Có nhiều yếu tố nguy cơ dẫn đến rối loạn lo âunhư giới, người mắc phải các rối loạn tâm thần khác như trầm cảm, rối loạn ám ảnh hay những người nằm trong nhóm nhân cách “yếu” [1].. Những
Trang 1-*** -LÊ THỊ NGỌC ANH
ĐẶC ĐIỂM NHÂN CÁCH VÀ RỐI LOẠN LO ÂU
Ở SINH VIÊN HỆ BÁC SĨ NĂM THỨ HAI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI NĂM HỌC 2016 – 2017
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN Y KHOA
KHÓA 2013 – 2017
HÀ NỘI – 2017
Trang 2-*** -LÊ THỊ NGỌC ANH
ĐẶC ĐIỂM NHÂN CÁCH VÀ RỐI LOẠN LO ÂU
Ở SINH VIÊN HỆ BÁC SĨ NĂM THỨ HAI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI NĂM HỌC 2016 – 2017
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN Y KHOA
KHÓA 2013 – 2017
Người hướng dẫn khoa học:
ThS Trần Thơ Nhị
HÀ NỘI – 2017
Trang 3Em xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu Nhà trường, Phòng Đào tạo
Đại học Trường Đại học Y Hà Nội, Viện Đào tạo Y học dự phòng và Y tế
công cộng đã đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tạo điều kiện
cho em học tập, rèn luyện và thực hiện luận văn
Em cũng xin cảm ơn các cán bộ của Bộ môn Y Đức và Tâm lý học đã
giúp đỡ và tạo điều kiện cho em trong quá trình thực hiện luận văn
Đặc biệt, em xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới Ths.
Trần Thơ Nhị đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn em trong suốt quá trình nghiên
cứu và thực hiện luận văn này
Em xin cảm ơn các bạn sinh viên hệ bác sĩ năm thứ hai trường Đại học
Y Hà Nội đã tham gia và cung cấp thông tin trong quá trình em thực hiện luận
văn này
Cuối cùng, em xin cảm ơn sự chia sẻ, động viên và giúp đỡ nhiệt tình
của bạn bè, thầy cô và gia đình
Hà Nội, ngày….tháng….năm 2017
Sinh viên
Lê Thị Ngọc Anh
Trang 4Kính gửi: - Phòng Quản lý Đào tạo Đại học - Trường Đại học Y Hà Nội
- Viện Đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng
- Phòng Đào tạo - Nghiên cứu khoa học & Hợp tác quốc tế,Viện Đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng
- Bộ môn Y đức và Tâm lý học
- Hội đồng chấm khóa luận tốt nghiệp, năm học 2016-2017Tôi xin cam đoan đã thực hiện quá trình làm khóa luận một cách khoahọc, chính xác, khách quan và trung thực Đề tài này hoàn toàn do tôi thựchiện từ khi hình thành ý tưởng nghiên cứu, trình bày thành bộ đề cương hoànchỉnh, thu thập thông tin, phân tích và trình bày kết quả nghiên cứu hoànchỉnh, dưới sự hướng dẫn và góp ý của giáo viên hướng dẫn
Nếu có gì sai sót tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Hà Nội, ngày….tháng….năm 2017
Sinh viên
Lê Thị Ngọc Anh
Trang 5KTX Ký túc xá
ĐH, SĐH Đại học, Sau Đại học
ĐHYHN Đai học Y Hà Nội
RLLA Rối loạn lo âu
Trang 6LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮ
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
DANH MỤC CÁC BẢNG
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Nhân cách 3
1.1.1 Khái niệm về nhân cách 3
1.1.2 Đặc điểm của nhân cách 4
1.1.3 Các kiểu nhân cách và đặc điểm của các kiểu nhân cách 4
1.1.4 Thang đo xác định nhân cách Hans Eysenck 6
1.2 Rối loạn lo âu 7
1.2.1 Khái niệm rối loạn lo âu 7
1.2.2 Phân loại rối loạn lo âu 9
1.2.3 Hậu quả của rối loạn lo âu 10
1.2.4 Thang đánh giá rối loạn lo âu 10
1.3 Thực trạng rối loạn lo âu 13
1.3.1 Các nghiên cứu trên thế giới về rối loạn lo âu 13
1.3.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam về rối loạn lo âu 15
1.4 Mối liên quan giữa đặc điểm nhân cách và rối loạn lo âu 16
1.4.1 Các nghiên cứu trên thế giới về đặc điểm nhân cách và rối loạn lo âu 16
1.4.2.Các nghiên cứu tại Việt Nam về mối liên quan giữa đặc điểm nhân cách và rối loạn lo âu 17
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.1 Địa điểm, thời gian nghiên cứu 18
2.2 Đối tượng nghiên cứu 18
2.3 Phương pháp nghiên cứu 18
Trang 72.6 Vấn đề đạo đức nghiên cứu 22
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 24
3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 24
3.2 Đặc điểm nhân cách của sinh viên năm thứ hai hệ bác sĩ trường Đại học Y Hà Nội 30
3.3 Tỷ lệ rối loạn lo âu của sinh viên năm thứ hai hệ bác sĩ trường Đại học Y Hà Nội 32
