1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ảnh hưởng về việc sử dụng từ ngữ, ca dao, tục ngữ và vận dụng thể loại lục bát trong truyện kiều (nguyễn du)

54 346 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 316,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bởi lẽ có ý kiến cho rằng “Truyện Kiều” là một tập đại thành về cuộc sống Việt Nam” “Phong cách học và đặc điểm tu từTiếng Việt”_ Cù Đình Tú_ NXB ĐHTHCN_H_1983, tr232, có nghĩa là nó chứ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN

KHOA: NGỮ VĂN CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM

TIỂU LUẬN HỌC PHẦN MỐI QUAN HỆ GIỮA VHDG VÀ VHTĐ:

ẢNH HƯỞNG VỀ VIỆC SỬ DỤNG TỪ NGỮ, CA DAO, TỤC NGỮ VÀ VẬN DỤNG THỂ LOẠI LỤC BÁT TRONG TRUYỆN KIỀU (NGUYỄN DU)

Người thực hiện: NHÓM 6

TP Hồ Chí Minh tháng 04 năm 2019

Trang 2

Mục lục

A ĐẶT VẤN ĐỀ 3

B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 4

I NGUYÊN NHÂN NGUYỄN DU CHỊU ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HỌC DÂN GIAN 4

II ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HỌC DÂN GIAN TRONG TRUYỆN KIỀU 5

1. Vận dụng thể loại lục bát trong Truyện Kiều 5

2. Cách sử dụng từ ngữ, thành ngữ của Nguyễn Du trong Truyện Kiều 9

3 Cách vận dụng ca dao trong Truyện Kiều 29

4. Cách vận dụng tục ngữ trong Truyện Kiều 34

III SỰ TÁC ĐỘNG TRỞ LẠI CỦA TRUYỆN KIỀU VÀO ĐỜI SỐNG VĂN HỌC DÂN GIAN 48 1 Nhân vật Truyện Kiều trong ca dao 48

2 Ảnh hưởng cúa Truyện Kiều vào kho tàng tục ngữ Việt Nam 50

C KẾT THÚC VẤN ĐỀ 52

DANH MỤC THAM KHẢO 53

Trang 3

ẢNH HƯỞNG VỀ VIỆC SỬ DỤNG TỪ NGỮ, CA DAO, TỤC NGỮ VÀ VẬN DỤNG THỂ LOẠI LỤC BÁT TRONG TRUYỆN KIỀU (NGUYỄN DU)

A ĐẶT VẤN ĐỀ

“ Truyện Kiều” của Nguyễn Du được xem là một kiệt tác của văn học dântộc Từ khi ra đời cho đến nay, tác phẩm này đã là đối tượng nghiên cứu của cácnhà chuyên môn ở nhiều khía cạnh khác nhau như nội dung, tư tưởng, ngôn ngữ,

…Đặc biệt ở vấn đề ngôn ngữ, Nguyễn Du, qua tác phẩm này, đã được đánh giá làbậc thầy về ngôn ngữ Việc phát huy, đẩy mạnh và làm phong phú hóa ngôn ngữtrong tác phẩm là đóng góp lớn của Nguyễn Du cho sự tồn tại và phát triển củangôn ngữ dân tộc

Ngôn ngữ trong “Truyện Kiều” được chia ra làm hai bộ phận lớn: bộ phận

từ ngữ thuần Việt và bộ phận từ ngữ Hán Việt Mỗi bộ phận đó đều có những nétnổi bật riêng để góp phần tạo nên thành công của tác phẩm Nhưng đặc biệt hơn cả

là phải kể đến bộ phận từ ngữ thuần Việt Bởi lẽ có ý kiến cho rằng “Truyện Kiều”

là một tập đại thành về cuộc sống Việt Nam” (“Phong cách học và đặc điểm tu từTiếng Việt”_ Cù Đình Tú_ NXB ĐHTHCN_H_1983, tr232), có nghĩa là nó chứađựng những tinh hoa của tâm hồn dân tộc Việt Nam, trong đó dĩ nhiên còn có cảnhững tinh hoa của ngôn ngữ dân tộc, bởi lẽ Nguyễn Du “đã biết tìm đến nhữngcội nguồn dân tộc trên phương diện hình thức để diễn đạt nội dung cuộc sống vàtâm hồn dân tộc” (“Truyện Kiều và thể loại truyện Nôm”_ Đặng ThanhLê_KHXH_H_1979) Và trong kho tàng ngôn ngữ dân tộc đó không thể không kểđến bộ phận từ ngữ, thành ngữ, tục ngữ, ca dao, dân ca của dân tộc Việc vận dụngthành tựu này của VHDG vào trong Truyện Kiều không phải là một vấn đề mới lạnhưng vẫn còn nhiều khía cạnh cần được khai thác thêm, nhất là ở qui mô mộtđoạn trích có vị trí quan trọng trong tác phẩm như đoạn trích mà người viết chọn

để nghiên cứu

Hơn nữa, đề tài này thể hiện được sự giao thoa, ảnh hưởng lẫn nhau củahai thời kì văn học tiếp nối: VHDG và VHTĐ Như Đặng Thanh Lê từng nói trong

“Từ một kiệt tác suy nghĩ về mối quan hệ giữa VHDG và văn học viết” : Nguyễn

Du đã hết sức thành công khi vận dụng tài tình các thành tựu của VHDG vào tác

Trang 4

phẩm của mình, đặc biệt là mảng thành ngữ, tục ngữ, ca dao và điêu luyện về từngữ Sự vận dụng này của Nguyễn Du không chỉ mang ý nghĩa kế thừa mà cònmang ý nghĩa sáng tạo và phát triển vốn thành ngữ dân gian của dân tộc.

sa vun trồng tài năng và nhân cách của nhà thơ, nhà văn Mặc khác nhà văn, nhàthơ phải biết đời sống xã hội của thời đại, phải gắn bó sâu sắc với quê hương giađình, phải sâu sắc cảm thấy nỗi đau đớn của con người trong thời đại, phải sống vàthấu hiểu nhân tình thế thái, hiểu những thăng trầm của lịch sử, những cuộc bể dâu

để mà có thể trải lòng trên những trang văn, thơ Và đại thi hào Nguyễn Du cũngchịu ảnh hưởng sâu sắc từ thời đại, quê hương gia đình tới cuộc đời và những sángtác của ông

Cha là ông là Nguyễn Nghiễm, sinh ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, HàTĩnh, tên tự Hy Di, hiệu Nghi Hiên, có biệt hiệu là Hồng Ngự cư sĩ đậu Nhị giáptiến sĩ, làm quan đến chức Đại tư đồ (Tể tướng), tức Thượng thư bộ hộ triều Lê

Mẹ là bà Trần Thị Tần (1740 – 1778), con gái một người làm chức Câu kế, quêlàng Hoa Thiều, xã Minh Đạo, huyện Tiên Du (Đông Ngàn), xứ Kinh Bắc, naythuộc tỉnh Bắc Ninh Bà Tần là vợ thứ ba của Nguyễn Nghiễm, bà có tài hátxướng Năm Đinh Hợi (1767), khi Nguyễn Du mới một tuổi, Nguyễn Nghiễmđược thăng Thái tử Thái bảo, Hàm tòng nhất phẩm, tức Xuân Quận công nênNguyễn Du thời đó sống trong giàu sang phú quý Gia đình Nguyễn Du có bề dày

về lịch sử truyển thống văn học nghệ thuật đó là một ảnh hưởng không nhỏ đếnnhững âm điệu trong sáng tác của ông

Do mồ côi cha mẹ sớm nên ông phải đến ở cùng người anh khác mẹ làNguyễn Khản Nguyễn Khản nổi tiếng phong lưu một thời, rất mê hát xứng, chínhnhững điều đó đã ảnh hưởng và để lại dấu ấn trong sáng văn học của ông, và cóthể do đó mà hình ảnh người ca nhi, kĩ nữ luôn được phát họa đậm nét trong cáctác phẩm của ông Không những thế những người cháu của Nguyễn Du cũng đều

là nhà thơ, nhà văn nổi tiếng Nguyễn Du may mắn được tiếp nhận truyền thốngvăn hóa của nhiều vùng quê khác nhau Đó là tiền đề thuận lợi cho sự tổng hợpnghệ thuật của ông Từ những điều trên cho thấy các sáng tác của Nguyễn Du đềuchịu sự ảnh hưởng sâu sắc từ gia đình và truyền thống văn chương Những tácphẩm ấy thể hiện sự phản ánh của mình về thời cuộc và những hiện thực cuộc

Trang 5

sống Qua đó ta cảm một tấm lòng thiết tha yêu đời, một tấm lòng nhân đạo sâusắc.

