Chính Tiến sĩ Võ Văn Nhơn đã bắc một nhịp cầu đểcho thế hệ hôm nay được dịp nhìn lại những cống hiến của nhà văn Lê Hoằng Mưu vớinền văn học nước nhà cũng như nhìn lại giá trị đích thực
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
A LỜI NÓI ĐẦU 2
B NỘI DUNG 3
CHƯƠNG 1: VẤN ĐỀ PHONG HOÁ, TÍNH DỤC TRONG VĂN HỌC NAM BỘ ĐẦU THẾ KỈ XX 3
1.1 Khái niệm phong hoá 3
1.2 Khái niệm tính dục 3
1.3 Tính dục và phong hóa trong văn học Nam Bộ đầu thế kỉ XX 3
CHƯƠNG 2: NHÀ VĂN LÊ HOẰNG MƯU VÀ TIỂU THUYẾT “HÀ HƯƠNG PHONG NGUYỆT” 10
2.1 Nhà văn Lê Hoằng Mưu - cuộc đời và văn nghiệp 10
2.1.1 Cuộc đời: Nhà văn Lê Hoằng Mưu (1879 -1941) 10
2.1.2 Sự nghiệp văn học 10
2.2 Tiểu thuyết “Hà Hương phong nguyệt” 15
CHƯƠNG 3: NHỮNG BIỂU HIỆN VỀ VẤN ĐỀ PHONG HOÁ VÀ TÍNH DỤC TRONG HÀ HƯƠNG PHONG NGUYỆT 19
3.1 Tính dục trong “Hà Hương phong nguyệt” 19
3.1.1 Những khát khao gắn với tình yêu, hôn nhân 19
3.1.2 Những ham muốn thoả mãn nhục dục 22
3.1.3 Nạn mại dâm, mua bán thân xác 25
3.2 Phong hoá trong “Hà Hương phong nguyệt” 28
3.2.1 Ý thức giữ gìn “thuần phong mỹ tục” 28
3.2.2 Ý thức tự do trong tình yêu, hôn nhân 31
3.2.3 Lựa chọn lối sống lệch chuẩn, sa đoạ 32
CHƯƠNG 4: VẤN ĐỀ TIẾP NHẬN TÁC PHẨM “HÀ HƯƠNG PHONG NGUYỆT” 36
4.1 Quan điểm của nhà văn Lê Hoằng Mưu về “Hà Hương phong nguyệt” 36
4.2 Tiếp nhận “Hà Hương phong nguyệt” của người đương thời 36
4.3 Tiếp nhận “Hà Hương phong nguyệt” của công chúng ngày nay 37
KẾT LUẬN 40
TÀI LIỆU THAM KHẢO 41
DANH SÁCH NHÓM 42
Trang 2A LỜI NÓI ĐẦU
Thời gian vẫn trôi đi và bốn mùa luôn luân chuyển Con người chỉ xuất hiệnmột lần trong đời và cũng chỉ một lần ra đi mãi mãi vào cõi vĩnh hằng Nhưng những
gì là thơ, là văn, là nghệ thuật đích thực thì còn mãi với thời gian Có lần, trước khichết, vua Phổ cầm tay Mô-da và nói “ta tiêu biểu cho trật tự, ngươi tiêu biểu cho cáiđẹp Biết đâu hậu thế sẽ quên ta và nhớ đến ngươi” Qủa đúng như vậy, những gì thuộc
về giá trị của Chân – Thiện - Mỹ sẽ tồn tại mãi với thời gian và “Hà Hương phong nguyệt” của Lê Hoằng Mưu cũng có thể được coi là một giá trị đích thực của nghệ
thuật như vậy Mặc dù tác phẩm có số phận không mấy bình lặng nếu không nói làtruân chuyên, long đong và tác giả của nó cũng một thời phải chịu biết bao búa rìu của
dư luận vì đứa con tinh thần của mình Song như đã nói, những gì thuộc về giá trị đíchthực của Chân – Thiện – Mĩ sẽ đủ sức vượt qua thử thách khắc nghiệt của thời gian
Và năm 2018, sau hơn một thể kỉ bị “cấm vận”, cuốn tiểu thuyết đầu tay của Lê HoằngMưu đã được Tiến sĩ Võ Văn Nhơn sưu tầm, chỉnh lí, chú thích và nhà xuất bản Vănhóa – Văn nghệ cho tái bản lại Chính Tiến sĩ Võ Văn Nhơn đã bắc một nhịp cầu đểcho thế hệ hôm nay được dịp nhìn lại những cống hiến của nhà văn Lê Hoằng Mưu vớinền văn học nước nhà cũng như nhìn lại giá trị đích thực của văn học Nam Bộ nóichung và “Hà Hương phong nguyệt” nói riêng vào thời điểm nó ra đời Trong giới hạncủa bài tiểu luận, nhóm chỉ xin khai thác một khía cạnh nhỏ trong nội dung của tác
phẩm đó là “Tính dục và phong hóa trong “Hà Hương phong nguyệt”” Hi vọng qua
bài tiểu luận này, nhóm nói riêng và lớp Văn - Cao học 18.2 nói chung sẽ có được cáinhìn lại trọn vẹn hơn về quan niệm tình yêu, đời sống hôn nhân cũng như vấn đề vănhóa của con người Nam Bộ trong những năm đầu của thế kỉ XX
Trang 3B NỘI DUNGCHƯƠNG 1: VẤN ĐỀ PHONG HOÁ, TÍNH DỤC TRONG VĂN
HỌC NAM BỘ ĐẦU THẾ KỈ XX 1.1 Khái niệm phong hoá
Nguyễn Lân đã nêu định nghĩa về “phong hóa” trong cuốn “Từ điển Tiếng Việt” như sau: “Phong hóa: phong là nếp sống, hóa là sửa đổi Nói khái quát, phong hóa là những phong tục, nếp sống, tập quán, phẩm chất đạo đức của một xã hội trong một giai đoạn lịch sử.”
Theo “Từ điển tiếng Việt” của Hoàng Phê chủ biên cũng đã nêu lên định nghĩa
“Phong hóa: phong tục, tập quán, nếp sống của một xã hội.”
Đào Duy Anh trong “Hán - Việt từ điển” nêu lên định nghĩa của từ “phong hoá:
phong tục và giáo hoá.”
Như vậy, khái niệm “phong hóa” có thể được hiểu một cách đơn giản như sau:
phong hoá là những cái đẹp thuộc về phong tục, tập quán, nếp sống, đạo đức và tư tưởng trong một xã hội nhất định đã được cộng đồng chấp nhận và thực hành.
1.2 Khái niệm tính dục
Đào Duy Anh trong cuốn “Hán – Việt từ điển” đã nêu lên định nghĩa về tính dục như sau: “Tính dục: Phần tình dục ở trong tính người - Nhục dục ở trong khoảng trai gái”.
“Từ điển Tiếng Việt” do Hoàng Phê chủ biên định nghĩa về tính dục như sau:
“Tính dục là đòi hỏi sinh lí về quan hệ tính giao”.