3.3.1 Tỷ lệ rối loạn lo âu chung của sinh viên năm thứ hai hệ bác sĩ trường Đại học Y Hà Nội 32
3.3.2 Rối loạn lo âu của sinh viên năm thứ hai hệ bác sĩ trường Đại học Y Hà Nội theo giới tính 33
3.3.3 Rối loạn lo âu của sinh viên năm thứ hai hệ bác sĩ trường Đại học Y Hà Nội theo ngành đào tạo 34
3.3.4 Một số yếu tố liên quan đến rối loạn lo âu của sinh viên năm thứ hai hệ bác sĩ trường Đại học Y Hà Nội 35
3.4 Đặc điểm nhân cách và rối loạn lo âu của sinh viên năm thứ hai hệ bác sĩ trường Đại học Y Hà Nội 36
3.4.1 Đặc điểm nhân cách và rối loạn lo âu của sinh viên năm thứ hai hệ bác sĩ trường Đại học Y Hà Nội 36
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 37
4.1 Tỉ lệ rối loạn lo âu của sinh viên 37
4.2 Đặc điểm nhân cách của sinh viên 39
4.3 Mối liên quan giữa đặc điểm nhân cách và rối loạn lo âu ở sinh viên .41 4.4 Hạn chế của nghiên cứu 42
KẾT LUẬN 43
KHUYẾN NGHỊ 45 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 9Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ rối loạn lo âu chung của sinh viên 32
Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ rối loạn lo âu của sinh viên theo giới tính 33
Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ rối loạn lo âu của sinh viên theo ngành đào tạo 34
DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 3.1 Đặc điểm chung của sinh viên 24
Bảng 3.2 Đặc điểm nhân trắc học của sinh viên 27
Bảng 3.3 Đặc điểm về gia đình của sinh viên 28
Bảng 3.4 Đặc điểm kiểu nhân cách của sinh viên 30
Bảng 3.5 Đặc điểm nhân cách của sinh viên theo giới và ngành học 31
Bảng 3.6 Mối liên quan giữa RLLA và đặc điểm cá nhân của sinh viên 35
Bảng 3.7 Đặc điểm nhân cách và rối loạn lo âu của sinh viên 36
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Rối loạn lo âu là một trong những rối loạn tâm lý có tính phổ biến cao,bệnh thường kết hợp với các rối loạn khác như trầm cảm, rối loạn nhân cách,rối loạn ăn uống hay rối loạn dạng cơ thể [4] Trên thế giới, tỷ lệ mắc rối loạn
lo âu trong quần thể dao động từ 0,9% đến 28,3% dân số [2] Tại Việt Nam,theo một nghiên cứu của Bệnh Viện Tâm Thần Trung Ương 1 từ năm 2000 –
2002, nước ta có 2,7% dân số mắc rối loạn lo âu [3] Cứ 20 người thì có mộtngười bị bệnh và thường mắc bệnh ở lứa tuổi bắt đầu trưởng thành [5]
Rối loạn lo âu kéo dài sẽ gây những ảnh hưởng nghiêm trọng đến tinhthần, sức khỏe cũng như chất lượng cuộc sống của mỗi cá nhân Nó gây ảnhhưởng đến hệ tim mạch, rối loạn giấc ngủ, tăng mức độ nguy hiểm đối với cácbệnh nhân mắc bệnh mãn tính như tiểu đường, tăng huyết áp Ngoài ra, nócòn gây hoảng loạn cưỡng chế, sợ hãi, đau nhức toàn thân hay rối loạn tiêuhóa khi lo âu quá mức [6] Có nhiều yếu tố nguy cơ dẫn đến rối loạn lo âunhư giới, người mắc phải các rối loạn tâm thần khác như trầm cảm, rối loạn
ám ảnh hay những người nằm trong nhóm nhân cách “yếu” [1] Nhân cách là
tổ hợp các thuộc tính tâm lý của các nhân tạo nên bản sắc tâm lý và giá trị xãhội của cá nhân đó [6] Những người có nhân cách thần kinh không ổn định
và sống hướng nội được cho rằng có nguy cơ mắc rối loạn lo âu cao hơnnhững người bình thường, hoạt bát, vui vẻ [7]
Hiện nay, trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về đặc điểm nhân cách
và rối loạn lo âu trên nhiều đối tượng như người trưởng thành, nhóm ngườimắc bệnh dạ dày, người nghiện thuốc [8], [10], [11] Có một số ít nghiên cứu
đã thực hiện trên sinh viên [7], [9] Sinh viên là những chủ nhân tương lai,góp phần quan trọng trong việc xây dựng đất nước giàu mạnh, phát triển Ở
Trang 12Việt Nam, vấn đề này đã được nghiên cứu trên sinh viên các trường Sư PhạmThành Phố Hồ Chí Minh [12], Đại học Lao động Xã hội [13], nhưng nhữngnghiên cứu trên sinh viên y còn hạn chế
Sinh viên y khoa là những bác sĩ trẻ tương lai, sẽ thực hiện công tácchăm sóc sức khỏe cho nhân dân Trường Đại học Y Hà Nội là một trongnhững trường đại học về y tế hàng đầu Việt Nam với bề dày lịch sử 115 năm,đào tạo ra những thế hệ bác sĩ chủ chốt của ngành y tế Hằng năm, Nhàtrường tuyển sinh các hệ đào tạo khác nhau, trong đó, hệ bác sĩ luôn chiếm tỷ
