ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC TRẦN QUỐC PHƯƠNG PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN CẤP HUYỆN CỦA TỈNH PHÚ THỌ GIAI ĐOẠN HIỆN NAY LUẬN
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
TRẦN QUỐC PHƯƠNG
PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN CẤP HUYỆN CỦA TỈNH PHÚ THỌ
GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
TRẦN QUỐC PHƯƠNG
PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN CẤP HUYỆN CỦA TỈNH PHÚ THỌ
GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
MÃ SỐ: 8.140114
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN HIỆU
HÀ NỘI - 2020
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Qua 2 năm học tập, nghiên cứu tại Khoa Quản lý Giáo dục- Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội khoá QH-2016-S tôi đã được các Thầy giáo, Cô giáo tận tâm giảng dạy, trang bị cho tôi những kiến thức quý báu để phục vụ cho công tác của mình Tôi xin gửi tới các Thầy Cô lời cảm
ơn chân thành nhất
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thầy giáo PGS.TS Nguyễn Hiệu, người Thầy đã trực tiếp giúp đỡ, tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong quá trình nghiên cứu, thực hiện và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi xin cảm ơn Ban Chủ nhiệm khoa, các Thầy Cô giáo Khoa Quản lý giáo dục Trường Đại học Giáo dục- Đại học Quốc gia Hà Nội đã quan tâm, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt cho tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luân văn này
Xin cảm ơn Lãnh đạo Phòng Đào tạo Bồi dưỡng Sở Giáo dục và Đào tạo Phú Thọ, các đồng chí Giám đốc Trung tâm Giáo dục thường xuyên cấp huyện của tỉnh Phú Thọ, gia đình, bạn bè… đã động viên, giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi tôi thực hiện được luận văn
Mặc dù đã hết sức cố gắng nhưng luận văn không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế nhất định Tôi mong nhận được những góp ý, chỉ dẫn của Thầy Cô và bạn bè, đồng nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn
Phú Thọ, tháng 10 năm 2019
Tác giả
Trần Quốc Phương
Trang 4GDĐT Giáo dục và Đào tạo
GDKCQ Giáo dục không chính quy
GDPCQ Giáo dục phi chính quy
GDTX Giáo dục thường xuyên
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn i
Danh mục các từ viết tắt ii
Danh mục các bảng vi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN CẤP HUYỆN CỦA TỈNH PHÚ THỌ 6
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 6
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài 8
1.2.1 Phát triển 8
1.2.2 Biện pháp 8
1.2.3 Quản lý 9
1.2.4 Quản lý giáo dục 11
1.2.5 Đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục 13
1.2.6 Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý TT GDTX 13
1.3 Vị trí, vai trò, chức năng và nhiệm vụ của TT GDTX 15
1.3.1 Vị trí, vai trò của TT GDTX trong hệ thống giáo dục quốc dân 16
1.3.2 Chức năng, nhiệm vụ của TT GDTX 18
1.4 Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục TT GDTX cấp huyện của tỉnh Phú Thọ 19
1.4.1 Đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục 19
1.4.2 Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục TT GDTX cấp huyện của tỉnh Phú Thọ 19
Tiểu Kết Chương 1 30
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN CẤP HUYỆN CỦA TỈNH PHÚ THỌ 31
Trang 62.1 Giới thiệu chung về điều kiện tự nhiên kinh tế, xã hội tỉnh Phú Thọ 31
2.1.1 Về điều kiện tự nhiên 31
2.1.2 Về kinh tế xã hội 32
2.2 Quá trình phát triển sự nghiệp Giáo dục tỉnh Phú Thọ 36
2.3 Giáo dục thường xuyên của tỉnh Phú Thọ trong những năm qua 41
2.4 Thực trạng về đội ngũ cán bộ quản lý của các TT GDTX cấp huyện tỉnh Phú Thọ 43
2.4.1 Phân cấp quản lý và tổ chức bộ máy 43
2.4.2 Số các đơn vị phòng, tổ và cán bộ quản lý TT GDTX 51
2.4.3 Số lượng, chất lượng Ban Giám đốc các TT GDTX cấp huyện của tỉnh Phú Thọ 52
2.4.4 Phẩm chất và năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý TT GDTX cấp huyện của tỉnh Phú Thọ 52
2.4.5 Đánh giá chung về đội ngũ quản lý các TT GDTX cấp huyện của tỉnh Phú Thọ 55
2.5 Thực trạng phát triển đội ngũ cán bộ quản lý TT GDTX các huyện của tỉnh Phú Thọ 57
2.5.1 Nhận thức về xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý các TT GDTX 57
2.5.2 Công tác quy hoạch, bổ nhiệm, bãi nhiệm, luân chuyển 58
2.5.3 Công tác đào tạo, bồi dưỡng 60
2.5.4 Cơ cấu tổ chức và bộ máy 60
2.5.5 Chế độ chính sách đối với đội ngũ cán bộ quản lý 61
Tiểu kết chương 2 64
CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ CÁC TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN CẤP HUYỆN CỦA TỈNH PHÚ THỌ GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 66
3.1 Định hướng phát triển giáo dục trong giai đoạn mới 66
3.2 Nguyên tắc chọn lựa biện pháp 71
3.2.1 Đảm bảo tính kế thừa 71
Trang 73.2.2 Đảm bảo tính thực tiễn 72
3.2.3 Đảm bảo tính đồng bộ 73
3.3 Các biện pháp đề xuất 73
3.3.1 Nâng cao nhận thức của các cơ quan quản lý Nhà nước và của chính đội ngũ cán bộ quản lý về tầm quan trọng của đội ngũ và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý 74
3.3.2 Đảm bảo số lượng cán bộ quản lý thích ứng với chiến lược và quy hoạch phát triển đề ra 77
3.3.3 Đảm bảo chất lượng đội ngũ phù hợp với nhiệm vụ chính trị của TT GDTX 79
3.3.4 Chăm lo cải thiện đời sống, hoàn thiện chính sách đãi ngộ 84
3.3.5 Cải tiến cơ chế quản lý, thực hiện sự thống nhất giữa ngành và lãnh thổ 85
3.4 Mối liên quan của các biện pháp 86
3.5 Khảo nghiệm tính cấp thiết, tính khả thi 87
Tiểu kết chương 3 88
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Quy mô số trường, số học sinh các cấp học của tỉnh Phú Thọ 40 Bảng 2.2 Tổng hợp số liệu ĐN CBQL, giáo viên, nhân viên TT
GDTX cấp huyện của tỉnh Phú Thọ 44 Bảng 2.3 Bảng tổng hợp trình độ Ban giám đốc trung tâm cấp huyện
của tỉnh Phú Thọ 46 Bảng 2.4 Bảng tổng hợp độ tuổi CBQL TT GDTX Phú Thọ cấp huyện
của tỉnh Phú Thọ 47 Bảng 2.5 Bảng quy mô người học, học viên năm học 2017- 2018 48 Bảng 2.6 Cơ sở vật chất, thiết bị, phòng học của trung tâm cấp huyện
của tỉnh Phú Thọ 49 Bảng 2.7 Số đơn vị (phòng, tổ) tại TT GDTX cấp huyện tỉnh của Phú Thọ 51 Bảng 2.8 Bảng thống kê trình độ và thâm niên quản lý của Ban giám đốc 52 Bảng 3.1 Kết quả khảo nghiệm về tính cấp thiết và tính khả thi của
các biện pháp 87
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ở Việt Nam, Trung tâm Giáo dục thường xuyên giữ vai trò then chốt trong hệ thống Giáo dục thường xuyên (GDTX) Ra đời từ những năm 60 của thế kỷ XX, ngành học GDTX ngày càng khẳng định vị thế của nó trong việc
xây dựng xã hội học tập, nhất là giai đoạn hiện nay, những chuyển biến mạnh
mẽ và sâu sắc về kinh tế- xã hội trên quy mô thế giới, xu hướng toàn cầu hoá đòi hỏi nền giáo dục nước ta phải thực hiện được sứ mệnh: Xây dựng nền kinh tế tri thức, phát triển được nguồn vốn con người cho sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước
Năm 1972, UNESCO đã có tuyên ngôn 21 điểm, trong đó có 9 điểm
phát triển GDTX; Điểm 1 và điểm 2 có ghi: “GDTX phải là nét chủ đạo trong
mọi chính sách giáo dục”; “GDTX qua mọi lứa tuổi trong suốt cuộc đời Giáo dục phải thực sự trở thành phong trào quần chúng”
Nhưng trên thực tế những năm qua, nguồn lực cho GDTX chưa được quan tâm đúng mức, không tương xứng với vai trò, nhiệm vụ và vị trí chiến lược của nó, làm ảnh hưởng đến phát triển quy mô và nâng cao chất lượng giáo dục
Với hoạt động mang tính xã hội cao, với những chức năng nhiệm vụ
đa dạng, linh hoạt thay đổi theo sự phát triển của xã hội, Trung tâm Giáo dục thường xuyên (TT GDTX) với hoạt động của mình, tạo ảnh hưởng quan trọng đối với xã hội Chuyển từ mô hình trường Bổ túc Văn hoá (BTVH) sang loại hình TT GDTX, sự đầu tư trên các phương diện cho GDTX - trong
đó có đầu tư về đội ngũ cán bộ quản lý, còn nhiều hạn chế Các đơn vị
GDTX được giao các nhiệm vụ đa dạng nhưng sự đầu tư để có một đội ngũ
đủ mạnh và cơ sở vật chất, điều kiện khác đảm bảo cho việc thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ thì chưa có
