ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC PHẠM PHƯƠNG CHI TỔ CHỨC GIÁM SÁT HOẠT ĐỘNG GIẢNG DẠY THEO TIẾP CẬN PHÁT TRIỂN NGHỀ NGHIỆP CỦA GIẢNG VIÊN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN V
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
PHẠM PHƯƠNG CHI
TỔ CHỨC GIÁM SÁT HOẠT ĐỘNG GIẢNG DẠY THEO TIẾP CẬN PHÁT TRIỂN NGHỀ NGHIỆP CỦA GIẢNG VIÊN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN
VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI – 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
PHẠM PHƯƠNG CHI
TỔ CHỨC GIÁM SÁT HOẠT ĐỘNG GIẢNG DẠY THEO TIẾP CẬN PHÁT TRIỂN NGHỀ NGHIỆP CỦA GIẢNG VIÊN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN
VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 8 14 01 14
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Trần Thị Tuyết Oanh
HÀ NỘI – 2020
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới Ban Giám hiệu, Khoa Quản lý giáo dục của trường Đại học Giáo dục và các thầy cô giáo đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến người thầy: PGS.TS Trần Thị Tuyết Oanh, người đã hướng dẫn và chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốt thời gian nghiên cứu và thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, các Khoa, Bộ môn, Phòng ban, các bạn đồng nghiệp và các em sinh viên của trường Đại học Tài nguyên
và Môi trường Hà Nội đã tạo điều kiện, động viên, khuyến khích tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, học tập và cung cấp thông tin cho tôi hoàn thành bản luận văn tốt nghiệp này
Tôi luôn biết ơn gia đình và các bạn thân đã hỗ trợ, động viên, khích lệ giúp đỡ tôi vượt qua khó khăn trong suốt thời gian qua
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng luận văn chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Kính mong nhận được sự chỉ bảo của các thầy,
cô giáo và ý kiến đóng góp của các bạn đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2020
Tác giả
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ vi
MỞ ĐẦU 1
1.Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu 2
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
5 Câu hỏi nghiên cứu 3
6 Giả thuyết nghiên cứu 3
7 Phạm vi nghiên cứu: 3
8 Phương pháp nghiên cứu 4
9 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 4
10 Cấu trúc luận văn 5
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC GIÁM SÁT HOẠT ĐỘNG GIẢNG DẠY THEO TIẾP CẬN PHÁT TRIỂN NGHỀ NGHIỆP CỦA GIẢNG VIÊN 6
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 6
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài 9
1.2.1 Quản lý 9
1.2.2 Khái niệm Giám sát trong giáo dục 12
1.2.3 Hoạt động giảng dạy 15
1.2.4 Giám sát hoạt động giảng dạy 16
1.2.5 Phát triển nghề nghiệp 17
1.3.Hoạt động Giảng dạy và yêu cầu phát triển nghề nghiệp của giảng viên Đại học 18
1.3.1 Đặc điểm giảng dạy của Giảng viên đại học 18
1.3.2 Yêu cầu đối với phát triển nghề nghiệp của giảng viên đại học 22
Trang 51.4 Giám sát hoạt động giảng dạy của giảng viên ở trường đại học theo tiếp
cận phát triển nghề nghiệp của giảng viên 23
1.4.1 Vai trò của Giám sát hoạt động giảng dạy với phát triển nghề nghiệp giảng viên 23
1.4.2 Một số mô hình giám sát 28
1.4.3 Các thành tố trong tổ chức hoạt động giám sát 29
1.4.4 Phân cấp quản lý đối với hoạt động giám sát giảng dạy 40
1.5 Tổ chức giám sát hoạt động giảng dạy……… 41
TIỂU KẾT CHƯƠNG I 43
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG VỀ VIỆC TỔ CHỨC GIÁM SÁT HOẠT ĐỘNG GIẢNG DẠY THEO TIẾP CẬN PHÁT TRIỂN NGHỀ NGHIỆP CỦA GIẢNG VIÊN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI 42
2.1 Khái quát về trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội 42
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội 42
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của trường ĐH TNMT HN 43
2.1.3 Sứ mạng, tầm nhìn, giá trị cốt lõi và mục tiêu phát triển trường đến năm 2030 44
2.2 Giới thiệu khảo sát 44
2.2.1 Mục đích khảo sát 44
2.2.2 Nội dung khảo sát 45
2.2.3 Đối tượng khảo sát 45
2.2.4 Phương pháp khảo sát 45
2.3.1 Thực trạng việc nhận thức về hoạt động giám sát tại trường ĐHTNMTHN 46 2.3.2 Thực trạng việc tổ chức giám sát hoạt động giảng dạy tại trường 55
2.3.3 Thực trạng mối quan hệ giữa tổ chức giám sát HĐGD với việc phát triển nghề nghiệp GV 62
2.3.4 Yếu tố ảnh hưởng tới việc tổ chức GS HĐGD tại trường ĐHTNMTHN 63
TIỂU KẾT CHƯƠNG II 65
Trang 6CHƯƠNG III BIỆN PHÁP TỔ CHỨC GIÁM SÁT HOẠT ĐỘNG GIẢNG DẠY THEO TIẾP CẬN PHÁT TRIỂN NGHỀ NGHIỆP CỦA GIẢNG VIÊN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI
TRƯỜNG HÀ NỘI 66
3.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp 66
3.1.1 Đảm bảo tính pháp chế 66
3.1.2 Đảm bảo tính khoa học 66
3.1.3 Đảm bảo tính thực tiễn 66
3.1.4 Đảm bảo tính phù hợp với đặc điểm của giáo dục đại học 67
3.2 Các biện pháp tổ chức giám sát hoạt động giảng dạy theo tiếp cận phát triển nghề nghiệp của giảng viên trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội 67
3.2.1.Tổ chức bồi dưỡng nâng cao nhận thức của giảng viên về hoạt động giám sát hoạt động giảng dạy theo tiếp cận phát triển nghề nghiệp 67
3.2.2 Xây dựng cơ chế chính sách tổ chức giám sát hoạt động giảng dạy phù hợp 70
3.2.3 Xây dựng đội ngũ giám sát viên có năng lực và phẩm chất để thực hiện việc giám sát hoạt động giảng dạy 72
3.2.4 Tổ chức thực hiện đa dạng các phương pháp giám sát hoạt động giảng dạy của giảng viên 74
3.2.5 Chỉ đạo việc lưu giữ và sử dụng hợp lý các kết quả giám sát cho việc phát triển nghề nghiệp của giảng viên 75
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp và khảo nghiệm tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp 77
3.3.1 Mối quan hệ giữa các biện pháp 77
3.3.2.Khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp 78
TIỂU KẾTCHƯƠNG 3 83
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 84
1 Kết luận 84
2 Khuyến nghị 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
PHỤ LỤC 98
Trang 8DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 2.1 Bảng thăm dò ý kiến của GV về vai trò của GS đối với GV 46Bảng 2.2 Nhận thức về Giám sát về mặt quản lý hành chính và thái độ của GSV 47Bảng 2.3 Nhận thức về Giám sát về mặt quản lý chuyên môn 49Bảng 2.4 Nhận thức về Giám sát về mặt phát triển nghề nghiệp cá nhân 52Bảng 2.5 Thực trạng về Giám sát về mặt quản lý hành chính và thái độ của GSV 55Bảng 2.6 Thực trạng về Giám sát về mặt quản lý chuyên môn 57Bảng 2.7 Thực trạng về Giám sát về mặt phát triển nghề nghiệp cá nhân 59Bảng 3.1: Kết quả khảo nghiệm về sự cấp thiết của các biện pháp tổ chức GS HĐGD tại trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội hướng tới sự phát triển nghề nghiệp của giảng viên 78Bảng 3.2 Kết quả khảo nghiệm về tính khả thi của các biện pháp tổ chức GS HĐGD tạitrường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội 80
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong hệ thống cơ sở lý luận về giáo dục, giám sát được coi là khâu cơ bản để thực hiện các chức năng của quản lý giáo dục là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá.Giám sát trong giáo dục tại Việt Namlà khái niệm vẫn được hiểu theo cách truyền thống là một hoạt động được tiến hành nhằm mục đích kiểm tra tiến độ, xếp loại mức độ thực hiện công việc Tuy nhiên thực tế, giám sát đóng vai trò quan trọng nhiều hơn thế Theo tác giả
Geogre E Pawlas và Peter F.Oliva trong cuốn sách Giám sát trong trường học ngày nay (Supervision for Today’s School) của mình, giám sát cũng như
bất kỳ phần phức tạp nào của doanh nghiệp hay tổ chức, thậm chí còn phức tạp hơn Giám sát có thể được nhìn nhận theo nhiều cách khác nhau.Những cách hiểu này không chỉ xuất phát từ tính đa dạng của các loại hình tổ chức
mà còn từ việc thiếu hụt thông tin và các quan điểm về chúng
Có rất nhiều các hoạt động trong ngành giáo dục cần đến sự giám sát như việc dạy học, phát triển chương trình, đội ngũnhân sự…Giám sát không chỉ thông qua việc kiểm tra thông thường các hoạt động diễn ra trong đơn vị
để hỗ trợ công tác quản lý, giám sát còn có thể đưa ra những số liệu cho thấy cần điều chỉnh các công việc sao cho hợp lý Một hệ thống giám sát hiệu quả
sẽ mang lại nhiều thông tin để phục vụ các mục đích khác nhau
Cá nhân người viết hiện đang công tác tại Phòng Đào tạo – Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội Phòng Đào tạo, với chức năng phối hợp đảm bảo chất lượng giảng dạy,phối hợp tổ chức kiểm tra, giám sát hoạt động giảng dạy, thực hiện chế độ công tác của giảng viêntrong trường mình,
là đơn vị sẽ giám sát hoạt động giảng dạy của giảng viên thông qua các cơ chế quản lý được quy định tại điều lệ hoạt động của trường Đại học
Trang 10Thực tiễn, ở trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, việc tổ chức giám sát còn chưa phát huy được hết vai trò Dữ liệu thông tin thu thập từ giám sát chỉ mới dừng ở bước đánh giá kết quả thực hiện nhiệm
vụ Còn từ cơ chế giám sát và kết quả đó, trường chưa thực sự có được kế hoạch phát triển hiệu quả chất lượng đào tạo, đặc biệt là hoạt động giảng dạy của giảng viên
Với thực tiễn như trên, tôi lựa chọn đề tài“Tổ chức giám sát hoạt động giảng dạy theo tiếp cận phát triển nghề nghiệp của giảng viên tại Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội” làm đề tài thạc sĩ của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn việc tổ chức giám sát hoạt động giảng dạy ở Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, từ đó đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác giám sát, hỗ trợ giảng viên thực hiện tốt nhiệm vụ giảng dạy của mình
3 Khách thể nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Giám sát hoạt động giảng dạy của giảng viên đại học
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Giám sáthoạt động giảng dạy của giảng viên tại trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về tổ chức giám sáthoạt động giảng dạy của giảng viên trong trường đại học
4.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng tổ chức giám sát hoạt động giảng dạytheo tiếp cận phát triển nghề nghiệp của giảng viên trong Trường Đại học Tài nguyên và môi trường Hà Nội
Trang 114.3 Đề xuất một số biện pháp tổ chức giám sát hoạt động giảng dạy của giảng viên theo tiếp cận phát triển nghề nghiệp của giảng viên trong Trường Đại học Tài nguyên và môi trường Hà Nội
5 Câu hỏi nghiên cứu
Việc giám sát hoạt động giảng dạy của giảng viên đại học dựa trên cơ sở
lý luận nào, giám sátcó thể hỗ trợ như thế nào đến hoạt động giảng dạy của giảng viên?