Tính dục và tình dục là hai phạm trù khác nhau, nhưng bản thân tính dục lại baohàm cả tình dục Nếu tính dục mang trong nó nhiều ý nghĩa về giá trị con người thìtình dục lại thể hiện duy nhất một khía cạnh thuộc về bản năng cốt lõi là những khátkhao được giao cảm, giao tình của con người
Như vậy, tính dục là thuật ngữ dùng để chỉ một yếu tố thuộc về bản năng, sự đòihỏi tính dục thuộc về tâm sinh lý của con người Bên cạnh đó, tính dục còn gắn liềnvới phẩm chất, nhân cách, những yếu tố bên trong hoạt động tâm lý của con người vàđược thể hiện ra bên ngoài thông qua hành vi ứng xử Do đó, trong văn học, nhắc đếntính dục cũng là nói đến những hoạt động tình dục, những yếu tố thuộc về cơ quansinh lí của con người đi kèm là những phẩm chất, trạng thái tâm lí có ý nghĩa xã hộinhất định, không chỉ đơn thuần là những khát khao xác thịt tầm thường
1.3 Tính dục và phong hóa trong văn học Nam Bộ đầu thế kỉ XX
Bối cảnh lịch sử, xã hội tạo tiền đề cho văn học đổi mới
Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng vào Đà Nẵng, mở đầu cuộc xâm lược nước ta.Sau hai cuộc khai thác thuộc địa thứ nhất và thứ hai (trước và sau chiến tranh thế giớithứ nhất 1914 – 1918), cơ cấu xã hội Việt Nam có những biến đổi sâu sắc Từ Bắc chíNam, nhiều đô thị, thị trấn mọc lên như những trung tâm kinh tế, văn hóa, hành chínhcủa xã hội thực dân Ở đấy, ra đời nhiều tầng lớp xã hội mới: tư sản, tiểu tư sản, công
Trang 4tạo thành một bộ phận công chúng văn học ngày càng đông đảo và đòi hỏi một thứ vănchương mới Nhân vật trung tâm trong đời sống văn hóa thời kì từ đầu thế kỉ XX đếnnăm 1945 là tầng lớp trí thức Tây học Chủ yếu thông qua tầng lớp trí thức này, ảnhhưởng của các trào lưu tư tưởng, văn hóa, văn học của thế giới hiện đại ngày càngthấm sâu vào ý thức người đọc sách, làm văn Bên cạnh đó, sự xuất hiện của chữ quốcngữ thay thế cho chữ Hán, Nôm trong nhiều lĩnh vực từ hành chính công vụ tới vănchương nghệ thuật Chữ quốc ngữ được phổ biến rộng rãi đã tạo điều kiện thuận lợicho công chúng tiếp xúc với sách báo Mặt khác, trong xã hội thương mại, nhu cầu vănhóa tất dẫn đến những hoạt động kinh doanh văn hóa Vì thế, nghề in, nghề xuất bản,nghề làm báo theo kĩ thuật hiện đại phát triển mạnh Viết văn cũng trở thành một nghề
để kiếm sống tuy rất chật vật Nhà văn và công chúng có quan hệ gắn bó với nhau Phêbình văn học ra đời và phát triển trên báo chí Các quan điểm, các thị hiếu có điều kiện
cọ xát với nhau Đời sống văn học trở nên sôi nổi, khẩn trương hơn Những nhân tốtrên đã tạo điều kiện thuận lợi cho văn học Việt Nam đổi mới theo hướng hiện đại hóa– quá trình văn học thoát ra khỏi hệ thống thi pháp văn học trung đại và đổi mới theohình thức văn học phương Tây, có thể hội nhập với nền văn học hiện đại thế giới
Vị thế của văn học Nam Bộ trong nền văn học Việt Nam đầu thế kỉ XX
Nằm trong dòng chảy tất yếu của quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam nóichung, văn học Nam Bộ đầu thế kỉ XX cũng có những thành tựu đáng kể nếu khôngnói rằng chính khu vực này là nơi hình thành và phát triển rực rỡ một bộ phận văn học
mới thành thị Theo đánh giá của PGS.TS Đoàn Lê Giang thì chính “văn học Nam Bộ tiên phong trên con đường hiện đại hóa” Từ cuối thế kỷ XIX, ở Sài Gòn đã xuất hiện
một thế hệ trí thức mới như Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Trương Minh Ký,Nguyễn Trọng Quản, Diệp Văn Cương, Trần Chánh Chiếu…Họ trở thành những nhàvăn tiên phong trong việc xây dựng văn học quốc ngữ Cuộc thi “Quốc văn thí cuộc”
do Trần Chánh Chiếu, chủ bút khởi xướng trên báo “Nông cổ mín đàm” năm 1906 có
thể coi như cuộc thi sáng tác tiểu thuyết quốc ngữ đầu tiên ở Việt Nam Giải thưởngđược công bố một năm sau trên tờ báo ấy, số 280, ngày 5-3-1907, giải nhất - giải duynhất dành cho “Lương Hoa truyện” của Pierre Eugène Nguyễn Khánh Nhương, tácphẩm duy nhất dự giải Nhưng tác phẩm này mở ra một mùa sai quả rộ lên vài năm sau
đó Đó là “Hoàng Tố Anh hàm oan” (1910) của Trần Thiên Trung, cuốn tiểu thuyết
mở đầu cho khuynh hướng hiện thực phê phán; “Lâm Kim Liên tự truyện” của Trần Chánh Chiếu (1910); “Phan Yên ngoại sử - Tiết phụ gian truân” (1910) của Trương Duy Toản, cuốn tiểu thuyết lịch sử bằng quốc ngữ đầu tiên; “Chơn cáo tự sự” (1910) của Michel Tinh; “Hà Hương phong nguyệt” (1912) của Lê Hoằng Mưu, cuốn tiểu
thuyết tâm lý – xã hội đầu tiên…Vài năm sau nữa xuất hiện kiện tướng của tiểu thuyết
Nam Bộ: Hồ Biểu Chánh với hàng loạt tác phẩm như “Ai làm được”, “Cay đắng mùi đời”, “Ngọn cỏ gió đùa”…Hay như nhận xét của GS Phong Lê khi nhắc đến văn học Nam Bộ là nhắc đến “cái nôi của nền văn học quốc ngữ” Nói văn học Nam Bộ là nói
những đóng góp khởi động của nền văn học quốc ngữ - văn học viết bằng chữ cáiLatinh, khác và thay cho văn học truyền thống viết bằng chữ Hán và Nôm Nó trở
Trang 5thành động lực góp phần thúc đẩy nhanh con đường đi tới chữ quốc ngữ, là thứ chữ đãvào nước ta từ đầu thế kỷ XVII theo chân các thuyền buôn và giáo sĩ phương Tâynhưng cho đến đầu thế kỷ XIX, sau hơn 200 năm, vẫn còn bị khép chặt trong sinh hoạtcủa một bộ phận nhỏ giáo dân Một ý thức thống nhất về “tiếng” và “chữ” đã đượcnhen nhóm, và con đường đầy gian truân là con đường đi tìm chữ Trong khi phần đa e
ngại lấy chữ quốc ngữ làm chữ viết như lo lắng của Nguyễn Trường Tộ “Chẳng lẽ nước ta không có ai giỏi có thể lập ra một thứ chữ viết để viết tiếng ta hay sao? Vì ta dùng chữ Nho đã lâu nên không cần thay đổi tất cả, sợ làm cho người ta lạ tai lạ mắt”
thì năm 1865, ở Nam Bộ, tờ báo quốc ngữ đầu tiên là “Gia Định báo” của TrươngVĩnh Ký ra đời Năm 1866, ông viết tác phẩm văn xuôi quốc ngữ đầu tiên là “Chuyệnđời xưa lựa chọn lấy những chuyện hay và có ích” Vậy là điều mà nhà cách tânNguyễn Trường Tộ e ngại thì Trương Vĩnh Ký đã thực hiện một cách mạnh dạn và rấtthành công Tóm lại, trong khoảng hơn nửa thế kỷ từ khi hình thành cho đến 1945,vùng văn học này đã có một đời sống rất sôi nổi với hàng trăm cây bút và hàng mấytrăm tác phẩm, cuốn hút hàng triệu độc giả, và đã để lại những vết son không phai mờtrong ký ức của nhiều người, nhất là những người lớn tuổi ở Nam Bộ
Tính dục trong văn học Nam Bộ đầu thế kỉ XX
Một trong những đóng góp của văn học Nam Bộ đầu thế kỉ XX phải kể đến đó làtrong các sáng tác của các tác giả lúc bấy giờ, họ đã có ý thức thể hiện một quan niệmvăn học mới – phản ánh hiện thực đời sống xã hội thay cho quan niệm văn học cũ lấy
“tâm”, “chí”, “đạo” làm cơ sở; mô tả cuộc sống bình thường hàng ngày và những conngười của cuộc sống hiện thực, trần tục Đặc biệt, nổi bật lên trong các tác phẩm là vấn
đề tính dục, truyền tải những quan niệm không truyền thống về tình yêu, luân lý vàđược thể hiện cụ thể ở các khía cạnh như những khao khát gắn với tình yêu, hôn nhân;những ham muốn thỏa mãn nhục dục của con người
Bản năng tình dục là một hành trang đeo đẳng trên vai con người suốt chiều dàilịch sử của nhân loại Vì sự quan trọng cũng như sự tế nhị của mình, bản năng tình dục
in dấu ở rất nhiều nơi nhưng cũng bị che chắn, ngụy trang ở hầu hết những nơi mà nóxuất hiện, trong đó có văn học - nghệ thuật Cho nên nhìn về chiều dài văn học, có thểkhẳng định rằng mặc dù thời kì văn học Trung đại trước đó chịu sự chi phối mạnh mẽcủa tính cao nhã, quy phạm nhưng vấn đề tính dục cũng đã được các nhà văn nhen
nhóm, thể hiện đặc biệt là từ đầu thế kỉ XVI với sự ra đời của “Truyền kì mạn lục” của
Nguyễn Dữ như một ngọn núi đột ngột xuất hiện giữa đồng bằng, tác phẩm đã viết vềvấn đề tính dục một cách dày đặc, công khai và táo bạo Nhân vật Trình Trung Ngộ và