Ở trung tâm GDTX các huyện của tỉnh Phú Thọ hiện nay, điều kiện về
Trang 10đội ngũ, cơ sở vật chất được tăng cường cơ bản đáp ứng tốt nhu cầu học tập của nhân dân Hoạt động của trung tâm đi vào ổn định theo mô hình một trung tâm thực hiện nhiều nhiệm vụ, tạo điều kiện thuận lợi cho ngành học GDTX của tỉnh tiếp tục phát triển Tuy nhiên, hoạt động của các trung tâm GDTX hiện còn gặp một số khó khăn: Chất lượng học sinh đầu vào còn thấp, không đồng đều khiến cho công tác quản lý và thực hiện các chương trình giáo dục gặp trở ngại Một số trung tâm mất cân đối về cơ cấu giữa giáo viên dạy văn hóa và dạy nghề Đối với những trung tâm không có trung tâm dạy nghề sáp nhập mà chỉ là đổi tên thì thiếu giáo viên, thiếu cơ sở vật chất phục
vụ cho công tác dạy nghề
Xác nhận nhân lực giữ vai trò then chốt trong hệ thống, đội ngũ lãnh đạo như đầu tàu mà đoàn tàu chạy nhanh hay chậm là do sức lực của đầu máy Muốn thay đổi chất lượng hệ thống GDTX thì phải quan tâm đến việc
xây dựng đội ngũ, tăng sức khỏe cho động cơ; Và vì vậy, chú trọng xây dựng
đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục vừa có căn cứ lí luận, vừa xuất phát từ nhu cầu thực tế của nền giáo dục Việt Nam trong thời đại ngày nay
Chọn đề tài: “Phát triển đội ngũ cán bô quản lý trung tâm Giáo dục thường xuyên cấp huyện của tỉnh Phú Thọ giai đoạn hiện nay”, tác giả, với mong muốn tìm ra những nguyên nhân thành công, những bất cập yếu kém trong phẩm chất và năng lực của ĐN CBQL các TT GDTX, từ đó tìm ra những điều kiện cần cho việc phát triển ĐN CBQL các TT GDTX; Đề xuất các giải pháp nhằm xây dựng ĐN CBQL cho hệ thống các TT GDTX Tuy nhiên, do điều kiện khảo sát hạn chế, luận văn chỉ giới hạn trong nghiên cứu biện pháp phát triển đội ngũ Ban Giám đốc các TT GDTX các huyện của tỉnh Phú Thọ
2 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này có mục đích chỉ ra thực trạng phát triển đội ngũ cán bộ quản lý tại các TT GDTX cấp huyện của tỉnh Phú Thọ Những năm qua; Ưu điểm và tồn tại Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng để phát triển đội ngũ cán bộ quản lý TT GDTX các huyện của tỉnh
Trang 11Phú Thọ, góp phần tạo nên chuyển biến chất lượng đội ngũ, đáp ứng nhiệm
vụ ngành học GDTX trong giai đoạn hiện nay
3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu: Đội ngũ cán bộ quản lý các TT GDTX
GDTX cấp huyện của tỉnh Phú Thọ
3.2 Đối tượng nghiên cứu: Đội ngũ cán bộ quản lý TT GDTX cấp
huyện của tỉnh Phú Thọ
4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
4.1 Giới hạn về đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các biện pháp tổ chức hoạt động của cán bộ quản lí các TT GDTX cấp huyện của tỉnh Phú Thọ
4.2 Giới hạn về đối tượng khảo sát
Đề tài khảo sát lấy ý kiến 3 nhóm đối tượng: CBQL TT GDTX cấp huyện
của tỉnh Phú Thọ, giáo viên, chuyên viên Sở Giáo dục và Đào tạo Phú Thọ
- Khảo sát thực trạng năng lực của cán bộ quản lí TT GDTX cấp huyện của tỉnh Phú Thọ
- Khảo sát tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp tổ của cán bộ
quản lí TT GDTX cấp huyện của tỉnh Phú Thọ
4.3 Giới hạn về địa bàn nghiên cứu
Đề tài luận văn nghiên cứu hoạt động của các TT GDTX ở 13 huyện, thị, thành phố của tỉnh Phú Thọ, gồm: Thành phố Việt Trì, Thị xã Phú Thọ, các huyện Lâm Thao, Phù Ninh, Tam Nông, Thanh Thủy, Thanh Ba, Hạ Hòa, Đoan Hùng, Cẩm Khê, Yên Lập, Thanh Sơn, Tân Sơn
Do điều kiện khảo sát còn hạn chế, luận văn chỉ giới hạn trong nghiên cứu biện pháp phát triển ĐN CBQL là Ban Giám đốc TT GDTX cấp huyện của tỉnh Phú Thọ
5 Câu hỏi nghiên cứu
Cần có các biện pháp phát triển ĐN CBQL là Ban Giám đốc TT GDTX cấp huyện của tỉnh Phú Thọ.trong giai đoạn hiện nay
Trang 126 Giả thuyết khoa học
Cán bộ quản lý TT GDTX các huyện thuộc tỉnh Phú Thọ những năm qua đã nỗ lực điều hành đơn vị hoạt động, đóng góp vào kết quả của ngành học GDTX Phú Thọ Tuy nhiên, do những điều kiện khách quan và chủ quan còn hạn chế, khiến sự điều hành quản lý chưa đạt được kết quả cao Nếu chỉ
ra được những bất cập đó, đồng thời đề xuất được các biện pháp bổ sung, khắc phục thì sự điều hành chỉ đạo của đội ngũ cán bộ quản lý các TT GDTX các huyện của tỉnh Phú Thọ được thay đổi, đáp ứng được nhiệm vụ đặt ra cho ngành học, góp phần thúc đẩy tiến bộ kinh tế xã hội của tỉnh Phú
Thọ và đất nước
7 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Đề tài có các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
7.1 Nghiên cứu những vấn đề lý luận phát triển đội ngũ cán bộ quản
8 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các nội dung nghiên cứu của đề tài luận văn, các phương pháp nghiên cứu sau được sử dụng:
- Phương pháp tổng hợp, phân tích tài liệu: Phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ thống hóa các tài liệu khoa học có liên quan đến vấn đề nghiên cứu nhằm xác định cơ sở lý luận của đề tài
- Phương pháp khảo sát thực tiễn và tham vấn ý kiến chuyên gia
- Phương pháp đối sánh
- Điều tra xã hội học bằng phỏng vấn, bộ phiếu hỏi: lập biểu khảo sát đánh giá, đối tượng đánh giá là Ban Giám đốc, Bí thư chi bộ, Chủ tịch công đoàn, tổ trưởng chuyên môn, cán bộ giáo viên, lãnh đạo một số đơn vị có hoạt
Trang 13động phối hợp với TT GDTX Từ đó làm sáng tỏ được thực trạng quản lý điều hành của các TT GDTX của tỉnh Phú Thọ Qua kết quả khảo sát, nghiên cứu về thực trạng, trên cơ sở khoa học và thực tiễn về phát triển đội ngũ CBQL đề xuất những giải pháp phù hợp, khả thi để nâng cao chất lượng hoạt động quản lý tại TT GDTX cấp huyện của tỉnh Phú Thọ được thể hiện ở bộ phiếu hỏi phần Phujh lục 2
9.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được áp dụng cho việc phát triển đội ngũ cán bộ quản lí trung tâm Giáo dục thường xuyên cấp huyện của tỉnh Phú Thọ giai đoạn hiện nay
10 Cấu trúc của luận văn
Luận văn ngoài phần mở đầu có cấu trúc 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề phát triển đội ngũ cán bộ quản lý
TT GDTX cấp huyện của tỉnh Phú Thọ giai đoạn hiện nay
Chương 2: Thực trạng hoạt động của đội ngũ cán bộ quản lý TT GDTX
cấp huyện của tỉnh Phú Thọ giai đoạn hiện nay
Chương 3: Đề xuất biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý TT
GDTX cấp huyện của tỉnh Phú Thọ giai đoạn hiện nay
Kết luận và khuyến nghị
Cuối luận văn có phụ lục, tài liệu tham khảo
Trang 14CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN CẤP HUYỆN
CỦA TỈNH PHÚ THỌ
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Trong xu thế hội nhập, Việt Nam đã quan hệ với hơn 500 tổ chức phi chính phủ, thiết lập quan hệ ngoại giao với khoảng 185 quốc gia trên thế giới; Gia nhập các tổ chức quốc tế như ASEAN, WTO, APEC, CPTPP Trong bối cảnh đó, Việt Nam cần nỗ lực vượt lên để xây dựng và phát triển trong các mối quan hệ bình đẳng với các quốc gia đó
Mục tiêu đổi mới để phát triển, đổi mới giáo dục được coi là công cụ
khi nó nhắm đích vào con người - chủ thể của mọi hoạt động Quản lý giáo
dục, đổi mới tư duy và cách thức quản lý để thực sự có được chất lượng giáo dục mới đã và đang là sự quan tâm trăn trở của các cấp lãnh đạo, các nhà quản lý giáo dục bởi nó có ý nghĩa vô cùng to lớn, then chốt, quyết định sự thành bại của công cuộc cải cách giáo dục nước nhà Các nghiên cứu về quản
lý giáo dục, xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục, ở các cấp học, bậc học thể hiện nhận thức về tính cần thiết và tầm quan trọng đối với việc thay đổi chất lượng của ĐN CBQL
Những công trình nghiên cứu về lĩnh vực quản lý giáo dục có tính lý luận đầu tiên phải kể đến đó là: Giáo trình khoa học quản lý của tác giả Phạm Trọng Mạnh (NXB ĐHQG HN 2001); Khoa học tổ chức và quản lý - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của Trung tâm nghiên cứu Khoa học tổ chức - quản lý (NXB TK HN 1999); Khoa học quản lý nhà trường phổ thông của Trần Khải (NXB ĐHQG HN 2002); Giáo trình quản lý giáo dục của trường Cán bộ quản lý giáo dục (2003); Quản lý giáo dục của tác giả Bùi Minh Hiền (NXB ĐHSP 2006) Ngoài ra còn một số bài trên các báo và tạp chí của các