Thực trạng việc giám sát hoạt động giảng dạy ở trường Đại học Tài nguyên và Môi trường như thế nào?
Cần có những biện pháp gì để nâng cao hiệu quả việc tổ chức giám sát hướng vào phát triển nghề nghiệp cho giảng viên trong trường?
6 Giả thuyết nghiên cứu
Trong những năm qua, hoạt động giảng dạy của giảng viên tại Trường Đại học Tài nguyên và môi trường Hà Nội đã có nhiều biến chuyển tích cực, trong đó có sự đóng góp từ những cơ chế giám sát của nhà trường Tuy vậy, những cơ chế này vẫn chưa thực sự phát huy hết hiệu quả và được tổ chức một cách hệ thống.Nếu có những biện pháp đồng bộ, phù hợp và hướng vào phát triển nghề nghiệp cho giảng viên thì sẽ khắc phục được những tồn tại và nâng cao hiệu quả chất lượng hoạt động giảng dạy của giảng viên
7 Phạm vi nghiên cứu:
7.1 Nội dung nghiên cứu: Xác định các biện pháp của Nhà trường trong việc Tổ chức giám sát hoạt động giảng dạy theo tiếp cận phát triển nghề nghiệp của giảng viên
7.2 Không gian nghiên cứu: Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường
Hà Nội
7.3 Thời gian nghiên cứu: Năm học 2018-2019
Trang 128 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Thu thập, so sánh, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa thông tin, dữ liệu lấy từ các nguồn khác nhau liên quan đến đề tài nghiên cứu nhằm xác định các khái niệm công cụ và xây dựng khung lý thuyết, cơ sở lý luận của đề tài 8.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
8.2.1 Phương pháp điều tra bằng phiếu
- Mục đích: Thu thập ý kiến mô tả thực trạng về việc tổ chức giám sát tại trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội
- Nội dung: Khảo sát thực trạng về tổ chức giám sát tại trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội
- Đối tượng : Giảng viên, cán bộ quản lý trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội
- Công cụ : 1 bộ phiếu hỏi (1 bộ cho giảng viên và CBQL)
8.2.2 Phỏng vấn
- Đối tượng phỏng vấn : Cán bộ quản lý, Giảng viên
- Nội dung phỏng vấn: Tập trung tìm hiểu sâu về một số vấn đề cần làm sáng tỏ về việc giám sát của nhà trường
8.2.3 Nghiên cứu sản phẩm hoạt động
Nghiên cứu các văn bản kế hoạch hướng dẫn, chỉ đạo hoạt động đào tạo,
Trang 13Đóng góp tích cực vào mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo của Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội
10 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, mục lục, phụ lục, danh mục các chữ viết tắt, danh mục bảng biểu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo nội dung của luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về tổ chức giám sát hoạt động giảng dạy theo
tiếp cận phát triển nghề nghiệp giảng viên đại học
Chương 2: Thực trạng tổ chức giám sáthoạt động giảng dạy tại trường
Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội
Chương 3: Biện pháp tổ chức giám sáthoạt động giảng dạy tại trường
Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội
Trang 14CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC GIÁM SÁT HOẠT ĐỘNG GIẢNG DẠY THEO TIẾP CẬN PHÁT TRIỂN NGHỀ NGHIỆP
CỦA GIẢNG VIÊN 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Trường học là một tổ chức giáo dục chính thức thực hiện các hoạt động dạy và học nhằm nỗ lực đạt được mục tiêu giáo dục Mục tiêu cơ bản của trường là cung cấp trải nghiệm học tập cho học sinh để đạt được tiến bộ và lĩnh hội kiến thức, hành vi và kỹ năng theo chuẩn mực xã hội Giáo viên đóng vai trò quan trọng trong việc đạt được mục tiêu đó, bởi vì việc dạy học của giáo viên ảnh hưởng đến sự tiến bộ và thành tích học tập của học sinh
Để phát huy vai trò của giáo viên cần có nhiều yếu tố, trong đó điều quan trọng là cung cấp một chương trình phát triển nghề nghiệphợp lý Mục tiêu của các hoạt động phát triển nghề nghiệp là cung cấp việc học tập và cải thiện năng lực giáo viên ở cả cấp độ cá nhân và cấp độ chuyên môn Nhiều chương trình tập huấn các cấp độ đã được triển khai nhằm thực hiện mục đích trên, tuy nhiên thời gian tập huấn của các chương trình không lâu và nội dung đề cập không được chuyên sâu nên đây chưa phải là biện pháp mang tính lâu dài, liên tục
Một chương trình khác trong chương trình phát triển giáo viên là sự giám sát giáo viên Sự giám sát giáo viên đã được tiến hành như một cách để duy trì và cải thiện chất lượng giáo dục ở trường Không giống như tập huấn nâng cao chuyên môn, giám sát có thể cung cấp trợ giúp trực tiếp và hướng dẫn liên tục cho giáo viên dựa trên sở thích và nhu cầu của họ Những điều đó nên được coi là những lợi thế mà sự giám sát có được như sự hỗ trợ chuyên nghiệp cho sự phát triển nghề nghiệp của giáo viên Sự giám sát giáo viên có khả năng góp phần giải quyết vấn đề thiếu năng lực giáo viên và thành tích học sinh thấp Do đó, những trở ngại của giám sát giáo viên hiện tại cần được
Trang 15loại bỏ, đồng thời phải cải thiện thực tiễn việc giám sát, bởi vì điều rất quan trọng là hỗ trợ giáo viên phát triển nghề nghiệp một cách tối ưu
Giám sát hoạt động giảng dạy đóng vai trò quan trọng để hỗ trợ giáo viên trong việc duy trì và cải thiện việc giảng dạy của họ Điều này sẽ góp phần cải thiện chất lượng giáo dục trong trường học Hệ thống giám sát góp phần vào sự chuyển đổi và cải cách của tổ chức Giám sát là một khía cạnh quan trọng của quản lý giáo dục vì nó có thể nâng cao chất lượng của tổ chức giáo dục Một trong những chức năng của giám sát là cung cấp cơ hội cho giáo viên để cải thiện việc giảng dạy và phát triển năng lực của họ Vì vậy, một loạt các cá nhân có liên quan đến giám sát như nhà quản lý giáo dục, giáo viên hay người được giao nhiệm vụ giám sát đang đòi hỏi chuyên nghiệp hóa công việc và chức năng nhiệm vụ của họ
Ở một số nước, giám sát không phải là khái niệm mới trong giáo dục và
có rất nhiều nghiên cứu nói về vấn đề này Trong đó có những đầu sách
chuyên ngành về giám sát trong giáo dục của Mỹ như “Supervision and Instructional Leadership – a developmental approach” của các tác giả Carl D.Glickman, Stephen P.Gordon, Jovita M.Ross-Gordon, “Supervision for Today’s school” – George E.Pawlas, Peter F.Oliva Đây đều là những cuốn
sách viết rất sâu về giám sát, mà cụ thể là tất cả các hoạt động giám sát trong nhà trường
Một số đề tài luận văn trên thế giới đã lấy giám sát hoạt động giảng dạy trong nhà trường làm đối tượng nghiên cứu Đầu tiên, nghiên cứu được thực
hiện bởi Mudawali và Mudzofir (2017), mang tên Mối quan hệ giữa Giám sát hoạt động giảng dạy và Phát triển nghề nghiệp: Nhận thức của giáo viên trung học và giáo viên trường trung học Hồi giáo Madrasah Tsanawiyah tại Lhokseumawe, Aceh, Indonesia Trong luận văn, tác giả đã chỉ ra mối quan hệ
giữa giám sát hoạt động giảng dạy với việc phát triển nghề nghiệp của giáo
Trang 16viên trung học Hơn nữa, tác giả còn thực hiện khảo sát về mức độ nhận thức của giáo viên, về giám sát trong thực tiễn và giám sát họ kỳ vọng Luận văn cũng nêu ra khoảng cách giữa giám sát trong thực tiễn và giám sát được kỳ vọng cùng những khuyến nghị đối với trường học và các nhà quản lý giáo dục
Thứ hai là nghiên cứu được thực hiện bởi Tadele Akalu Tesfaw và
Roelande H Hofman (2012), mang tên Giám sát hoạt động giảng dạy và mối quan hệ của nó với sự phát triển nghề nghiệp: Nhận thức của giáo viên trường cấp 2 công lập và ngoài công lập ở Addis Ababa Nghiên cứu này đã
