gồm:
a) Thu nhập từ chuyển nhượng phần vốn trong các tổ chức kinh tế;
b) Thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán;
c) Thu nhập từ chuyển nhượng vốn dưới các hình thức khác
Trang 42.5 Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản, bao gồm:
a) Thu nhập từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất;b) Thu nhập từ chuyển nhượng quyền sở hữu hoặc sử dụng nhà ở;
c) Thu nhập từ chuyển nhượng quyền thuê đất, thuê mặt nước;
d) Các khoản thu nhập khác nhận được từ chuyển nhượng bất động sản.2.6 Thu nhập từ trúng thưởng, bao gồm:
a) Trúng thưởng xổ số;
b) Trúng thưởng trong các hình thức khuyến mại;
c) Trúng thưởng trong các hình thức cá cược, casino;
d) Trúng thưởng trong các trò chơi, cuộc thi có thưởng và các hình thứctrúng thưởng khác
2.7 Thu nhập từ bản quyền, bao gồm:
a) Thu nhập từ chuyển giao, chuyển quyền sử dụng các đối tượng của quyền
sở hữu trí tuệ;
b) Thu nhập từ chuyển giao công nghệ
2.8 Thu nhập từ nhượng quyền thương mại
2.9 Thu nhập từ nhận thừa kế là chứng khoán, phần vốn trong các tổ chức kinh
tế, cơ sở kinh doanh, bất động sản và tài sản khác phải đăng ký sở hữu hoặc đăng
ký sử dụng
2.10 Thu nhập từ nhận quà tặng là chứng khoán, phần vốn trong các tổ chứckinh tế, cơ sở kinh doanh, bất động sản và tài sản khác phải đăng ký sở hữu hoặcđăng ký sử dụng
Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Điều này
Trang 52 Cơ sở lý thuyết về tuân thủ thuế
2.1 Khái niệm về tuân thủ thuế
Tuân thủ thuế là việc thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của pháp luậtthuế Tuân thủ thuế là hành vi bắt buộc đối với nhiều chủ thể khác nhau như cơquan quản lý thuế, NNT, các tổ chức, cá nhân khác có liên quan được quy địnhtrong các văn bản pháp luật về thuế Trong đó, sự tuân thủ thuế của NNT luôn làmột vấn đề được quan tâm nhiều nhất
Tuân thủ thuế của NNT thể hiện ở việc chấp hành đầy đủ, kịp thời và đúng đắn cácquy định của pháp luật thuế, cụ thể là việc chấp hành các tiêu chí thời gian, mức độchính xác trung thực và đầy đủ của các hoạt động đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế
và các nghĩa vụ khác về thuế của NNT Tuân thủ thuế của NNT là việc NNT chấphành đầy đủ nghĩa vụ về thuế theo đúng luật định, bao gồm các hoạt động đăng kýthuế, kê khai thuế, tính thuế và nộp thuế Bất kỳ sự vi phạm nào xuất hiện ở mộttrong các khâu trên đều dẫn đến sự không tuân thủ ở các mức độ khác nhau
Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là, như thế nào là “làm đúng theo luật định” nếunhư có cách hiểu, cách diễn đạt pháp luật thuế khác nhau giữa cơ quan quản lýthuế và NNT? Theo Hướng dẫn thực hành của tổ chức OECD về đo lường mức độtuân thủ (2001), có một câu hỏi đã được đặt ra: “Mức độ tuân thủ được định nghĩanhư thế nào – đó có phải là sự tuân thủ theo cách diễn giải luật thuế và cách ápdụng luật của CQT hay cách hiểu của NNT? Hay khái niệm này được định nghĩatheo một cách trung lập hơn?” CQT thường coi cách diễn đạt luật thuế của NNTkhác với cách diễn giải của họ là một bằng chứng của việc không tuân thủ, màkhông tính đến rằng thực tế luật thuế – như thường thấy ở các nước đang phát triển– có thể thiếu tính thống nhất và minh bạch, hoặc trong luật có những quy địnhchưa rõ ràng và có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau Mặc dù cách định nghĩa
Trang 6mức độ tuân thủ (hay không tuân thủ) vẫn còn được tranh cãi nhiều nhưng nhữngnguyên nhân của sự không tuân thủ và những lý do dẫn đến thất thoát nguồn thu lạitương đối rõ ràng về mặt lý thuyết.