Chính những yếu tố gia đình và quê hương đã ảnh hưởng sâu sắc đến tínhcách con người và quá trình sáng tác của Nguyễn Du

II ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HỌC DÂN GIAN TRONG TRUYỆN KIỀU

1 Vận dụng thể loại lục bát trong Truyện Kiều

1.1 Khái quát về thể thơ lục bát

Thơ lục bát có nguồn gốc lâu đời, là một thể thơ dân tộc ta, thơ lục bát baogồm có thể từ hai câu trở lên Trong đó thì cứ hai câu ghép lại thành một cặp câu.Các cặp câu gồm có một câu 6 tiếng (câu lục) và một câu 8 tiếng (câu bát), và xen

kẽ cứ câu lục là câu bát rồi đến cặp câu khác Thơ lục bát tuân thủ luật về thanh vàvần rất nghiêm ngặt, vì vậy tìm hiểu thơ lục bát là tìm hiểu về luật và vần của nó.Luật về thanh giúp cho câu thơ trở nên hài hoà Các vần chính là hình thức kếtdính các câu thơ lại với nhau

Thơ lục bát là một thể thơ đặc sắc của dân tộc ta, Thơ lục bát có mặt tronghầu hết các làn điệu dân ca, ca dao, với sức sống lâu bền và phát triển liêntục Chắc chắn, thể thơ Lục Bát có trước chữ Quốc ngữ, nhờ nó mà hàng vạnnhững câu dân ca, ca dao, tục ngữ của ông bà ta xưa đã được con cháu truyềnmiệng từ đời này sang đời khác, tồn tại cho tới hôm nay và mai sau

1.2 Vận dụng thể thơ lục bát trong Truyện Kiều

Lục bát là thể thơ truyền thống của dân tộc, xuất phát từ nhân dân nên rất gần gũi với đời sống sinh hoạt của nhân dân và mang đậm bản sắc dân tộc Lục bátđược hình thành và phát triển trong ca dao, dân ca, được thi hào Nguyễn Du nâng tới đỉnh cao qua "Truyện Kiều" Truyện Kiều của Nguyễn Du chính là một đỉnh

cao rực rỡ của loại Truyện thơ nôm, đồng thời cũng là một đỉnh cao rực rỡ của văn

học Việt Nam 3254 câu Kiều đã vận dụng rất thuần thục thể thơ lục bát của dân tộc Thể thơ Lục bát đến truyện Kiều cũng được quy chuẩn và hoàn thiện hơn So với Lục bát dân gian thì lục bát truyện Kiều không còn các dạng biến thể nữa Có thể xem Lục bát truyện Kiều là một thứ Lục bát thuần khiết Với 3254 câu Lục bát,Nguyễn Du đã huy động hầu hết các bộ vần trong tiếng Việt vào tác phẩm Theo thống kê của Phạm Đan Quế thì trong truyện Kiều đã có những bộ vần như sau:

Trang 6

1-Vần a, oa: 155 cặp - 310 câu

2-Vần ai, oi, oai, ôi, ơi, ui, uôi, ươi: 266 cặp - 532 câu

3-Vần am, ôm, ơm, ươm: 6 cặp - 12 câu

4-Vần ăm, âm: 20 cặp - 40 câu

5-Vần an, oan, ơn: 50 cặp - 100 câu

6-Vần ă, ân, uân: 84 cặp - 168 câu

7-Vần ang, oang, uông, ương: 140 cặp - 280 câu

8-Vần ăng, âng, ưng: 25 cặp - 50 câu

9-Vần anh, ênh, inh, oanh, uynh: 116 cặp - 232 câu

10-Vần ao, eo, êu, iêu, iu, yêu: 111 cặp - 222 câu

11-Vần au, âu: 87 cặp - 174 câu

12-Vần ay, ây, oay, uây: 133 cặp - 266 câu

13-Vần e, ê, i, ia, oe, uê, uy, uya, y: 121 cặp - 242 câu

14-Vần em, êm, iêm, im: 9 cặp - 18 câu

15-Vần en, ên, iên, in, uyên, yên: 73 cặp - 146 câu

16-Vần iêng: 1 cặp - 2 câu

17-Vần o, ô, u, ua: 20 cặp- 40 câu

18-Vần on, ôn, uôn: 19 căp - 38 câu

19-Vần ong, ông, ung: 120 cặp - 240 câu

20-Vần ơ, ư, ưa: 71 cặp - 142 câu

Giống như Lục bát dân gian, mỗi cặp Lục bát truyện Kiều cũng gồm có ba chữ mang vần, nhưng ở Lục bát Truyện Kiều các chữ mang vần này có vị trí cố

định: câu lụccó một chữ đó là chữ thứ sáu, câu bát có hai chữ đó là chữ thứ sáu và

chữ thứ tám Theo đó, chữ thứ sáu của câu lục vần với chữ thứ sáu của câu bát, và chữ thứ tám của câu bát vần với chữ thứ sáu của câu lục tiếp theo, như mô hình sau:

Trang 7

Đầu lòng hai ả tố nga,

Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân.

Mai cốt cách, tuyết tinh thần

Mỗi người một vẻ mười phân vạn mười.

Hay :

Đề huề lưng túi gió trăng

Sau lưng theo một vài thằng con con.

Tuyết in sắc ngựa câu giòn

Cỏ pha màu áo nhuộm non da trời.

Ngoài việc sử dụng cách gieo vần chặt chẽ của lục bát dân gian, Truyện Kiều còn mang đến cho người đọc sự đổi mới đầy sáng tạo Câu thơ lục bát giờ đây ngoài cách gieo vần bằng và cách ngắt nhịp chẵn 2/2/2; 4/4, 2/2/2/2 còn có cách ngắt nhịp lẻ: câu thơ với nhịp: 3/3, 1/5, 2/1/3; 3/5, 2/1/3/2, 3/3/2, 5/3, v.v… linh hoạt

và sinh động hơn cùng với cách gieo vần đa dạng, có thể thay tuy nhiên vẫn giữ được cái hay, cái đẹp, cái độc đáo, mượt mà thắm thiết riêng có của thể thơ lục bát:

Làn thu thủy/ nét xuân sơn,

Hoa ghen thua thắm/ liễu hờn kém xanh.

Rằng / năm Gia Tĩnh / triều Minh

Bốn phương phẳng lặng / hai kinh vững vàng.

Êm đềm / trướng rủ / màn che

Tường đông / ong bướm đi về / mặc ai.

Dập dìu / tài tử / giai nhân

Ngựa xe như nước / áo quần như nêm.

Sè sè nấm đất / bên đường

Dàu dàu ngọn cỏ / nửa vàng / nửa xanh.

Hiên tà / gác bóng nghiêng nghiêng

Nỗi riêng / riêng chạnh tấc riêng / một mình.

Hỏi tên / rằng / Mã Giám Sinh

Hỏi quê / rằng / huyện Lâm Thanh / cũng gần.

Trang 8

Khi tỉnh rượu / lúc tàn canh

Giật mình / mình lại thương mình / xót xa.

Làm cho / trông thấy nhãn tiền

Cho người thăm ván bán thuyền / biết tay.

Cửa người / đầy đọa chút thân

Sớm / ngơ ngẩn bóng / đêm / năn nỉ lòng.