kiểm tra nhận thức về sự giám sát của các giáo viên trong các trường trung học ở Addis Ababa, Ethiopia Trong nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu muốn tìm hiểu xem có sự khác biệt đáng kể giữa giáo viên mới ra trường và giáo viên lâu năm trong nhận thức về việc thực hiện giám sát trong nỗ lực cải thiện chuyên môn của giáo viên hay không Các nhà nghiên cứu đã lấy mẫu của 200 giáo viên, bao gồm các giáo viên mới ra trường và giáo viên lâu năm Kết quả cho thấy tại các trường trung học ở Addis Ababa, Ethiopia, loại giám sát thường được sử dụng là phương pháp huấn luyện ngang hàng (huấn luyện đồng cấp) và đánh giá theo tiêu chí thường được sử dụng làm công cụ giám sát Không có sự khác biệt đáng kể giữa giáo viên mới ra trường và giáo viên lâu năm trong nhận thức của họ về giám sát ở trường.Nghiên cứu đã chỉ ra rằng thái độ của giáo viên trong trường và sự hài lòng với sự giám sát là những yếu tố quan trọng nhất trong phát triển nghề nghiệp của họ Thứ tư, nghiên cứu được thực hiện bởi Benjamin Kutsyuruba (2003),
mang tên Giám sát hoạt động giảng dạy: Nhận thức về giáo viên bắt đầu từ trường trung học Canada và Ucraina Mục đích của nghiên cứu này là kiểm
tra nhận thức của những giáo viên mới đi dạy ở các trường tiểu học hoặc trung học về việc thực hiện giám sát tại thành phố Chernivtsi Ukraine trong
Trang 17giai đoạn 1991-2005 Trong các kỹ thuật thu thập dữ liệu, các nhà nghiên cứu
đã sử dụng một bảng câu hỏi và kỹ thuật phỏng vấn riêng lẻ Tổng số người được hỏi là 55 giáo viên từ tám trường Trong nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu thấy rằng không có mối quan hệ đáng kể nào giữa về chất lượng của phương pháp giám sát được đưa ra Dựa trên phân tích thực hành giám sát lý tưởng, một số giáo viên cảm thấy rằng giám sát có vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng lực chuyên môn của giáo viên
Tại Việt Nam, giám sát trong giáo dục vẫn là đề tài chưa được khai thác
cụ thể, chưa có nhiều công trình tập trungnghiên cứu về vấn đề này Giám sát vẫn được hiểu theo nghĩa thuần túy là kiểm tra cơ học và dùng kết quả để đánh giá dựa trên các tiêu chí có sẵn Một trong những đề tài đã có đề cập đến
giám sát là cuốn Giám sát, đánh giá trong trường học – một trong những
cuốn sách thuộc dự án SREM (Support to the Renovation of Education Management – Dự án hỗ trợ đổi mới quản lý giáo dục) Tuy nhiên, vấn đề giám sát được nghiên cứu chưa sâu và vẫn nặng về phần đánh giá trong giáo dục nhiều hơn
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Quản lý
Nói vềQL, theo C.Mác thì bất cứ lao động xã hội nào hay lao động chung trực tiếp nào cũng đều ít nhiều cần đến sự quản lý Về bản chất theo Marx, đó
là quá trình điều chỉnh mọi quá trình xã hội khác.Và “Một nghệ sĩ vĩ cầm thì
tự điều chỉnh mình còn dàn nhạc thì cần nhạc trưởng” [2,tr.23] để nêu lên sựquan trọng và tất yếu của hoạt động quản lý trong quá trình phát triển của
xã hội loài người;
Theo lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về quản lý: “Quản lý xã hội một cách khoa học là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đối với toàn bộ hay những hệ thống khác nhau của hệ thống xã hội trên cơ sở nhận thức và
Trang 18vận dụng đúng đắn những quy luật khách quan vốn có của nó, nhằm đảm bảo cho nó hoạt động và phát triển tối ưu theo mục đích đặt ra” [6,tr.283];
Theo Đặng Quốc Bảo: Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động Chính sự phân công hợp tác lao động nhằm đạt đến hiệu quả nhiều hơn, năng suất cao hơn Trong công việc đòi hỏi phải có sự chỉ huy, phối hợp, điều hành, kiểm tra, chỉnh lý [8,tr17];
Theo Nguyễn Thị Mỹ Lộc và Nguyễn Quốc Chí thì quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng)
kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, lãnh đạo và kiểm tra [12,Tr.19] Như vậy có thể nói rằng bấtcứ một tổ chức nào với mục đích gì, cơ cấu và quy mô ra sao đều cần phải có sự quản lý và người quản lý để tổ chức hoạt động đạt được mục đích của mình.Người quản lý phải là người có trách nhiệm tổ chức phân công lao động và các nguồn lực khác, đồng thời vận hành một bộ phận hay toàn bộ tổ chức để hoạt động có hiệu quả và đạt được mục đích đề ra;
“Quản lý là hoạt động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói chung và khách thể quản lý nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến” [16, tr.24] Nói cách khác “Quản lý là sự tác động liên tục, có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý hay tổ chức quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) về mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế…bằng một hệ thống các luật lệ, chính sách, nguyên tắc, phương pháp và biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng” [13,tr.71];
Tác giả Trần Kiểm cho rằng: “QL là những tác động của chủ thể QL trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích với hiệu quả cao nhất và QL một hệ thống xã hội là tác động có mục đích đến tập thể người – thành viên của hệ - nhằm làm cho hệ vận
Trang 19hành thuận lợi và đạt mục đích dự kiến”[10,tr.5];
Theo Nguyễn Thị Mỹ Lộc và Nguyễn Quốc Chí: “ QL là hoạt động có định hướng, có chủ đích của chủ thể QL (người QL, tổ chức QL) đến khách thể
QL (người bị QL) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”[12,tr.9];
Chức năng quản lý
Lập kế hoạch giảng dạy là liệt kê ra tất cả những công việc cần làm và
sắp xếp theo một chu trình phù hợp để đạt được mục tiêu đã đặt ra
Tổ chức là sắp xếp, sắp đặt một cách khoa học những yếu tố, những con
người, những dạng hoạt động thành một hệ toàn vẹn nhằm đảm bảo cho chúng tương tác với nhau một cách tối ưu
Chỉ đạo việc thực hiện kế hoạch là việc người quản lý huy động lực
lượng để thực hiên kế hoạch, là biến những mục tiêu trong kế hoạch thành kết quả thực hiện Phải giám sát các hoạt động đúng tiến trình, đúng kế hoạch Khi cần thiết phải điều chỉnh, sửa đổi, xử lý nhưng không làm thay đổi mục
tiêu chiến lược đã đề ra
Kiểm tra, đánh giá là xem mục tiêu dự kiến ban đầu và toàn bộ kế
hoạch đã đạt tới mức độ nào, kịp thời phát hiện những sai sót trong quá trình hoạt động, tìm nguyên nhân thành công, thất bại giúp cho chủ thể quản lý kiểm soát được quá trình thực hiện và rút ra kinh nghiệm để điều chỉnh, bổ sung và phát triển
Từ những định nghĩa và sự phân tích trên: Tác giả sử dụng khái niệm QL
là quá trình tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể QL (người QL) lên đối tượng QL (người bị QL) nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức
Để tồn tại và phát triển, con người phải trải qua quá trình lao động, nhận thức thế giới xung quanh, dần dần tích lũy được kinh nghiệm, từ đó nảy sinh nhu cầu truyền lại những kinh nghiệm ấy cho thế hệ sau và những kinh nghiệm này
Trang 20dần trở thành giá trị văn hóa Đó chính là nguồn gốc phát sinh của hiện tượng giáo dục
Giáo dục là hoạt động đặc trưng của xã hội loài người nhằm truyền thụ
và lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm từ thế hệ này sang thế hệ khác, nhờ có giáo dục
mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn hóa dân tộc được kế thừa, bổ sung, hoàn thiện và không ngừng phát triển