lệ nhiều nhất Vì vậy, việc quan tâm đến sức khỏe của sinh viên y là rất quantrọng, đặc biệt là sức khỏe tâm thần Câu hỏi được đặt ra là: (1) Có bao nhiêusinh viên hệ bác sĩ mắc rối loạn lo âu? (2) Đặc điểm nhân cách của sinh viên
y khoa là gì và nó có liên quan với rối loạn lo âu không? Trả lời các câu hỏitrên giúp cung cấp bằng chứng cho Nhà trường trong việc định hướng xâydựng những hoạt động thiết thực nhằm nâng cao sức khỏe tâm thần cho sinhviên Từ đó, cung cấp nguồn nhân lực y tế có chất lượng - chuyên môn tốt,đáp ứng được nhu cầu chăm sóc sức khỏe của nhân dân
Chính vì những lí do trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Đặc điểm
nhân cách và rối loạn lo âu ở sinh viên hệ bác sĩ năm thứ hai trường Đại học Y Hà Nội năm 2016 – 2017” với 2 mục tiêu sau:
1 Xác định tỷ lệ rối loạn lo âu ở sinh viên hệ bác sĩ năm thứ hai trườngĐại học Y Hà Nội năm học 2016 - 2017
2 Mô tả mối liên quan giữa đặc điểm nhân cách và rối loạn lo âu của sinhviên hệ bác sĩ năm thứ hai trường Đại học Y Hà Nội năm 2016 - 2017
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Nhân cách
1.1.1 Khái niệm về nhân cách
Từ thời Hy Lạp cổ đại, để chỉ những đặc điểm riêng biệt của cá nhân,người ta đã đưa ra khái niệm về nhân cách Có rất nhiều định nghĩa về nhâncách theo các quan điểm khác nhau [6], cụ thể là:
Theo lý thuyết chất dịch: Cơ thể chứa đựng những chất dịch hay chất
lỏng có nhiều nhất trong cơ thể như máu, đờm, dãi, mật đen và mật vàng,những chất này có ảnh hưởng nhiều tới nhân cách của con người Nhân cáchvui vẻ, hoạt bát, sinh động được cho rằng phần lớn ở người có tỷ lệ máu cao,còn những người có tỷ lệ mật vàng hay nước mắt cao hơn sẽ tạo ra tính cáchnóng nảy, hấp tấp
Theo lý thuyết phân tâm của Freud cho rằng: Có ba thành phần cấu
trúc nhân cách: Cái nó, cái tôi và cái siêu tôi Theo Freud, nhân cách của cánhân có liên quan chặt chẽ với quá trình của ý thức và libido
Theo lý thuyết của Karl Gustav Jung cho rằng: Nhân cách là người mẹ
của ý thức và vô thức Bản thân là sự tổng hợp của bên trong và bên ngoài
Theo lý thuyết thân chủ trọng tâm của Carl Rogers nhấn mạnh tầm
quan trọng của khái niệm cái tôi và sự phát triển cá nhân cho rằng cả hai yếu
tố này đều cần thiết trong việc phát triển nhân cách lành mạnh
Theo lý thuyết nhân cách của Cattell, áp dụng phân tích nhân tố, nhà
tâm lý học nhân cách Raymond Cattell đã tìm ra 16 đặc điểm nguồn tượngtrưng cho các khuôn khổ nhân cách cơ bản, sử dụng những đặc điểm nguồnnày, ông phát triển bảng câu hỏi 16 nhân tố nhân cách, là cách đánh giá cho
Trang 14biết mỗi đặc điểm nguồn dành cho ba nhóm đối tượng khác nhau: phi công,nghệ sĩ sáng tạo và nhà văn
Có rất nhiều những lý thuyết nhân cách khác nhau, mỗi lý thuyết có ưunhược điểm khác nhau Nhưng trong đề tài nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng
lý thuyết nhân cách của Hans Eysenck (1962) [6]
1.1.2 Đặc điểm của nhân cách
Từ các công trình nghiên cứu tâm lý học, các nhà tâm lý đã đưa ra một
số đặc điểm cơ bản của nhân cách [1] Đó là:
- Tính thống nhất của nhân cách: Nhân cách là một chỉnh thể thống nhấtgiữa phẩm chất và năng lực của con người
- Tính ổn định của nhân cách: Nhân cách là tổ hợp các thuộc tính tâm lýtương đối ổn định, tiềm tàng trong mỗi cá nhân
- Tính tích cực của nhân cách: Nhân cách là chủ thể của hoạt động vàgiao tiếp, là sản phẩm của xã hội Giá trị đích thực của nhân cách, chứcnăng xã hội và cốt cách làm người của cá nhân thể hiện rõ nét ở tínhtích cực của nhân cách
- Tính giao tiếp của nhân cách: Được hình thành, phát triển và tổn tại, thểhiện trong hoạt động và trong mối quan hệ giao tiếp với những nhâncách khác Nhu cầu giao tiếp được xem như là một nhu cầu bẩm sinhcủa con người Con người sinh ra và lớn lên luôn có nhu cầu quan hệgiao tiếp với mọi người Thông qua giao tiếp, con người gia nhập vàocác quan hệ xã hội và lĩnh hội các chuẩn mực đạo đức, những điều hay,
lẽ phải
1.1.3 Các kiểu nhân cách và đặc điểm của các kiểu nhân cách
Dựa vào kiểu hệ thần kinh, các nhà nghiên cứu chia nhân cách của conngười thành 4 kiểu nhân cách cơ bản: hăng hái, bình thản, ưu tư và nóng nảy
Trang 15Kiểu nhân cách hăng hái: Người thuộc kiểu nhân cách này là người