Rằng / Từ là đấng anh hùng

Dọc ngang trời rộng / vẫy vùng bể khơi

Ở Lục bát Truyện Kiều cũng bắt đầu thấy xuất hiện luật bằng trắc (hài thanh)

Hình như Nguyễn Du đã vận dụng luật "nhị, tứ, lục phân minh" của thơ Đường luật (thể khởi bằng) vào lục bát truyện Kiều Cho nên ta thấy, các chữ thứ hai, và

thứ sáu (cả ở câu sáu và câu tám) phải luôn luôn là bằng; đối lại các chữ thứ tư lại luôn luôn phải là trắc Riêng ở câu sáu chữ thứ hai có thể mang thanh trắc khi nó ngắt nhịp 3/3 và thường cũng là một phép tiểu đối (Mai cốt cách / tuyết tinh thần; Người nách thước / kẻ tay dao; Tưởng bây giờ / là bao giờ ) Đọc những câu

Kiều dưới đây ta sẽ thấy rõ hơn:

Chén đưa nhớ bữa hôm nay

Chén mừng xin đợi ngày này năm sau

` Người lên ngựa / kẻ chia bào

Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san

Sự cân đối về thanh điệu cùng với phép tiểu đối được sử dụng khá phổ biến và linhhoạt đã làm cho câu thơ Lục bát truyện Kiều rất mực thước Có thể nói câu thơ Lục bát đến truyện Kiều mới phát triển thành luật, một thứ luật cũng chặt chẽ nghiêm nhặt không kém gì luật thơ Đường Nhưng kỳ lạ thay chính những câu thơ Lục bát truyện Kiều, những câu thơ luôn luôn phục tùng đúng luật, lại là những câu thơ mềm mại, uyển chuyển và hay đến hiếm có Như vậy là luật thơ không hề trói buộc thơ Nó chỉ tạo điều kiện cho thơ hay hơn Bởi vì suy cho cùng thì luật thơ chính là những khuôn hình mẫu mực nhất, tối ưu nhất mà thơ nên có và cần phải có Trong lịch sử phát triển thơ ca, luật thơ chỉ thấy xuất hiện ở những thời kỳ

Trang 9

phát triển đỉnh cao: ở Trung Quốc là trường hợp thơ Đường Luật và ở Việt Nam là Lục bát truyện Kiều

Có thể nói Lục bát truyện Kiều vừa khuôn mẫu mực thước lại vừa linh hoạt biến hóa Với Lục bát truyện Kiều, Nguyễn Du đã phát huy tối đã khả năng diễn tả vốn

có của câu thơ Lục bát Nó có thể miêu tả, có thể kể chuyện, có thể bình luận, cũng có thể triết lý nó có thể đối thoại, cũng có thể độc thoại Có thể diễn tả cái hùng, cái bi, cái cao thượng, cái hài hước Khả năng diễn tả của Lục bát chẳng kém gì văn xuôi, thậm chí còn có thể hơn văn xuôi ở sự cô đọng và tính nhạc.Mặt khác, so với lục bát ca dao, sự sáng tạo ở "Truyện Kiều" còn thể hiện trong việc đưa vào tác phẩm những từ láy, điệp từ, thành ngữ và cả những lời nói trong sinh hoạt hàng ngày của quần chúng lao động, xoá bỏ hoàn toàn sự đơn điệu và tẻ nhạt, góp phần làm thay đổi lục bát tạo sự hấp dẫn, nhưng không làm mất đi âm điệu vốn có của nó

Câu thơ của Nguyễn Du càng về sau càng uyển chuyển, đầy nhạc tính, nâng nghệ thuật thơ lục bát dến một giá trị độc đáo, làm nền tảng cho thơ lục bát

Việt Nam tiếp tục phát triển đến đỉnh cao rực rỡ

Chúng ta có thể nói: một tác phẩm văn chương hay phải đạt được hai yêu cầu: có

sự đổi mới trong nội dung lẫn hình thức nghệ thuật, đồng thời phải kế thừa được những nét văn hoá truyền thống của dân tộc, "Truyện Kiều" của Nguyễn Du đã đáp ứng được cả hai yêu cầu đó

Tóm lại, ngoài việc kế thừa nền văn học dân gian, nhất là lục bát ca dao, Nguyễn Du đã có sự sáng tạo, góp phần đưa "Truyện Kiều" lên đỉnh cao thơ lục bát

2 Cách sử dụng từ ngữ, thành ngữ của Nguyễn Du trong Truyện

Kiều

2.1 Khái quát về việc sử dụng từ ngữ dân gian trong “Truyện Kiều”:

Trang 10

Nguyễn Du sinh thời từng khẳng định: “Thôn ca sơ học tang ma ngữ.”, (họcđược tiếng nói của người trồng dâu, trồng gai), nhằm nhấn mạnh tầm quan trọng,sức ảnh hưởng lớn lao của tiếng nói dân gian trong các sáng tác của ông

Còn theo nhà văn Tô Hoài: “Từ lúc chưa có ý thức, cho tới lúc có ý thức,chúng ta đã học chữ của Nguyễn Du chắc ai cũng đồng ý với tôi rằng nếu chữnghĩa "Truyện Kiều" mà xoàng xĩnh thôi thì chắc Truyện Kiều, dù tư tưởng sâu xađến đâu cũng chưa thể thành sách của mọi người Tôi càng phục tài học với sứcsáng tạo của Nguyễn Du trong chữ nghĩa, khi tôi đọc đến câu thơ ông viết ông đã "

ở trong ruộng bãi để học câu hát hay của người trồng dâu" Đó không phải là mộtcâu nói bóng, mà nó là một tâm sự, một kế hoạch học chữ, hay nói theo cách nóicủa chúng ta ngày nay: Nguyễn Du đã đi vào lời ăn tiếng nói của nhân dân, cơ sởsáng tạo ngôn ngữ của nhà thơ thiên tài đã dựa thẳng vào đấy

Xin kể lại hai ví dụ Câu thơ Nguyễn Du có chữ "áy" (cỏ áy bóng tà ) Chữ

"áy" ấy, tài giỏi đến độ dù ta không hiểu nghĩa nó cũng hiện lên sự ảm đạm Chotới năm trước, có dịp đi Thái Bình, về huyện Thái Ninh, tôi được biết chữ áy làtiếng vùng quê ấy Quê vợ Nguyễn Du ở Thái Bình, Nguyễn Du đã ở lâu đất TháiBình, "cỏ áy" có nghĩa là cỏ vàng úa Tiếng "áy" ở Thái Bình đã vào văn chương

"Truyện Kiều" và trở thành tuyệt vời

Ví dụ nữa, ba chữ "bén duyên tơ" ở "Truyện Kiều" Thông thường, ta hiểu

"bén duyên" có thể gần gũi với câu tục ngữ "Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén".Nhưng không phải Trong nghề ươm tơ lúc tháo con tằm lấy tơ thì người ta ngâmtằm vào nồi nước nóng, rồi đem guồng ra, vớt tơ lên quay vào guồng, lúc sợi tơbắt đầu quay vào guồng, người nhà nghề gọi là "tơ bén" Nếu chỉ viết "bén duyên"không thì còn có thể ngờ, chứ "bén duyên tơ" thì rõ ràng Nguyễn Du của chúng ta

đã nghe, học và sáng tạo trên cơ sở công việc người hái dâu chăn tằm Nguyễn Du

đã trau dồi ngôn ngữ, đêm ngày mài dũa chữ nghĩa kì khu biết chừng nào!”