Trang 15tác giả khác viết về quản lý và quản lý giáo dục cũng là những tài liệu có giá trị mang tính định hướng, đó là các bài viết: “Vấn đề giáo dục tiếp tục ở Anh’’, “Chiến lược công nghiệp hóa và đào tạo công nhân ở Singapo’’ đăng tại tạp chí nghiên cứu giáo dục, số chuyên đề về chống nạn thất học 1991;
“Vai trò, vị trí của giáo dục từ xa trong Giáo dục thường xuyên, giáo dục suốt đời” (Tạp chí thông tin KHGD, số 40.1993)
Trong lĩnh vực GDTX, cũng đã có những bài viết, công trình nghiên cứu, tác giả Nguyễn Cảnh Toàn với: “Bàn về Giáo dục thường xuyên”; Tác giả Nguyễn Hữu Châu với bài nghiên cứu “Giáo dục thường xuyên trong những thập niên đầu thế kỷ XXI - Những thách thức cần chia sẻ” (Tạp chí Khoa học - Giáo dục, số 21 tháng 6/2007); “Ngành học không chính quy -
Cơ hội và thách thức” Trao đổi của tác giả Lê Văn Vỵ cùng Vụ trưởng vụ GDTX Hoàng Minh Luật (Báo Giáo dục - Thời đại ngày 11/5/2007); Bài
“Học tập suốt đời và yêu cầu đặt ra đối với nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực khoa học không chính quy” của tác giả Thái Xuân Đào, đăng trên Tạp chí Khoa học - Giáo dục, số 7 tháng 4/2006 Các bài viết đều khẳng định vai trò của hệ thống GDTX và việc phát triển hệ thống này có ý nghĩa quan trọng đặc biệt trong việc tạo ra XHHT ở Việt Nam thế kỷ XXI Cũng qua đó nổi bật lên những thách thức, bất cập và yếu kém của hệ thống GDTX thời gian qua và yêu cầu cần đổi mới hoàn thiện để đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước thời kỳ hội nhập… Những công trình nghiên cứu này có giá trị to lớn khi nó mang tính lý luận và thực tiễn, là cơ sở cho một ngành học trong quá trình phát triển có nguồn gốc ban đầu là trường Bổ túc văn hoá, có thể hoàn thiện dần một cách vững chắc những điều kiện để rồi có được sự phát triển bền vững Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu sâu, tổng thể về thực trạng ĐN CBQL các TT GDTX và xây dựng ĐN CBQL cho hệ thống các TT GDTX thì chưa có nhiều
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: “Vấn đề cán bộ là một vấn đề
Trang 16trọng yếu, rất cần kíp”, vì vậy “huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng” Luận văn này cũng nhằm nhấn mạnh vai trò của đội ngũ lãnh đạo trong việc phát triển các TT GDTX Tác giả muốn từ thực trạng để đề xuất các giải pháp nhằm xây dựng ĐN CBQL cho hệ thống các TT GDTX Tuy nhiên do điều kiện khảo sát còn hạn chế, luận văn chỉ giới hạn trong nghiên cứu biện pháp phát triển ĐN CBQL là Ban Giám đốc các TT GDTX thuộc các huyện trên tỉnh Phú Thọ
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Phát triển
Theo Từ điển Tiếng Việt thì “Phát triển là một phạm trù của triết học, là quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của một sự vật Quá trình vận động đó diễn ra vừa dần dần, vừa nhảy vọt để đưa tới sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ.”
Như vậy, phát triển là sản phẩm của tư duy con người, nó gắn liền với ý thức và phản ánh năng lực của chủ thể sau quá trình nhận thức và hoạt động nhận thức Nó là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định sự thành công hay thất bại của một cá nhân hay tổ chức
1.2.2 Biện pháp
Biện pháp là những cách thức cụ thể để thực hiện phương pháp quản
lý Vì đối tượng quản lý phức tạp đòi hỏi những biện pháp quản lý rất đa dạng và linh hoạt Các biện pháp quản lý có liên quan chặt chẽ với nhau tạo thành một hệ thống các biện pháp, các biện pháp này sẽ giúp cho các nhà quản lý thực hiện tốt hơn các phương pháp quản lý của mình mang lại hiệu quả tối ưu của bộ máy
Từ những định nghĩa trên, ta thấy biện pháp có những đặc điểm sau:
Biện pháp xuất hiện khi có một vấn đề mới cần giải quyết; Hoặc là vấn
đề cũ nhưng không đem đến kết quả mong muốn, cần được xem xét để có cách giải quyết khác nhằm đạt được hiệu quả tốt hơn
Trang 17Biện pháp là căn cứ vào các điều kiện để đưa ra và tiến hành những hoạt động, những cách thức, cách giải quyết một vấn đề đặt ra; Đối tượng thực hiện các biện pháp là chủ thể đề ra biện pháp với các thành viên liên quan trong vấn đề cần giải quyết Biện pháp được triển khai là nhằm đạt được mục tiêu đã đặt ra
1.2.3 Quản lý
Khi đời sống con người đạt tới mức văn minh nhất định thì một xã hội
đã hình thành Sự phân công lao động trong xã hội đã xuất hiện và một dạng lao động đặc biệt, đó là tổ chức, hình thành để thực hiện những mục tiêu mà
những nhóm người muốn thực hiện khi họ không thể đạt được với tư cách cá
một khoa học về nghệ thuật quản lý
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau:
“Quản lý là trông coi, giữ gìn theo những yêu cầu nhất định, là tổ chức điều khiển các hoạt động theo những điều kiện nhất định” (Từ điển tiếng Việt, NXB Giáo dục xuất bản năm 1994)
Theo tác giả Trần Quốc Thành: “Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội, hành
vi và hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích, đúng với ý chí quản lý, phù hợp với quy luật khách quan [23]
Tác giả Trần Kiểm thì nhấn mạnh: “Quản lý là những tác động của chủ
thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt được mục đích của tổ chức với hiệu
quả cao nhất” [17]
Trang 18Afanaxev.A.G cho rằng: “Quản lý con người có nghĩa là tác động đến anh ta, sao cho hành vi, công việc của anh ta đáp ứng những yêu cầu của xã hội, tập thể, để những cái đó có lợi cho cả tập thể và cá nhân, thúc đẩy sự tiến
bộ của cả xã hội lẫn cá nhân”
Và theo Aunapu F.F: “Quản lý hệ thống xã hội là một khoa học, nghệ thuật tác động vào hệ thống mà chủ yếu là con người trong hệ thống
đó nhằm đạt được những mục tiêu quản lý mà trong đó mục tiêu kinh tế -
Quản lý bao giờ cũng có mục tiêu Hoạt động quản lý được thực hiện với một tổ chức hay một nhóm xã hội Đây là điểm hội tụ cho những hoạt
động cùng nhau của nhiều người
Quản lý là thực hiện những tác động hướng đích từ chủ thể đến đối tượng Yếu tố con người, trong đó người quản lý và người bị quản lý, giữ vai
trò trung tâm trong hoạt động quản lý
Từ những dấu hiệu đặc trưng nêu trên, có thể hiểu: Quản lý là sự tác
động hợp quy luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý bằng tổ hợp những cách thức, những phương pháp nhằm khai thác và sử dụng tối đa các tiềm năng, các cơ hội của cá nhân cũng như của tổ chức, để đạt được mục tiêu đã đề ra
Trong quản lý, thông tin giữ vai trò quan trọng, quản lý cần có thông tin, thông tin về xã hội, về con người… thông tin về những năng lực hoạt động và quan hệ… Từ những thông tin đó, người quản lý có căn cứ xây dựng
Trang 19nội dung, phương pháp quản lý phù hợp; Khai thác được năng lực, thế mạnh,
kể cả dạng tiềm năng của các nhân sự mình quản lý Quá trình quản lý, là quá trình thông tin - tiếp nhận tin - truyền tin - xử lý tin, biến thông tin thành năng lượng thúc đẩy hoạt động giao tiếp hướng đích Bản chất quản lý thể hiện ở
mô hình dưới đây
Mô hình về quản lý
Mô hình về quản lý ở trên cho ta thấy:
Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức Khách thể quản lý là những con người cụ thể và hình thành tự nhiên
các mối quan hệ giữa những con người, giữa những nhóm người
Mục tiêu và nội dung quản lý là các yếu tố cần quản lý của khách thể,
đối tượng quản lý
Công cụ quản lý là phương tiện tác động của chủ thể quản lý tới khách
thể quản lý như: mệnh lệnh, quyết định, luật lệ, chính sách, v.v
Phương pháp quản lý là cách thức tác động của chủ thể tới khách thể
quản lý (Bằng tâm lý, giáo dục, kinh tế, hành chính, tổ chức )
1.2.4 Quản lý giáo dục
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (hệ giáo dục) làm cho hệ vận hành theo đường lối, nguyên lý giáo dục của
CHỦ THỂ QUẢN LÝ
MỤC TIÊU, NỘI DUNG QUẢN LÝ
KHÁCH THỂ QUẢN LÝ
CÔNG CỤ, P P QUẢN LÝ
Trang 20Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [21]
Theo tác giả Đỗ Ngọc Đạt: “Quản lý giáo dục là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý trong hệ thống giáo dục, sử dụng tốt nhất tiềm năng và điều kiện nhằm đạt được mục tiêu quản lý đã đề ra theo đúng luật định và thông lệ hiện hành.”