hồn ma Nhị Khanh trong “Chuyện cây gạo” đại diện cho một kiểu người lấy hành lạc, thú vui thân xác làm mục đích sống qua tuyên ngôn của Nhị Khanh: “Nghĩ đời người
ta, thật chẳng khác gì giấc chiêm bao Chi bằng trời để sống ngày nào, nên tìm lấy những thú vui Kẻo một sớm chết đi, sẽ thành người của suối vàng, dù có muốn tìm cuộc hoan lạc ái ân, cũng không thể được nữa” Đến thế kỉ XVIII với sự xuất hiện
một loạt các nhà nhân đạo chủ nghĩa như Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Du, Hồ Xuân
Trang 6tình dục, để thấy những chuẩn mực tính dục đã được thiết lập và bị vượt qua như thếnào trong thực tế Sau khi truyện Nôm “Phan Trần” và “Truyện Kiều” ra đời, người ta
đã phải truyền nhau câu ca “Đàn ông chớ kể Phan Trần / Đàn bà chớ kể Thúy Vân, Thúy Kiều” Trường hợp “Ngã ba Hạc phú” của Nguyễn Bá Lân hay thơ Nôm truyềntụng của Hồ Xuân Hương thì đề tài tình dục thường ẩn mình dưới lớp vỏ ngôn ngữ lấplửng, hai mặt Có thể nói, trong thơ Hồ Xuân Hương có cả một hệ thống biểu tượng đểdiễn tả, ám chỉ cơ quan sinh dục nam nữ và hành vi tính giao Thông qua sự vận dụngcái tục bằng cách “đố thanh giảng tục”, bắt đầu đi ra khỏi quy phạm “ôn nhu đôn hậu”của văn học nhà Nho Sử dụng cái tục, viết về bản năng tình dục, ở đây đã không còn
là câu chuyện xúc cảm giới tính, khoái lạc nhân gian nằm trong “tứ khoái” mà còn cóchức năng gây cười, hạ bệ, giải thiêng những đấng bậc “cao cao tại thượng” Như vậy,suốt chiều dài lịch sử văn học Việt Nam trung đại, bên cạnh những trang viết chínhthống hoặc ít nhiều tránh né câu chuyện bản năng tính dục, những “tiếng dâm”, “dâmthư” có một đời sống riêng, với những tác giả, độc giả hoặc ẩn danh hoặc công khai
Và dẫu bị phê phán, cấm đoán nhưng nhu cầu thưởng thức văn học tình dục ở ViệtNam thời trung đại là có thực, thậm chí với số đông, còn lớn hơn nhu cầu về những
“món ăn” tải đạo ngôn chí họ thường phải nhận một cách miễn cưỡng và được pháthoàn toàn miễn phí
Nói như vậy để thấy rằng, vấn đề tính dục trong văn học Nam Bộ đầu thế kỉ XXkhông phải là một sự hình thành ngẫu nhiên hay chỉ là kết quả của quá trình giao lưuvăn hóa phương Tây, kết quả của sự ra đời văn học đô thị mà nó là sự kết tinh từ nhiềuyếu tố trong đó có vấn đề truyền thống văn học dân tộc Tuy nhiên, do tác động củabối cảnh lịch sử xã hội, một lối sống tư sản hóa lan tràn nơi “phố phường chật hẹpngười đông đúc” Trong môi trường ấy, các tầng lớp và giai cấp xã hội ở thành thị tuykhác nhau về cách sống và khả năng thực hiện ước mơ của mình, thậm chí đối lậpnhau về thái độ đối với chệ độ đương thời nhưng vẫn gần nhau về những nét tâm lí, thịhiếu như thích đua đòi, ăn chơi hưởng lạc, muốn sống và giải trí trong môi trường náonhiệt, khao khát cái lạ, cái luôn luôn đổi thay Trạng thái tâm lí đó đòi hỏi ở văn họcđời sống bình thường, hằng ngày Văn học có điều kiện để nói về những khao khátthầm kín của con người trong bản năng tính dục Trước tiên đó là khao khát gắn với
tình yêu, hôn nhân Xây dựng nhân vật Hoàng Tố Anh trong “Hoàng Tố Anh hàm oan” hay Bạch Tuyết, Băng Tâm, Chí Đại, Trường Khanh trong “Ai làm được” là bạn
trẻ luôn có khao khát được gắn với tình yêu, hôn nhân Băng Tâm có thể tìm đến cáichết để chống đối lại sự sắp đặt một cuộc hôn nhân không tình yêu của cậu mợ mình,Bạch Tuyết chấp nhận mang tiếng “gái hư” quyết không theo sự sắp đặt của dì ghẻ…
đó là những biểu hiện cho một khao khát được gắn với tình yêu, hôn nhân thực sự.Bên cạnh những khát khao gắn với tình yêu, hôn nhân, tính dục trong văn học
Nam Bộ còn được thể hiện ở những ham muốn thỏa mãn nhục dục Trong “Người bán
ngọc” (1931) của Lê Hoằng Mưu kể về Tô Thường Hậu là một thanh niên con nhà
giàu có, cha mẹ mất sớm, thừa hưởng sự nghiệp của cha mẹ để lại Vì có chí bốnphương nên thừa lúc thong dong chàng đi các tỉnh nhàn du, trước là xem cho biết đủ
Trang 7nhân vật cảnh tình, sau là mong tìm được một chỗ ưng ý để kết tóc se duyên Đi nhiềunơi và nghe đồn rằng Tô Châu là tỉnh có nhiều nam thanh nữ tú, phong cảnh hữu tìnhnên chàng tìm đến Ở nơi đó Tô Thường Hậu đã gặp Hồ phu nhân.Vì say mê nhan sắc
và biết được Hồ Quốc Thanh chồng Hồ phu nhân chinh chiến không có nhà nên chàng
đã tìm cách tiếp cận Hồ Phu nhân Trước tiên chàng giả thành người phụ nữ làm nghềbuôn ngọc và nhờ bà lão sống gần dinh Hồ đô đốc tìm cách đưa vào dinh để bán ngọccho Hồ phu nhân.Vào được dinh gặp được người mình yêu chàng lại tìm cách để đượccầm chân ở lại dinh Kế hoạch thành công chàng được giữ ở lại và dùng bữa với Hồphu nhân, Tô Thường Hậu kiếm những lời tư dâm, những điều sắc dục mà nói về phậngóa chồng thuở mới có chồng cho Hồ phu nhân nghe Hồ phu nhân vì sự vắng vẻ loanphòng, mong có kẻ giải đặng lòng tha thiết, nên khi nghe, Hồ Phu Nhân liền tin lờimuốn cho Tô Thường Hậu chung phòng để bà thí nghiệm Tô Thường Hậu thừa lúc
Hồ Phu Nhân say giấc mà thực hiện ý đồ của mình và Hồ Phu Nhân cũng cam, thuận
tình: “Vén mùng rồi vừa gạt chưn để lên giường, xẩy thấy một toà thiên nhiên, lịch sự như tiên giáng thế, làm cho người bán ngọc mảng mê nhan sắc trố mắt đứng nhìn, quên bổn phận mình, mưu sự tệ tình, bất cẩn Thấy Hồ phu nhân mê mẩn giấc nồng
sổ đầu, nằm bỏ tóc, xấp xả khó gìn giữ cho đặng Bèn sẽ lấy mền đắp bụng cho Hồ phu nhân; rồi lại muốn đưa tay rờ rẫm vuốt ve cho thoả Không dè, mới thò tay vừa tới bụng sợ phập phồng nó làm cho tấc dạ bồi hồi, tay run lập cập Người bán ngọc không dám rờ! Lật đật thục tay vào rồi xây mặt ngó quanh quẩn bên mình Vuốt qua vuốt lại, rờ xuống rờ lên đôi ba phen mà Hồ phu nhân mê mẩn không hay, người bán ngọc thấy vậy mới dễ ngươi, ái tình lại dồi lòng tà dục muốn kề má hôn cho phỉ dạ.
Có một điều là rờ rẩm vuốt ve thì không sao, chớ hễ muốn kề má xuống hun, thì lại hườn cựu lệ, trống ngực đánh rầm rầm, chưn tay run lẩy bẩy đổ mồ hôi ướt đẫm như người bị cảm mạo phong sương dục thúc quá dằn lòng không đặng, người bán ngọc bèn gượng đưa tay ra rờ cái ngọc cốt phi phàm Rờ tới đâu chết điếng tới đó”
Tóm lại, tính dục trong văn học Nam Bộ đầu thế kỉ XX là một trong những kếtquả của quá trình hiện đại hóa văn học, là tiếng nói của con người với nhu cầu giảiphóng cá nhân Cho nên dù có bị cấm đoán, kiêng cử thì nó vẫn ra đời, vẫn tồn tại như
là một điều tất yếu trong nhu cầu thưởng thức văn học của công chúng lúc bấy giờ
Phong hóa trong văn học Nam Bộ đầu thế kỉ XX
Ngoài vấn đề tính dục, trong văn học Nam Bộ đầu thế kỉ XX cũng thể hiện rõvấn đề phong hóa của xã hội lúc bấy giờ như ý thức giữ gìn “thuần phong mĩ tục” củadân tộc, ý thức được tự do trong tình yêu, hôn nhân thậm chí là đề cập đến lối sốnglệch chuẩn sa đọa
Vấn đề phong hóa trong văn học Nam Bộ trước hết được thể hiện ở ý thức giữgìn thuần phong mĩ tục của các nhà văn Quả thật, trọng đạo lý là một truyền thốngtrong văn học Nam Bộ được mở ra từ Võ Trường Toản (thế kỷ XVIII), được vun đắpbởi Gia Định Tam Gia (Lê Quang Định, Ngô Nhơn Tĩnh, Trịnh Hoài Đức), PhanThanh Giản và thành tựu bởi Nguyễn Đình Chiểu và thế hệ các nhà văn cùng thời với
Trang 8vẫn tiếp tục truyền thống đó Quan niệm “ác giả ác báo”, “Gieo gió gặt bão” đã hướng
ngòi bút của tác giả đến những kết thúc tác phẩm có hậu như trong “Hoàng Tố Anh hàm oan”, cuối cùng Hoàng Tố Anh cũng được minh oan và được sống hạnh phúc, hay như trong “Ai làm được” của Hồ Biểu Chánh, sau những khó khăn, thử thách cuối
cùng Chí Đại cũng được sống hạnh phúc bên Bạch Tuyết, Băng Tâm được sống hạnhphúc bên Trường Khanh…Hồ Biểu Chánh là nhà văn xã hội lớn nhất Nam Bộ Tác