Khái niệm QL giáo dục được hiểu theo nhiều cách khác nhau.Theo Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì “QL giáo dục là quá trình thực hiện có định hướng và hợp quy luật các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra nhằm đạt tới mục tiêu giáo dục đã đề ra” [13,tr.15]
Theo PGS.TS Đặng Quốc Bảo: “QLGD theo nghĩa tổng quan là điều hành, phối hợp các lực lượng nhằm đẩy mạnh công tác ĐT thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội Ngày nay, với sứ mệnh phát triển GD thường xuyên, công tác
GD không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người Cho nên, QLGD được hiểu là sự điều hành hệ thống GD quốc dân” [8, tr.31]
QLGD là quá trình tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể QLGD lên khách thể QLGD nhằm đạt được các mục tiêu QLGD đã đề ra
1.2.2 Khái niệm Giám sát trong giáo dục
Có nhiều cách định nghĩa về giám sát được đưa ra trong giới khoa học
giáo dục Về mặt từ nguyên học, giám sát (Tiếng anh: Supervision) được cho
là bắt nguồn từ tiếng Latin (Supervideo) Super là Ở trên, còn Video là tầm nhìn Supervideo tức là bao quát tầm nhìn, được hiểu là theo dõi quy trình
hoạt động tổng thể của đơn vị
Các hoạt động giám sát chú trọng nhiều vào giá trịnhân văn hơn là giá trị kiểm tra đánh giá Các yếu tố liên quan đến đào tạo học thuật là một mục tiêu chính trong các hoạt động giám sát, với mục đích không phải để tìm kiếm lỗi,
Trang 21mà để có thể cung cấp thông tin để thay đổi hoặc hoàn thiện các vấn đề còn khúc mắc trong công việc hoặc quá trình thực hiện giám sát
Về mặt ngữ nghĩa, nhiều chuyên gia định nghĩa giám sát theo nhiều cách khác nhau, nhưng thể hiện cùng ý nghĩa Theo Wiles (1955), Giám sát là một công cụ hỗ trợ trong việc phát triển tình hình dạy-học tốt hơn Neagley (1980)
đã nói rằng giám sát trong giáo dục là một dịch vụ cho giảng viên trong các trường học với mục đích cải thiện việc giảng dạy, học tập và chương trình giảng dạy
Nerney (1982) định nghĩa giám sát là các thủ tục để đưa ra phương hướng và tiến hành đánh giá quan trọng của quá trình giảng dạy Trong khi, Poerwanto (1986) cho biết giám sát là một hoạt động giáo dục được thiết kế
để giúp giảng viên và các nhân viên khác trong trường thực hiện công việc của họ một cách hiệu quả
Một cách định nghĩa khác của giám sát là một hoạt động của người giám sát được thực hiện để sửa chữa quá trình dạy và học Có hai mục đích được thực hiện bằng giám sát: sửa chữa quá trình học tập và nâng cao chất lượng giáo dục Ross (1980), xác định rằng giám sát là dịch vụ cho giảng viên nhằm tạo ra sự cải thiện về giảng dạy, học tập và chương trình giảng dạy
Trong cuốn Giám sát, Đánh giá trong trường học, Giám sát trong giáo
dục được chỉ ra là hoạt động theo dõi quá trình thực hiện các hoạt động giáo dục thông qua việc thường xuyên xem xét, rà soát sự tiến bộ, việc sử dụng các nguồn lực, so sánh với các kết quả đầu ra, dựa trên các chỉ số hoạt động và đưa ra các ý kiến phản hồi cho các cấp QL và các bên liên quan
Các ý kiến trên cho thấy thuật ngữ giám sát bao hàm nhiều ý nghĩa và được diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau nhưng nó có chung lớp nghĩa, là giúp đỡ, quan tâm, đưa ra phương hướng, đánh giá, huấn luyện, cải thiện, phát triển và sửa chữa
Trang 22Cần nhấn mạnh rằng đối tượng của GS chính trong trường học là giảng viên, mặc dù mọi người trong trường đều chịu sự GS của một bên trung gian Một điều quan trọng là phải có một hệ thống quản trị tốt trong các hoạt động giám sát, bởi vì nó liên quan đến cơ chế, đặc biệt là liên quan đến các chức năng chính của giáo dục, đó là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo thực hiện và giám sát
***Phân biệt Giám sát và kiểm tra
Kiểm tra có thể được mô tả như một kỳ thi quan trọng và như một cách
để đánh giá việc học ở trường của người học Thông qua quá trình kiểm tra,
GV và SV nhận biết được kết quả học tập và có những đề xuất và phản hồi liên quan để nâng cao chất lượng trường học Kiểm tra cũng được gọi là một hình thức giám sát truyền thống, cụ thể là phương pháp quản lý trường học diễn ra vào khoảng thế kỷ 19 (Sullivan & Glanz, 2000)
Khi thực hiện nhiệm vụ của mình, các thanh tra viên hoặc những người
có trách nhiệm kiểm tra luôn nhấn mạnh hơn vào những điểm yếu và sự thiếu hụt của GV khi giảng dạy (Glanz, 1998) Hơn nữa, Daresh (2006) tuyên bố rằng các TTV cố gắng huy động mọi lúc chỉ để tìm ra lỗi củaGV giảng dạy trong lớp học Trong một mô hình GS như vậy, TTV có trách nhiệm can thiệp ngay lập tức để cải thiện chất lượng giảng dạy của GV GV là những người chịu trách nhiệm cho các việc xảy ra trong quá trình học tập trên lớp
Sự khác biệt cơ bản giữa giám sát và kiểm tra là mục đích Mục đích của kiểm tra là để xem xét kế hoạch đã được thực hiện bao xa hoặc liệu công việc
đã được thực hiện theo hướng dẫn của TTV, và liệu nó có phù hợp với mục đích và mục tiêu của quá trình dạy học hay không Mục tiêu của hệ thống kiểm tra là tất cả các yếu tố của trường, từ SV, GV, lớp học và các cơ sở khác, trong khi mục đích giám sát để cung cấp hỗ trợ, hướng dẫn cho GV trong việc
Trang 23cải thiện tính chuyên nghiệp và hiệu quả trong lớp học Mục tiêu của hệ thống giám sát tập trung nhiều hơn vào GV và chuyên viên giáo dục khác
1.2.3 Hoạt động giảng dạy
Giảng dạy là sự điểu khiển quá trình SV chiếm lĩnh kiến thức khoa học
để phát triển kỹ năng và hình thành nhân cách
Giảng dạy và học tập có những mục đích cụ thể khác nhau Nếu học tập nhằm vào việc chiếm lĩnh khái niệm khoa học thì giảng dạy lại có mục đích là truyền đạt thông tin dạy học và điều khiển hoạt động học
Hoạt động giảng dạy Đại họclà một quá trình nhận thức có tính chất nghiên cứu của SV dưới sự chỉ đạo, hướng dẫn của giảng viên nhằm đạt được mục tiêu đã xác định
Hoạt động giảng dạy đại họclà tất cả các hoạt động có thể giúp cho khả năng tiếp thu, phát triển và sáng tạo của SV để nhận thức, để cảm nhận và điều khiển quá trình SV chiếm lĩnh kiến thức khoa học để phát triển và hình thành nhân cách và có kĩ năng cao
Hoạt động giảng dạy ĐH “Là hoạt động của giảng viên nhằm tạo ra, tổ chức và hướng dẫn hoạt động học của sinh viên, nhờ đó mà ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách của người học” Tính riêng biệt của việc giảng dạy đại học thể hiện ở năng lực truyền đạt của người dạy làm sao cho khơi dậy được tiềm năng tiếp thu, phát triển và sáng tạo của SV để nhận thức, để cảm nhận
và để có kĩ năng khoa học
Ở bậc đại học,GV giảng dạy vừa là nhà sư phạm, vừa là nhà nghiên cứu khoa học Giảng viên đại học là người vừa giúp SV biết cách giải quyết những vấn đề trong học tập và nghiên cứu mà còn là người thường xuyên nghiên cứu khoa học, tức là người biết nghiên cứu để có thể hướng dẫn SV tự tìm tòi, nghiên cứu Như vậy, để giảng dạy tốt ở đại học, người GV phải thỏa mãn đồng thời hai năng lực: năng lực nghiên cứu khoa học và năng lực
Trang 24chuyên môn sư phạm Nếu người dạy không có khả năng tìm kiếm, lựa chọn thông tin, không có khả năng phát hiện và giải quyết vấn đề thì khó có thể dạy cách học cho SV Để có thể đáp ứng với yêu cầu giảng dạy ở đại học, người
GV đại học cần rèn luyện năng lực phẩm chất của một nhà khoa học, một nhà