Trốn thuế là biểu hiện quan trọng nhất của sự không tuân thủ Những biểuhiện hành vi này của NNT lại chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố có liên quan lẫnnhau, cả yếu tố thuộc về cơ quan thuế (tính hiệu quả của quản lý thuế, tính liêmchính và năng lực của công chức thuế…) lẫn yếu tố ngoài CQT (trách nhiệm giảitrình trong chi tiêu công, tham nhũng, quy mô của nền kinh tế phi chính thức…)
Tránh thuế cũng làm giảm nghĩa vụ thuế của NNT, nhưng tránh thuế khôngphải là hành vi vi phạm pháp luật thuế Do vậy, có thể nói, tránh thuế không thuộcphạm trù không tuân thủ thuế
Như vậy, về mặt lý thuyết, việc trốn thuế và tránh thuế là khác nhau nhưng cả haiđều dẫn tới thất thoát nguồn thu, khiến hệ thống thuế trở nên kém công bằng vàlàm bóp méo sự cạnh tranh lành mạnh của thị trường Những NNT bị coi là trốnthuế khi họ sử dụng những cách thức phi pháp để không phải nộp đầy đủ nghĩa vụthuế của mình Họ sẽ không kê khai, hoặc khai thiếu thu nhập, doanh thu hay tàisản của mình, trong khi lại khai quá lên những khoản chi phí được trừ hay nhữngkhoản được giảm trừ Còn trong việc tránh thuế, NNT thường lợi dụng những khe
hở của pháp luật thuế để tối thiểu hóa số thuế phải nộp
Trong thực tế có một số trường hợp rất khó phân định rạch ròi giữa hành vitrốn thuế và tránh thuế Đó chính là trường hợp quy định pháp luật thuế không rõràng có nhiều cách hiểu khác nhau Trong những trường hợp này nếu theo cáchhiểu của người nộp thuế là không vi phạm nhưng theo cách hiểu của cơ quan thuế
là vi phạm pháp luật
Việc không tuân thủ thuế gây thất thoát nguồn thu có tác hại nghiêm trọngđối với tăng trưởng và phát triển kinh tế Nó tạo thêm nhiều khó khăn cho nền tàichính của các quốc gia và thiếu hụt nguồn tài lực để các quốc gia đó có thể đạt
Trang 7được các mục tiêu phát triển Bên cạnh việc mất nguồn thu, hệ thống thuế có nguy
cơ trở nên bị bóp méo nhiều hơn nữa, làm gia tăng sự bất bình đẳng trong xã hội.Ngược lại, nếu mức độ tuân thủ của NNT cao, làm giảm thất thoát sẽ có tác độngtrực tiếp đến việc nâng cao hiệu quả quản lý thu của hệ thống thuế Nó cho phépmột quốc gia có thể thu được một số thuế nhất định mà không cần phải thườngxuyên thay đổi chính sách thuế Một chính sách thuế tương đối ổn định và toàndiện với mức thuế suất thấp sẽ góp phần tăng hiệu quả và hiệu suất trong hoạt độngcủa CQT
Tóm lại, có thể hiểu tuân thủ thuế của NNT là việc NNT chấp hành đầy đủ nghĩa
vụ về thuế theo đúng luật định, bao gồm các hoạt động đăng ký thuế, kê khai thuế,tính thuế, nộp thuế và tuân thủ các yêu cầu khác về quản lý thuế theo quy định củapháp luật
2.2 Các tiêu chí đánh giá
2.2.1 Các tiêu chí định tính
Tính tuân thủ thuế của NNT bao giờ cũng được biểu hiện ra ngoài Tuy vậy,