phẩm của ông với những Chúa Tàu Kim Quy, Ngọn cỏ gió đùa, Nặng gánh cang thường, Cay đắng mùi đời, Chút phận linh đinh, Cha con nghĩa nặng…dù mang đậm
hơi thở của cuộc sống hiện thực, nhưng cũng là những câu chuyện thấm đẫm đạo lý
với những hiếu hạnh, tiết nghĩa, với những ước mơ đạo lý cổ truyền: “Ở hiền gặp lành”, “Thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất lậu” (Lưới trời lồng lộng/ Thưa nhưng khó thoát), “Thiện ác đáo đầu chung hữu báo/ Chỉ tranh lai tảo dữ lai trì” (Thiện ác cuối cùng rồi sẽ báo/ Chỉ là sớm muộn đến mà thôi)…Không riêng gì Hồ Biểu Chánh, các
nhà văn khác khi phản ánh đời sống xã hội Nam Kỳ đang trên con đường đô thị hóa tưbản chủ nghĩa, thường đứng từ lập trường đạo lý cổ truyền để phê phán Cảm hứngđạo lý làm nền cho các tác phẩm phản ánh hiện thực tạo ra khuynh hướng xã hội - đạo
lý khá đặc biệt của văn học quốc ngữ Nam Bộ
Bên cạnh ý thức giữ gìn thuần phong mĩ tục, vấn đề phong hóa trong văn họcNam Bộ còn được thể hiện ở ý thức tự do trong tình yêu hôn nhân Trong “Ai làm được” (1912) Hồ Biểu Chánh: Bạch Tuyết và Chí Đại vượt qua bao gian khổ để có
được tình yêu trọn vẹn viên mãn Bạch Tuyết một mặt biết âm mưu của bà Phủ - mẹ kếmuốn gả mình cho cháu bà để sau này bà được hưởng gia tài của Khiếu Nhàn, một mặtbiết bà Phủ chính là người đã giết mẹ mình hơn thế nữa Bạch Tuyết có cảm tình yêumến Chí Đại nên nhất quyết không theo ý của mẹ kế Mối tình của hai nhân vật chínhtrong tiểu thuyết này rất đời chứ không quá ràng buộc vào lễ giáo phong kiến Mặc dùkết thúc tác phẩm, khi chứng kiến Băng Tâm được tổ chức đám cưới trọn vẹn bên
Trường Khanh, Bạch Tuyết có mặc cảm nghĩ mình là “phận gái gái bất trinh, lấy chồng không đợi lịnh cha gả… Anh ôi, duyên nợ của vợ chồng ta có mấy năm mà thôi Xin anh chớ buồn, bởi vì kiếp nầy chẳng đặng trọn đời với nhau, thì em nguyện kiếp sau rồi em sẽ lên mà trả nợ”, vô tình đọc được lá thư, Chí Đại càng cảm động, thương
yêu Bạch Tuyết hơn Phải chăng, đó là minh chứng cho khao khát được tự do trongtình yêu, hôn nhân của con người
Ngoài ý thức giữ gìn thuần phong mĩ tục, khát khao hướng đến sự tự do trongtình yêu hôn nhân – đó là những phạm trù thuộc về vấn đề phong hóa đã có nền tảnggốc rể từ truyền thống văn học dân tộc Trong văn học Nam Bộ đầu thế kỉ XX, chúng
ta còn thấy một nội dung nữa đó là sự lựa chọn lối sống lệch chuẩn, sa đọa Mà nhưchính Lê Hoằng Mưu lí giải, xây dựng những hình tượng nhân vật lựa chọn lối sốnglệch chuẩn, sa đọa phải chăng cũng là cách làm gương cho hậu thế soi mình vào đó màtránh
Như vậy, điểm qua về vấn đề tính dục và phong hóa trong văn học Nam Bộ đầuthế kỉ XX, đã phần nào cho ta thấy trọn vẹn hơn bộ mặt văn học Nam Bộ trong những
Trang 9năm đầu của quá trình hiện đại hóa văn học dân tộc Cũng như là tiền đề để tìm hiểu
về tính dục và phong hóa trong sáng tác của Lê Hoặng Mưu – nhà tiểu thuyết “khéttiếng” của Nam Bộ lúc bấy giờ mà cụ thể là tác phẩm “Hà Hương phong nguyệt”
Trang 10CHƯƠNG 2: NHÀ VĂN LÊ HOẰNG MƯU VÀ TIỂU THUYẾT
“HÀ HƯƠNG PHONG NGUYỆT”
2.1 Nhà văn Lê Hoằng Mưu - cuộc đời và văn nghiệp
2.1.1 Cuộc đời: Nhà văn Lê Hoằng Mưu (1879 -1941)
Lê Hoằng Mưu sinh năm 1879 tại Cái Cối, làng An Hội, tổng Bảo Hựu, hạt BếnTre (nay thuộc thị xã Bến Tre), xuất thân từ một gia đình tân học (cha là Lê Văn Dinh,nguyên là thông ngôn đề hình) Có lẽ chính yếu tố gia đình và hoản cảnh xã hội đã tácđộng không nhỏ đến sự hình thành tài năng của Lê Hoằng Mưu Sinh ra vào giai đoạn
xã hội có nhiều biến động dữ dội, bên cạnh giao lưu tiếp xúc với văn hóa phươngĐông mà chủ yếu là Trung Quốc chúng ta còn có sự giao lưu, tiếp xúc với văn hóaphương Tây đặc biệt là văn hóa Pháp Trong bối cảnh chung đó, Lê Hoằng Mưu lạixuất thân từ một gia đình tân học như đã nói ở trên nên dường như ông có nhiều điềukiện hơn để lĩnh hội, tắm mát trong dòng văn hóa phương Tây như ông từng tâm sự
trên tờ “Nông cổ mín đàm”: “Tôi học văn Pháp có lấn hơn văn Tàu, nên tôi viết theo cách văn Pháp nhiều hơn” Ngoài tên thật của mình, ông còn được nhiều người trong
làng báo làng văn biết đến với bút hiệu Mộng Huê Lầu Ông còn ký là Le Fantaisiste,
Hoằng Mưu Theo Nguyễn Liên Phong, tác giả “Điếu cổ hạ kim thi tập”, Lê Hoằng Mưu có “hình trạng nho nhã, trung người, tánh nết thông minh thiệp liệp, có khoa ngôn ngữ”
Thuở nhỏ Lê Hoằng Mưu học tại Bến Tre, sau đó ông lên Sài Gòn viết văn, làmbáo và tiếng tăm nổi dậy như cồn, chinh phục cả xứ Nam Kỳ và cả một thế hệ thanh
niên lúc bấy giờ Lê Hoằng Mưu làm chủ bút “Nông cổ mín đàm” những năm 1912,
1915 Năm 1921, tờ báo “Lục Tỉnh tân văn” sát nhập với “Nam Trung nhựt báo”, ông
tiếp tục đảm trách cương vị chủ bút đến năm 1930 Đánh giá về vai trò của ông trong
làng báo ở Nam Kỳ lúc bấy giờ, Lãng Tử với tựa đề “Con voi già” trong mục “Nợ văn” trên tờ tuần báo “Mai” xuất bản tại Sài Gòn đã viết như sau: “Đó là một nhà viết báo kỳ cựu trong gần ba mươi năm nay hằng mục kích những cái vinh, cái nhục của nghề và bao nhiêu chế độ đổi thay (…) Buổi ấy, Lê quân là người có "tài sắc" nên tiếng tăm nổi dậy như cồn Lời văn cũng lý luận đã lôi cuốn, hấp dẫn, chinh phục cả
xứ Nam Kỳ và cả thế hệ thanh niên hồi đó (…) Tài bút chiến của ông làm khuất phục
cả các bạn cùng nghề thuở nọ Nói rằng khét tiếng một độ rất lâu trong báo giới xứ này, thì cái danh dự ấy chỉ riêng ông có".
Không những là một nhà báo kì cựu “khét tiếng” trong báo giới, Lê Hoằng Mưucòn là một trong số các cây bút tiểu thuyết thuộc giai đoạn phôi thai ở Nam Kỳ trongnhững năm 20 của thế kỷ này Ông còn được đồng nghiệp kính mến và thán phục bởitài bút chiến Ông sáng tác rất khoẻ, các tác phẩm của ông đã từng “bán chạy như tômtươi giữa chợ buổi sớm”
2.1.2 Sự nghiệp văn học
Các sáng tác chính
Sự nghiệp văn học của Lê Hoằng Mưu khá đồ sộ Ông bắt đầu hoạt động văn họcvới tư cách là một dịch giả trên báo “Nông cổ mín đàm” (dịch kịch thơ Rocambole
Trang 11Tome V Le drames de Paris), phóng tác quyển tiểu thuyết Pháp Le Compte de MonteCristo của A Dumas với nhan đề Tiền căn báo hậu (9 cuốn, Imp de l’Union, Sài Gòn,1916) Ông còn viết truyện thơ “Hoạn Thơ bắt Túy Kiều” bằng thể thơ 7 chữ (Imp J.Nguyễn Văn Viết, Sài Gòn, 1915; Thạnh Thị Mậu tái bản, Sài Gòn, 1928); viết kịchthơ “Đỗ Triệu kỳ duyên” (1928) đăng trên báo Lục tỉnh tân văn từ số 1498, ngày 1tháng 8 năm 1923 đến số 1718, ngày 1 tháng 5 năm 1924 Ông cũng là một cây bút rấtsắc sảo trong phê bình, tranh luận văn học Về tiểu thuyết, theo ghi nhận chưa đầy đủthì Lê Hoằng Mưu sáng tác được 17 cuốn Cuốn tiểu thuyết đầu tay của Lê Hoằng
Mưu là tác phẩm “Hà Hương phong nguyệt” Truyện bắt đầu được đăng trên báo
“Nông cổ mín đàm” từ số 19, ngày 20 tháng 7 năm 1912 với nhan đề “Truyện nàng
Hà Hương” đến số 53, ngày 29 tháng 5 năm 1915 (chưa kết thúc) Năm 1915 tác phẩm
này được nhà in J Nguyễn Văn Viết xuất bản với tên là Hà Hương phong nguyệt Hiện
có thể tìm hiểu tác phẩm này trên báo Nông Cổ Mín Đàm (vi phim) ở thư viện Tổnghợp TP Hồ Chí Minh
Tiểu thuyết “Ba gái cầu chồng” hay “Thập báo niên tiền ly miêu hoán chúa”
đăng trên Nông Cổ Mín Đàm từ số 55, ngày 13 tháng 7 năm 1915 Hiện có thể tìmhiểu tác phẩm này trên báo Nông Cổ Mín Đàm (vi phim) ở thư viện Tổng hợp TP HồChí Minh
“Hồ Thể Ngọc” đăng trên báo Nông Cổ Mín Đàm từ số 85, ngày 17 tháng 2 năm
1916 đến số 108, ngày 29 tháng 7 năm 1916 (chưa kết thúc) Đăng lại trên Công luậnbáo từ số 46, ngày 15 tháng 3 năm 1917 đến số 127, ngày 19 tháng 4 năm 1918 thì kếtthúc
“Tây Hồ công chúa ngoại sử”, Imp de l’Union, Sài Gòn, 1916.
“Một ngàn con ma”, Imp J Nguyễn Văn Viết, Sài Gòn, 1917.