sống hoạt bát, vui vẻ, ham hiểu biết, linh hoạt trong cuộc sống Cảm xúc của
họ không ổn định, dễ rung động,nhưng thường không sâu đậm, dễ quênnhững điều giận dỗi, bực tức Họ có xu hướng hướng về tập thể, dễ dàng thiếtlập quan hệ, nhanh chóng làm quen với những người khác, cởi mở, thiện chí.Đây là những người có trí tuệ mềm dẻo, hài hước, có khả năng nắm bắt cáimới nhanh chóng
Kiểu nhân cách bình thản: Người có nhân cách này thường là những
người trầm tĩnh, bao giờ cũng điềm đạm, kiên nhẫn Họ thường chậm chạp,không vội vàng, hấp tấp, trong hoạt động thường thể hiện tính có chín chắn,
sự kiên trì Họ thường thích sự ngăn nắp, có trật tự, thích làm những điềuquen thuộc, ngại sự thay đổi
Kiểu nhân cách nóng nảy: Người có nhân cách này có đặc điểm nổi bật
là nhanh nhẹn ở các cử chỉ, hành động Các quá trình tâm lý của họ đều diễn
ra nhanh và thường không cân bằng được Họ hào hứng, say mê, nhiệt tìnhlàm việc, thể hiện sáng kiến nhưng sự kiên nhẫn trong quá trình làm việcthường nhanh chóng cạn kiệt Trong sự giao tiếp với người khác, nhữngngười này thường hay nổi nóng, dễ bị kích thích, khó kiềm chế được mình.Nếu bị người khác xúc phạm, họ dễ có hành vi thô lỗ, cục cằn, có xu hướngbạo lực
Kiểu nhân cách ưu tư: Những người mang nhân cách này có khuynh
hướng khép kín, ngại giao tiếp với người lạ, thường lúng túng vụng về trongnhững hoàn cảnh mới Khi gặp phải những điều kiện không thuận lợi trongcuộc sống, họ dễ bị tổn thương, nản chí, u sầu, bi quan, nghi ngờ, lo lắng…Tuy nhiên, họ là những người rất nhạy bén và tinh tế về mặt cảm xúc, có sựcảm nhận sâu sắc về thế giới xung quanh Họ là những người có khả năng
Trang 16phát triển về lĩnh vực nghệ thuật Bên cạnh đó, họ còn là tuýp người mềmmỏng, tinh tế, nhã nhặn và giàu lòng vị tha.
Hans Eysenck cũng sử dụng phân tích nhân tố để nhân dạng các mẫutrong đặc điểm nhân cách, nhân cách được mô tả gồm hai kiểu: kiểu nhâncách hướng nội – hướng ngoại và kiểu nhân cách thần kinh ổn định – không
ổn định
Theo phân loại kiểu nhân cách hướng nội – hướng ngoại: những người
có kiểu nhân cách này thường có đặc điểm sau: cẩn thận, trầm ngâm còn một
số khác là những người luôn vui vẻ, hòa đồng
Theo phân loại kiểu nhân cách thần kinh ổn định – không ổn định:
những người có kiểu nhân cách này thường có đặc điểm sau: dễ nóng nảy,buồn rầu, tự ái hay nhạy cảm hoặc đáng tin, điềm tĩnh
Bằng cách đánh giá con người theo hai chiều hướng này, Eysenck cóthể dự đoán hành vi con người trong nhiều tình huống khác nhau Với số câuhỏi vừa phải và dễ diễn giải, dễ hiểu, thang đo nhân cách Eysenck [14] đãđược dịch và đưa vào sử dụng trong nghiên cứu, giảng dạy và thực hành lâmsàng ở Việt Nam khá lâu Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng thang đonhân cách của Eysenck để tìm hiểu nhân cách của sinh viên
1.1.4 Thang đo xác định nhân cách Hans Eysenck
Bảng trắc nghiệm nhân cách của Hans Eysenck được xây dựng từ năm
1943 [14] Bộ trắc nghiệm gồm có 57 câu hỏi, mỗi câu gồm 2 lựa chọn: có không Thang đo đã được dịch ra Tiếng Việt và được sử dụng trong cácnghiên cứu ở Việt Nam [15] Thang đo gồm 3 mục: A, B và C
-Mục A: Xác định nhân cách hướng nội hay hướng ngoại Gồm các câuhỏi: 1, 3, 8, 10, 13, 17, 22, 25, 27, 39, 44, 46, 49, 53, 56, 5, 15, 20, 29, 32, 34,
37, 41, 51 Mỗi câu 1 điểm:
Trang 17- Nếu những câu hỏi sau đây trả lời là “Có”: 1, 3, 8, 10, 13, 17, 22, 25,
Mục C: Kiểm tra độ tin cậy của câu trả lời Cho mỗi câu 1 điểm:
- Nếu những câu trả lời sau đây là “Có”: 6, 24, 36.
- Nếu những câu hỏi sau đây trả lời là “Không”: 12, 18, 30, 42, 48, 54.
Từ việc tính điểm và xác định nhân cách ở mỗi mục đó, kết hợp haimục A và B, ta có 4 kiểu nhân cách như sau:
Kiểu nhân cách hướng nội kết hợp với kiểu nhân cách thần kinh ổn
định được gọi là kiểu nhân cách “bình thản”.
Kiểu nhân cách hướng nội kết hợp với kiểu nhân cách thần kinh không
ổn định được gọi là kiểu nhân cách “ưu tư”.
Kiểu nhân cách hướng ngoại kết hợp với kiểu nhân cách thần kinh ổn
định được gọi là kiểu nhân cách “hăng hái”.
Kiểu nhân cách hướng ngoại kết hợp với kiểu nhân cách thần kinh
không ổn định được gọi là kiểu nhân cách “nóng nảy”.