có những biểu hiện có thể định lượng và có những biểu hiện không thể định lượng.Trong trường hợp tính tuân thủ của NNT không thể định lượng được thì đó là cáctiêu chí định tính Cụ thể như sẽ được phân tích dưới đây
- Thứ nhất, mức độ quan tâm và am hiểu của NNT đối với các quy định của phápluật thuế, nhất là các quy định liên quan đến quyền và nghĩa vụ của NNT Mức độquan tâm và am hiểu thể hiện NNT đã có những ý thức xử sự nhất định đối với cácquy định của pháp luật thuế Họ phải tìm hiểu, nghiên cứu, áp dụng nhằm tuân thủđúng các quy định của pháp luật thuế Khi NNT không quan tâm đến các quy địnhcủa pháp luật thuế hoặc không am hiểu một cách tường tận các quy định này thìkhả năng xảy ra các hành vi không tuân thủ là rất lớn Tiêu chí này sẽ chịu sự ảnhhưởng của trình độ dân trí, mức độ phức tạp hay đơn giản của chính sách pháp luật
Trang 8thuế, nội dung và hình thức tuyên truyền, hỗ trợ NNT của CQT cũng như mức độ
xử phạt những hành vi gian lận, sai sót của NNT Mặc dù không thể lượng hóamức độ quan tâm của NNT đối với các quy định pháp luật thuế, song có thể đánhgiá xem NNT có quan tâm hay không và quan tâm nhiều hay ít thông qua việckhảo sát bằng bảng hỏi hoặc phỏng vấn trực tiếp NNT
- Thứ hai, sự tự nguyện hay miễn cưỡng trong tuân thủ thuế Tiêu chí này cho thấyNNT tuân thủ một cách miễn cưỡng hay tự nguyện pháp luật thuế Nếu NNT tựnguyện tuân thủ với tâm lý thoải mái trên cơ sở tự hào về nghĩa vụ thuế sẽ là tínhiệu tốt hơn là trường hợp NNT tuân thủ vì thấy rằng nếu không tuân thủ sẽ bị pháthiện và xử phạt Trong trường hợp NNT miễn cưỡng tuân thủ đúng quy định phápluật thuế thì nguy cơ vi phạm khi cho rằng có thể hành vi vi phạm không bị pháthiện sẽ tăng lên Mức độ tự nguyện hay miễn cưỡng trong tuân thủ thuế của NNTmặc dù khó lượng hóa, song có thể đánh giá ở một chừng mực nhất định thông quakhảo sát bằng bảng hỏi hoặc bằng sự quan sát trực tiếp hoặc thông qua phỏng vấnNNT
2.2.2 Các chỉ tiêu định lượng
Có nhiều cách xem xét mức độ tuân thủ thuế của NNT (như tuân thủ hànhchính và tuân thủ kỹ thuật; hay tuân thủ theo các nghĩa vụ của NNT: trong đăng kýthuế, trong kê khai thuế, trong nộp thuế và trong thực hiện các quy định khác củapháp luật thuế) Những yếu tố trên có thể định lượng được bằng con số cụ thể,chẳng hạn như có bao nhiêu NNT không đăng ký thuế, có bao nhiêu NNT bị pháthiện có gian lận qua thanh tra, kiểm tra thuế… Đây chính là các chỉ tiêu định lượng
đo lường mức độ tuân thủ thuế của NNT
- Chỉ tiêu đánh giá tổng quát về mức độ tuân thủ thuế
Trang 9Trong quá trình thực thi và chấp hành các quy định của pháp luật thuế, để đánhgiá một cách chung nhất thực trạng tuân thủ thuế của NNT, các tiêu chí chủ yếuđược xem xét là số thuế thu được có đầy đủ, chính xác, kịp thời hay không? Cótình trạng NNT không tuân thủ hay không (trên tất cả các phương diện về nghĩa vụthuế)? Do đó, trên phương diện tổng quát và khả thi trong đo lường, chỉ tiêu phảnánh tổng quát mức độ tuân thủ của NNT là:
Chỉ tiêu 1: Tỷ lệ giữa số NNT có hành vi vi phạm pháp luật thuế với tổng sốNNT đang quản lý hoặc được kiểm tra Hành vi vi phạm pháp luật thuế sử dụng để
đo lường chỉ tiêu này là tất cả các loại hành vi vi phạm về thuế, từ vi phạm thủ tụcđến vi phạm về kê khai, tính thuế, nộp thuế… Chỉ tiêu này được xác định cho mộtthời kỳ nhất định (tháng, quý, năm) tùy theo mục đích nghiên cứu Tỷ lệ này càngcao thì mức độ tuân thủ thuế càng thấp và ngược lại Tuy nhiên, chỉ tiêu này mộtmặt phản ánh mức độ tuân thủ của NNT, song mặt khác, chỉ tiêu này cũng phảnánh tính hiệu quả trong công tác thanh tra, kiểm tra nhằm phát hiện các hành vikhông tuân thủ của CQT
- Nhóm chỉ tiêu đánh giá mức độ tuân thủ thuế theo từng khía cạnh cụ thể
Thứ nhất, các chỉ tiêu về tuân thủ trong việc đăng ký thuế Mức độ tuân thủ thuếcủa NNT trong đăng ký thuế thể hiện ở việc NNT thực hiện kê khai đăng ký thuếđúng mẫu biểu, chính xác các chỉ tiêu, nộp hồ sơ đăng ký thuế cho cơ quan quản lýđúng thời hạn, đúng địa điểm Do đó, chỉ tiêu định lượng để đánh giá tính tuân thủtrong hoạt động này có thể dựa trên tỷ lệ hoặc số lượng NNT chấp hành đầy đủ cácyêu cầu nêu trên Tuy nhiên, trong thực tế, các tiêu chí thường được sử dụng là tỷlệ/số lượng NNT có hành vi không tuân thủ Cụ thể như sau:
Chỉ tiêu 2: Tỷ lệ NNT vi phạm về thời gian đăng ký thuế so với tổng số đốitượng phải đăng ký thuế Tỷ lệ này được đo bằng tỷ lệ % giữa số NNT vi phạm vềthời gian đăng ký thuế (bao gồm cả số lượng NNT không đăng ký thuế, chưa đăng
ký thuế hay đăng ký thuế muộn so với quy định) so với tổng số đối tượng phải
Trang 10đăng ký thuế Chỉ tiêu này cao chứng tỏ mức độ tuân thủ trong việc đăng ký thuếchưa tốt
Chỉ tiêu 3: Tỷ lệ NNT khai đăng ký thuế có sai sót, nhầm lẫn so với tổng sốNNT đã thực hiện đăng ký thuế Việc khai hồ sơ khai thuế thông thường được quyđịnh theo các mẫu biểu và các chỉ tiêu có sẵn Các chỉ tiêu đó là những thông tinquan trọng của NNT mà CQT phải nắm bắt để phục vụ cho công tác quản lý thuếcủa mình Nếu NNT kê khai không đúng, không chính xác theo mẫu biểu, theo chỉtiêu sẽ gây khó khăn cho công tác quản lý thuế của CQT, do đó, việc kê khaikhông chính xác này cũng là một chỉ tiêu xem xét tính tuân thủ của NNT Chỉ tiêunày càng thấp càng chứng tỏ mức độ tuân thủ thuế tốt và ngược lại
Thứ hai, các chỉ tiêu về tuân thủ trong kê khai và tính thuế, gồm tuân thủ về nộp tờkhai (hồ sơ, mẫu biểu, thời gian) và tuân thủ trong kê khai thuế (chính xác, đầyđủ) Thuộc nhóm này gồm có các chỉ tiêu sau:
Chỉ tiêu 4: Tỷ lệ giữa số tờ khai được nộp so với tổng số tờ khai phải nộp.Các tờ khai được nộp bao gồm cả tờ khai nộp đúng hạn và tờ khai chậm nộp Nếuchỉ tiêu này cao chứng tỏ mức độ tuân thủ thuế tốt hơn
Chỉ tiêu 5: Tỷ lệ giữa số tờ khai nộp đúng hạn trên tổng số tờ khai đã đượcnộp Nếu chỉ tiêu này cao chứng tỏ mức độ tuân thủ thuế tốt hơn