“Lạc Thúy Duyên”, “Nữ giáo Tô Huệ Nhi ngoại sử”, Imp de l’Union, Sài Gòn,
1918, tái bản năm 1920
“Oán hồng quần ngoại sử” hay “Phùng Kim Huê”, Imp de l’Union, Sài Gòn,
1921, hiện được lưu trữ tại thư viện Quốc gia, Hà Nội (có cuốn 1 và cuốn 6)
“Oan kia theo mãi” hay “Ba mươi hai đêm Hồ Cảnh Tiên tự thuật” khởi đăng
trên Lục tỉnh tân văn từ số 733, ngày 13 tháng 2 năm 1920, rải rác đến số 949, ngày 24tháng 8 năm 1921, được Imp J Nguyễn Văn Viết xuất bản năm 1922, hiện được lưutrữ tại thư viện Quốc gia, Hà Nội (có cuốn 1 và 5)
“Giọt nước nhành dương” hay “Hoa chìm bể khổ” (với bút hiệu Mộng Huê Lầu)
đăng trên Công luận báo từ số 73, ngày 19 tháng 2 năm 1924 đến số 79, ngày 9 tháng
12 năm 1924 (chưa kết thúc)
“Đầu tóc mượn” khởi đăng trên báo “Lục tỉnh tân văn” từ số 1780, ngày 17
tháng 7 năm 1924 đến số 1865, ngày 27 tháng 10 năm 1924, Imp de l’ Union, SàiGòn, 1926, hiện được lưu trữ tại thư viện Quốc gia, Hà Nội (có cuốn 1)
“Nhược nữ báo phụ thù” hay “Hiếu tình bất nhứt khởi” đăng trên “Lục tỉnh tân”
văn từ số 1877, ngày 13 tháng 11 năm 1924 đến số 1929, ngày 15 tháng 1 năm 1925
Trang 12“Hoan hỉ kỳ oan” khởi đăng trên Lục tỉnh tân văn từ số 1942, ngày 3 tháng 3
năm 1925 đến số 2052, ngày 16 tháng 6 năm 1925
“Đêm rốt của người tội tử hình” khởi đăng trên Lục tỉnh tân văn từ số 2076,
ngày 16 tháng 7 năm 1925 đến số 2182, ngày 22 tháng 11 năm 1925, Đức Lưu Phươngxuất bản năm 1929, hiện được lưu trữ tại thư viện Quốc gia, Hà Nội
“Cuồng phụ ngộ cừu nhân” khởi đăng trên Lục tỉnh tân văn từ số 2393, ngày 9
tháng 8 năm 1926 đến số 2478, ngày 1 tháng 12 năm 1926 (chưa kết thúc)
“Thập báo niên tiền Kim Liễu hàm oan” khởi đăng trên Lục tỉnh tân văn từ số
3549, ngày 10 tháng 7 năm 1930 đến số 3641, ngày 3 tháng 11 năm 1930
“Trăng già độc địa” khởi đăng trên Long Giang độc lập từ số 5, ngày 15 tháng
11 năm 1930 đến số 57, ngày 9 tháng 4 năm 1931 (chưa kết thúc)
“Người bán ngọc” (4 cuốn), Đức Lưu Phương xuất bản năm 1931 (in lại trong
Văn học Nam Bộ đầu thế kỷ XX , tập 1, Nxb TP Hồ Chí Minh, 1999)
Thường các tiểu thuyết của Lê Hoằng Mưu được đăng báo trước khi in thànhsách Rất tiếc là các tác phẩm của ông hiện nay chưa được sưu tầm đầy đủ Có tácphẩm nay không còn tìm thấy như “Tây Hồ công chúa ngoại sử” Có tác phẩm nhiềutập nay chỉ còn lại một, hai tập như trường hợp của “Oán hồng quần ngoại sử” (PhùngKim Huê), “Oan kia theo mãi” hay “Ba mươi hai đêm Hồ Cảnh Tiên tự thuật”, “Đầutóc mượn” Có tác phẩm không còn bản in thành sách như quyển tiểu thuyết đầu tay
“Hà Hương phong nguyệt” nên chỉ có thể đọc một cách đầy đủ trên báo (bằng viphim)
Đặc điểm về nội dung và nghệ thuật trong tiểu thuyết của Lê Hoằng Mưu Đặc điểm nội dung
Sớm hơn cả Trương Tửu, Vũ Trọng Phụng, Trọng Lang, ông đã đặt ra vấn đề tính
dục và những trang viết nóng bỏng của ông trong “Hà Hương phong nguyệt”, “Người bán ngọc” đã làm xôn xao dư luận trong một thời mà ảnh hưởng của Tống Nho còn rất
sâu nặng
Qua mối tình của Tô Huệ Nhi và Châu Kỳ Xương trong “Tô Huệ Nhi ngoại sử”,
Lê Hoằng Mưu muốn đả kích lễ giáo phong kiến, đấu tranh cho tự do hôn nhân Tácphẩm bằng việc nói bóng gió về phong trào duy tân ở Trung Quốc, đã có ý hướng ca
ngợi phong trào Duy Tân ở nước ta lúc bấy giờ Oán hồng quần đã bắt đầu có những
chi tiết tả thực như hoạt động ở thanh lâu, những thủ đoạn của bọn mẹ mìn và thám tử,những cuộc đào thoát mạo hiểm mang tính chất trinh thám
Đặc điểm về nghệ thuật
Ở những tác phẩm ban đầu, văn của Lê Hoằng Mưu còn rất dài dòng, nhiều đoạn
là văn biền ngẫu “Hà Hương phong nguyệt” viết theo lối văn xuôi có đối có vần rất
du dương réo rắt và thỉnh thoảng lại xen các bài thơ vào Kể chuyện Nghĩa Hữu mê
say Hà Hương phụ bạc Nguyệt Ba, Lê Hoằng Mưu viết: “Lúc vắng vẻ mặc tình sắc dục, đã đời rồi lắm lúc quên về, nào tưởng chi đến phận hiền thê, nằm thôi thức mỏi
mê chờ đợi Cuộc điếm đàng giả tuồng nhơn ngỡi, vui trăng hoa rồi tới chuyện trò, theo một bên rờ rẫm mằn mò, làm như cách ngao cò gặp mặt” Nhưng lời văn có đối
Trang 13có vần tự nhiên lưu loát thời đó lại là một trong những yếu tố tạo ra sức hấp dẫn của
tác phẩm Lê Hoằng Mưu như Nguyễn Liên Phong đã từng nhận xét: “hơi nôm na sắp đặt lanh lợi có duyên, người ta xem đến không nhàm mỏi” Kết cấu của các tác phẩm
này vẫn là kiểu kết cấu chương hồi Nhưng những tác phẩm này cũng đã có những
điều mới Trong “Hà Hương phong nguyệt”, tác giả đã chú ý đến việc miêu tả, phân
tích những diễn biến tâm lý, cảm giác của nhân vật trong quan hệ tình ái Đó là nhữngđiều rất mới mẻ về bút pháp so với tiểu thuyết truyền thống
Đến “Oan kia theo mãi” cách viết của ông đã tỏ ra hiện đại, mới mẻ hơn Ảnh
hưởng lối viết tiểu thuyết của phương Tây thể hiện rất rõ, cái mới trước tiên là ở kết
cấu Cũng như trong “Truyện Thầy Lazaro Phiền” của người tiền bối Nguyễn Trọng Quản, nhân vật người kể chuyện trong “Oan kia theo mãi” được thể hiện ở ngôi thứ
nhất, qua nhân vật xưng “tôi” Điều này cho phép tác giả đưa vào việc trần thuật quanđiểm riêng của nhân vật, sắc thái tâm lý, cá tính mang đậm tính chủ quan Nhân vật HồCảnh Tiên mang nặng một tâm trạng dằn vặt đau khổ và hối hận về những việc làm saitrái, đồi bại của bản thân mình Mở đầu là những hiểu lầm giữa Hồ Cảnh Tiên với vợ
và Chánh Tâm, xung đột trong truyện là xung đột của hai tuyến nhân vật Nhưng “Oan kia theo mãi” không xoay quanh sự xung đột giữa hai tuyến nhân vật mà xoáy sâu vào
sự xung đột ngay trong nội tâm của nhân vật chính Hồ Cảnh Tiên Đi sâu vào nội tâmnhân vật, tác giả có điều kiện thể hiện tính cách của nhân vật và nắm bắt được bản chấtnhân vật một cách sâu sắc Sự xung đột ở đây xảy ra ngay trong tư tưởng Hồ CảnhTiên, xung đột trong cái ác và cái thiện, cái cao thượng và cái dâm ô Nhân vật bịgiằng xé trong những nỗi đau ấy
Sang “Đầu tóc mượn”, ngòi bút của Lê Hoằng Mưu đã mang nhiều nét của văn
xuôi hiện đại Tiểu thuyết này đã có bố cục theo kiểu hiện đại, không kể chuyện màmiêu tả Tác giả đã sáng tạo nhiều mâu thuẫn, xung đột rất phù hợp với sự phát triểncủa tính cách, tâm lý nhân vật
Đến “Đêm rốt của người tội tử hình” và “Người bán ngọc”, việc phân tích tâm
lý nhân vật của Lê Hoằng Mưu đã lên đến một trình độ cao Kết cấu “Đêm rốt của người tội tử hình” không phát triển theo tuyến tính nữa mà đã theo diễn biến tâm lý của nhân vật “Người bán ngọc” cũng có nhiều dáng dấp hiện đại trong việc xây dựng
một cốt truyện ly kỳ, hấp dẫn, xen lẫn những trang miêu tả tình yêu sắc dục với nhữngtình tiết án mạng và phá án Nhà văn đã chú ý đến thao tác miêu tả tâm lý nhân vật, đisâu vào nội tâm nhân vật, để từ đó tính cách nhân vật hiện lên một cách rõ rệt
Tiểu thuyết của Lê Hoằng Mưu có nhiều kịch tính, điều này góp phần tạo nên sựhấp dẫn cho các tác phẩm của ông Chúng ta cũng có thể thấy điều này trong nhữngtác phẩm của những tác giả cùng thời với ông như Trần Chánh Chiếu, Trương DuyToản, Nguyễn Chánh Sắt Đây có thể nói là một đặc trưng của truyện ngắn và tiểuthuyết Nam Bộ mà sau này các tác giả như Phú Đức và Việt Đông, Sơn Nam vàNguyễn Quang Sáng đã kế thừa Hầu như tác phẩm nào của ông cũng có các tình tiếtrất ly kỳ Sự xung đột giữa hai tuyến nhân vật trong các tác phẩm của ông diễn ra rất
Trang 14gay go quyết liệt, thậm chí chỉ cái chết mới giải quyết được những mâu thuẫn, xungđột đó.