Cụ Đào Duy Anh trong công trình Khảo luận về Kim Vân Kiều có một nhận xét rất xác đáng: “Thời Lê mạt, ta có những tác phẩm có giá trị như Cung oán ngâm khúc, Chinh phụ ngâm, Phan Trần truyện, Hoa Tiên ký viết bằng quốc âm,

nhưng lời văn điêu trác, hay dùng điển cố, cho nên chỉ được các hạng thượng lưu

trí thức thưởng lãm, mà không phổ cập trong dân gian Duy Truyện Kiều văn

chương đủ tính nghiêm trang, đường hoàng, điêu luyện, khiến cho kẻ học thứcphải khâm phục và yêu mến, mà lại đủ cả tính giản dị, phổ thông để khiến chobình dân hiểu được mà thưởng thức” Trong khi các tác phẩm quốc âm mà cụ ĐàoDuy Anh kể trên chỉ sử dụng khoảng 40%, thì Truyện Kiều của Nguyễn Du sửdụng trên 70% từ thuần Việt Nhưng số lượng từ dùng nhiều hay ít chưa nói lênđiều gì mà cơ bản là việc sử dụng những từ ngữ đó như thế nào vào công việc sángtác Người ta đã nói nhiều về cách dùng từ láy, hư từ, thán từ, từ đồng âm, từ đồngnghĩa, hoán dụ, ẩn dụ, nhân hóa, cường điệu, song đối, cách chơi chữ hết sức tàitình của Nguyễn Du

Trang 11

Nhiều người cho rằng: Nguyễn Du sử dụng từ ngữ rất đắt Đắt vì đôi khi chỉ mộtchữ thôi đã có thể lột tả được bản chất bên trong của con người (Ghế trên ngồi tót

sỗ sàng; Thoạt trông nhờn nhợtmàu da; Tường đông đã thấy Sở Khanh lẻn vào) Gần đây, khi viết về chữ “tôi” trong Truyện Kiều, tôi đã tiến hành khảo sát, đối chiếu, so sánh và đi đến kết luận: Riêng với việc sử dụng chữ “tôi”không thôi,

Nguyễn Du cũng là bậc kỳ tài, là người đi trước thời đại Bởi vì vào thời đó,

những tác phẩm viết bằng chữ Nôm có giá trị như Chinh phụ ngâm (bản dịch thơ), Cung oán ngâm khúc, Phan Trần, Hoa Tiên chưa có tác phẩm nào sử dụng chữ “tôi” theo nghĩa đại từ nhân xưng như Nguyễn Du cả Có người đã bàn đến chữ “mùi” trong câu: Hương gây mùi nhớ, trà khan giọng tìnhnhưng chỉ loanh

quanh giải thích chữ “mùi” đi với chữ “hương” để tạo ra mùi hương thơm tho,thanh khiết mà quên mất chữ “mùi” ở câu thơ này được ghép với chữ “nhớ”.Nguyễn Du là người đầu tiên mang đến cho ngôn ngữ Việt Nam cái mùi hết sức

khác lạ: “mùi nhớ” Với Nguyễn Du thì nỗi nhớ người yêu cũng có hương vị

riêng Đây là một cách nói hết sức hiện đại Với cách dùng từ hiện đại kiểu

như “mùi nhớ”, “lá gió”, “cành chim” (Dập dìu lá gió, cành chim), “ngậm gương” (Gió cây trút lá, trăng ngàn ngậm gương) đại thi hào đã góp phần đưa

ngôn ngữ dân tộc lên một tầm cao mới Đó chính là điều mà “các hạng thượng lưutrí thức” đương thời hết sức nể phục, mặc dù Nguyễn Du, sử dụng những từ ngữ

mà các bậc ấy vẫn cho là “nôm na, mách qué”

Riêng gần 30% từ gốc Hán được sử dụng trong Truyện Kiều, Nguyễn Du cũng

lựa chọn những từ đã được Việt hóa Đó là những từ người “bình dân” vẫn dùngtrong giao tiếp hàng ngày, như: xuân, hoa, hồn, tâm, tài, mệnh nên họ dễ tiếpnhận Trong đó, các từ “hoa”, từ “xuân” được Nguyễn Du dùng khá nhiều lần (từhoa 132 lần, từ xuân 55 lần)

II.2 Khái quát về thành ngữ

II.2.1 Định nghĩa “thành ngữ”:

Thành ngữ là một loại hình ngôn ngữ có từ rất lâu đời, trở thành một “thứ vậtliệu ngôn ngữ” được sử dụng thường xuyên trong các tác phẩm văn học Có rấtnhiều cách định nghĩa về thành ngữ Ở đây xin dẫn ra hai cách định nghĩa tươngđối chính xác:

- Thành ngữ là tập hợp từ cố định đã quen dùng mà nghĩa thường không thểgiải thích được một cách đơn giản bằng nghĩa của các từ tạo nên nó.” ( Từ điểnTiếng Việt _ Viện ngôn ngữ học, Hoàng Phê( chủ biên) _NXB Đà Nẵng _ 2002)

- Thành ngữ là một loại tổ hợp từ cố định, bền vững về hình thái- cấu trúc,hoàn chỉnh, bóng bẩy về ý nghĩa, được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp hằng

Trang 12

ngày.” (Kể chuyện thành ngữ _Viện ngôn ngữ học, Hoàng Văn Hành( chủ biên)_NXB Khoa học xã hội _2003)

II.2.2 Đặc trưng thi pháp của thành ngữ

- Thành ngữ có tính cố định về hình thái, cấu trúc:

- Thành ngữ có tính hoàn chỉnh và bóng bẩy về nghĩa

- Cấu tạo của thành ngữVận dụng thành ngữ trong Truyện Kiều

II.2.3 Bảng thống kê thành ngữ được sử dụng trong Truyện Kiều

STT Số

câu

Thành ngữ dùng trong đoạn trích

Thành ngữ gốc (gần nghĩa)

Nghĩa của thành

ngữ

1 812 Mạt cưa mướp đắng

Tình cờ chẳng hẹn mà nênMạt cưa mướp đắng, đôi bên một phường

nb Phường lừa bịp, lừa

dối lại gặp nhau

- Hai bên lừa nhau, chẳng ai thua ai

Làm đĩ hoặc chứa đĩ.Chê những người làmnghề mãi dâm

3 815 Khắp chợ thì quê

Dạo tìm khắp chợ thì quêGiả danh hầu hạ, dạy nghề ăn chơi

Hết chợ thì quê -Khắp nơi này, nới

khác

4 823 Cờ đã đến tay

Mừng thầm cờ đã đến tayCàng nhìn vẻ ngọc càng say khúc vàng

nb Quyền đã được giao

phó, thời cơ thuận lợi

đã đến

5

825

1065

Quốc sắc thiên hương

Đã nên quốc sắc thiên hương Một cười này hẳn nghìn vàng

chẳng ngoa Than ôi sắc nước hương trời!

Tiếc đâu cho bỗng lạc loài đến đây

Sắc nước hươngtrời

Thiên hương quốc sắc

Người con gái có sắc đẹp tuyệt vời, hiếm cótrên đời

Ca tụng một người phụ nữ đẹp

7 827 Nước trước bẻ hoa

Về đây nước trước bẻ hoa Vương tôn quí khách ắt là đua

nhau.

nb Phê phán những kẻ

bán thịt buôn người, lợi dụng những phụ

nữ sa vào tay chúng

8 828 Vương tôn quí khách nb Nói những bọn khách

Trang 13

Về đây nước trước bẻ hoa Vương tôn quí khách ắt là đua

nhau

sang trọng của một cửa hàng trong thời phong kiến

9 839 Đánh lận con đen

Mập mờ đánh lận con đen Bao nhiêu cũng bấy nhiêu tiền, mất

chi

nb Mánh khóe gian giảo,

xảo quyệt để đánh lừa

Lừa dối những người ngây thơ

10 846 Đường đi lối về

Tiếc thay một đóa trà mi Con ong đã tỏ đường đi lối về

Đường đi lối lại Đường, ngõ, lối đi lại

11 848 Thương hương, tiếc ngọc

Thương gì đến ngọc, tiếc gì đến

hương

Thương hoa, tiếc ngọc

12 857 Giận duyên tủi phận

Giận duyên tủi phận tơi bời Cầm dao nàng đã toan bài quyên

sinh

Tủi phận hờn duyên

Lời than thở của người phụ nữ gặp nhiều trắc trở trong tình duyên

13 859 Nghĩ đi nghĩ lại

Nghĩ đi nghĩ lại một mình Một mình thì chớ, hai tình thì sao?