Tác giả Trần Kiểm trong giáo trình khoa học quản lý giáo dục đã định nghĩa như sau:
“Quản lý giáo dục là tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của
chủ thể quản lý lên hệ thống giáo dục nhằm tạo ra tính trồi (emergence) của
hệ thống; sử dụng một cách tối ưu các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống nhằm đưa hệ thống đến mục tiêu một cách tốt nhất trong điều kiện bảo đảm
sự cân bằng với môi trường bên ngoài luôn luôn biến động” [16]
Như vậy, quản lý giáo dục là hoạt động tự giác của chủ thể quản lý nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát một cách hiệu quả các nguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực) phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội”
Quản lý giáo dục thực chất là những tác động của chủ thể quản lý vào quá trình giáo dục (được tiến hành bởi tập thể giáo viên và học sinh, với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo Nhà nghiên cứu giáo dục
M.I.Konđacov định nghĩa như sau: “Quản lý giáo dục là tác động có hệ
thống, có kế hoạch, có ý thức và có hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống nhằm mục đích đảm bảo việc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của xã hội cũng như những quy luật của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực và tâm lý trẻ em”
Trang 21Như vậy, có thể thấy QLGD là quá trình làm cho giáo dục diễn ra một cách chủ định, hướng đích, cân đối, đồng bộ giữa các thành tố bộ phận của hoạt động giáo dục, của cả hệ thống giáo dục thống nhất phối hợp với nhau, giữa các lực lượng tham gia hoạt động giáo dục được xem xét nhiều
chiều và nhiều cấp độ Và vì vậy, để tạo nên một chất lượng giáo dục thực
sự và bền vững thì phải đồng thời nhìn nhận và xây dựng cả trên tầm quản
lý vĩ mô và vi mô
1.2.5 Đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục
Theo giáo trình khoa học quản lý, NXB chính trị quốc gia thì: “CBQL
là các cá nhân thực hiện những chức năng và nhiệm vụ quản lý nhất định của
bộ máy quản lý”
CBQL giáo dục là những người có nghiệp vụ, chuyên môn làm việc cho một tổ chức, cơ sở giáo dục và thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý nhất định
ĐN CBQL gồm tất cả những người có cùng chức năng, có chức vụ trong các tổ chức, đơn vị trong hệ thống chính trị, xã hội của đất nước ĐN CBQL cũng được phân thành nhiều cấp ĐN CBQL cấp Trung ương, ĐN CBQL cấp địa phương (tỉnh, huyện) ĐN CBQL cấp cơ sở
ĐN CBQL là lực lượng nòng cốt trong hệ thống chính trị xã hội, kinh tế
Họ có vai trò quan trọng trong việc lãnh đạo, quản lý kinh tế, văn hoá, giáo dục
ĐN CBQL giáo dục gồm tất cả những người có chức vụ trong một tổ chức của hệ thống giáo dục, cơ sở giáo dục, cùng tổ chức điều hành hoạt động của hệ thống giáo dục, cơ sở giáo dục
1.2.6 Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý TT GDTX
Đội ngũ CBQL TT GDTX là tập hớp những người có chức vụ, có vai tròvà cương vị nòng cốt trong các trung tâm, có trách nhiệm phân bố các nguồn lực, chỉ dẫn sự vận hành của một bộ phận hay toàn bộ tổ chức TT GDTX để hoạt động có hiệu quả và đạt đến mục đích giáo dục đặt ra
Trang 221.2.7 Quản lý TT GDTX
GDTX là một trong hai bộ phận của hệ thống giáo dục quốc dân nhằm giúp mọi người vừa làm, vừa học, học liên tục, học suốt đời, nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc làm và thích nghi với đời sống xã hội
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Trường học là một thiết chế xã hội,
trong đó diễn ra quá trình đào tạo, giáo dục với sự tương tác của hai nhân tố thầy - trò Truờng học là một bộ phận của cộng đồng và trong guồng máy của
hệ thống giáo dục quốc dân, nó là đơn vị cơ sở” [3]
Nếu trường phổ thông, hoạt động giáo dục diễn ra trong khuôn viên nhà trường, với đối tượng người học xác định trong một chương trình ổn
định theo quy chế chuyên môn mà Bộ giáo dục Đào tạo quy định thì với
GDTX, không gian diễn ra hoạt động giáo dục là tại nơi người học có nhu cầu và tại các địa điểm có thể thu xếp để thực hiện hoạt động giáo dục
Thời gian và đối tượng cũng đa dạng Chương trình thì bên cạnh một vùng
ổn định lưu hành và được kiểm soát của Bộ GDĐT thì lại còn rất nhiều chương trình do trung tâm hoặc giáo viên biên soạn lên rồi phổ biến hướng dẫn cho cộng đồng Giáo viên có thể từ nhiều nguồn: Các trường Đại học, cao đẳng, các cơ quan, viện nghiên cứu, doanh nghiệp Cũng có thể là cán
bộ nghỉ hưu, thợ có tay nghề Họ có thể là học viên của chương trình này
và là giáo viên của chương trình khác, và tất cả cũng vẫn mang đặc điểm chung là có mối quan hệ “tương tác” hai chiều giữa người học và người dạy, mặc dù cách thức tương tác có khác nhau Trường phổ thông và TT GDTX đều là “một bộ phận của cộng đồng và trong guồng máy của hệ thống giáo dục quốc dân”, cả hai đều là “đơn vị cơ sở”
Chính vì vậy, TT GDTX được xác định là nơi mà bất cứ ai có nhu cầu
học tập đều tìm thấy ở đó một tổ chức hoạt động giáo dục có nội dung học,
Trang 23hình thức học mà mình hài lòng nhất, giúp mình có thêm những hiểu biết cần thiết để hoà nhập cộng đồng, mưu cầu hạnh phúc
Như vậy có thể thấy, TT GDTX có những điểm chung với trường phổ thông: đó là những chương trình ổn định ở phần văn hoá; Nhưng lại có những đặc điểm riêng về mục tiêu, đối tượng, hình thức học, cách thức tổ chức điều hành khác với trường học
Công tác quản lý TT GDTX cũng khác với công tác quản lý trường học
và có thể nêu như sau: Quản lý TT GDTX là tập hợp những hoạt động tổ
chức, giáo dục đa dạng, phong phú theo từng chương trình và hình thức học khác nhau của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trên cơ sở huy động và
sử dụng có hiệu quả các nguồn lực GDTX, ngoài xã hội nhằm thực hiện được nhiều mục tiêu khác nhau, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, thực hiện các mục tiêu phát triển KT-XH của địa phương
Có thể rõ hơn sự khác nhau trong hoạt động giữa nhà trường chính quy với TT GDTX trong so sánh tại Bảng 1: Một số nội dung phân biệt Giáo dục
chính quy và GDTX (Phụ lục 1)
1.3 Vị trí, vai trò, chức năng và nhiệm vụ của TT GDTX
Theo UNESCO, "GDTX" được hiểu là sự giáo dục tiếp tục sau giáo dục ban đầu, sau giáo dục cơ bản (sau xoá mù chữ hay sau giáo dục tiểu học, giáo dục THCS tùy theo giáo dục phổ cập bắt buộc của từng nước) nhằm đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời của mọi người Sau khi đạt trình độ phổ cập, mỗi người có thể tiếp tục học theo các phương thức khác nhau: chính quy, không chính quy hoặc phi chính quy/tự học tùy theo điều kiện, hoàn cảnh của mỗi người Vì vậy, "GDTX" là một khái niệm rộng, bao gồm cả GDCQ, GDKCQ và GDPCQ
Ở Việt Nam, GDTX hiện đang còn được hiểu một cách khác nhau và còn chưa có sự phân biệt rõ ràng "GDTX" ở Việt Nam được dịch từ thuật
Trang 24ngữ tiếng Anh là "Continuing Education" Tuy nhiên, về mặt ngữ nghĩa, đang
có sự bàn luận GDTX theo nghĩa tiếng Việt chỉ sự giáo dục liên tục trong suốt cuộc đời từ lúc mới sinh cho tới khi chết, bao gồm cả giáo dục trẻ em và giáo dục người lớn Còn "Continuing Education" là sự giáo dục tiếp tục, tiếp nối sau giáo dục cơ bản Vì vậy, "Continuing Education" nên được dịch ra