Một điểm mới trong nghệ thuật kết cấu tác phẩm của Lê Hoằng Mưu là ở kếtthúc của các tác phẩm Không như những tác phẩm khác cùng thời, tác phẩm của LêHoằng Mưu kết thúc một cách bất ngờ, không có hậu, đi ngược với tiểu thuyết truyền
thống Nhân vật chính diện Triệu Bất Lượng trong “Oán hồng quần” đã bị "máy ăn"
khi làm việc trong một nhà máy xay lúa, bỏ lại người vợ bất hạnh Phùng Kim Huê
cùng hai con nhỏ “Đêm rốt người tội tử hình” và “Người bán ngọc” cũng cho ta thấy
điều này Đó là những kết thúc trong bi kịch, bế tắc Nhưng niềm tin về một cuộc sốngtốt đẹp hơn vẫn thấy le lói qua nhiều trang viết của tác giả
Ngôn ngữ tiểu thuyết của Lê Hoằng Mưu đã dần dần hoàn thiện theo thời gian
Ngay ở “Người bán ngọc”, tác phẩm cuối của ông, vẫn còn dấu vết biền ngẫu, vẫn còn
xen các bài thơ vào Nhưng lối văn này càng về sau càng phai nhạt dần, nhường chỗcho một lối văn hiện đại, súc tích và trong sáng hơn
Lê Hoằng Mưu là một nhà văn tiên phong, là một trong những nhà văn Nam Bộtiêu biểu cho lớp nhà văn thời kỳ giao thời, quá độ trong những thập kỷ đầu của thế kỷ
XX Qua tác phẩm của ông, chúng ta thấy thi pháp tiểu thuyết phương Đông, mà cụthể là tiểu thuyết chương hồi Trung Quốc, đã hòa lẫn với thi pháp tiểu thuyết phươngTây một cách hết sức thú vị Đó cũng là một đặc điểm chung trong tác phẩm của nhiềunhà văn Nam Bộ thời kỳ đó Nhưng Lê Hoằng Mưu cũng có những điểm đặc biệt sovới các nhà văn Nam Bộ khác cùng thời Ông có nhiều thử nghiệm táo bạo trong cáctác phẩm của mình Thay vì kể chuyện, tự sự, ông đã sớm đi vào miêu tả, phân tíchtâm lý nhân vật và đã đạt được những thành công nhất định
Qua việc sáng tạo ra những cốt truyện có các tình tiết ly kỳ, qua việc thể hiệnnhững vụ phá án ngoạn mục, ông có lẽ cũng là người gợi ý cho kiểu tiểu thuyết trinhthám sau này ở Phú Đức, Việt Đông Kết cấu trong các tác phẩm của ông cũng rất đadạng so với văn chương thời kỳ đó Không phải ngẫu nhiên mà nhà nghiên cứu Bằng
Giang trong “Văn học quốc ngữ ở Nam Kỳ” 1865 - 1930 đã khẳng định: “tiểu thuyết (không nói truyện ngắn) thì cũng chỉ bắt đầu với “Hà Hương phong nguyệt” của Lê Hoằng Mưu”
Mượn lời đánh giá về Lê Hoằng Mưu trong “Từ điển văn học” (Nguyễn Huệ
Chi) để khái quát lại đặc điểm nội dung và nghệ thuật trong sáng tác của ông: “Lê Hoằng Mưu là nhà văn đi trước thời đại, là một ngòi bút viết tiểu thuyết khá độc đáo Chịu ảnh hưởng của cả hai luồng văn chương Trung Hoa và Âu Mỹ thuở ấy, nhưng ông tìm được cho mình một hướng đi chủ động: không bị chủ đề đạo lý hoàn toàn chi phối, mà từ rất sớm đã biết khơi sâu vào mặt trái của đời sống, dựng lên những cốt truyện khác thường, lựa chọn những mẫu người có thể nói là "tai tiếng" làm đối tượng cho tác phẩm Chẳng hạn như cốt truyện "Hà Hương phong nguyệt" Về nghệ thuật, có một bước tiến ngày càng rõ trong bút pháp viết truyện của Lê Hoằng Mưu.
Từ cách viết chương hồi ảnh hưởng của tiểu thuyết Trung Quốc trong "Tô Huệ Nhi ngoại sử" đến cách viết ngả hẳn sang kết cấu tiểu thuyết phương Tây trong "Người
Trang 15bán ngọc" Có thể nói Lê Hoằng Mưu là một trường hợp độc xuất trong dòng tiểu thuyết quốc ngữ miền Nam trong vài chục năm đầu của thế kỷ 20, biết phá bỏ những thói quen và bứt nhanh lên khỏi truyền thống Đồng thời có cái nhìn sắc bén vào xã hội thành thị Việt Nam trong buổi giao thời Ông đã tạo dựng được một vị trí hiếm nhà văn đương thời nào sánh kịp như tuần báo Mai năm 1939 nhận xét: "Buổi ấy ông
là người có "tài sắc" nên tiếng tăm nổi dậy như cồn Lời văn cũng như lý luận đã lôi cuốn, hấp dẫn, chinh phục tất cả xứ Nam Kỳ và cả thế hệ thanh niên hồi đó".
2.2 Tiểu thuyết “Hà Hương phong nguyệt”
Xuất xứ và hoàn cảnh sáng tác
“Hà Hương phong nguyệt” - Cuốn tiểu thuyết đầu tay và cũng là cuốn gây nhiều
tai tiếng nhất cho Lê Hoằng Mưu Độc giả khen ngợi, bênh vực ông cũng nhiều và
người đả kích, phê phán cũng không ít Tác phẩm bắt đầu được đăng trên báo “Nông
Cổ mín đàm” từ ngày 20 tháng 7 năm 1912 với nhan đề “Truyện nàng Hà Hương”, đến năm 1915 tác phẩm được xuất bản thành sách với tên là “Hà Hương phong nguyệt”
Tóm tắt
Tác phẩm mở đầu với câu truyện ở tỉnh Bến Tre, có vợ chồng Trần Quế là ngườichân thật, chăm chỉ làm ăn, nên gây dựng được một gia sản lớn Cạnh nhà Trần Quế,
có bà đỡ (bà mụ) tên Lưu, bà Lưu có con gái là Liên lấy chồng là Thân Vợ Trần Quế
và Liên đều “khai hoa nở nhụy” cùng một ngày và những bé gái kháu khỉnh được chàođời Bà Lưu muốn cháu mình sung sướng, nên thực thi âm mưu và kế độc, tráo concủa Trần Quế và Liên với nhau Cô con gái giả này tên là Hà Hương sống với TrầnQuế rất sung sướng, còn cô con gái thật tên là Nguyệt Ba sống ở nhà Liên - Thân trongcảnh lam lũ và nghèo khổ Lớn lên, Hà Hương được cưng chiều nên chỉ biết lo chưngdiện, ăn chơi lêu lổng Cùng làng, có Đậu Nghĩa Sơn - một gia đình khá giả, có contrai là Nghĩa Hữu, một thanh niên chỉ biết mải mê chuyện lầu xanh và cờ bạc NghĩaSơn muốn con trai tu tỉnh, nên tìm cách lấy vợ cho Nghĩa Hữu Thấy gia cảnh nhàTrần Quế khá giả, Nghĩa Sơn hỏi Hà Hương cho con trai mình và được Trần Quế ưngthuận Hà Hương về làm dâu, nhưng vẫn quen thói lả lơi, buông tuồng và thêm nạn cờbạc đến nợ nần chồng chất Vợ chồng Nghĩa Sơn bỏ ra hai ngàn đồng làm điều kiện để
Hà Hương bỏ chồng Hà Hương ưng thuận và làm ngay theo ý Vợ chồng Nghĩa Sơnbèn hỏi Nguyệt Ba cho Nghĩa Hữu Lúc ấy, Bà Lưu đem câu chuyện tráo con nói thậtvới Hà Hương, làm nàng sinh phiền muộn tìm cách chiếm lại Nghĩa Hữu Về phầnNghĩa Hữu, tuy lấy Nguyệt Ba nhưng vẫn tơ tưởng đến Hà Hương Nghĩa Hữu và HàHương tìm cách lén lút qua lại với nhau Vì lòng ghen tuông và đố kỵ, Hà Hương hạiNguyệt Ba: đánh thuốc mê, cho thuyền buôn chở đi mất dạng Nghĩa Hữu biết chuyện,nhưng vẫn không dứt bỏ được Hà Hương Hà Hương ám hại Nguyệt Ba không thành,
bị tố cáo đi tù, nhưng sau đó Nghĩa Hữu đã dẫn Hà Hương vượt ngục trốn chạy Giaiđoạn này trở về sau đánh dấu chặng đường “phong lưu hoa nguyệt” của Hà Hương, từBến Tre đến đất Sài Gòn Trên chặng đường dài này, Hà Hương bỏ Nghĩa Hữu và có
Trang 16quan hệ chăn gối với các nhân vật như sau: chú Bảy người Chà Và, chú Xã và ÁiNghĩa.