Chỉ tiêu 6: Tỷ lệ số tờ khai có sai sót trên tổng số tờ khai thuế đã nộp Chỉtiêu này phản ánh sự tuân thủ về hình thức mẫu biểu kê khai của NNT Chỉ tiêunày càng thấp càng tốt
Chỉ tiêu 7: Tỷ lệ số NNT kê khai sai thuế được phát hiện so với tổng sốNNT được thanh tra, kiểm tra Chỉ tiêu này một mặt phản ánh tính hiệu quả củahoạt động thanh tra, kiểm tra của CQT Mặt khác, chỉ tiêu này cũng phản ánh mức
độ tuân thủ trong kê khai xác định số thuế phải nộp của NNT Giả định tính hiệuquả của hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế không đổi thì chỉ tiêu này càng thấpcàng chứng tỏ NNT tuân thủ tốt
Trang 11Chỉ tiêu 8: Tỷ lệ số NNT bị phát hiện trốn thuế so với tổng số NNT đượcthanh tra, kiểm tra Tương tự như chỉ tiêu 7, chỉ tiêu này một mặt phản ánh tínhhiệu quả của hoạt động thanh tra, kiểm tra của CQT Mặt khác, chỉ tiêu này cũngphản ánh mức độ tuân thủ trong tính toán nghĩa vụ thuế phải nộp của NNT Sựkhác biệt của chỉ tiêu 7 so với chỉ tiêu 8 là tính chất của hành vi khác nhau Với chỉtiêu 7, NNT vẫn phản ánh trên sổ sách kế toán nhưng kê khai sai căn cứ tính thuế.Với chỉ tiêu 8, NNT cố tình gian lận thuế Giả định tính hiệu quả của hoạt độngthanh tra, kiểm tra thuế không đổi thì chỉ tiêu này càng thấp càng chứng tỏ NNTtuân thủ tốt
Các chỉ tiêu trong nhóm phản ánh tính tuân thủ về kê khai, tính thuế này (từ chỉtiêu 4 đến chỉ tiêu 8) có thể tính toán cho từng sắc thuế hoặc cho tất cả các sắcthuế Tùy theo mục đích và điều kiện nghiên cứu mà người nghiên cứu sử dụngnhóm chỉ tiêu này để nghiên cứu cho một sắc thuế hoặc nhiều sắc thuế
Thứ ba, các chỉ tiêu về tuân thủ trong nộp thuế Nói đến mức độ tuân thủ trong nộpthuế là nói đến việc nộp thuế đúng hạn, nộp đủ số thuế phải nộp
Chỉ tiêu 9: Tỷ lệ số NNT đúng hạn trên tổng số NNT có số thuế phải nộptrong kỳ tính thuế Chỉ tiêu này cho biết tỷ lệ NNT tuân thủ tự giác trong việc đảmbảo thời hạn nộp thuế theo quy định của pháp luật Nếu chỉ tiêu này cao chứng tỏmức độ tuân thủ thuế tốt hơn
Chỉ tiêu 10: Tỷ lệ giữa số thuế được nộp đúng hạn trên tổng số thuế phải nộptheo nghĩa vụ thuế của NNT Chỉ tiêu này cho biết tỷ lệ số thuế đã được NNT đảmbảo thời hạn thực hiện nghĩa vụ nộp thuế Nếu chỉ tiêu này cao chứng tỏ mức độtuân thủ thuế tốt hơn
Chỉ tiêu 11: Tỷ lệ giữa số thuế nợ so với tổng số thuế phải nộp hoặc so vớitổng số thuế ghi thu trong kỳ tính thuế Nếu chỉ tiêu này thấp chứng tỏ mức độ tuânthủ thuế tốt hơn
Trang 12Tương tự như các chỉ tiêu thuộc nhóm tuân thủ về kê khai, tính thuế, các chỉ tiêuthuộc nhóm tuân thủ nộp thuế (các chỉ tiêu 9, 10, 11) có thể được tính toán áp dụngcho tất cả các sắc thuế hoặc từng sắc thuế Tùy theo từng mục đích nghiên cứu vàđối tượng nghiên cứu mà áp dụng cho tất cả NNT hoặc cho từng người NNT đểđánh giá mức độ tuân thủ trong nộp thuế nói chung hoặc từng sắc thuế, từng NNTnói riêng