tiếng Việt là "Giáo dục tiếp tục" Ở Việt Nam, GDTX được hiểu theo nghĩa là
"GDKCQ" (Theo Đào Duy Thụ - Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Giáo dục
không chính quy)
1.3.1 Vị trí, vai trò của TT GDTX trong hệ thống giáo dục quốc dân
Ngay từ ngày đầu thành công của Cách mạng Tháng 8/1945, với khởi nguồn là phong trào “Diệt giặc dốt’’ do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi xướng, ngành học Bổ túc văn hoá đó ra đời Suốt mấy chục năm, ngành học này đã góp phần quan trọng trong việc cùng nhà trường phổ thông nâng cao trình độ văn hóa cho cán bộ, nhân dân Cuối những năm 80 của thế kỉ XX là thời kỳ
“khủng hoảng” của hệ thống các trường BTVH Động cơ, nhu cầu học tập của cán bộ và của người dân đã có thay đổi Họ không chỉ có nhu cầu học văn hóa, học để có bằng cấp, chứng chỉ như trước nữa, mà còn học tập để cập nhật kiến thức, kỹ năng để làm ăn, kiếm sống, học để công tác tốt, để
nuôi dạy con cái,… Phương hướng điều chỉnh chuyển GDBT thành GDTX
trên cơ sở mở rộng đối tượng, chức năng, nhiệm vụ thành mô hình TT GDTX cấp huyện được xác lập
Bước vào thế kỉ XXI, GDTX có nhiều cơ hội, nhưng đồng thời cũng gặp không ít thách thức Yêu cầu về chất lượng nguồn nhân lực cho CNH- HĐH đất nước gắn với nhu cầu xây dựng XHHT đã xác định vị trí, vai trò của ngành học GDTX Nhận thức của xã hội và các cấp lãnh đạo đã được nâng
cao GDTX được khẳng định có vai trò to lớn đối với nâng cao dân trí và đào
tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực; Vai trò trong việc mục tiêu xây dựng XHHT của GDTX đã được Luật Giáo dục 2005 khẳng định
Trang 25Điều 40 Luật Giáo dục 1998 và điều 44 Luật Giáo dục 2005 đều xác định vai trò quan trọng của GDTX với mục tiêu "giúp mọi người vừa làm, vừa học, học liên tục, suốt đời, nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc làm và thích nghi với đời sống xã hội" Tuy nhiên, Luật Giáo dục 1998 coi GDKCQ là phương thức, còn Luật Giáo dục 2005 coi GDTX là hệ thống
Việc coi GDTX là một thành phần của hệ thống giáo dục quốc dân cũng được ghi trong Quyết định 112/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ
về phê duyệt Đề án “Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2005-2010’’; “Xây dựng cả nước trở thành Xã hội học tập dựa trên nền tảng phát triển đồng thời, gắn kết, liên thông của hai bộ phận cấu thành: Giáo dục chính quy và GDTX
của hệ thống giáo dục quốc dân, trong đó “GDTX thực hiện các chương trình
học tập nhằm tạo các điều kiện tốt nhất đáp ứng mọi yêu cầu học tập suốt đời, học tập liên tục của mọi công dân sẽ là một bộ phận có chức năng quan trọng, làm tiền đề để xây dựng XHHT”
Đề án “Xây dựng XHHT” giai đoạn 2006-2010 đề ra mục tiêu: “Tạo cơ hội và điều kiện thuận lợi để mọi người, mọi lứa tuổi, mọi trình độ được học tập thường xuyên, liên tục, suốt đời mọi nơi, mọi lúc, mọi cấp Không ngừng huy động sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội tham gia xây dựng và phát triển giáo dục, mọi người, mọi tổ chức đều có trách nhiệm và nghĩa vụ trong việc học tập và tích cực tham gia xây dựng XHHT”
Như vậy, GDTX trở nên quan trọng khi nó được coi là một chính sách
xã hội của xã hội hiện đại, trong đó học tập là quyền của con người, được thực hiện trong suốt cuộc đời GDTX do vậy, là phương tiện giúp con người
luôn tự tin, cập nhật và làm chủ, lao động với năng suất cao trong thời đại bùng nổ thông tin GDTX gắn kết liên thông với nhà trường chính quy tạo nên môi trường sống nơi con người luôn được chăm lo phát triển
Trang 26Hệ thống trung tâm GDTX bao gồm: TT GDTX huyện, Thị xã, Thành phố trực thuộc Tỉnh (gọi chung là TT GDTX cấp huyện); TT GDTX Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là TT GDTX cấp tỉnh) Trung tâm Giáo dục cộng đồng, trung tâm ngoại ngữ tin học Trong luận văn này, chúng tôi chỉ giới hạn đi vào nghiên cứu về các TT GDTX cấp huyện
1.3.2 Chức năng, nhiệm vụ của TT GDTX
Nhìn tổng quát, GDTX có hai chức năng cơ bản: (1) Chức năng hoàn thiện và bổ sung, (2) Chức năng thay thế tiếp nối giáo dục chính quy
Với chức năng hoàn thiện, bổ sung, GDTX tạo cơ hội cho mọi người có nhu cầu được học tập thường xuyên, để bổ sung, cập nhật kiến thức, kĩ năng,
để hoàn thiện nhân cách, nâng cao chất lượng cuộc sống của mình
Với chức năng thay thế, tiếp nối GDTX tạo "cơ hội học tập thứ hai",
"cơ hội học tập bình đẳng" cho những người không có điều kiện học chính quy hoặc phải bỏ học dở chừng, người đã học tại nhà trường chính quy muốn không bị cũ, lạc hậu kiến thức Với chức năng này, GDTX sẽ tạo điều kiện thuận lợi nhất cho những người không có điều kiện và khả năng theo học chính quy, những người vừa học, vừa làm với chương trình linh hoạt, mềm dẻo, không tập trung, không liên tục, không bắt buộc học tại trong một thời gian quy định như GDCQ
Như vậy, với chức năng, nhiệm vụ của mình, GDTX có vai trò to lớn
trong việc tạo "cơ hội học tập bình đẳng" cho mọi người, góp phần thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục Nhờ GDTX, nhiều người đã có điều kiện để
có thể học tập suốt đời, góp phần thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cung ứng nguồn nhân lực cho các chương trình phát triển KT- VH-XH của địa phương
Nhiệm vụ của TT GDTX được quy định trong Quy chế tổ chức hoạt
động với việc thực hiện những chương trình như sau: (1) Tổ chức thực hiện
các chương trình giáo dục: chương trình xóa mù chữ và giáo dục tiếp tục sau
khi biết chữ, chương trình giáo dục đáp ứng yêu cầu của người học, cập nhật
Trang 27kiến thức, kỹ năng, chuyển giao công nghệ, chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, chương trình đào tạo theo kế hoạch hằng
năm của địa phương (2) Điều tra nhu cầu học tập trên địa bàn, xác định nội
dung học tập, đề xuất với sở giáo dục và đào tạo, chính quyền địa phương
việc tổ chức các chương trình và hình thức học phù hợp với từng loại đối
tượng (3) Tổ chức các lớp học theo các chương trình GDTX cấp THCS và
THPT; các chương trình dành cho đối tượng được hưởng chính sách xã hội
(4) Tổ chức dạy và thực hành kỹ thuật nghề nghiệp, các hoạt động lao động sản xuất và các hoạt động khác phục vụ học tập (5) Nghiên cứu, tổng kết rút
kinh nghiệm về tổ chức và hoạt động nhằm nâng cao chất lượng giáo dục góp
phần phát triển hệ thống GDTX
1.4 Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục TT GDTX cấp huyện của tỉnh Phú Thọ
1.4.1 Đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục
ĐN CBQL TT GDTX gồm những người đứng đầu tổ chức trong trung tâm, có chức năng và trách nhiệm quản lý và điều hành mọi hoạt động của trung tâm bao gồm: Giám đốc, các Phó giám đốc; Bí thư, Phó bí thư chi bộ;
Bí thư, phó bí thư Đoàn thanh niên; Chủ tịch Công đoàn, trưởng phó phòng
ban (tổ trưởng, tổ phó) chuyên môn nghiệp vụ Họ có trách nhiệm chỉ đạo
điều hành hoạt động GDĐT của TT GDTX theo đường lối chủ trương của Đảng, và đóng góp tham mưu cho các cơ quan quản lý giáo dục những ý kiến cần thiết rút ra được trong quá trình điều hành, tổ chức hoạt động của trung tâm để chính sách được cải tiến sau quá trình thực hiện Việc thực hiện các nhiệm vụ của trung tâm có chất lượng và hiệu quả như thế nào phụ thuộc vào