Nghĩ trước nghĩ sau

Nghĩ gần nghĩ xa

Suy nghĩ đắn đo cân nhắc mọi chuyện trước sau, lo lường mọi sự có thể xảy ra

14 865 Đo đắn ngược xuôi

Những là đo đắn ngược xuôi Tiếng gà nghe đã gáy sôi mé tường

Đắn thắp đo cao Đắn đo, so sánh, cân

Nơi xa lại, không phảiquê mình

16 897 Liễu yếu đào thơ

Chút thân yếu liễu thơ đào Rớp nhà đến đỗi dấn vào tôi ngươi

nb ây liễu mềm và cây

đào non, chỉ người phụ nữ mềm mại, yếuớt

Chân mây cuối trời

Nơi xa xôi, cách biệtNói những nơi xa lạ quá, thường dùng để nói lên cảnh xa quê hương, không biết bao giờ mới được trở về

18 919 Lạ nước lạ non

Những là lạ nước lạ non, Lâm Tri vừa một tháng tròn đến

nơi

Lạ nước lạ cái Xa lạ, bỡ ngỡ, chưa

quen mọi thứ vì mới

ở nơi khác đến

Trang 14

19 959 Thay bậc đổi ngôi

Giờ ra thay bậc đổi ngôi, Dám xin gửi lại một lời cho minh

nb Thay đổi địa vị, ngôi

thứ, đảo lộn tình thế, trật tự trong gia đình,

II.2.4 Việc tiếp nhận thành ngữ trong Truyện Kiều:

2.4.2.1 Đặc điểm hình thức:

Thành ngữ bốn chữ:

Đa số các thành ngữ được sử dụng trong đoạn trích là thành ngữ bốn chữ(81/88 thành ngữ) Trong đó có đến 66 thành ngữ được trích trọn vẹn nguyên văncác thành ngữ bốn chữ của dân gian Điều này một phần cũng do nguyên nhân là

đa số thành ngữ Tiếng Việt là thành ngữ bốn chữ Một nguyên nhân khác quantrọng hơn, đó là do yêu cầu khách quan của thể thơ mà Nguyễn Du sử dụng _ thểthơ lục bát Với cách ngắt nhịp truyền thống là ngắt nhịp chẵn thì thành ngữ bốnchư õ(cách ngắt nhịp 2/2) là rất thích hợp Do đó có thể đặt các thành ngữ này ởmọi vị trí của câu thơ lục bát, có khi là ở câu lục như “ Dạo tìm khắp chợ thì quê”hay “ Bên trời góc bể bơ vơ”…, có lúc là ở câu bát như “ Mạt cưa mướp đắng đôibên một phường” hay “ Thôi thôi vốn liếng đi đời nhà ma”…, khi thì ở đầu câuthơ như “ Quyến anh rủ yến sự này tại ai?”, “ Giận duyên tủi phận tơi bời”…, lúcthì ở giữa câu như “Ra tay tháo cũi sổ lồng như chơi” hay “ Còn nhiều kết cỏngậm vành về sau”…, có lúc lại ở cuối câu thơ như “ Chơi cho liễu chán hoa chê”hay “ Tiếc thay trong giá trắng ngần”… Điều này cũng cho thấy sự vận dụng thànhngữ nhuần nhuyễn của Nguyễn Du, lúc nào, ở đâu, hễ cần là ông đều có thể đặtđược thành ngữ vào trong các câu thơ

Có một số trường hợp khi đưa một thành ngữ nào đó vào trong câu thơ, do

để đảm bảo yêu cầu phối âm, gieo vần trong thơ lục bát, Nguyễn Du đã thay đổi

Trang 15

một số trật tự của các thành tố trong nội bộ thành ngữ đó Chẳng hạn như trườnghợp của thành ngữ “liễu yếu đào thơ”, khi đưa vào câu thơ, Nguyễn Du đã viết :

“Chút thân yếu liễu thơ đào Rớp nhà đến đỗi dấn vào tôi ngươi”

Như vậy ở đây đã có sự đảo ngược trật tự các thành tố trong thành ngữ này:chữ “yếu” và chữ “thơ” được đặt lên trước các chữ “liễu’ và “đào” Điều này là doNguyễn Du muốn đưa chữ “đào’ ra cuối câu lục, đảm nhiệm vai trò hiệp vần vớichữ “vào”ở câu bát bên dưới

Hay như trường hợp của thành ngữ “một lầm hai lỡ” trong câu thơ sau:

“ Cũng là lỡ một lầm hai

Đá vàng sao nỡ ép nài mây mưa.”

Nhà thơ đã đảo vị trí của các từ “lỡ”, “lầm” lên trước các từ “một”, “hai”nhằm bảo đảm cho âm tiết cuối của câu lục là thanh bằng( “hai”) theo nguyên tắcphối thanh của thơ lục bát

Qua hai ví dụ trên, ta có thể thấy được sự khéo léo, uyển chuyển của Nguyễn

Du trong việc xử lí các thành ngữ khi đưa vào câu thơ, vứa bảo đảm các yêu cầucủa thể thơ, vừa vẫn không làm tổn hại gì đến ý nghĩa của các thành ngữ được vậndụng

Bên cạnh đó, song song với việc sử dụng nguyên vẹn các thành ngữ bốn chữvào các câu thơ lục bát, Nguyễn Du còn bẻ đôi một số thành ngữ, tách chúng ra vàkết hợp với các từ khác nhằm nhấn mạnh ý nghĩa nào đó hoặc để phù hợp với vầnđiệu câu thơ Đó là các trường hợp các thành ngữ như “đất khách quêngười”(“Sống nhờ đất khách, thác chôn quê người.”), “ gái tơ ngứa nghề” (“Gái tơ

mà đã ngứa nghề sớm sao?”), “bất nghĩa vô lương” (“Kẻ chê bất nghĩa, người cười

vô lương.”), “tình sâu nghĩa dày” (“Tình sâu mong trả nghĩa dày.”).Để nhấn mạnh

ý “ dù sao suốt cuộc đời này, dù là sống hay chết thì Kiều cũng phải lưu lạc nơi đấtkhách quê người”, Nguyễn Du đã tách thành ngữ “đất khách quê người” cho kếthợp với các từ “sống”, “ chết” Còn nói “Gaí tơ ngứa nghề sớm sao?” thì khôngbảo đảm số lượng âm tiết của một câu bát, cho nên Nguyễn Du đã thêm vào hai từ

“mà đã” vào giữa, vừa bảo đảm số lượng âm tiết, vừa thấy được rõ tâm trạng hằn

Trang 16

học trong lời đay nghiến của mụ Tú Bà Hay ta xét đến trường hợp thành ngữ

“tình sâu nghĩa dày” , nếu viết nguyên vẹn thành ngư õấy mà không tách ra ,thêm

từ vào thì ta thấy có hai trường có thể xảy ra là: “tình sâu nghĩa dày trả xong” hay

“mong trả tình sâu nghĩa dày” Cả hai câu đọc lên đều nghe không xuôi tai bởi lẽchúng không bảo đảm qui luật phối thanh của thơ lục bát, đó là còn chưa kể đếnviệc dụng ý của tác giả sẽ bị lu mờ Cho nên nhà thơ đã tách hẳn các chữ ấy ra vàđặt chúng vào những nơi thích hợp Điều này càng khẳng định sự tài tình củaNguyễn Du trong việc tạo cho thành ngữ dân gian một sức sống mới

Các hình thức thường thấy của thành ngữ trong đoạn trích

- Dùng nguyên mẫu: Trường hợp này khá phổ biến Ví dụ như các thành ngữ

“mạt cưa mướp đắng”, “buôn phấn bán hương”, “một lầm hai lỡ”, “nổi tam bành”,

“giấc hương quan”… Đây là mức độ vận dụng thành ngữ ở mức cơ bản của tác giảnhằm diễn đạt một cách cô đọng, bóng bẩy các ý tưởng cần đề cập đến

- Thay đổi một số thành tố(1): Trường hợp này không nhiều như trường hợp

trên nhưng cũng đủ để thể hiện sự linh hoạt của nhà thơ trong việc vận dụng đểbảo đảm một số nguyên tắc phối âm hay để diễn giải sát với nội dung cần trình

2 Giận duyên tủi phận Hờn → giận

3 Nghĩ đi nghĩ lại Trước (gần) →

đi

4 Lã chã giọt hồng Châu → hồng

5 Góc bể bên trời Chân → bên

7 Trời thẳm đất dày Cao → dày

8 Nặng nghiệp má đào Nợ → nghiệp

9 Ong bướm đãi đằng Qua lại → đãi

đằng

10 Chút thân bèo bọt Thân phận → chút

Trang 17

13 Bất nghĩa vô lương Vô → bất

14 Dày gió dạn sương Mưa → sương

15 Chín chữ cao sâu Cù lao → cao

sâu

Ở một số trường hợp , Nguyễn Du buộc phải thay đổi một số thành tố để

phù hợp qui luật phối thanh trong thơ lục bát Chẳng hạn như trường hợp cácthành ngữ “đường đi lối về”, “lạ nước lạ non”, … Nếu không thay “lại” bằng “về”,