Thứ tư, các chỉ tiêu về tuân thủ trong chấp hành các quy định khác về thuế Bêncạnh các nghĩa vụ chính về thuế như đăng ký, kê khai thuế và nộp thuế nêu trên,trong quá trình tuân thủ thuế, NNT còn phải thực hiện các nội dung công việc theocác quyết định của cơ quan quản lý thuế Các quyết định hành chính của cơ quanquản lý thuế đối với NNT có thể kể đến như quyết định ấn định thuế; quyết định vềtiến hành thanh tra, kiểm tra thuế; quyết định xử lý kết quả thanh tra, kiểm tra thuế;quyết định cưỡng chế thuế; quyết định xử phạt về thuế… Ngoài ra, CQT có thể cónhững yêu cầu đối với NNT trong quá trình quản lý thuế như yêu cầu cung cấp hồ
sơ, thông tin liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế; yêu cầu thực hiện áp dụngcông nghệ thông tin trong quản lý thuế (khai thuế điện tử, nộp thuế điện tử…); yêucầu về sử dụng hóa đơn, chứng từ, sổ sách kế toán… Do đó, các chỉ tiêu địnhlượng đánh giá mức độ tuân thủ thuế của NNT cũng có thể được xác định trên cơ
sở mức độ hay tỷ lệ tuân thủ của NNT đối với các quyết định, các yêu cầu nói trêncủa CQT Tuy nhiên, các chỉ tiêu này có thể được xem là hệ quả của các chỉ tiêuchính nêu trên Vì vậy, chỉ cần quan tâm, xác định được các chỉ tiêu chính nêu trên
là có thể đánh giá được đầy đủ mức độ tuân thủ thuế của NNT
II:Thực trạng các nhân tố ảnh hưởng đến tuân thủ thuế của người nộp thuế
ở Việt Nam giai đoạn 2011-2019
1 Theo chủ quan ( Người nộp thuế)
Trang 13- Trình độ dân trí, hiểu biết pháp luật của người dân trong thời gian qua cũng đã có
sự tăng lên nên việc tuân thủ pháp luật và tuân thủ thuế tốt hơn
- Bên cạnh đó thời gian qua mặc dù không ít khó khăn nhưng nền kinh tế Việt Nam
đã có những bước tiến nhất định, thu nhập của người dân cũng có sự gia tăng.Cùng với đó đời sống vật chất, tinh thần được cải thiện, tạo điều kiện thuận lợi hơntrong việc tiếp nhận các dịch vụ kinh tế, xã hội, giáo dục từ đó mà tình hình tuânthủ thuế của người nộp thuế cũng tăng lên
- Tuy nhiên xét trên một cách tổng thể, NNT ở Việt Nam vẫn chưa thực sự hiểu mộtcách đầy đủ, sâu sắc về trách nhiệm nghĩa vụ đối với NSNN và đặc biệt là quyềnthụ hưởng lợi ích từ tiền thuế do mình đóng góp, nên ý thức tuân thủ thuế của họchưa cao, Số lượng người nộp thuế tự triển khai các luật thuế theo đúng quy địnhchiếm tỷ lệ không cao, nên phần lớn người nộp thuế sẽ gặp khó khan trong khaithuế, nộp thuế nếu không có sự hỗ trợ và hướng dẫn cụ thể của cơ quan thuế và cán
lý thuế vào trong một luật để đảm bảo tính pháp lý và tính thống nhất của các quyđịnh về công tác quản lý thuế ở Việt Nam
Trang 14- Luật quản lý thuế còn được tiếp tục hoàn thiện thông qua quá trình sửa đổi, bổsung theo các luật số 21/2012/QH13 ngày 20/11/2012, Luật số 71/2014/QH13ngày 26/11/2014, luật số 106/2016/QH13 ngày 06/04/2016.