Phần hai và phần ba của tiểu thuyết “Hà Hương phong nguyệt” chủ yếu nói vềthế hệ đời con nhằm đáp ứng nhu cầu thị hiếu từ phía độc giả Sau khi Nghĩa Hữu đâm
Ái Nghĩa, chẳng bao lâu Ái Nghĩa chết, Nghĩa Hữu dọn đến ở chung với Hà Hương
Vì có âm mưu chiếm đoạt toàn bộ gia tài của Ái Nghĩa nên Nghĩa Hữu giết con của HàHương và Ái Nghĩa tên là Ái Nhơn khi mới năm tuổi (nhưng Ái Nhơn được một ngườichài lưới cứu sống và nuôi lớn) Hà Hương đau buồn vì thương nhớ con cộng thêm sựthờ ơ, vô tâm, ăn chơi sa đọa của Nghĩa Hữu nên chẳng bao lâu sau đó Hà Hương cũngchết trong ăn năn, hối hận, trong ốm đau, bệnh tật, cô đơn Ái Nhơn con của HàHương cùng Ái Nghĩa và Bạch tỷ Thoàn con của Nghĩa Hữu cùng Nguyệt Ba đánhnhau để tranh giành Hai Long Ái Nhơn bị Thoàn đâm ở yết hầu, sau đó Thoàn cõngHai Long trốn đến nương nhờ nhà mụ quán Hai Long rất căm ghét Bạch tỷ Thoànsong phải cố tươi cười sợ nguy nan đến tính mạng Sau đó, tỷ Thoàn ăn chơi sa đọa bỏmặc Hai Long, nàng bệnh không có ai chăm sóc nên cũng chết Ái Nhơn tìm lại đượcBạch tỷ Thoàn, nhờ sự giúp sức của người tớ gái Thị Hoa nên Ái Nhơn lấy lại đượcgia tài từ tay Nghĩa Hữu Nghĩa Hữu chết, tỷ Thoàn vì bị mất hết gia tài (Nghĩa Hữuphải kí giấy nhượng lại toàn bộ gia tài trước đây của Ái Nghĩa cho Ái Nhơn) nên cămtức Ái Nhơn, quyết trả thù bằng được Bạch tỷ Thoàn cấu kết với Bảy Nhỏ (gái điếm)chia cắt tình cảm vợ chồng Ái Nhơn – Anh Cô nhưng may nhờ có Thị Hoa giúp đỡ,cuối cùng Ái Nhơn nhận ra sự nghi ngờ vợ của mình là sai lầm, xin lỗi Anh Cô, họsống hạnh phúc bên nhau
“Hà Hương phong nguyệt” là tiểu thuyết quốc ngữ đầu tiên của Nam Bộ
Được viết trong thập niên thứ hai của thế kỷ XX, “Hà Hương phong nguyệt” vẫn
chưa vượt thoát được tính chất biền ngẫu của văn xuôi thời đó, vẫn là một lối văn xuôi
có đối có vần rất du dương, thỉnh thoảng lại xen các bài thơ vào Ví dụ như để khuyến
dụ Nghĩa Hữu trở lại với mình, Hà Hương đã viết thư như sau: “Kính thăm anh đôi chữ bình an, Xin quân tử nghe em phiền trách Kể từ thuở vợ chồng xa cách, Em lần tay tính đã mấy trăng, Vì cớ chi bặt tích vắng tăm? Lời trái phải cũng không tính tới Anh dầu có nơi nào bạn mới, Cũng cho em rõ nỗi sự tình, Làm chi em vắng vẻ một mình, Tức tối bấy đau lòng tha thiết; Nhớ bạn ngọc đoạn sầu chi xiết, Thương thầm anh tấc dạ ủ ê, Chắc mẹ cha dạy dỗ thú thê, Nên anh biệt bấy lâu không tưởng tới… Em dẫu nhớ biết làm sao được! Dẫu mấy năm cũng phải đợi trông Em xa anh như bướm xa bông Chàng xa thiếp như ong lạc nhuỵ Ngày nghĩ tới dòng châu hột luỵ Đêm đêm nằm nước mắt rưng rưng” Cho nên, dựa trên những tài liệu đã công bố,xét trên cách hành văn với phong cách biền ngẫu, câu chữ du dương, nhịp nhàng vầnđiệu của sách, nhà thơ Lê Minh Quốc xem đây là truyện thơ, một sự nối dài của truyện
thơ nôm khuyết danh như Lâm truyền kỳ ngộ, Phạm Công - Cúc Hoa, Chàng Chuối tân truyện, Thạch Sanh, Lưu nữ tường…
Tuy nhiên, xét trên nhiều bình diện khác, hiện nay ý kiến của nhiều nhà nghiêncứu cho lại cho rằng đây là cuốn tiểu thuyết quốc ngữ đầu tiên của Nam Bộ Trước hết,
Trang 17việc xuất hiện “Hà Hương phong nguyệt”, theo Lê Hoằng Mưu là một phản ứng, là
lòng tự trọng của một nhà văn Việt Nam trước cơn sốt dịch “truyện Tàu” lúc đó Lê
Hoằng Mưu sau này đã tâm sự: “Dòm thấy trong xứ cứ ôm truyện Tàu mà dịch mãi, chưa thấy ai viết bộ tiểu thuyết nào cả Tưởng rằng dầu hay dầu dở cũng của mình Tôi khởi đầu viết bộ “Hà Hương phong nguyệt” Còn ở phần trả lời của nhà văn Nam
Bộ Bình Nguyên Lộc trong một cuộc phỏng vấn cũng khẳng định: "Cuốn tiểu thuyết đầu tiên tôi đọc là một cuốn sách mà thoạt đầu cha tôi cấm không cho đọc vì cho là dâm thư, đó là cuốn “Hà Hương phong nguyệt” truyện của Lê Hoằng Mưu Cuốn này được xuất bản vào khoảng năm 1917, và tôi tin đó cũng là cuốn tiểu thuyết được xuất bản đầu tiên của Việt Nam" Và theo ý kiến của Bằng Giang, ông cho rằng tiểu thuyết chỉ bắt đầu với “Hà Hương phong nguyệt”, trước hết đó là ở dung lượng của tác phẩm Ba tác phẩm của Nam Bộ được xuất bản trước đó là “Thầy Lazarô Phiền” (1887) của Nguyễn Trọng Quản chỉ dài 32 trang, “Hoàng Tố Anh hàm oan” (1910) của Trần Chánh Chiếu được 54 trang, “Phan Yên ngoại sử - Tiết phụ gian truân” (1910) của Trương Duy Toản cũng chỉ 49 trang, Vì thế việc xác định thể loại của các tác phẩm này, đặc biệt là “Thầy Lazarô Phiền”, đó là truyện ngắn, truyện vừa hay tiểu thuyết cũng còn gây tranh cãi “Hà Hương phong nguyệt” so với ba tác
phẩm trên có số trang dày dặn hơn nhiều (chỉ hết tập 6 đã dài đến 284 trang), infeuilleton trên báo “Nông Cổ mín đàm” kéo dài đến 4 năm vẫn chưa kết thúc (từ 1912đến 1915), điều rất khó hình dung trong giai đoạn này Tác phẩm gồm có 2 phần gầnnhư độc lập Phần đầu gần bốn tập, chủ yếu nói về những cuộc phiêu lưu tình ái củanàng Hà Hương xinh đẹp đa tình, trong đó quan hệ giữa Hà Hương và Nghĩa Hữu làquan hệ chủ yếu Phần hai chủ yếu kể về cuộc đời của Ái Nhơn, con trai của HàHương và Ái Nghĩa, vì thế có trường hợp đã hiểu nhầm rằng phần hai là văn bản củamột truyện khác
Hiện thực được phản ánh trong Hà Hương phong nguyệt cũng khá rộng lớn, cóthể xem đây là một xã hội Nam Bộ ở đầu thế kỷ XX được thu nhỏ Trong tác phẩm cócác gia đình giàu lẫn những gia cảnh nghèo hèn; có cảnh Sài Gòn đô hội phồn hoa bêncạnh cảnh nghèo hèn thôn dã; có cảnh tòa xử án, trạng sư biện hộ Số lượng nhân vậttrong Hà Hương phong nguyệt cũng rất đông đảo, da dạng, từ thường dân cho đếnquan chức Có nàng Hà Hương xinh đẹp, buông thả bên cạnh một Nguyệt Ba đẹpngười, đẹp nết Có Nghĩa Hữu đam mê sắc dục, ích kỹ bên cạnh một Ái Nghĩa chungtình Có cả người nước ngoài như khách trú người Hoa, có anh Bảy Chà Và (người gốcẤn) và những trạng sư người Pháp như Portrait,
Tác phẩm đầu tay này của Lê Hoằng Mưu so với những tác phẩm văn xuôi trước
đó đã nổi bật ở khả năng phân tích tâm lý sắc sảo Đây là một thế mạnh của Lê HoằngMưu so với các nhà văn Nam Bộ khác cùng thời vốn ít chú ý đến vấn đề này Thay vì
kể chuyện, ông đã sớm đi vào miêu tả tâm lý nhân vật, đã chú ý những diễn biến tâm
lý, cảm giác của nhân vật Đó là dấu hiệu của tiểu thuyết hiện đại, là một sự mới mẻ vềbút pháp so với tiểu thuyết truyền thống Nàng Hà Hương không đơn giản là một cô
Trang 18cũng biết vì mình quá ghen với Nguyệt Ba mà “làm chuyện độc tâm”, cũng biết than
thầm khi phụ bạc Nghĩa Hữu: “Xét lại phận gái như mình ở ăn đen bạc, làm cho ai phải chịu nhọc nhằn: vợ chồng kết cùng nhau đã lâu, tình mặn nghĩa nồng, đắng cay chung chịu, người ta thương mình cho đến đổi xa cha xa mẹ, lặn suối trèo non, cực khổ biết mấy ngàn, cũng theo mình trọn nghĩa Tới đến đây mình ham của phụ tình tấm mẳn, để cho người ra đi xứ lạ một mình, nắng chẳng biết mưa chẳng hay, biết cùng ai nương tựa” Nhân vật này qua ngòi bút của Lê Hoằng Mưu không phải là một