1.2 Rối loạn lo âu
1.2.1 Khái niệm rối loạn lo âu
Lo âu được xem là một phản ứng tự nhiên của con người trước nhữngkhó khăn và mối đe dọa của môi trường, xã hội mà con người phải tìm cách
vượt qua [13] Con người thường cảm thấy bực mình, bồn chồn và căng thẳng
tinh thần trong lúc lo âu Cảm giác lo âu có thể là một kết quả của các kinh
Trang 18nghiệm sống ví dụ như mất việc làm, đổ vỡ quan hệ, mắc bệnh nặng, gặp phảitai nạn lớn hay người thân qua đời [4].
Có nhiều khái niệm lo âu được đưa ra, mỗi tác giả lại đề cập đến lo âutheo một cách khác nhau
Theo Trần Đình Xiêm, lo âu là một cảm giác bất an, lo sợ lan tỏa hếtsức khó chịu nhưng thường mơ hồ kèm theo một triệu chứng của cơ thể [17]
Tác giả Nguyễn Viết Thiêm lại cho rằng: Lo âu là một trạng thái bệnh
lý Khi lo âu mang đặc tính dai dẳng, lan tỏa, tản mạn, không liên quan,không khu trú vào một sự kiện hay hoàn cảnh đặc biệt nào ở xung quanh hoặc
có liên quan tới sự kiện đã qua nhưng không còn tính chất thời sự nữa [18]
Theo Nguyễn Minh Tuấn, lo âu là một rối loạn biểu hiện ra bên ngoàibằng một cảm giác lo lắng không đối tượng, lan tỏa và dai dẳng [19]
Như vậy, mặc dù có nhiều cách phát biểu khác nhau về khái niệm lo âu,nhưng các tác giả đều đề cập đến những điểm chung Trên cơ sở tổng hợpnhững điểm chung đó, chúng tôi đưa ra một khái niệm về rối loạn lo âu như
sau: Rối loạn lo âu là lo âu mang tính chất bệnh lý, là sự rối loạn cảm xúc được đặc trưng bởi sự lo lắng quá mức, kéo dài không tương xứng với sự đe dọa, khó khăn gặp phải hoặc cảm thấy, ảnh hưởng đến hoạt động của con người, có thể kèm theo những ý nghĩ hay hành động quá mức hoặc tiêu cực.
Rối loạn lo âu là một trong những rối loạn tâm lý có tính phổ biến cao,bệnh thường kết hợp với các rối loạn khác như trầm cảm, rối loạn nhân cách,
rối loạn ăn uống hay rối loạn dạng cơ thể [1] Rối loạn lo âu có thể là biểu
hiện hay gặp của nhiều rối loạn tâm thần và cơ thể [16] Khi mắc rối loạn lo
âu, người bệnh thường có những biểu hiện như căng thẳng, run hoặc bồnchồn, bất an, không tập trung được, cáu kỉnh, luôn sợ hãi, lo lắng, tưởngtượng một cách quá mức về vấn đề gì đó, nhìn nhận tương lai một cách bi
Trang 19quan, mơ hồ, tim đập nhanh, mặt nóng đỏ, đau tức ngực, khó thở, khô miệng,
ăn không tiêu, đau đầu, chóng mặt, mỏi nhức xương khớp,
Những nguyên nhân gây ra rối loạn lo âu cụ thể nào đó có thể khônggiống nhau, nhưng nhìn chung, nó thuộc vào bốn nhóm nguyên nhân chính:các yếu tố di truyền, các yếu tố sinh hóa, tính cách và ảnh hưởng từ môitrường sống, các căng thẳng tinh thần gặp phải [2]
Các yếu tố di truyền: Những người có cha mẹ hoặc anh/chị/em ruột
trong gia đình mắc rối loạn lo âu thì có nguy cơ mắc rối loạn lo âu cao hơnngười bình thường
Các yếu tố sinh hóa: Sự mất cân bằng của các hóa chất trong não bộ
giúp cho việc dẫn truyền xung động thần kinh điều khiển cảm xúc và nhữngphản ứng của cơ thể
Tính cách: Người dễ bị xáo động, bực mình, nhạy cảm thì thường mắc
lo âu hơn
Môi trường sống, căng thẳng tinh thần: Con người sống trong môi
trường có quá nhiều áp lực hoặc từng mắc phải những căng thẳng tinh thần thì
có nguy cơ mắc lo âu cao hơn
1.2.2 Phân loại rối loạn lo âu
Theo ICD-10, rối loạn lo âu bao gồm:
- Các rối loạn ám ảnh sợ (F40): ám ảnh sợ khoảng trống, ám ảnh sợ xãhội, ám ảnh sợ đặc hiệu, các rối loạn lo âu ám ảnh sợ khác, rối loạn lo
âu ám ảnh sợ không biệt định
- Các rối loạn lo âu khác (F41): gồm có rối loạn hoảng sợ (F41.0), rốiloạn lo âu lan tỏa (F41.1), rối loạn hỗn hợp lo âu và trầm cảm (F41.2),các rối loạn lo âu hỗn hợp khác (F41.3.), các rối loạn lo âu biệt địnhkhác (F41.8), rối loạn lo âu không biệt định (F41.9)
Trang 20- Rối loạn ám ảnh nghi thức (F42): gồm có những ý tưởng hoặc nghiềnngẫm ám ảnh chiếm ưu thế (F42.0), hành vi nghi thức chiếm ưu thế(F42.1), các ý tưởng và các hành vi ám ảnh hỗn hợp (F42.2), các rốiloạn ám ảnh nghi thức khác (F42.8), rối loạn ám ảnh nghi thức khôngbiệt định (F42.9).