sư phạm tận tâm với nghề Trong quá trình giảng dạy đại học, GV là chủ thể của hoạt động giảng dạy, là người giữ vai trò chủ đạo.Với vai trò này, người
GV phải thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động học tập cho sinh viên Muốn thực hiện tốt vai trò này, người giảng viên phải có năng lực chuyên
môn và nghiệp vụ sư phạm giỏi
1.2.4 Giám sát hoạt động giảng dạy
Theo Pawlas và Oliva [21, tr21], Có thể nhìn rõ vai trò và vị trí của
Giám sát hoạt động giảng dạy trong toàn thể bối cảnh như sau:
CÁC LĨNH VỰC GIÁM SÁT Phát triển dạy học Phát triển chương trình Phát triển nhân sự Vai trò của người giám sát : Điều phối viên, Lãnh đạo nhóm, Tư vấn viên, Đánh giá viên
Tư vấn Xã hội
học
Nguyên tắc
Đánh giá
Quản lý Lý thuyết
học tập
Lịch sử giáo dục
Lý thuyết cộng đồng
Lý thuyết
cá nhân
Triết lý giáo dục
Cơ sở giám sát
Nhìn bảng trên, ta thấy Giám sát được thể hiện trong ba lĩnh vực chính là Phát triển dạy học, Phát triển chương trình và Phát triển nhân sự Ở dưới ta thấy được vai trò của người giám sát và những kiến thức, kỹ năng mà một GSV cần có
Trang 25Giám sát hoạt động giảng dạy là một phần của Giám sát trong dạy học Đây cũng là 1 trong ba trọng tâm của giám sát Giám sát hoạt động giảng dạy
ở trường đại học lấy giảng viên làm khách thể, tức là đối tượng nghiên cứu chính là các thầy cô giáo
Giám sát hoạt động giảng dạy bao gồm giám sát các hoạt động của giảng viên bao gồm: lên lớp, nghiên cứu khoa học, sinh hoạt chuyên môn
1.2.5 Phát triển nghề nghiệp
Phát triển
Theo Wikipedia, phát triển là một phạm trù của triết học, là quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của một sự vật Quá trình vận động đó diễn ra vừa dần dần, vừa nhảy vọt để đưa tới sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ Sự phát triển là kết quả của quá trình thay đổi dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, quá trình diễn ra theo đường xoắn ốc và hết mỗi chu kỳ sự vật lặp lại dường như sự vật ban đầu nhưng ở mức (cấp độ) cao hơn
Nghề nghiệp
Nghề nghiệp là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, con người có được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội
Phát triển nghề nghiệp
Phát triển nghề nghiệp là một quá trình nâng cao kiến thức và các kỹ năng không ngừng nghỉ nhằm nâng cao năng lực chuyên môn Phát triển nghề nghiệp bao gồm đào tạo kỹ thuật chuyên môn, nâng cao phát triển kỹ năng cá nhân, nuôi dưỡng tài năng và phát hiện tiềm năng trong tương lai Một số kỹ năng như quản lý thời gian, kỹ năng ủy nhiệm, thuyết trình, huấn luyện, hoặc
kỹ năng lãnh đạo đều có thể giúp nhận ra tiềm năng của một người mà không nhất thiết phải xây dựng các kỹ năng kỹ thuật cụ thể
Trang 26Phát triển nghề nghiệp của GV chính là đem lại sự thăng tiến, tiến bộ, phát triển của GV trong chuyên môn và hoàn thiện các kỹ năng còn thiếu sót Môi trường làm việc tốt chính là nơi để GV được có cơ hội phát triển nghề nghiệp của mình Họ sẽ được phát huy thế mạnh cũng như học hỏi 18ung những điều còn chưa tốt Phát triển con người là mục tiêu nhân văn trong khoa học quản lý và cũng là cái đích của mỗi nền giáo dục Thường người ta chỉ nghĩ tới trường học là nơi để học sinh lĩnh hội kiến thức, trau dồi bản 18ung mà chưa nhắc tới khía cạnh chính thầy cô giáo cũng là những người cần được phát triển hơn nữa trong lĩnh vực mà mình đang hoạt động
1.3.Hoạt động Giảng dạy và yêu cầu phát triển nghề nghiệp của giảng viên Đại học
1.3.1 Đặc điểm giảng dạy của Giảng viên đại học
1.3.1.1.Về đối tượng người học
Sinh viên là người học tập tại các trường đại học, cao đẳng, trung cấp Ở
đó họ được truyền đạt kiến thức bài bản về một ngành nghề, chuẩn bị cho công việc sau này của họ Họ được xã hội công nhận qua những bằng cấp đạt được trong quá trình học
Đối tượng người học – Sinh viên là các công dân đã đủ 18 tuổi, đủ kiến thức về tâm sinh lý để hiểu và làm chủ hành vi, cuộc sống của mình Khác với giảng dạy phổ 18ung18, các bạn còn nhỏ tuổi, chưa đủ năng lực hành vi để suy nghĩ thì các bạn sinh viên là những người độc lập trong suy nghĩ và hành động Tuy nhiên, đây vẫn là lứa tuổi trẻ và các bạn sinh viên đôi khi còn chưa định hình rõ về nhân cách Đây là tầng lớp đang mong muốn được thể hiện bản 18ung mình, ham học hỏi nhưng rất dễ nhạy cảm với các vấn đề chính trị
- xã hội và dễ bị kích động, đôi khi thể hiện sự cực đoan nếu không được định hướng tốt
1.3.1.2 Về mục tiêu giảng dạy đại học
Trong Đề án đổi mới giáo dục đại học Việt Nam được Thủ tướng
Trang 27Chính phủ phê duyệt, mục tiêu phát triển giáo dục đại học đến năm 2020 là:
“đến năm 2020, giáo dục đại học phải có bước tiến cơ bản về chất lượng và qui mô đáp ứng nhu cầu nhân lực cả về chất lượng và số lượng cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội và nâng cao tiềm năng trí tuệ, tiếp cận trình độ tiên tiến trong khu vực và trên thế giới, nâng một số trường đại học lên đẳng cấp quốc tế, góp phần quan trọng vào việc nâng cao sức cạnh tranh của nguồn nhân lực và nền kinh tế đất nước”
Theo Nghị Quyết 14 của Chính Phủ mục tiêu “Đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học, tạo chuyển biến cơ bản về chất lượng, hiệu quả và qui
mô, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH-HĐH đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế và nhu cầu học tập của nhân dân Đến năm 2020, giáo dục đại học Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực và tiếp cận trình độ tiên tiến trên thế giới, có năng lực cạnh tranh cao, thích ứng với cơ chế thị trường định hướng XHCN”
Theo đó, giáo dục đại học Việt Nam phải đảm bảo sứ mạng đào tạo nguồn nhân lực có đầy đủ kiến thức, kĩ năng, năng lực phục vụ cho sự phát triển kinh tế xã hội, khoa học công nghệ, củng cố an ninh, quốc phòng
Vậy mục tiêu của GD ĐH là đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khỏe, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
1.3.1.3.Về nội dung giảng dạy đại học
Thời đại khoa học công nghệ phát triển làm tăng khối lượng tri thức của nhân loại, giáo dục không thể truyền đạt được hết khối lượng kiến thức khổng lồ ấy Do vậy, nội dung giảng dạy các môn học không thể liệt kê hết những kiến thức cần truyền đạt, mà chỉ là những kiến thức cơ bản, nền tảng, chủ yếu rèn luyện cho người học kĩ năng tư duy, kĩ năng khai thác, xử lý thông tin và áp dụng, sử dụng có hiệu quả các thông tin đó và trên cơ sở
Trang 28đóbiến thông tin thành tri thức;
Nội dung chương trình ở Đại học được cụ thể hóa dưới dạng giáo trình, tài liệu tham khảo của môn học Giảng viên đại học có trách nhiệm viết giáo trình, tài liệu tham khảo của môn học và được in ấn, phát hành và lưu hành đảm bảo đúng qui định và phù hợp với ngành học trong trường Đại học và
GV thực hiện việc hướng dẫn SV tự học tập, tự nghiên cứu các kiến thức trong giáo trình tài liệu đã được soạn, chỉnh sửa hàng năm cho phù hợp với mục tiêu chương trình của chuyên ngành đào tạo
1.3.1.4.Về phương pháp giảng dạy đại học
PPGD Đại học được hiểu là: các cách thức hoạt động tương tác được điều chỉnh bởi GV và SV, trong đó hoạt động dạy là chủ đạo, hoạt động học là tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo, nhằm thực hiện tốt các nhiệm
vụ GD ở đại học, góp phần đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, cán
bộ quản lý, nghiệp vụ có trình độ đại học;