“cái” bằng “non” thì sẽ không bảo đảm nguyên tắc gieo vần bằng trong thơ lụcbát(2) Nhưng cũng có lúc Nguyễn Du cố tình thay đổi một số thanh tố của thànhngữ dân gian để nhấn mạnh một ý nào đó, như trường hợp các thành ngữ “ chútthân bèo bọt”, “giày tía vò hồng”, …chẳng hạn Rõ ràng nếu nói “thân phận bọtbèo” thì không thể làm rõ nỗi cay đắng của Kiều khi ý thức được caí bé nhỏ của sốphận mình bằng cách nói “chút thân bèo bọt”, chính cụm từ “chút thân” đã làm nổi

rõ ý nghĩa “nhỏ bé” của thân phận Kiều Hay ở thành ngữ “giày tía vò hồng” cũngvậy Các từ “tía” và “hồng” vừa gợi được hình ảnh của người con gái như các từ

“liễu”, “hoa” lại vừa gợi được màu sắc của một trận tang thương khi Kiều bị đánhđập tát tệ, tất cả như nhuộm đầy những cùnh hồng tả tơi, tan nát mà nếu nói “vùihoa dập liễu” sẽ không gợi lên hết được Thay dổi một số thành tố nhưng vẫn bảođảm ý nghĩa của thành ngữ, thậm chí còn làm rõ hơn ý nghĩa ấy, đấy cũng là tàinăng của Nguyễn Du

- Chỉ dùng một phần hay dẫn ý các thành ngữ dân gian: số lượng các câu thơ

có cách vận dụng như thế không nhiều Ta có thể kể qua một số câu thơ sau:

Cạn lời khách mới thưa rằng:

Buộc chân thôi cũng xích thằng nhiệm trao (hồng diệp xích thằng) (1)

Con kia đã bán cho ta Nhập gia cứ phải phép nhà tao đây (nhập gia tùy tục)(2)

Lỡ chân trót đã vào đây

Trang 18

Khóa buồng xuân, để đợi ngày đào non (lỡ bước sa chân) (3)

Ôm lòng đòi đoạn xa gần Chẳng vò mà rối, chẳng dần mà đau (rối như tơ vò, đau như dần) (4)

(1) (2) (3) (4): các thành ngữ được dùng một phần hay dẫn ý

Ở đây do yêu cầu về số lượng âm tiết có hạn ở mỗi dòng thơ cộng với việcnhà thơ muốn diễn tả thêm một số ý khác ngoài ý nghĩa thành ngữ mà ông dùngcho nên Nguyễn Du chỉ lấy một số từ cũa các thành ngữ đó Chẳng hạn như ở lời

nói của Mã Giám Sinh: “Buộc chân thôi cũng xích thằng nhiệm trao.” Ở đây tên

Mã Giám Sinh cố ý muốn diễn tả “tâm ý” của hắn rằng hắn đã bị sợi chỉ hồngnhân duyên buộc chặt lấy chân, thôi thì Vương Ông cứ an tâm giao phó tráchnhiệm chăm lo cuộc đời Thúy Kiều cho hắn Cái cách nói qua quýt, giả dối củahắn rất cần sử dụng thêm nhiều từ ngữ để diễn rõ cách nghĩ thô thiển, phàm phu

của hắn, cho dù hắn có cố đưa thứ văn chương hoa mĩ “hồng diệp xích thằng"

vào trong lời nói của mình đi chăng nữa

Đặc biệt nhất ở cách vận dụng này có lẽ phải kể đến các thành ngữ trongcâu thơ sau:

“Ôm lòng đòi đoạn xa gần Chẳng vò mà rối, chẳng dần mà đau”

(rối như tơ vò, đau như dần) (4)

Ở đây, các thành ngữ “rối như tơ vò”, “đau như dần” đã được Nguyễn Duvận dụng một cách sáng tạo Ông không đưa nguyên vẹn các thành ngữ ấy vào mà

sử dụng ý của chúng ởû một mức độ cao hơn Thường để diễn tả taâm taạng rốibời, người ta dùng thành ngữ “rối như tơ vò”, hay để nói đến sự đau đớn khôncùng, người ta dùng thành ngữ “đau như dần” Nhưng trong câu thơ này, Nguyễn

Du chỉ cần đưa thêm vào một từ “chẳng” đã nói lên được gấp nhiều lần nỗi đau,tâm trạng rối bời của Thúy Kiều, không cần vò cũng rối, chẳng cần dần cũng đau,

ý nói nỗi đau ấy, tâm trạng ấy vốn là hiển nhiên hiện diện trong tâm hồn của nàng.Dùng đến những từ trong các thành ngữ mà như vượt trên ý so sánh thông thườngcủa các thành ngữ này, đó chính là tài nang sáng tạo của đại thi hào

Dùng đa số là các thành ngữ thuần Việt:

Trang 19

Số lượng các thành ngữ thuần Việt rất nhiều (70/88 thành ngữ), trong đó có

cả các thành ngữ gốc Hán được dịch ra thành tiếng Việt, có thể xét bảng thống kêsau:

ST

T

Thành ngữ gốc Hán Thành ngữ được dịch ra Tiếng

Việt

1 Nhất tiếu thiên kim Nụ cười nghìn vàng

2 Trọc thủy thanh trần Nước đục bụi trong

3 Kết thảo hàm hoàn Kết cỏ ngậm vành

4 Tam thập lục kế Ba mươi sáu chước

5 Trúc phong mai vũ Gió trúc mưa mai

6 Đông ôn hạ thảo Quạt nồng ấp lạnh

Việc Nguyễn Du vận dụng đa số là các thành ngữ thuần Việt cho thấy ông

có ý thức về tiếng nói dân tộc rất cao, hơn nữa ông còn dịch một số thành ngữ gốcHán khó hiểu ra hẳn Tiếng Việt càng làm rõ thêm điều đó Đây chính là sự hòaquyện giữa hai nguồn văn hóa, giữa ngôn ngữ bác học với ngôn ngữ bình dân, gópphần đưa “Truyện Kiều” lại gần với tâm hồn người Việt

Bên cạnh đó, việc sử dụng đa số các thành ngữ thuần Việt trong đoạn tríchnày cũng thể hiện dụng tâm của Nguyễn Du Đây là đoạn trích kể về đoạn đườngKiều phải lưu lạc chốn phong trần, mà bối cảnh chủ yếu là ở lầu xanh Tại đâyKiều phải trải qua muôn nghìn nỗi nhục nhã, ê chề của kiếp gái giang hồ Vì thế,nỗi đau ấy, cuộc đời nhơ nhớp ấy không việc gì phải được che giấu dưới nhữngngôn từ hoa mĩ , trang trọng Chẳng hạn như để tả cảnh đẹp trong những cuộc truyhoan, Nguyễn Du không giữ nguyên thành ngữ gốc Hán là “trúc phong mai vũ” đểlột tả cái tình ý thanh cao, trang nhã khi người ta tìm đến với thiên nhiên, bởi lẽcảnh đẹp ấy cũng nằm trong chốn phong trần, đơn giản chỉ là cảnh đẹp “gió trúcmưa mai”, chứ chẳng mang vẻ thanh tao gì cả

Nói như thế không có nghĩa là thành ngữ thuần Việt diễn tả một cách sốngsượng, trắng trợn cảnh sống làng chơi mà ngược lại chúng cùng vớiøn một số ítcác thành ngữ Hán Việt được sử dụng trong đoạn trích để thể hiện một cách tế nhị,

ẩn dụ, tượng trưng hay hàm ý xa xôi cảnh suy đồi của cuộc sống làng chơi Đó làtrường hợp các thành ngữ như “mưa Sở mây Tần”, “nước trước bẻ hoa”, “hoaxuân đương nhụy”, “ong bướm đãi đằng”,…

Trang 20

Thành ngữ kết hợp với các từ khác trong cùng một đơn vị câu đã giúp cho thành ngữ trở nên cụ thể và sâu sắc hơn

Bởi lẽ bản thân thành ngữ vốn chưa thể là một câu hoàn chỉnh, để diễn đạt ý gìcho nên nhờ sự kết hợp này mà các thành ngữ được diễn rõ ý nghĩa, chúng đượcđặt trong tình huống nào, do ai nói, để nói gì,…tất cả đều nhờ sự kết hợp này mà

có Nhờ vậy, các thành ngữ có khả năng diễn tả sinh động, gợi cảm, chính xácnhững trạng thái tâm lí nhân vật, các tình huống số phận của nhân vật Ví dụ ta xétcâu thơ sau:

Bên trời góc bể bơ vơ Tấm son gột rửa bao giờ cho phai?