1.2.3 Hậu quả của rối loạn lo âu
Lo âu ảnh hưởng đến nhiều vấn đề như tim mạch, rối loạn giấc ngủ,đau nhức toàn thân …Những hậu quả khi mắc rối loạn lo âu kéo dài [5]:
Đối với tim mạch: Đây là hậu quả nguy hiểm nhất mà những bệnh nhânmắc chứng rối loạn lo âu cần đề phòng Quá trình kích thích cơ thể tăng sảnxuất ra các hormone gây stress, chúng tác động lên hệ tim mạch, gây cản trởhoạt động bình thường của tim Đây là nguyên nhân gây nên bệnh đột quỵ,đau tim, tức ngực
Lo âu còn dẫn đến rối loạn giấc ngủ như khiến cho người bệnh mấtngủ, thường ở trong trạng thái ngủ không đủ giấc, tỉnh giấc nhiều lần trongđêm Lo âu làm tăng mức độ nguy hiểm của các bệnh mãn tính như bệnh tiểuđường, suy giáp, cường giáp, tăng huyết áp…Một phần nào đó, lo âu dẫn đếnviệc đau thức toàn thân thường xuyên, đau vai, mỏi hàm hoặc rối loạn tiêuhóa, lo âu là con đường dẫn tới bệnh đau dạ dày rất nhanh Ngoài ra, lo âu còn
đi kèm với một số rối loạn tâm thần khác như sợ hãi quá độ, rối loạn ám ảnhcưỡng chế gây nên nhiều hơn những áp lực về mặt tinh thần cho người bệnh
1.2.4 Thang đánh giá rối loạn lo âu
Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều thang đánh giá mức độ lo âu phùhợp với từng đối tượng
Thang đánh giá lo âu State- trait Anxiety Inventory – STAI: STAI là bộ
công cụ tự đánh giá gồm 2 bảng, mỗi bảng có 20 đề mục nhằm thăm dò sựhiện diện và đo lường mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng hiện tại của
Trang 21lo âu STAI lần đầu tiên được công bố vào năm 1970, sửa đổi năm 1983 và làmột trong những công cụ được sử dụng rộng rãi nhất để đánh giá lo âu nóichung, đặc biệt là một số bệnh mãn tính như viêm khớp dạng thấp, lupus hệthống Do ngắn gọn, dễ hiểu, dễ sử dụng và ít tốn kém, bộ công cụ này đãđược dịch sang nhiều thứ tiếng và ứng dụng rộng rãi trong các nghiên cứutrên thế giới Tuy nhiên, hạn chế của bộ công cụ này là chi đánh giá tình trạng
lo âu xảy đến, tích tụ từ lâu nên chỉ sử dụng cho các nghiên cứu dài hạn(nghiên cứu thuần tập), ít đánh giá trong trường hợp thay đổi ngắn hạn [20]
Thang đánh giá lo âu của Beck - BAI: BAI là thang tự đánh giá đo
lường mức độ lo âu do Beck và Steer phát triển và công bố vào năm 1990 Bộcông cụ gồm 21 đề mục được chấm điểm theo thang Likert từ 1 đến 4 Thang
đo ngắn gọn, dễ đánh giá và đo lường mức độ lo lắng, nhạy với những thayđổi nhưng hạn chế về mặt phạm vi triệu chứng đánh giá do nó được xây dựngnhằm giảm thiểu những dấu hiệu trùng hợp với trầm cảm nên BAI khôngđánh giá được 1 số triệu chứng chính khác của lo âu [20]
Thang đánh giá lo âu bệnh viện (The Hospital Anxiety Scale)- HADS:HADS là bộ công cụ tự đánh giá với phiên bản đầu tiên do A S Zigmond và
R P Snaith phát triển gồm 14 đề mục, 7 đề mục đánh giá về lo âu và 7 đềmục đánh giá về trầm cảm Với độ tin cậy và tính giá trị cao, nhạy cảm vớinhững thay đổi trong đánh giá lo âu trầm cảm trên cả hai đối tượng bệnh nhânđang điều trị y tế và dân số nói chung, HADS đã được chuyển ngữ và sử dụngrộng rãi trên nhiều quốc gia HADS thích hợp đánh giá lo âu trầm cảm trênđối tượng bệnh nhân mắc các bệnh mãn tính Tuy nhiên, thang đo này hạn chếgiá trị đối với quần thể là người cao tuổi và không phát hiện đầy đủ sự hiệndiện của rối loạn lo âu cụ thể nhưng cung cấp một số bằng chứng đối với cácrối loạn lo âu lan tỏa [20]
Trang 22Thang đánh giá lo âu, trầm cảm và stress DASS: DASS 42 lần đầu
được công bố vào năm 1993 do Lovibon và cộng sự phát triển Năm 1997,nhằm tạo sự tiện lợi cho người dùng, phiên bản rút gọn của DASS 42 làDASS-21 ra đời và được chứng minh là có sự nhất quán giữa 2 phiên bản.DASS-21 gồm 21 tiểu mục chia thành 3 nhóm stress, lo âu, trầm cảm, mỗinhóm gồm 7 tiểu mục Điểm cho mỗi tiểu mục là từ 0 đến 3, tùy thuộc vào tầnsuất xuất hiện triệu chứng Với tính hiệu lực và độ tin cậy cao trên cả 3 nhómthang đo, DASS-21 được ghi nhận là bộ công cụ tuyệt vời và được sử dụngrộng rãi trên thế giới nhằm đo lường mức độ trầm cảm, lo âu và stress trên đốitượng người trưởng thành nói chung [21]
Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng thang đánh giá lo
âu Zung - Zung Self-Rating Anxiety Scale (SAS) [22] do sự phù hợp về đốitượng và độ tin cậy Thang đo được thiết kế bởi William W K Zung M.D –giáo sư tâm thần học tại đại học Duke vào năm 1971 để định lượng mức độ lo