Phương pháp giảng dạy theo hướng phát huy tính chủ động, sáng tạo của người học; lấy người học làm trung tâm, sử dụng khoa học công nghệ trong hoạt động giảng dạy;
Theo Hà Thế Ngữ “ PPDH là một hệ thống các tác động liên tục của người dạy nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và thực hành của người học để người học lĩnh hội vững chắc các thành phần của nội dung dạy học nhằm đạt được mục tiêu đã định” [21, tr.31];
Thời đại khoa học công nghệ hiện nay nội dung giáo dục được đổi mới, kéo theo sự đổi mới phương pháp giảng dạy Phương pháp giảng dạy mới là thầy và trò cùng nhau khám phá kiến thức, tìm tòi cái mới với sự hỗ trợ của các phương tiện giảng dạy hiện đại, đặc biệt là của công nghệ thông tin;
Như vậy chúng ta có thể hiểu khái quát: PPGD là cách thức tiến hành HĐGD để đạt mục tiêu đã đề ra;
Trang 29PPGD đại học có những đặc điểm cơ bản là:
+ Gắn liền với ngành nghề đào tạo ở trường đại học
+ Gắn liền với thực tiễn XH, cuộc sống và sự phát triển của khoa học công nghệ
+ Ngày càng tiếp cận với phương pháp nghiên cứu khoa học
+ Có tác dụng phát huy cao độ tính tích cực, chủ động và sáng tạo của SV
+ Phong phú, đa dạng, thay đổi tùy theo trường đại học, đặc điểm của bộ môn, điều kiện, phương tiện DH, đặc điểm nhân cách của GV và SV…
+ Ngày càng gắn liền với các thiết bị và phương tiện dạy học hiện đại
1.3.1.1.Về kiểm tra đánh giá giảng dạy đại học
Kiểm tra là công cụ hay phương tiện đo lường trình độ kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của SV Đánh giá là một khái niệm nhằm xác định mức độ về trình độ của SV ;
Kiểm tra đánh giá trong giảng dạy là xác định số lượng và chất lượng của GD và học tập nhằm khuyến khích SV học tốt và thầy dạy tốt; Nâng cao tinh thần trách nhiệm của SV với việc học tập, giúp SV hệ thống hóa, khái quát hóa những kiến thức đã học, bổ sung kịp thời những lỗ hổng trong tri thức, tăng cường trí nhớ, phát triển kỹ năng đọc tài liệu, tổng hợp, phân tích, tổng kết, giải quyết vấn đề GV đánh giá để biết kết quả hoạt động giảng dạy của chính mình để điều chỉnh phương pháp, hình thức tổ chức giảng dạy và giúp đỡ SV đạt hiệu quả tốt hơn.SV căn cứ vào kết quả kiểm tra, đánh giá của
GV mà tự đánh giá mức độ chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng của bản thân so với yêu cầu môn học, từ đó tự điều chỉnh hoạt động học và có kế hoạch phát triển học tập ;
Để đạt được các mục đích, yêu cầu của kiểm tra đánh giá, cần sử dụng một hệ thống các phương pháp kiểm tra khác nhau như kiểm tra hỏi – đáp;
Trang 30kiểm tra viết; kiểm tra thực hành; trắc nghiệm GV cần tuân thủ những yêu cầu sư phạm của công tác kiểm tra, đánh giá như tính khách quan, tính liên tục, hệ thống, tính toàn diện, tính chính xác, công bằng và công khai Cần kết hợp các hình thức, phương pháp kiểm tra đánh giá truyền thống với các phương pháp hiện đại Bên cạnh đó, cần tăng cường sử dụng các phần mềm hiện đại hỗ trợ cho việc kiểm tra, đánh giá
1.3.2 Yêu cầu đối với phát triển nghề nghiệp của giảng viên đại học
Giảng viên ở Đại học là người tổ chức, điều khiển tối ưu quá trình học tập của sinh viên, làm cho việc học tập của sinh viên trở thành hoạt động có ý thức, tự giác, tích cực và mang tính nghiên cứu cao
Giảng viên là người làm công tác chuyên môn thuộc một chuyên ngành đào tạo của trường ĐH, CĐ đảm nhiệm vai trò trọng yếu trong giảng dạy và đào tạo ở bậc ĐH, CĐ và sau đại học
Giảng viên có vai trò tổ chức, hướng dẫn và đề ra mục đích, yêu cầu nhận thức, học tập của sinh viên Giảng viên là người lập kế hoạch hoạt động giảng dạy; tổ chức hoạt động giảng dạy và hoạt động học tập của sinh viên trên lớp.Giảng viên kích thích và duy trì tính tích cực và chủ động học tập của sinh viên Giảng viên kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên để điều chỉnh hoạt động GD và bổ sung kịp thời
Hiện nay, theo luật Giáo dục Đại học, GV phải đáp ứng được các tiêu chí cơ bản để có thể giảng dạy trình độ đại học, bao gồm: có trình độ tối thiểu là thạc
sĩ đối với hệ đào tạo đại học, trình độ tiến sĩ đối với hệ đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ; chuẩn ngoại ngữ, tin học
Như vậy mất ít nhất 6 năm (4 năm đại học + 2 năm thạc sĩ) được đào tạo trong nước, một GV mới có thể chính thức đứng lớp Như vậy, tuổi của một
GV khi mới lên lớp khoảng từ 24 tuổi
Phát triển nghề nghiệp của GV là điều tất yếu trong trường học Họ có nhu cầu được trau dồi về chuyên môn và kĩ năng Tuy nhiên, với GV đại học, nghiên
Trang 31cứu khoa học là mảng khá nặng và đòi hỏi công sức rất lớn và tốn khá nhiều thời gian của GV GV đại học cũng có yêu cầu đòi hỏi cao hơn khi họ phải rèn rũa nhiều mới được đứng lớp, phải có trình độ khá và phải thành thục nhiều kĩ năng Chính vì vậy, việc phát triển nghề nghiệp của GVĐH cũng bao gồm nhiều vấn
đề khá phức tạp và cần sự khéo léo trong công tác quản lý giáo dục
1.4 Giám sát hoạt động giảng dạy của giảng viên ở trường đại học theo tiếp cận phát triển nghề nghiệp của giảng viên
1.4.1 Vai trò của Giám sát hoạt động giảng dạy với phát triển nghề nghiệp giảng viên
Theo Pandong (2003), một đơn vị GS là một bộ phận chức năng phụ trách kỹ thuật để thực hiện GS ở các trường cụ thể nhằm cải thiện chất lượng giảng dạy và hướng dẫn để đạt được mục tiêu
Trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình, các GSV đóng vai trò giúp đỡ những khó khăn của GV trong giảng dạy Người giám sát không phải là người
có công việc tìm lỗi với giáo viên
*Vai trò của GSV
Theo Olivia (1984) Có 4 vai trò của GSV:
(a) với tư cách là điều phối viên, vai trò GSV trong việc điều phối các chương trình đã được tạo ra và chuẩn bị các tài liệu cần thiết để cải thiện hiệu suất của giáo viên trong học tập và báo cáo về việc thực hiện chương trình; (b) là một nhà tư vấn, GSV phải là một chuyên gia về chương trình giảng dạy, phương pháp giảng dạy và sự phát triển của đội ngũ nhân viên, để người giám sát có thể giúp GV dù cá nhân hay theo nhóm;
(c) với tư cách là người lãnh đạo của nhóm, GSV cần có khả năng lãnh đạo, hiểu được sự năng động của nhóm và tạo ra các hoạt động của nhóm; (d) với tư cách là người đánh giá, GSV có thể cung cấp trợ giúp cho GV thông qua việc đánh giá việc học và chương trình giảng dạy, và có thể xác định các vấn đề mà GV gặp phải, giúp tiến hành nghiên cứu và phát triển việc học
Trang 32Tương tự, Wiles và Bondi (1986) lập luận rằng có tám năng lực cần thiết bởi các GSV trong việc thực hiện vai trò của họ, là nhà phát triển con người, nhà phát triển chương trình giảng dạy, chuyên gia giảng dạy, nhân viên phát triển, quản trị viên, quản trị viên thay đổi và đánh giá Một số năng lực cơ bản phải được sở hữu bởi GSV trong việc đạt được vai trò của họ, cả năng lực thực sự và quy trình năng lực Quy trình năng lực bao gồm lập kế hoạch, thực hiện, đánh giá và theo dõi Mặc dù năng lực thực chất tập trung nhiều hơn vào
sự hiểu biết và quyền sở hữu của GV về mục tiêu học tập, nhận thức của GV đối với SV, kiến thức về tài liệu và sự thông thạo của SV về phương pháp giảng dạy
Glatthorn (1990) nói thêm rằng những năng lực cần có của GSV liên quan đến bản chất của việc dạy học, bản chất của sự phát triển của người trưởng thành và đặc điểm của trường học tốt và hiệu quả Liên quan đến bản chất của việc học, có một số biến mà ảnh hưởng của nó phải được hiểu bởi GSV Thứ nhất, yếu tố tổ chức; nhấn mạnh vào văn hóa tổ chức và các nhà