Thành ngữ “bên trời góc bể” kết hợp với từ láy “bơ vơ” đã làm nổi bật được

sự cô đơn, lạc đàn của Kiều nơi đất khách quê người,mà nếu chỉ có riêng thànhngữ “bên tời góc bể thì khong thể hiện được rõ ý bơ vơ, lạc lõng của Kiều

Khi vận dụng thành ngữ( mà chủ yếu là thành ngữ bốn chữ) vào trong thểthơ lục bát thì việc phải thêm từ vào bên cạnh các thành ngữ để đảm bảo số lượng

âm tiết là chuyện hiển nhiên Thế nhưng cái tài của Nguyễn Du là ở chỗ ôngkhông chỉ thêm từ vào cho đủ mà là chọn lọc các từ sao cho thật phù hợp, sao chochúng góp phần thể hiện rõ ý nghĩa của thành ngữ, và đặc biệt là đảm bảo tăngthêm sức gợi hình, gợi ảnh cho các thành ngữ ấy

2.4.2.2 Đặc điểm nội dung

2.4.2.2.1 Nhóm thành ngữ được sử dụng trong ngôn

ngữ của tác giảNhóm thành ngữ được sử dụng trong ngôn ngữ của tác giả:

Các thành ngữ thuộc nhóm này được Nguyễn Du sử dụng với cáccông dụng chủ yếu sau đây:

- Dẫn dắt câu chuyện: Ví dụ như các thành ngữ:

Khắc lậu canh tàn Đêm thâu khắc lậu canh tàn

Gió cây trút lá trăng ngàn ngậm sương

Suy trước nghĩ sau Còn đương suy trước nghĩ sau

Mặt mo đã thấy ở đâu dẫn vào

Trang 21

Bất nghĩa vô lương Lời ngay đông mặt trong ngoài

Kẻ chê bất nghĩa người cười vô lương

Giấc hương quan Mối tình đòi đoạn vò tơ

Giấc hương quan luống mẩn mơ canhdài

Ở công dụng này, các thành ngữ chủ yếu được dùng để diễn tả một cách ngắngọn ý mà nhà thơ định diễn giải, dẫn dắt tình tiết cốt truyện theo diễn biến của nó

- Miêu tả không gian thiên nhiên: Ví dụ như các thành ngữ;

Gió giục mây vần Đùng đùng gió giục mây vần

Một xe trong cõi hồng trần như bay

Gió trúc mưa mai Thờ ơ gió trúc mưa mai

Ngẩn ngơ trăm nỗi dùi mài một thân

Có lẽ số lượng thành ngữ để miêu tả thiên nhiên không nhiều cho nênNguyễn Du cũng chỉ sử dụng hạn chế Thế mạnh về miêu tả thiên nhiên được ông

sử dụng bằng cách diễn đạt thường, ít khi sử dụng thành ngữ

- Miêu tả nhân vật: Ví dụ như các thành ngữ:

Lã chã giọt hồng Nhìn càng lã chã giọt hồng

Rỉ tai nàng mới giãi lòng thấp cao

Nổi tam bành Mụ nghe nàng nói hay tình

Bây giờ mới nổi tam bành mụ lên

Mắt nhìn hồn bay Nàng thì bằn bặt giấc tiên

Mụ thì cằm cặp mắt nhìn hồn bay

Bước thấp bước cao Một mình khôn biết làm sao

Dặm rừng bước thấp bước cao hãi hùng

Nguyễn Du đã sử dụng chính xác các thành ngữ miêu tả các nhân vật saocho phù hợp với tính cách của từng người Thúy Kiều khóc thì phải là “lã chã giọthồng” để cho thấy tình cảm trân trọng mà nhà thơ dành cho những giọt nước mắtcủa một tiểu thơ khuê các Còn mụ Tú Bà khi nổi giận thì không có thành ngữ nàothích hợp hơn thành ngữ “nổi tam bành” để cho thấy sự hung hãn của mụ đàn bànày Hay lúc Thúy Kiều bỏ trốn cùng Sở Khanh thì bước chân của nàng phải là

“bước thấp bước cao”, đó là những bước đi sợ hãi và hoang mang cực độ Có thể

Trang 22

thấy các thành ngữ mà Nguyễn Du đã sử dụng trong mảng miêu tả nhân vật này đãgóp phần nói lên thêm nhiều ý hơn so với cách miêu tả thông thường.

- Chú trọng sử dụng lớp nghĩa khái quát của thành ngữ trong việc miêu tả trựctiếp các trạng thái tâm lí, các diễn biến nội tâm của nhân vật ở các hoàn cảnh kịchtính:Ví dụ như các thành ngữ:

Trang 23

Các thành ngữ Các trạng thái tâm lí, diễn biến

nội tâm của nhân vật

Cờ đã đến tay

Mừng thầm cờ đã đến tay Càng nhìn vẻ ngọc càng say khúc vàng

Tâm trạng vui mừng của Mã giámSinh vì một người xinh đẹp như Kiều

đã thuộc quyền quyết định của hắn.Giận duyên tủi phận

Giận duyên tủi phận tơi bời Cầm dao nàng đã toan bài quyên sinh

Nỗi đau đớn của Kiều sau khi bị

Mã Giám Sinh làm nhục

Đo đắn ngược xuôi

Những là đo đắn ngược xuôi Tiếng gà nghe đã gáy sôi mé tường.

Tâm trạng phân vân của Kiều xem

có nên tự vận hay không sau khi bị MãGiám Sinh làm nhục

Nát ngọc liều hoa

Sợ gan nát ngọc liều hoa

Mụ còn trông mặt, nàng đà quá tay

Tâm trạng hoảng sợ của Tú Bà khithấy Kiều rút dao ra toan quyên sinhCác thành ngữ được Nguyễn Du sử dụng để miêu tả tâm lí nhân vật đã diễn tảmột cách tinh tế, sâu sắc những diễn biến tâm trạng của các nhân vật ở các thờiđiểm kịch tính

- Tổng kết hoặc đưa ra nhận xét về các nhân vật hay số phận Kiều trongnhững biến cố của cuộc đời: Ví dụ như các thành ngữ sau:

Chung lưng mở một ngôi hàng

Quanh năm buôn phấn bán hương đã lề

Chê bai bọn buôn bán phụ nữ như

Mã Giám Sinh và Tú Bà

Lạ nước lạ non

Những là lạ nước lạ non,

Lâm Tri vừa một tháng tròn đến nơi.

Nói lên hoàn cảnh của ThúyKiều đang phải ở một nơi xa lạ, cáchtrở với quê hương

Bình vỡ gương tan Ý nói Thúy Kiều hoàn toàn tyệt

Trang 24

Dẫu sao bình đã vỡ rồi Lấy thân mà trả nợ đời cho xong.

vọng, không còn trông chờ gì nữa

- Bày tỏ cảm xúc của chính nhà thơ: Ví dụ như các thành ngữ sau:

Đường đi lối về

Tiếc thay một đóa trà mi Con ong đã tỏ đường đi lối về

Sự tiếc thương của nhà thơ đốivới việc Kiều bị thất thân với MãGiám Sinh

Giày tía vò hồng

Hóa nhi thật có nỡ lòng Làm chi giày tía vò hồng lắm nau!