số lượng và chất lượng của đội ngũ này
1.4.2 Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục TT GDTX cấp huyện của tỉnh Phú Thọ
Đội ngũ cán bộ quản lý, cơ cấu tổ chức ở tại TT GDTX cấp huyện TT
GDTX cấp huyện: Có 1 giám đốc, 1 hoặc 2 phó giám đốc Cơ cấu tổ chức của
Trang 28TT GDTX cấp huyện gồm các tổ: Tổ hành chính - tổng hợp, tổ giáo vụ, tổ dạy văn hóa, tổ dạy nghề, ngoại ngữ và tin học, tổ chuyên đề và các tổ chuyên môn khác; Có thể có các hội đồng thi đua khen thưởng, hội đồng khoa học, mỗi tổ có một tổ trưởng, một tổ phó, một trưởng hội đồng Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu
tổ chức của các tổ chức này do Giám đốc trung tâm quy định
Giám đốc TT GDTX có các nhiệm vụ và quyền hạn và các yêu cầu về đặc điểm sau:
Là người trực tiếp quản lý, điều hành và chịu trách nhiệm trước cơ quan quản lý cấp trên về hoạt động của Trung tâm Giám đốc là người có
phẩm chất chính trị và đạo đức tốt, có năng lực quản lý, tốt nghiệp đại học và công tác trong ngành giáo dục ít nhất 5 năm Giám đốc TT GDTX thường xuyên được bổ nhiệm và bổ nhiệm lại theo nhiệm kỳ; mỗi nhiệm kỳ là 5 năm
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp Tỉnh hoặc Giám đốc Sở giáo dục và Đào tạo theo ủy quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp Tỉnh bổ nhiệm Giám đốc TT GDTX
Nhiệm vụ và quyền hạn của Giám đốc TT GDTX được quy định như sau: Lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và giám sát đánh giá việc thực hiện kế hoạch nhằm hoàn thành các nhiệm vụ của trung tâm Quản lý cơ sở vật chất
và các tài sản, quản lý nhân viên, giáo viên, học viên của trung tâm Bổ nhiệm các trưởng phòng, phó phòng, tổ trưởng, tổ phó, thành lập các phòng chuyên môn, nghiệp vụ, tổ chuyên môn, nghiệp vụ; Quản lý tài chính, quyết định thu chi và phân phối các thành quả lao động, thực hành kỹ thuật, dịch vụ theo quy định; Ký học bạ, các giấy chứng nhận trình độ học lực và kỹ thuật, nghề nghiệp, chứng chỉ GDTX cho học viên học tại trung tâm theo quy định của
Bộ Giáo dục và Đào tạo; Được hưởng các chế độ theo quy định
Phó giám đốc TT GDTX, là người giúp việc cho Giám đốc, có các nhiệm vụ và quyền hạn sau:
Trang 29Thực hiện và chịu trách nhiệm trước Giám đốc về những việc được phân công; Chịu trách nhiệm trước cấp trên về các hoạt động có liên quan của trung tâm; Thay mặt Giám đốc điều hành hoạt động của trung tâm khi được Giám đốc ủy quyền Được hưởng các chế độ theo quy định
Phó giám đốc là người có phẩm chất chính trị và đạo đức tốt, có năng lực quản lý, tốt nghiệp đại học, công tác trong ngành giáo dục ít nhất 5 năm Được bổ nhiệm và bổ nhiệm lại theo nhiệm kỳ, mỗi nhiệm kỳ là 5 năm
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Giám đốc Sở giáo dục và Đào tạo theo ủy quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp Tỉnh bổ nhiệm Phó Giám đốc TT GDTX theo đề nghị của Giám đốc TT GDTX
Các trưởng phòng, phó trưởng phòng, tổ trưởng, tổ phó, trưởng các hội đồng được giám đốc bổ nhiệm chịu trách nhiệm trước giám đốc về các lĩnh vực được giám đốc phân công và được hưởng các chế độ theo quy định
Tổ chức Đảng cộng sản trong TT GDTX hoạt động theo quy định của Điều lệ Đảng, thực hiện các nghị quyết, quyết định của Đảng cấp trên, lãnh đạo Trung tâm Bí thư- theo nguyên tắc tập trung lãnh đạo- thường kiêm chức danh giám đốc Sự lãnh đạo tập trung này giúp việc xây dựng kế hoạch chỉ đạo điều hành được thống nhất
Các tổ chức công đoàn, đoàn thanh niên thực hiện theo chức năng
nhiệm vụ của tổ chức mình, gắn kết kế hoạch của tổ chức với kế hoạch của Trung tâm Các trưởng tổ chức là lãnh đạo, đồng thời là người quản lý tầng cao Cấp phó là người quản lý tuyến đầu trực tiếp liên hệ với các vùng nhân
sự để tổ chức triển khai kế hoạch
Trong luận văn chúng tôi giới hạn phạm vi đối tượng nghiên cứu là ĐN CBQL là các thành viên Ban Giám đốc Họ là những người quản lý cao nhất, với tầm chiến lược và khả năng chỉ đạo tổ chức của mình, họ có trách nhiệm xây dựng các mục tiêu trước mắt và dài hạn của đơn vị, vì vậy lao động của họ có ý nghĩa quan trọng quyết định quy mô và con đường phát triển của đơn vị
Trang 30Các nội dung phát triển có thể cụ thể hóa như sau:
1.4.3.1 Công tác đào tạo, bồi dưỡng
Trước hết, phải khẳng định sự cần thiết của công việc đào tạo, bồi dưỡng CBQL tại các TT GDTX Chương trình đào tạo của nhà trường sư phạm chỉ chú trọng đến cung cấp các kiến thức văn hóa cho hoạt động của nhà trường chính quy TT GDTX, qua bảng so sánh 1 đã chỉ rõ sự khác biệt của hai môi trường này Yêu cầu về lao động quản lý của người cán bộ ở hai môi trường do vậy cũng khác nhau Nhu cầu về đào tạo CBQL đã là vấn đề quan trọng cấp thiết, nhưng chương trình đào tạo tại nhà trường sư phạm so với thực tế lao động quản cán bộ của người cán bộ quản lý tại các TT GDTX còn thiếu quá nhiều nên khi họ về ngành học này, nhất là vào môi trường
quản lý, việc đào tạo bồi dưỡng càng trở lên cấp thiết Bởi vì, qua đào tạo,
người CBQL GDTX sẽ được nâng cao nhận thức, đổi mới tư duy, phục vụ tốt hơn cho công việc quản lý và tự quản lý Công tác đào tạo có tính kế hoạch sẽ
xây dựng được chiến lược bồi dưõng dài hơi cho đội ngũ quản lý các trung tâm GDTX Lấy đó làm căn cứ tổng thể, để chia giai đoạn, cụ thể hóa các vùng đào tạo gắn với hoạt động thực tiễn mà TT GDTX phải thực hiện
Trong thực tế, ở mỗi địa phương nhu cầu về học tập của người dân cũng không giống nhau; Có nghĩa là các chương trình hoạt động ở các TT GDTX cũng không giống nhau Năng lực của người CBQL chính vì vậy trở nên hết sức quan trọng Khi có phương pháp luận cơ bản, cộng với kiến thức
và kỹ năng quản lý phù hợp trên nền tảng tư duy hệ thống có được qua đào tạo, kết hợp những đột phá mới, người CBQL, tuỳ theo vị trí sẽ là chủ thể sáng tạo trong lựa chọn mục tiêu, phương án hành động và tổ chức thực hiện tại TT GDTX của mình, giúp cho công tác quản lý trở nên hiệu quả một cách vững chắc
Chính vì thế, chính sách đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ; Sự quan tâm đầu tư thích đáng cho đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ gắn với việc lựa chọn,
Trang 31cất nhắc, đề bạt, sẽ là nhân tố quyết định mọi thành bại của sự nghiệp quản
lý Sự thống nhất trong tư tưởng nhận thức, lý luận, đồng đều trong kỹ năng
nghề nghiệp là chất keo liên kết mỗi cá nhân để thành đội quân quản lý năng động, chuyên nghiệp trong các TT GDTX, giúp đơn vị có khả năng thiết kế, thực hiện những chương trình mềm dẻo, linh hoạt, đáp ứng tốt nhu cầu xã hội
1.4.3.2 Công tác kiểm tra và đánh giá xếp loại hàng năm
Kiểm tra là quá trình xem xét thực tiễn nhằm đánh giá thực trạng, khuyến khích các nhân tố tích cực, phát hiện những sai lệch, trên cơ sở đó đưa ra những quyết định điều chỉnh, nhằm giúp các cá nhân trong tổ chức hoàn thành nhiệm vụ, góp phần đưa toàn bộ hệ thống được quản lý tới một trình độ cao hơn
Công tác kiểm tra, đánh giá cần được thực hiện đúng nguyên tắc, phương pháp, quy trình; Qua kiểm tra, có kết luận, nhằm phát huy ưu điểm và