âu của bệnh nhân [22] Với ưu điểm là ngắn gọn, xử lý khá đơn giản nênSAS được ưa dùng trong lâm sàng và một số tác giả khuyên dùng SAS trongtrường hợp sàng lọc lo âu Đây là thang đo lo âu đã được chuẩn hóa tại ViệtNam, sử dụng cho mọi lứa tuổi, cả kể trẻ em, thuận tiện cho việc điều tra dịch
tễ Nó được sử dụng rộng rãi tại Viện chăm sóc sức khỏe tâm thần, Bệnh việnBạch Mai, Bệnh viện 103 – Khoa A6 ( Khoa Tâm Thần), Khoa Tâm Thần -Bệnh viện Nhi Trung Ương Đã có không ít các công trình nghiên cứu khác
về vấn đề lo âu đều sử dụng thang đo này tại Việt Nam [23], [24], [25].Thang đo gồm 20 câu hỏi mô tả triệu chứng của cơ thể ở các mức độ: Không
có (1 điểm ) – Đôi khi (2 điểm) – Phần lớn thời gian (3 điểm) – Hầu hết hoặctất cả thời gian (4 điểm) Người bệnh đọc và tự đánh giá triệu chứng của mìnhrồi tính tổng điểm sau 20 câu hỏi
Trang 23Mức độ rối loạn lo âu được đánh giá thông qua tổng điểm như sau:
- Không rối loạn lo âu: ≤ 40 điểm
- Rối loạn lo âu mức độ nhẹ: 41 - 50 điểm
- Rối loạn lo âu mức độ vừa: 51 - 60 điểm
- Rối loạn lo âu mức độ nặng: 61 - 70 điểm
- Rối loạn lo âu mức độ rất nặng: 71 - 80 điểm
1.3 Thực trạng rối loạn lo âu
1.3.1 Các nghiên cứu trên thế giới về rối loạn lo âu
Một nghiên cứu tổng quan khác thực hiện trên 87 nghiên cứu từ 44quốc gia được tiến hành bởi đại học Cambridge cho thấy tỷ lệ rối loạn lo âudao động từ 0,9% đến 28,3% Tỷ lệ rối loạn lo âu trung bình ở châu Phi là5,3%, ở châu Âu là 10,4% Trong nghiên cứu tổng quan này cũng cho biết cácyếu tố ảnh hưởng đến rối loạn lo âu là giới tính, độ tuổi, văn hóa và tình trạngkinh tế [2] Ở nghiên cứu tổng quan khác tại Pakistan cho kết quả tỷ lệ mắc lo
âu – trầm cảm trong cộng đồng trung bình là 34% Ở nữ dao dộng từ 66%, ở nam dao động từ 10% – 33% Nghiên cứu cũng tổng hợp các yếu tốnguy cơ đối với rối loạn lo âu như phụ nữ đã kết hôn, gặp khó khăn về tàichính, có tiền sử gia đình mắc rối loạn lo âu [26]
29%-Năm 2013, Hội Sinh viên Y khoa Úc (AMSA) đưa ra báo cáo có 4,2%sinh viên đại học và 3,8% sinh viên vừa tốt nghiệp được cho là mắc rối loạn
lo âu Tỷ lệ lo âu ở nữ giới gấp đôi nam giới [27] Bên cạnh đó, một nghiêncứu khác ở Úc lại cho kết quả rằng sinh viên nữ có khả năng mắc rối loạn lo
âu và có xu hướng tim đập nhanh hơn, bồn chồn hơn, dễ mệt mỏi, bi quanthường xuyên hơn, dễ gặp phải rối loạn tâm thần hơn là nam giới [28] Kếtquả này giống với một nghiên cứu tại Thái Lan [32]
Nghiên cứu của Banoo và cộng sự vào năm 2015 quan sát trên 156 sinhviên, trong đó có 86 sinh viên nam, 70 sinh viên nữ Kết quả cho thấy, 100
Trang 24sinh viên có mức độ lo âu bình thường, 56 sinh viên có mức độ lo âu nhẹ trung bình, không có ai có sự lo lắng nghiêm trọng Tỷ lệ sinh viên nam và nữ
-có mức lo âu nhẹ - trung bình lần lượt là 46,51% và 22,85% Sự liên quangiữa giới tính và rối loạn lo âu có ý nghĩa thống kê, tỷ lệ rối loạn lo âu caohơn ở nam giới [30]
Ở Hồng Kông, nghiên cứu trên sinh viên 10 trường Đại học cho kết quảrằng có 41% sinh viên mắc rối loạn lo âu [31] Một nghiên cứu ở Malaysia vềnguồn dẫn đến rối loạn lo âu ở sinh viên cho kết quả là: vấn đề thi cử, việc trìnhbày ý kiến trước lớp, các vấn đề xã hội,các vấn đề toán học và việc bất đồngtrong ngôn ngữ là những nguồn gây rối loạn lo âu chính ở sinh viên [32]
Nghiên cứu tổng quan về lo âu-trầm cảm và các chỉ số khác về sứckhỏe tâm thần của sinh viên y khoa ở Hoa Kì và Canada cho thấy sinh viên ykhoa có tâm lý căng thẳng và dễ mắc chứng lo âu trầm cảm hơn trong dân số
Có trên 93% sinh viên mắc rối loạn lo âu và tỷ lệ lo âu ở nam nữ là như nhau[33] Kết quả này là tương tự với nghiên cứu vào năm 2011, nghiên cứu nàychỉ ra có 94,3% nam sinh viên y và 91,6% nữ sinh viên y mắc rối loạn lo âu[33] Tuy nhiên, một nghiên cứu thăm dò tại Ấn Độ lại cho kết quả tỷ lệ sinhviên y khoa có lo âu-trầm cảm là 26% [35]
Nghiên cứu cắt ngang tại trường Cao Đẳng Y tế Wah cho thấy có47,7% sinh viên tham gia nghiên cứu có lo âu và rối loạn lo âu có liên quanmật thiết với giới tính, nữ giới mắc lo âu nhiều hơn nam giới Sinh viên nămthứ 2 có khả năng mắc rối loạn lo âu cao hơn so với sinh viên năm thứ 3 vàthứ 4 [9] Kết quả này khá tương đồng với một nghiên cứu tại Lahore,Pakistan, nghiên cứu này chỉ ra có 43,7% sinh viên có rối loạn lo âu Nhữngsinh viên sống ở kí túc xá thì có lo âu nhiều hơn sinh viên sống ở nhà, nhữngsinh viên từng gặp vấn đề về tâm lý thì có nguy cơ mắc lo âu cao hơn Những
Trang 25sinh viên năm thứ nhất và năm thứ hai thì dễ gặp vấn đề lo âu hơn, người cónhiều bạn bè thì ít gặp phải lo âu hơn [37].