Nỗi đau xót của nhà thơ khi Kiều

bị người của Tú Bà đánh đập

Chẳng hỏi chẳng tra

Hung hăng chẳng hỏi chẳng tra

Đang tay vùi liễu dập hoa tơi bời

Nỗi bất bình của nhà thơ trước sựtàn ác của bọn người Tú Bà

Những thành ngữ trên đã phần nào bày tỏ cảm xúc xót thương của Nguyễn

Du đối với những nỗi đau của Thúy Kiều Ông hay thường dùng các thành ngữ cóchứa từ “hồng” để chỉ hình ảnh đẹp đẽ của Kiều, sự mong manh yếu đuối của nàngtrước những đòn tra tấn thảm khốc của bọn ác ôn, đó cũng là một cách để ông bày

tỏ tám lòng trân trọng, xót thương của mình đối với người con gái bạc mệnh nàytrong những tình huống đau lòng

2.4.2.2.2 Nhóm thành ngữ nằm trong ngôn ngữ nhân

vật Các thành ngữ được sử dụng trong nhóm này được xem là phương tiện chủlực để nhà thơ diễn đạt tinh tế, hàm súc, gợi cảm hiện thực tâm trạng nhân vật(đối với nhân vật Thúy Kiều); cá thể hóa ngôn ngữ của nhân vật( đối với các nhânvật phản diện còn lại)

- Các thành ngữ xuất hiện trong ngôn ngữ của nhân vật Thúy Kiều

Số lượng thành ngữ tập trung vào ngôn ngữ của nhân vật này khá nhiều.Lúc này Kiều đang ở vào giai đoạn khủng hoảng cực kì nghiêm trọng khi phải xa

Trang 25

rời cuộc sống êm ả trước đây, rơi vào lầu xanh Cho nên nàng có rất nhiều nỗiniềm, nhiều nhận thức cay đắng cho cuộc đời mình Vì thế Nguyễn Du đã vậndụng rất nhiều thành ngữ trong các đoạn độc thoại nội tâm của Kiều Chẳng hạnnhư những “khi tỉnh rượu, lúc tàn canh” sau khi đã rơi vào cuộc sống ô nhục, Kiềuthường dày vò tâm hồn mình trong cay đắng bẽ bàng với những lời nói cay đắngnhư:

“Xót mình cửa các buồng khuê

Vỡ lòng học lấy những nghề nghiệp hay

Khéo là mặt dạn mày dày, Kiếp người đã đến thế này thì thôi!

Khi sao phong gấm rủ là?

Giờ sao tan tác như hoa giữa đường?

Mặt sao dày gió dạn sương?

Thân sao bướm chán ong chường bấy thân?”

Các thành ngữ được sử dụng trong các câu thơ trên đã lột tả được một cáchtinh tế, gợi cảm nỗi nhục nhã, ê chề của Kiều khi buộc phải sống trong chốn bụihồng

Ngoài ra, các thành ngữ được sử dụng trong ngôn ngữ của Thúy Kiều ở cáclần đối thoại với các nhân vật khác cũng đã góp phần khắc họa rõ nét hình tượngnhân vật lí tưởng mà Nguyễn Du muốn đạt tới Lời lẽ của nàng luôn là những lời

lẽ trang nhã, đúng mực, phải phép Khi bị bất ngờ vì vỡ lẽ là gã Mã Giám Sinhmua mình về để làm gái lầu xanh, nàng vẫn dùng lời lẽ phải phép để giãi bày với

Tú Bà:

“Đủ điều nạp thái vu qui

Đã khi chung chạ, lại khi đứng ngồi Giờ ra thay bậc đổi ngôi,

Trang 26

Dám xin gửi lại một lời cho minh”

Hay khi có ý cậy nhờ Sở Khanh giúp mình trốn khỏi lầu xanh, nàng đã nóilên những câu nói hết sức chí tình, bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình đối vớinghĩa cử cao đẹp của Sở Khanh:

“Dám nhờ cốt nhục tử sinh Còn nhiều kết cỏ ngậm vành về sau”

Các thành ngữ “cốt nhục tử sinh”, “kết cỏ ngậm vành” đã nói lên sự sắc sảo,thông minh của Kiều Nàng muốn Sở Khanh hiểu rằng nàng đã xem ơn Sở Khanhcứu thoát nàng khỏi lầu xanh chẳng khác nào ơn tái sinh( “cốt nhục tử sinh”) vànguyện sẽ đời đời ghi nhớ(“kết cỏ ngậm vành”) Đó chính là những lời nói thểhiện lòng biết ơn ở mức độ cao nhất, khiến cho người làm ơn phải rúng động Nói tóm lại, với nhân vật Thúy Kiều, Nguyễn Du luôn dụng tâm lựa chọnnhững thành ngữ cốt sao thể hiện một cách tinh tế, sâu sắc những trải nghiệm củacuộc đời nàng, cũng như phẩm chất, tính cách của nàng

- Các thành ngữ xuất hiện trong ngôn ngữ của các nhân vật phản diện:

Ở đoạn trích này, ta thấy xuất hiên một loạt các nhân vật phản diện đã đưađẩy Kiều vào con đường ô nhục, đó là gã Mã Giám Sinh “Mày râu nhẵn nhụi, áoquần bảnh bao.”, mụ Tú Bà “Nhác trông nhờn nhợt màu da, ăn chi to lớn đẫy đàlàm sao?” và tên Sở Khanh “ Hình dong chải chuốt, áo khăn dịu dàng.” Đối vớibọn này, Nguyễn Du cũng rất kì công trong việc chọn lựa các thành ngữ sao chophù hợp với tính cách của từng tên

Đối với mụ Tú Bà_ một ả “làng chơi đã trở về già hết duyên”_, Nguyễn Du

đa õlựa chọn một lớp thành ngữ “xứng đáng” với bề dày từng trải của mụ Đó làcác thành ngữ sặc mùi chốn làng chơi như: “đưa người cửa trước, rước người cửasau”, (vốn liếng) “đi đời nhà ma”, “gái tơ ngứa nghề”, (chơi cho) “liễu chán hoachê”… Nhưng nếu cần, mụ vẫn có thể nói được những câu thành ngữ bóng bẩy,văn hoa Chẳng hạn như khi khuyên Thúy Kiều đừng dại dột tự hủy hoại mình (vì

mụ sợ nếu nàng chết đi thì mụ mất cả vốn lẫn lời), mụ đã nói những lời lẽ rất êmtai như:

“ Một người dễ có mấy thân

Trang 27

Hoa xuân đương nhụy, ngày xuân còn dài

Cũng là lỡ một lầm hai

Đá vàng sao nỡ ép nài mưa mây

Lỡ chân trót đã vào đây Khóa buồng xuân, để đợi ngày đào non

Làm chi tội báo oan gia, Thiệt mình mà hại đến ta, hay gì.”

Rõ ràng mụ đã chứng tỏ bản lĩnh của một con cáo già xảo quyệt Mụ biếtkhi nào cần phải dùng những lời lẽ nhẹ nhàng để dỗ dành những “con mồi” ngoan

cố như Thúy Kiều Vào lúc này, những ngôn ngữ tục tĩu thường ngày là hoàn toànphản tác dụng, cho nên mụ đã xuống nước bằng những lời nói đãi bôi như khuyênKiều vẫn còn trẻ đẹp (“hoa xuân đương nhụy”), đừng làm chuyện dại dột mà chi(“tội báo oan gia”)… Và Nguyễn Du đã đạt đến trình độ điêu luyện khi cho cácthành ngữ này kết hợp với các từ ngữ khác trong câu thơ để làm lộ rõ bản chấtgian trá của mụ, đó là cho dù những lời nói ấy có hoa mĩ, hay ho đến đâu thì cuốicùng chúng đều là những câu nói dụ dỗ, chuẩn bị một cái bẫy êm ái để “con mồi”

tự sa đầu vào lưới

Còn ở hai tên trợ tá đắc lực của mụ là gã Mã Giám Sinh cũng vậy Cácthành ngữ được sử dụng trong ngôn ngữ của tên họ Mã đã bộc lộ bản chất conbuôn với đủ mánh khóe lừa lọc, gian xảo.Lúc chuẩn bị hại đời Thúy Kiều, hắn đãtính toán rất tỉ mỉ sao cho hắn vừa được lợi mà sau này về lầu xanh hắn cũng từKiều mà kiếm được những món lợi lớn:

“Về đây nước trước bẻ hoa Vương tôn quí khách ắt là đua nhau.

Nước vỏ lựu, máu màu ga ø Mượn màu chiêu tập lại là còn nguyên.

Mập mờ đánh lận con đen

Ngày đăng: 21/05/2020, 11:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w