đề ra các biện pháp khắc phục, sửa chữa thiếu sót, khuyết điểm; Cũng qua kiểm tra người quản lý góp phần sửa đổi, bổ sung, hoàn chỉnh các quy định cho phù hợp với thực tiễn của sự phát triển đơn vị TT GDTX
Trang 32Đánh giá là công cụ quan trọng, giúp xác định năng lực của người cán
bộ, giúp điều chỉnh quá trình quản lý, là động lực để đổi mới phương pháp và
tư duy, góp phần cải thiện, nâng cao chất lượng theo mục tiêu giáo dục đặt ra
1.4.3.3 Công tác quy hoạch, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại
Nghị quyết số 29: NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế
Nghị quyết Trung ương VII khóa XII về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp nhấn mạnh " Nhìn chung, đội ngũ cán bộ có lập trường tư tưởng, bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, lối sống giản dị, gương mẫu,
có ý thức tổ chức kỷ luật, luôn tu dưỡng, rèn luyện, trình độ, năng lực được nâng lên, phấn đấu, hoàn thành nhiệm vụ được giao Nhiều cán bộ năng động, sáng tạo, thích ứng với xu thế hội nhập, có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế" tuy nhiên Nghị quyết cũng chỉ rõ " Đội ngũ cán bộ đông nhưng chưa mạnh; tình trạng vừa thừa, vừa thiếu cán bộ xảy ra ở nhiều nơi;
sự liên thông giữa các cấp, các ngành còn hạn chế Tỉ lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số chưa đạt mục tiêu đề ra Thiếu những cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi, nhà khoa học và chuyên gia đầu ngành trên nhiều lĩnh vực Năng lực của đội ngũ cán bộ chưa đồng đều, có mặt còn hạn chế, yếu kém; nhiều cán bộ, trong đó có cả cán bộ cấp cao thiếu tính chuyên nghiệp, làm việc không đúng chuyên môn, sở trường; trình độ ngoại ngữ, kỹ năng giao tiếp và khả năng làm việc trong môi trường quốc tế còn nhiều hạn chế"
Nghị quyết Trung ương 3 khóa VIII về quy hoạch “Chiến lược cán bộ
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước” (năm 1997) chỉ rõ
ý nghĩa quan trọng và nhiệm vụ chủ chốt trong thời kì mới: “Quy hoạch cán
bộ là một nội dung trọng yếu của công tác cán bộ, bảo đảm cho công tác cán
Trang 33bộ đi vào nền nếp, chủ động, có tầm nhìn xa, đáp ứng cả nhiệm vụ trước mắt
và lâu dài” Nghị quyết số 42- NQ/TW ngày 30/11/2004 của Bộ Chính trị
(khóa IX) cũng đề cập đến công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Trong đó thể hiện rõ quan
điểm: "Làm tốt quy hoạch cán bộ mới từng bước nâng cao được chất lượng, số
lượng, cơ cấu của đội ngũ, đảm bảo tính liên tục, kế thừa và phát triển, tránh tình trạng hẫng hụt, bị động, chắp vá trong suốt thời gian dài vừa qua”
Để thực hiện tốt công tác quy hoạch cán bộ quản lý tại các TT GDTX, cần coi trọng một số giải pháp sau:
Quy hoạch cán bộ phải bao gồm cả cán bộ đương chức (có khả năng bổ nhiệm lại vào chức vụ hiện giữ hoặc quy hoạch chức vụ cao hơn) và cán bộ mới được giới thiệu lần đầu Giám đốc phải trực tiếp chỉ đạo và chịu trách nhiệm về mục tiêu quy hoạch cán bộ; Phải thật sự dân chủ, sâu sát và công tâm trong công tác quy hoạch; Thực hiện đúng nguyên tắc bảo đảm vai trò lãnh đạo tập trung của cấp ủy Đảng đi đôi với việc phát huy trách nhiệm các
tổ chức, mở rộng dân chủ trong việc phát hiện nguồn, quan tâm đến nguồn cán bộ trẻ
Công tác quy hoạch phải thực hiện đầy đủ các bước, đảm phương châm
“mở” và “động” Người lãnh đạo cần biết nhìn nhận mối quan hệ giữa quy hoạch và bố trí nhân sự, trong đó, quy hoạch cán bộ là tạo nguồn chủ động chuẩn bị cán bộ vùng quy hoạch Bố trí nhân sự là một nội dung quan trọng,
sự lựa chọn người có thể đảm đương vị trí lãnh đạo, quản lý phù hợp với năng lực, quy hoạch là quy trình chọn lựa, bồi dưỡng để xây dựng đội ngũ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức, lối sống, trình độ chuyên môn phù hợp và năng lực công tác tốt; đảm bảo tính chuyên nghiệp, tính kế thừa phát triển và sự chuyển tiếp liên tục giữa các thế hệ nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ, góp phần vào sự phát triển của ngành
Trang 34Cần có tư duy chiến lược, có tầm nhìn xa trong lãnh đạo, chỉ đạo, tiến hành Đảm bảo đào tạo rồi mới bổ nhiệm để người cán bộ khi vào vị trí có thể đảm nhận sớm nhất công việc Theo dõi, đánh giá quá trình rèn luyện của cán
bộ để làm căn cứ cho bổ nhiệm và sắp xếp là một việc làm cần thiết
* Bổ nhiệm
“Bổ nhiệm” là một từ ghép của hai từ với hai ý nghĩa khác nhau: “Bổ”
có nghĩa là phân bổ, bổ sung, giao cho; “Nhiệm” được hiểu là nhiệm kỳ tức là trong một khoảng thời gian được quy định trước hay trong thời hạn; Ghép lại của hai từ ta có thể hiểu đó là việc phân bổ hay giao cho ai cái gì, còn mang hàm ý bổ sung, trong một thời hạn được quy định trước “Bổ nhiệm cán bộ” theo Từ điển tiếng Việt của Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia
có nghĩa là: “Cử giữ một chức vụ trong bộ máy nhà nước”; Theo giáo trình
“nghiệp vụ công tác cán bộ, đảng viên” của Học viện Chính trị - Hành chính
Quốc gia Hồ Chí Minh thì “Bổ nhiệm cán bộ” được định nghĩa là: “Là quyết
định cử cán bộ giữ một chức vụ lãnh đạo trong bộ máy tổ chức, thực chất là giao trách nhiệm, quyền hạn cho cán bộ lãnh đạo một ban, một bộ, một ngành, một cơ quan đơn vị … Đây là khâu quyết định trong công tác cán bộ”
Công tác bổ nhiệm cán bộ có tác động tới tinh thần, tâm lý không những của bản thân người được bổ nhiệm, mà còn tác động tới cả đội ngũ cán bộ nơi có
người được bổ nhiệm Vì vậy, Bổ nhiệm đúng người theo tiêu chuẩn, có năng
lực, đúng với cống hiến, uy tín trước quần chúng sẽ tạo tâm lý tích cực, hưng phấn và đoàn kết Ngược lại bổ nhiệm cán bộ, không đúng với năng lực, sở trường, không đúng với cống hiến, không có uy tín trước quần chúng đã gây
tình trạng hoang mang, dao động, chán nản trong đội ngũ cán bộ Đánh mất
niềm tin vào tổ chức, vào người lãnh đạo, động lực phấn đấu từ đó cũng
không còn, nhiệm vụ được giao cũng sẽ bê trễ, khó hoàn thành
Bổ nhiệm đúng cán bộ còn là sợi dây đoàn kết đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng trong một cơ quan, đơn vị tránh được những bất đồng do
bổ nhiệm cán bộ không đúng tạo ra
Trang 35Như vậy, có thể nói công tác bổ nhiệm cán bộ có vai trò hết sức to lớn đối với công tác cán bộ, đối với từng cán bộ và cả đội ngũ Nó là sợi dây thắt
chặt tình đoàn kết trong cơ quan, tổ chức, là điều kiện để bảo đảm cho việc hoàn thành xuất sắc hay không nhiệm vụ của TT GDTX
*Bổ nhiệm lại là: Khi hết thời hạn giữ chức vụ bổ nhiệm theo quy
định, cơ quan quản lý cấp trên xem xét để bổ nhiệm lại hoặc không bổ nhiệm lại nhân sự Việc bổ nhiệm lại được tiến hành có quy trình, phù hợp với yêu
cầu của công tác trên cơ sở phải đảm bảo tính ổn định và hiệu quả thiết thực
Điều kiện để bổ nhiệm lại là trong nhiệm kỳ lãnh đạo trước người quản lý đã hoàn thành nhiệm vụ và vẫn đủ tiêu chuẩn, đủ sức khoẻ và vẫn đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong thời gian tới Nhu cầu của cơ quan vẫn cần và mọi
người vẫn tín nhiệm
1.4.3.4 Công tác thi đua khen thưởng
Thi đua khen thưởng là việc làm nhằm thực hiện công bằng trong đánh giá lao động, có ý nghĩa ủng hộ, thúc đẩy cho sự phát triển của cá nhân, đồng thời cũng là giúp cho sự tiến bộ của đơn vị