nhân vật chức năng mà mang tính nhị nguyên, phức tạp
Tóm lại, “Hà Hương phong nguyệt” ra đời vào thập niên thứ hai của thế kỷ XX,
vì thế vẫn còn mang một số hạn chế của thời đại Nhưng với dung lượng đáng kể, với
hệ thống nhân vật đa dạng, đặc biệt là nghệ thuật phân tích tâm lý khá đặc sắc, tácphẩm đầu tay này của Lê Hoằng Mưu xứng đáng là tiểu thuyết quốc ngữ đầu tiên củaNam Bộ như Bình Nguyên Lộc và Bằng Giang đã khẳng định Nó đánh dấu một bướcphát triển của tiểu thuyết Nam Bộ nói riêng và của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại nóichung, một bước phát triển rất đáng ghi nhận và trân trọng
Trang 19CHƯƠNG 3: NHỮNG BIỂU HIỆN VỀ VẤN ĐỀ PHONG HOÁ
VÀ TÍNH DỤC TRONG HÀ HƯƠNG PHONG
NGUYỆT
3.1 Tính dục trong “Hà Hương phong nguyệt”
3.1.1 Những khát khao gắn với tình yêu, hôn nhân
Con người Việt Nam mang tầm ảnh hưởng rất lớn từ tư tưởng Nho giáo trong quátrình giáo dục và lịch sử dựng nước ở các triều đại phong kiến thời trung đại Tínngưỡng truyền thống Việt Nam đã tiếp nhận Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo để làm nên
đã in sâu vào tâm thức mọi người Việt Văn học cũng thế, khi các nhà Nho xưa cấmnói lời dung tục và bị coi là hủy hoại câu từ, nòi giống, một kẻ tiểu nhân tầm thườngkhông đáng mặt trượng phu Nhưng song, từ khi có sự giao bang ngoại lai từ các đếquốc phát triển thì đã khai hóa tư tưởng cổ hủ và tiếp thu dần những luồng gió mới.Trong thời phong kiến, văn thơ mang tính dục của con người luôn được xem làdâm, là tục và không phù hợp với thuần phong mỹ tục thuở ban sơ nên hiếm khi mà nóphát triển Song đến những năm cuối của thế kỉ XVIII, nhà thơ Hồ Xuân hương được
xem là “Nhà thơ tấn thời”, “Ngọn hải đăng”, “Hào hoa và ngạo nghễ” đến “Bà chúa thơ Nôm”,… Nhưng chỉ là khởi đầu cho cái tôi khát khao và uất ức Còn trong những văn vần thì chưa thấy sự dung tục Cho đến khi “Hà Hương phong nguyệt” của Lê Hoằng Mưu được in trên báo “Nông cổ mín đàm” năm 1912 thì quả là một sự mới mẻ
cho sự tiếp nhận từ Phương Tây Người đời đả kích về sự dâm tục trong cách thể hiện
từ ngữ và phơi bày dục vọng của tình yêu trong từng câu chữ đã khiến ông hứng chịutác động mạnh từ luồng tư tưởng xưa cũ của các nhà Nho
Khai thác khía cạnh về khát khao gắn với tình yêu, hôn nhân trong Truyện “Hà Hương phong nguyệt” của Lê Hoằng Mưu là một điều khó khăn, bởi lẽ nó nó là một
truyện dài (nhiều phần) và phức tạp về tâm lý (nhân vật) cũng như những biến hóatheo thời gian, cũng như tự nhận thức của các nhân vật khi biết hối lỗi việc ác Nêntrong phần nhìn nhận để phân tích trên đây chúng tôi chia ra các tuyến nhân vật để dễnhìn thấy những khao khát về tính dục trong tình yêu – hôn nhân qua các nhân vậtnhư: Nghĩa Hữu, Hà Hương, Nguyệt Ba, Ái Nghĩa, Ái Nhơn, Thị Hoa, Bạch tỷ Thoàn,Anh Cô, Bảy Chà Và, Chú Xã
Khao khát về tính dục được thể hiện rất rõ trong nhân vật Nghĩa Hữu (con mộtnhà họ Đậu tên là Nghĩa Sơn), do sinh ra trong một gia đình giàu có nên ít học hành
“đêm thì dựa lầu xanh, ngày thì theo cờ bạc” Sống trong sự giàu sang phú quý nên
bản chất của con người luôn có sự ham muốn để thỏa mãn thú vui Tác giả Lê HoằngMưu ngay từ đầu đã đưa nhân vật Nghĩa Hữu để khái quát cả một quá trình dục vọng
mà hắn sẽ trải dài trong tiểu thuyết Chính nhà họ Đậu cũng nhìn nhận thấy bản chấtcon mình ham vui thú lạc nên cũng đã “ướm ước” cho con mình với một mỹ nhân nổidanh khắp vùng nhằm “buộc chân” kẻ sa đọa, nhưng buộc không chặt nổi nàng HàHương đa sắc lạ có thú cờ bạc nên đã “trả cửi về rừng” Bản thân Nghĩa Hữu là kẻ
“đắm sắc” nên khó thoát khỏi ải mỹ nhân
Trang 20Gia tư họ Đậu nghĩ nhọc thân con mình cưới nàng dâu không lâu nên đành chọn
lá gửi cây (Nguyệt Ba) Song không lâu thì bướm chán ong chường, đúng bản tính củamột kẻ ham muốn dục vọng nên cũng đã tưởng nhớ người xưa, ngựa quen thói cũ nhớ
đến nàng Hà thị “Ngày kia, trời trong gió mát, bóng chiều đã xế đầu non, Nghĩa Hữu
ra ngoài ngõ ngó mong, phút chốc động tình nhớ bạn Nhớ những lúc vào màn ra trước, nhớ những khi kề gối phụng dựa màn loan” đã ngỏ ý tìm hoa bướm vầy nên
phong thư ngỏ bút tái người xưa Dẫu biết rằng nhà Hà Hương khi ra ở riêng đã có
những phường ong bướm lả lơi: “dập dìu giai nhân tài tử, nhộn nhàng quới khách, vương tôn,…” nhưng Nghĩa Hữu vẫn một lòng muốn tìm đến Suy đi xét lại, cũng chỉ
vì bướm chán ong chường, ở cùng Nguyệt Ba cũng đã đủ thỏa nên hẳn nhớ tình xưa
thỏa khao khát Gặp Hà thị rồi thì mặt mừng khôn xiết để thỏa sự vun vầy: “Hà Hương thêm núm má hồng, Nghĩa Hữu càng trông càng khoái Thương quá nên hóa dại, Hữu không nói được mọt lời, ôm vợ mà hun dường như bướm lại với hoa, nhan sắc thiệt mặn mà! Hữu uống nước lao canh mà còn khát”
Bản chất tính dục của Nghĩa Hữu hiện hiện khá rõ mỗi khi gặp Hà Hương trongnhiều phân đoạn khác nhau của truyện Cách miêu tả thể hiện khác táo bạo của LêHoằng Mưu khi nói về Nghĩa Hữu Chẳng hạn:
- Khi Nguyệt Ba trúng kế độc Hà Hương thì Nghĩa Hữu là một người chồng mà
dửng dưng hoa nguyệt, nửa đêm qua nhà Hà thị: “Qua tới nơi trong nhà đều nghỉ, Hữu mới kêu Hà Thị dậy đốt đèn, tay thì chậm, mắt chùi ghèn, tay nọ giờ then mở cửa Khá khen cho đôi lứa, gặp mặt nhau như lửa với rơm Hữu mà thấy Hương như đói thấy cơm, nào tưởng việc trả hờn cho vợ Hữu bước vào hăm hở, Hà Hương mầng tở mở
ôm hun,… mặt Hữu coi lơ láo, bị hun một cái mà bủn rủn tay chưn quên ráo việc nhà”.
- Khi Nghĩa Hữu bỏ trốn cùng Hà Hương, may gặp lão chài cùng bạn cho đi nhờ.Trong lúc khốn cùng cấp bách để bỏ trốn nhưng bản chất Nghĩa Hữu vẫn nghĩ tới dụcvọng mà đê mê hương sắc Nghe tin lão chài gọi vô trong thoàn để chùm chăn cho ấm
thì “Hữu khoái quá, lật đật làm như lời, không để trễ một phút”.
- Khi Nghĩa Hữu tái ngộ Hà Hương sau bao tháng ngày lưu lạc Trong lúc bấygiờ Hà thị đã là vợ của chú Xã nhưng khi gặp thì Nghĩa Hữu nhân cơ hội mà thỏa mãn
dục vọng sau bao ngày mong nhớ: “Hữu mới đem thẳng Hà Hương vào khách sạn, thuê phòng, rủ bức rèm châu”, khao khát tình nghĩa ái ân “nào khác cá kia gặp nước, mặc thích tình lặn lội đua bơi, cuộc mây mưa thường thấy trong đời, chẳng lựa phải nhiều lời phân giải”.
Những khao khát về tính dục trong Nghĩa Hữu từ trước chí sau luôn khôngngưng, cho dù là ham muốn do bản tính hay mưu toan kế hiểm thì liễu ép nài hoa.Trong những năm cuối đời, dầu hồn sắp lìa khỏi xác nhưng Hữu vẫn tìm kiếm nhữngkhao khát đó qua nhân vật hầu Thị Hoa, cho dù Hoa luôn giữ mối hờn nhưng vẫn phải
ép mình cho Nghĩa Hữu thỏa mãn “Xe kéo ôi, tợ như cầm tĩn mà đổ, hứng mấy thùng cho hết”.