- Qua 10 năm triển khai thực hiện Luật và các văn bản hướng dẫn thi hành, Luậtquản lý thuế cơ bản đã đạt được mục tiêu đề ra Trong đó nổi bật là những nộidung sau:
+ Cải cách thủ tục hành chính thuế, thống nhất các quy định về thủ tục và quản lýthuế từ các luật thuế khác nhau, tạo ra một hệ thống pháp luật về quản lý thuế đồng
bộ, công khai đối với NNT, tạo điều kiện thuận lợi cho NNT khi thực hiện tuân thủnghĩa vụ thuế
+ Nâng cao tính chủ động và tự chịu trách nhiệm của NNT thông qua nguyên tắc
tự tính, tự khai, tự nộp thuế
+ Tạo hành lang pháp lý, quy định xử lý vi phạm pháp luật về thuế nhất quán, bướcđầu đã tạo điều kiện công bằng cho NNT Từ đó thúc đẩy nâng cao tính tuân thủthuế của NNT
Bên cạnh những kết quả đạt được hành lang pháp lý còn những hạn chế nhất địnhảnh hưởng không tốt đến hành vi tuân thủ của NNT
Luật thuế TNCN được ban hành nhằm thể chế hóa chủ trương, đường lối chínhsách của Đảng và nhà nước về lĩnh vực tài chính theo Nghị quyết đại hội Đảng IX
và X Đồng thời việc ban hành luật thuế này nhằm tăng cường công tác kiểm soát,phân phối thu nhập và điều tiết vĩ mô kinh tế- xã hội và hoàn thiện hệ thống chínhsách thuế, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội và hội nhập kinh tế quốc tếtrong thời gian tới của Việt Nam
Luật thuế TNCN là luật thuế có tác động trực tiếp đến đời sống của các tầng lớpdân cư Việc ra đời và hoàn thiện dần của luật thuế này đã có các tác động quantrọng trong đảm bảo nguồn thu NSNN, điều tiết thu nhập, đảm bảo công bằng xãhội
Trang 152.2 Phương pháp thu thuế
Luật thuế TNCN tiếp tục áp dụng phương pháp thu khấu trừ tại nguồn thông quacác đơn vị chi trả thu nhập và không được hưởng thù lao, đây là công cụ thu thuếhiệu quả của thuế TNCN Theo quy định của luật quản lý thuế thì việc khấu trừthuế thuộc trách nhiệm của các đơn vị chi trả thu nhập, nếu có phát sinh các khoảnthu nhập phải khấu trừ thuế mà tổ chức chi trả không khấu trừ thuế khi cơ quanthuế phát hiện thì sẽ truy thu thuế các tổ chức chi trả
2.3 Công tác quản lý thu thuế
Cục thuế đã tổ chức quản lý thu thuế chặt chẽ và hiệu quả hơn như tổ chức triểnkhai chính sách thuế cho người nộp thuế hiểu để thực hiện kê khai nộp thuế đầy đủvào ngân sách nhà nước, thực hiện cấp mã số thuế để quản lý đối tượng nộp thuếđược tốt hơn Đồng thời hiện đại hóa trong công tác quản lý thu thuế đã giúp choCục thuế xây dựng cơ sở dữ liệu người nộp thuế để tạo thuận lợi trong công táchành thu
Như vậy sau khí áp dụng thuế TNCN từ tiền lương tiền công đã tăng thu ngân sáchhợp lí Mục tiêu quan trọng nhất của cải cách thuế là tăng thu cho ngân sách nhànước nhưng mức tăng thu phải hợp lí để người dân quen dần với việc đóng thuếthu nhập, tạo tâm lý bình thường trong xã hội, từng bước xây dựng cơ sở dữ liệu đểquản lý người nộp thuế từ đó hoàn thiện chính sách thuế Nếu luật thuế thu caongay từ đầu để tăng thu ngân sách sẽ tạo tâm lý không tốt trong nhân dân và ngườidân sẽ tím cách trốn thuế do đó sẽ gây khó khăn cho việc quản lý thu thuế sau này
III: Những yếu tố tác động tới sự tự nguyện nộp thuế TNCN