Thi đua khen thưởng về cơ bản là một hoạt động mang tính xã hội, có tầm quan trọng hàng đầu đối với đánh giá công khai cá nhân hoặc đơn vị, vì vậy nó có ảnh hưởng to lớn tác động đến tâm lý và hiệu quả công việc Việc thi đua khen thưởng không công bằng, công minh không những không có tác dụng khích lệ nâng cao năng suất lao động theo hướng tích cực - mà ngược lại làm chán nản tiêu cực, tạo bầu không khí trễ nải không có lợi cho hoạt động
của đơn vị Chính vì vậy, công tác thi đua, khen thưởng cần trở thành một
trong những công cụ hỗ trợ đắc lực trong quản lý Nhà nước; Làm tốt công tác thi đua, khen thưởng không những góp phần tạo ra động lực cho phong trào, nâng cao chất lượng hiệu suất lao động của đơn vị mà qua phong trào
đó, những nhân tố tích cực được phát hiện và khen thưởng kịp thời sẽ tác động không nhỏ động viên tinh thần trách nhiệm, lòng nhiệt tình, sự say mê
Trang 36sáng tạo dẫn đến việc hoàn thành nhiệm vụ với chất lượng cao trong đội ngũ cán bộ quản lý và của toàn trung tâm
Ngày 30/9/2005 Chính phủ đã ban hành Nghị định 121/2005/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi đua, Khen thưởng và Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi đua, khen thưởng Văn bản thì đã được ban hành, nhưng vấn đề là thực hiện ở cơ sở, nếu việc xét khen thưởng chỉ tập trung vào chức danh lãnh đạo; Nếu những đối tượng chỉ “nổi” bề ngoài do “đánh bóng, tô vẽ” lại được quan tâm, đạt hết danh hiệu này đến danh hiệu khác thì thi đua khen thưởng sẽ có tác hại, ngược lại với mục tiêu cần đạt đến của luật định
1.4.3.5 Phương pháp quản lý đội ngũ
Trở lại khái niệm về quản lý của tác giả Trần Kiểm ta thấy: "Quản lý là
những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp,
sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực trong và ngoài tổ chức một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất… Nhằm phối hợp nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội"
Như vậy quản lý đội ngũ cần phải thực hiện trên nguyên tắc chủ thể quản lý (Giám đốc TT GDTX) tiến hành thực hiện các biện pháp sao cho đội ngũ quản lý theo mỗi tầng bậc có thể phân công, có thể quản lý hợp lý: Con người và công việc mà mình và bộ phân của mình phụ trách đạt hiệu quả cần có; Trên cơ sở đó kế hoạch của Trung tâm được hoàn thành và mỗi cá nhân cũng trưởng thành trong vị trí quản lý
Các cách thức quản lý có thể áp dụng: Quản lý qua việc lấy kế hoạch đã được tập thể thống nhất thông qua làm căn cứ đối chiếu; Quản lý bằng việc yêu cầu nộp báo cáo định kỳ về vùng công việc được phụ trách để người lãnh đạo nắm bắt được nội dung và tiến độ để điều chỉnh kịp thời; Quản lý qua công tác kiểm tra, thanh tra định kỳ và đột xuất của lãnh đạo
Trang 37Như vậy quản lý gắn với xây dựng đội ngũ, là một cách thức để phát triển năng lực và khối đoàn kết của đội ngũ, qua đó người lãnh đạo luôn hiểu được sâu sắc cách thức và năng lực của cán bộ dưới quyền, kịp thời động viên khích lệ, kịp thời khen ngợi biểu dương hay phê phán nhắc nhở điều chỉnh Khiến tập thể lãnh đạo và cán bộ của trung tâm luôn trưởng thành và lành mạnh trong một mối quan hệ cộng đồng trách nhiệm, hiệu quả ngày một được nâng lên
Trang 38Tiểu Kết Chương 1
Hệ thống TT GDTX là một bộ phận hợp thành của ngành GDĐT Việt Nam; Hoạt động quản lý giáo dục tại mỗi TT GDTX có vai trò hết sức quan trọng, là yếu tố căn bản quyết định chất lượng và hiệu quả của hoạt động giáo dục tại TT GDTX
Phát triển, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý các TT GDTX
có ý nghĩa to lớn đối với việc phát triển đội ngũ cán bộ tại các TT GDTX Giúp ngành học GDTX đảm nhận trách nhiệm xây dựng được trên địa bàn
“Xã hội học tập” để mọi người dân có được cơ hội được học tập liên tục suốt đời… Cập nhật tri thức và thông tin mới mẻ để nâng cao chất lượng cuộc sống và phát triển lao động trong thời đại nền kinh tế tri thức và công nghệ thông tin phát triển
Trang 39CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN CẤP HUYỆN
CỦA TỈNH PHÚ THỌ
2.1 Giới thiệu chung về điều kiện tự nhiên kinh tế, xã hội tỉnh Phú Thọ
2.1.1 Về điều kiện tự nhiên
Diện tích đất tự nhiên 3.532 km2, trong đó diện tích đất nông nghiệp là 97.610 ha, đất rừng là 195.000 ha với 64.064 ha rừng tự nhiên, đất mặt nước nuôi trồng thuỷ sản là 10.000 ha, các loại đất khác là 19.299 ha
Đơn vị hành chính: Tỉnh Phú Thọ có 13 huyện, thành, thị gồm thành phố Việt Trì (là trung tâm chính trị - kinh tế - văn hoá của tỉnh Phú Thọ và là thành phố về miền lễ hội cội nguồn các dân tộc Việt Nam), thị xã Phú Thọ và các huyện: Thanh Sơn, Tân Sơn, Yên Lập, Cẩm Khê, Tam Nông, Thanh Thuỷ,
Hạ Hoà, Thanh Ba, Đoan Hùng, Lâm Thao, Phù Ninh
Địa hình tỉnh Phú Thọ mang đặc điểm nổi bật là chia cắt tương đối mạnh vì nằm ở phần cuối của dãy Hoàng Liên Sơn, nơi chuyển tiếp giữa miền núi cao và miền núi thấp, gò đồi, độ cao giảm dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam Căn cứ vào địa hình, có thể chia Phú Thọ thành hai tiểu vùng
Trang 40Tiểu vùng Đông Bắc hay tả ngạn sông Hồng gồm thành phố Việt Trì, thị xã Phú Thọ và các huyện: Lâm Thao, Phù Ninh, Thanh Ba, Đoan Hùng
và phần còn lại của Hạ Hòa, có diện tích tự nhiên 1.132,5km2, bằng 32,06% diện tích tự nhiên toàn tỉnh Địa hình đặc trưng của tiểu vùng này là các đồi
gò thấp, phát triển trên phù sa cổ (bình quân 50 - 200m) xen kẽ với những dộc ruộng và những cánh đồng bằng ven sông Đây là vùng tương đối thuận lợi cho phát triển cây công nghiệp, cây ăn quả, sản xuất lương thực, nuôi trồng thủy sản và chăn nuôi Một số khu vực tập trung những đồi gò thấp tương đối bằng phẳng (tập trung chủ yếu ở vùng Đông Nam của tỉnh) thuận lợi cho phát triển các khu công nghiệp, cụm công nghiệp và phát triển các hạ tầng kinh tế - xã hội khác
2.1.2 Về kinh tế xã hội
Phú Thọ là nơi đóng đô của Nhà nước Văn Lang thời đại các Vua Hùng, nhà nước đầu tiên trong lịch sử nước ta; là vùng đất cổ giàu truyền thống lịch sử và văn hiến, nhân dân Phú Thọ cần cù trong lao động sản xuất, sáng tạo nhiều loại hình văn hóa,văn nghệ dân gian phong phú
Tình hình kinh tế trong những năm qua trên địa bàn tỉnh ổn định và phát triển, các giải pháp, chính sách phát triển kinh tế của nhà nước đã và đang phát huy tác dụng Tuy nhiên chất lượng tăng trưởng, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp; thiên tai tiếp tục diễn biến khó lường, tác động tiêu cực tới tình hình sản xuất và đời sống nhân dân trên địa bàn tỉnh Song, nhờ chỉ đạo thực hiện đồng bộ các giải pháp cùng với sự tích cực chủ động của các cấp, các ngành, các doanh nghiệp và nhân dân trong tỉnh, nền kinh tế đạt mức tăng trưởng cao ở hầu hết các ngành; đời sống nhân dân ổn định; an ninh chính trị được giữ vững, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo
2.1.2.1 Dân số, lao động, việc làm và đời sống dân cư
Dân số trung bình toàn tỉnh năm 2018 ước tính 1.404,1 nghìn người, tăng 0,8% so với năm trước, trong đó: nữ chiếm khoảng 50,7%; dân số thành thị chiếm 19,1%; tỷ suất tăng dân số tự nhiên đạt 11,40‰