QL trong các tổ chức giáo dục Thứ hai, liên quan đến tính cách của GV, kiến thức của GV, khả năng lập kế hoạch và ra quyết định, động lực, các giai đoạn phát triển và trưởng thành, kỹ năng của GV Thứ ba, liên quan đến các hệ thống hỗ trợ học tập, chẳng hạn như, chương trình giảng dạy, sách giáo khoa
và các kỳ thi Thứ tư, chính là SV trong lớp
*Giúp GV phát triển khả năng QL học tập
Chất lượng học tập có thể được tạo ra thông qua sự tồn tại của một mối quan hệ rất chặt chẽ với chất lượng giáo dục Có thể thấy rằng một yếu tố quan trọng trong việc tạo ra chất lượng giảng dạy có thể được xác định bởi chất lượng của các GV GV có một vai trò quan trọng và là mũi nhọn trong quá trình tạo ra một nền giáo dục tốt Một lần nữa, GV được khẳng định có trách nhiệm lớn trong sự thành công hay thất bại của quá trình học tập Trong
Trang 33thực tế, GV thường có lỗi trong giảng dạy, cả trong cách giảng dạy và nội dung Vì vậy, GV cần được giúp đỡ để giải quyết các vấn đề giảng dạy Một trợ giúp có thể được cung cấp cho GV là thông qua các việc GS HĐGD
Theo Daresh (1989) GS được sử dụng để giúp GV phát triển khả năng quản lý học tập và đạt được mục đích học tập, hay được gọi là GS học thuật Sergaguanni (1987) tuyên bố rằng phản ánh đánh giá thực tế hiệu suất của GV trong GS học thuật là thấy điều kiện làm việc thực tế của GV để trả lời các câu hỏi, ví dụ: Điều gì thực sự xảy ra trong lớp? GV và SV đang làm gì trong lớp học? Dựa trên những câu hỏi này, thông tin về khả năng quản lý việc học của GV sẽ thu được Sau khi tiến hành GS, cần phát triển chương trình tiếp theo GS không chỉ được hoàn thành sau khi đánh giá hiệu suất của giáo viên,
mà quá trình theo dõi là để giải quyết các vấn đề trong quá trình thực hiện GS Theo Nolan và Hoover (2004), tổ chức chức năng GS GV là sự phát triển giáo viên, do đó cải thiện việc giảng dạy và khuyến khích SV tích cực hơn Nâng cao kinh nghiệm giáo dục và học tập của tất cả học sinh là mục tiêu cơ bản của quá trình GS GV (Nolan và Hoover, 2004) Các hoạt động GS cần được định hướng bao gồm xây dựng chính sách và để GV tham gia vào góp ý
GV có vai trò thiết yếu trong quá trình thúc đẩy và đạt được thành công của nền giáo dục Có thể nói, GV là nguồn nhân lực quyết định sự thành công của việc học tập của SV Đào tạo GV là một yếu tố liên quan rất chặt chẽ với người học trong nỗ lực dạy học hàng ngày của họ ở trường và trong việc đạt được mục tiêu của người học Do đó, nâng cao chất lượng GV nên là một mối quan tâm quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục
Danim (2012) định nghĩa GV là nhà giáo dục chuyên nghiệp với nhiệm
vụ chính là giáo dục, giảng dạy, hướng dẫn, chỉ đạo, đào tạo, đánh giá và đánh giá học sinh trong giáo dục chính quy Nhiệm vụ chính của GV sẽ hoạt động hiệu quả nếu GV có khả năng giảng dạy một cách chuyên nghiệp được
Trang 34thể hiện qua năng lực, trình độ hoặc kỹ năng, các chuẩn mực đạo đức nhất định hoặc cụ thể
*Thúc đẩy GV làm việc chuyên nghiệp
Thực tế là chính phủ và xã hội có vai trò thúc đẩy và cải thiện chất lượng
GV, điều này khiến GV trở thành một vai trò trung tâm trong việc thúc đẩy chất lượng giáo dục Do đó, GV bắt buộc phải làm việc chuyên nghiệp Giáo viên cần được hỗ trợ trong mọi cuộc thảo luận và khi gặp vấn đề trong quá trình học tập Để hỗ trợ GV để giải quyết vấn đề của họ, họ cần có một cơ chế
GS HĐGD hợp lý Nỗ lực hỗ trợ GV phát triển và nâng cao kiến thức, kỹ năng giảng dạy và khả năng đưa ra quyết định nghề nghiệp là mục đích chính của GS Việc phát triển đánh giá GV có mối quan hệ chặt chẽ với GS HĐGD Phương pháp GS hướng dẫn bao gồm sử dụng giám sát lâm sàng,đánh giá ngang hàng, huấn luyện nhận thức, cố vấn và những người khác
GS HĐGD là một chương trình được thực hiện trong các trường học phục vụ cho việc phát triển, chỉ đạo và tăng cường năng lựccủa GV trong quá trình học tập với mục đích hỗ trợ học sinh học tập GS nên được thực hiện liên tục theo các phương pháp và kỹ năng tiếp tục cập nhật để làm cho các
GV chuyên nghiệp, và quan trọng hơn là các nỗ lực phát triển chuyên môn của GV
Một yếu tố thiết yếu trong hệ thống giáo dục là phát triển sự chuyên nghiệp của GV Một GV chuyên nghiệp cần có khả năng cải tiến phương pháp giảng dạy, kỹ năng quản lý lớp học, thích nghi với nhu cầu của SV và có thể xây dựng văn hóa học tập
Việc tổ chức GS HĐGD là một trong những bước hình thành tính chuyên nghiệp của GV Nhưng trong thực tế, cho đến nay có những GV chưa nhận ra tầm quan trọng của GS Vẫn có nhiều GV cho rằng việc GS được thực hiện chỉ để tìm kiếm lỗi trong GV, vì vậy cũng có những GV cảm thấy
Trang 35sợ hãi khi bị GS Giả định này cần được loại bỏ, với mục đích GS là giúp GV giải quyết các vấn đề gặp phải trong lớp học GS được thực hiện bởi người giám sát tại trường, hiệu trưởng hoặc giáo viên cao cấp
Các vấn đề trong giáo dục hiện nay, như thiếu tính chuyên nghiệp, hiệu suất công việc của GV và kết quả của SV có thể do vai trò giám sát còn yếu, kém hiệu quả trong việc đạt được mục tiêu và GS hướng dẫn chỉ có vai trò chuẩn mực và không chi tiết GS nên được thực hiện bởi những người chuyên nghiệp và có tầm nhìn rộng để cải thiện việc giảng dạy của GV và cũng là một tác nhân của sự thay đổi Tuy nhiên, không phải tất cả các GSV đều đáp ứng các tiêu chí này và do đó, họ không thể thực hiện GS hướng dẫn một cách chuyên nghiệp
*Giúp GV khắc phục các tồn tại
Để theo dõi và điều chỉnh sự thay đổi của các hoạt động trong tổ chức giáo dục, mô hình của các nhân viên giáo dục cũng cần phải được thay đổi, đặc biệt là liên quan đến GS HĐGD GS theo mô hình cũ có xu hướng độc đoán, tìm ra lỗi hoặc điểm yếu và là định hướng quyền lực Thuật ngữ kiểm tra đã thay đổi thành GS, có nghĩa rộng hơn và dân chủ hơn Không chỉ để quan sát liệu một hiệu trưởng, giáo viên và nhân viên nhà trường đã thực hiện các nhiệm vụ và hoạt động của họ đúng theo quy chế hay chưa, mà còn để tìm một giải pháp liên quan đến cách khắc phục các vấn đề Với mô hình mới, dự kiến GV và người được giao nhiệm vụ GS có thể thiết lập quan hệ và hợp tác hài hòa hơn để thực hiện các nhiệm vụ được giao
Mặc dù khái niệm giám sát cổ điển đã thay đổi thành GS hiện đại, nhưng chủ yếu trong thực tế, nó vẫn được coi là GS HĐGD với ý nghĩa của kiểm tra
là nghiêm ngặt và độc đoán Thực tế có nhiều cách tiếp cận GS có tính hợp tác trong tự nhiên, nhưng GS thường được thực hiện như một sự kiểm tra.Vấn
đề phải đối mặt khi tiến hành giám sát trong môi trường giáo dục cơ bản là
Trang 36làm thế nào để thay đổi tư duy độc đoán và sửa sai theo hướng sáng tạo và mang tính xây dựng Một tình huống và mối quan hệ trong đó GV cảm thấy
an toàn và được chấp nhận là những đối tượng có thể học hỏi và phát triển bản thân
Trọng tâm giám sát của một GSV chỉ nhấn mạnh vào công việc hành chính; quy trình GS được áp dụng tương tự như kiểm tra và GS được thực hiện bởi các GSV của trường dường như không cung cấp vĩ độ rộng cho giao tiếp hai chiều Hơn nữa, họ thấy rằng sự GS được đưa ra bởi các GSV là quá đơn điệu, và thậm chí có xu hướng truyền đạt những điều sai hoặc thông tin
đã hết hạn, và hầu hết các GV chọn cách thụ động và không nghe theo lời khuyên của GSV Những vấn đề này khiến GV có nhận thức tiêu cực về GS
GV nhận thức tiêu cực về GS khiến họ cho rằng giám sát không có giá trị để cung cấp
1.4.2 Một số mô hình giám sát
Mô hình GS giáo dục là mô hình mà trong đó các GSV thực hiện việc
GS hoạt động giảng dạy của GV trong nhà trường
Mô hình giám sát trước đó được phân thành bốn là: Mô hình phát triển giám sát, Mô hình tích hợp giám sát, Mô hình vai trò xã hội của giám sát, Mô hình hệ thống giám sát
Sau đó, mô hình giám sát được chia làm ba, cụ thể là: mô hình phát triển,
mô hình tích hợp và mô hình định hướng cụ thể
Hiện nay, có bốn mô hình GS: mô hình thông thường (truyền thống), mô hình khoa học, mô hình lâm sàng và mô hình nghệ thuật
Mô hình thông thường
Khi thực hiện mô hình thông thường, các GSV tìm ra lỗi của GV Các giám thị tiến hành kiểm tra đột ngột trong lớp học mà không được phép khi
GV đang giảng dạy Điều này rất trái với mục đích và nguyên tắc GS, và việc
Trang 37thực hiện nó chỉ tìm lỗi với GV, làm cho hành vi của GV trở nên thờ ơ trong việc tìm giải pháp đổi mới và tiến bộ giáo dục Có hai mô hình giám sát truyền thống: GS trực tiếp và GS gián tiếp GS trực tiếp được thực hiện bằng
sự GS trực tiếp của các GV đang giảng dạy thông qua các quy trình quan sát trước và sau quan sát, và GS gián tiếp được thực hiện thông qua kiểm tra đột ngột, thảo luận trường hợp và bảng câu hỏi
Mô hình khoa học
GS có tính chất khoa học có thể được mô tả như sau:
a Việc thực hiện có kế hoạch và liên tục hơn
b Sử dụng một cách có hệ thống các quy trình và kỹ thuật cụ thể
c Sử dụng các công cụ trong việc thu thập dữ liệu
d Dữ liệu khách quan được lấy từ tình hình thực tế
Mô hình lâm sàng
Mô hình này tập trung vào việc cải thiện giáo viên trong giảng dạy thông qua chu trình lập kế hoạch, quan sát, phân tích chuyên sâu và cẩn thận, để bằng chứng cho những thay đổi là hợp lý Các đặc điểm của GS lâm sàng:
a Sáng kiến về những gì sẽ được GS phát sinh từ GV thay vì GSV
b GS được thực hiện với sự gắn kết và nhân văn
c Mối quan hệ giữa GSV và GV là mối quan hệ hợp tác
Mô hình nghệ thuật
Dạy học là một môn khoa học đòi hỏi kỹ năng và nghệ thuật Liên quan đến nhiệm vụ giảng dạy của mình, GS là một hoạt động trong giáo dục làm tăng kiến thức, thẩm mĩ và cũng là nghệ thuật Giảng dạy phải được kiểm soát bởi một nhà giáo dục
1.4.3 Các thành tố trong tổ chức hoạt động giám sát
1.4.3.1 Mục tiêu của giám sát
Trang 38Về cơ bản, mục tiêu của GS là cung cấp dịch vụ và hỗ trợ để cải thiện tính chuyên nghiệp của GV để đạt được các nhiệm vụ chính của họ trong giảng dạy trên lớp, qua đó có thể cải thiện chất lượng học tập của học sinh Trong đó có việc sửa chữa các quy trình giảng dạy
Có thể phân loại hai mục tiêu GS là mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể Mục tiêu chung của giám sát là cung cấp sự hỗ trợ cho GV dưới hình thức hỗ trợ kỹ thuật và hình thức hướng dẫn cho GV và nhân viên khác của trường nhằm nâng cao chất lượng công việc Để đạt được mục tiêu chung một cách
dễ dàng, nó phải được giải thích chi tiết, thông qua các mục tiêu cụ thể với các tiêu chí rõ ràng
Các mục tiêu của giám sát là:
1 Để điều chỉnh HĐGD
2 Phát triển chuyên môn của GV
3 Để giúp GV nhận thức được việc giảng dạy của họ và tác động của nó đối với người học
4 Để cho phép GV thử các kỹ thuật giảng dạy mới trong một môi trường
an toàn, được hỗ trợ
5 Thúc đẩy sự phát triển của chương trình giảng dạy
6 Truyền cảm hứng cho mối quan hệ của con người
7 Để thúc đẩy động lực của GV
8 Theo dõi quá trình học tập để có kết quả tốt nhất với SV
9 Cung cấp một cơ chế cho GV và GSV để nâng cao hiểu biết của họ về quá trình dạy và học thông qua điều tra tập thể với các chuyên gia khác
Có thể tóm gọn lại thành ba mục tiêu chính của GS:
1 Hỗ trợ GV xây dựng quá trình dạy và học
2 Giúp giáo viên phân tích chương trình giảng dạy
3 Hỗ trợ phát triển đội ngũ GV
Trang 39Mục tiêu chung của GS HĐGD là hỗ trợ GV xây dựng mục tiêu học tập, hướng dẫn GV kinh nghiệm dạy và học, sử dụng tài nguyên học tập, áp dụng phương pháp dạy học, hiểu nhu cầu học tập của SV, đánh giá tiến bộ học tập của SV, sự phát triển đạo đức của SV, thích nghi với xã hội và xây dựng, nâng cao chất lượng trường học.Thực hiện GS HĐGD để hỗ trợ phát triển và hiểu giáo viên lâu năm, quá trình dạy và học, và phát triển các kỹ năng và kỹ thuật trong giảng dạy đồng thời Khuyến khích GV thực hiện khả năng thực hiện các nhiệm vụ giảng dạy, cam kết thực hiện nhiệm vụ
và trách nhiệm của mình
McQuarrie và Wood (1991) tuyên bố rằng mục đích của GS là hỗ trợ và
hỗ trợ GV trong việc thích nghi, áp dụng và cải thiện thực hành giảng dạy và
áp dụng nó trong lớp học Sau đó, Wanzare và Da Costa (2000) nói rằng GS
là để tăng cường sự phát triển nghề nghiệp của GV, việc cung cấp những phản hồi về thực tiễn hiệu quả giảng dạy trong lớp học là mục tiêu tổng thể của quá trình GS
Để thúc đẩy mục tiêu GS, các GSV nên sử dụng nhiều chiến lược và phương pháp GS khác nhau cho mỗi nhómGV, từ đó tạo ra một quy trình GS hiệu quả và tạo ra việc học thú vị cho SV Nhiều chuyên gia giáo dục cho rằng điều này là do một số khác biệt về nền tảng GV, kinh nghiệm, khả năng suy nghĩ trừu tượng và mức độ quan tâm Do đó, hiệu quả của GS phải phù hợp với đặc điểm và bối cảnh của sự khác biệt của GV bằng cách sử dụng cơ chế phù hợp nhất Mặt khác, quy trình QL có thể sử dụng nhiều cách thức phù hợp, nhưng nó không dễ dàng phù hợp trong một thời gian ngắn khi xem xét nhu cầu và sở thích của các GV khác nhau trong quy trình QL
1.4.3.2 Các phương pháp giám sát
Dựa trên nghiên cứu được thực hiện bởi Sullivan và Glanz (2000), sự thành công trong việc thực hiện GS bị ảnh hưởng bởi một số phương pháp có
Trang 40thể cải thiện tính chuyên nghiệp của GV như cố vấn, huấn luyện đồng đẳng, đánh giá ngang hàng, danh mục học tập và nghiên cứu hành động Việc áp dụng một cách tiếp cận khác để nâng cao vai trò của GS, không chỉ cung cấp
sự lựa chọn cho GV mà còn cung cấp các tùy chọn cho nhà QLGD Các loại phương pháp thường được sử dụng trong GS là GS lâm sàng, GS hợp tác (huấn luyện đồng đẳng, huấn luyện nhận thức và cố vấn), tự phản ánh (phát triển tự định hướng), kế hoạch phát triển chuyên nghiệp và danh mục học tập
Giám sát lâm sàng
GS lâm sàng được thực hiện để giúp giáo viên cải thiện tính chuyên nghiệp trực diện GS lâm sàng là một quá trình GS được cấu trúc và tiến hành trực tiếp giữa các GV và GSV với mục đích cải thiện khả năng giảng dạy của
GV trong lớp học GS lâm sàng là hỗ trợ và giúp GV phát triển các kỹ năng của chính họ và dần trở nên độc lập hơn
Goldhammer, Anderson và Kwrajewski (1980) đã đề xuất chín đặc điểm của GS lâm sàng như sau:
1 Trở thành một với công nghệ cải thiện việc giảng dạy
2 Một sự can thiệp có chủ ý trong quá trình học tập
3 Tập trung vào mục tiêu, đó là kết hợp các mục tiêu của trường với nhu cầu cá nhân của GV
4 Mối quan hệ công việc giữa GV và GSV
5 Tin tưởng, thấu hiểu, hỗ trợ và cam kết cùng nhau tiến bộ
6 Sử dụng hệ thốngGS linh hoạt và thay đổi phương pháp liên tục
7 Tạo mọi điều kiện sáng tạo để duy trì sự khác biệt giữa tình huống thực tế và lý tưởng
8 GSV phải có thẩm quyền
9 GSV cần được đào tạo