Nghiên cứu vào năm 2014 trên 154 sinh viên y khoa năm thứ nhất học tại mộttrường ĐH ở Malaysia cho thấy có 18,2% sinh viên có lo âu [38] Cũng vàonăm đó, một nghiên cứu lại chỉ ra rằng tỷ lệ sinh viên có lo âu là 39,6% [39]
Nghiên cứu tại trường 6 trường ĐH Y khoa lớn của Punjab trên sinhviên năm nhất và năm cuối từ tháng 9/2014 – tháng 9/2015 với cỡ mẫu là 650cho kết quả có 83,9% sinh viên có rối loạn lo âu và nữ giới có lo lắng nhiềuhơn và dễ bị áp lực về học tập hơn nam giới Sự khác biệt này có ý nghĩathống kê [40] Nghiên cứu tại trường cao đẳng Y Shifa cũng cho kết quảtương tự, tỷ lệ rối loạn lo âu ở nữ giới là phổ biến hơn nam giới [39] Tuynhiên, cũng có nghiên cứu cho rằng, giới tính không có sự liên quan đến rốiloạn lo âu [34]
Ở Đài Loan, nghiên cứu của trường ĐH Y Khoa Kaohsiung cho kết quảrằng thành tích học tập không có mối liên quan đến rối loạn lo âu [35]
Ngoài ra, một số nghiên cứu đã chỉ ra không có sự liên quan giữa chỉ sốBMI và rối loạn lo âu [11], [30], [34], [42]
1.3.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam về rối loạn lo âu
Ở Việt Nam, hiện chưa có nhiều nghiên cứu về vấn đề rối loạn lo âutrên sinh viên Tuy nhiên có rất nhiều nghiên cứu về rối loạn lo âu trên các đốitượng như học sinh tiểu học, học sinh trung học cơ sở, trung học phổ thông[23], [25], [43],
Nghiên cứu của tác giả Đỗ Thị An vào năm 2013 về việc tìm hiểu cácbiểu hiện rối loạn lo âu ở sinh trường Đại học Lao Động Xã hội Hà Nội chokết quả có 35,1% sinh viên có biểu hiện rối loạn lo âu, 34,6% sinh viên mắcrối loạn lo âu ở mức độ từ nhẹ đến trung bình, chỉ có 0,5% sinh viên mắc rốiloạn lo âu nặng [13]
Trang 26Tại Thành phố Hồ Chí Minh, nghiên cứu về rối loạn lo âu ở sinh viênmột số trường sư phạm vào năm 2015 cho kết quả có 36,4% sinh viên có biểuhiện rối loạn lo âu ở mức độ nhẹ, có 47,3% sinh viên có biểu hiện rối loạn lo
âu ở mức độ trung bình, số sinh viên có biểu hiện rối loạn lo âu ở mức độnặng chiếm 16,4% [12] Ngoài ra, nghiên cứu của Lê Minh Thuận vào năm
2011 trên sinh viên trường đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh cho thấy
tỷ lệ sinh viên có rối loạn lo âu ở mức độ nặng là 13%, rất nặng là 11% và cómối liên quan chặt chẽ giữa trầm cảm, stress và lo âu [44]
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến rối loạn lo âu, một trong số đó là đặcđiểm nhân cách Những người có nhân cách không ổn định, sống nội tâmđược cho là có khả năng mắc rối loạn lo âu cao hơn những người cởi mở, vui
vẻ và hoạt bát [7]
1.4 Mối liên quan giữa đặc điểm nhân cách và rối loạn lo âu
1.4.1 Các nghiên cứu trên thế giới về đặc điểm nhân cách và rối loạn lo âu
Một nghiên cứu tổng quan trên người trưởng thành cho kết quả rằngnhững yếu tố của nhân cách như thần kinh không ổn định, hướng ngoại, phản
xạ chậm, tận tâm, dễ chịu và cởi mở có mối liên quan với vấn đề rối loạn lo
âu, trầm cảm Thần kinh không ổn định là yếu tố tác động mạnh nhất, hướngngoại, yếu tố phản xạ chậm và tận tâm có mối tương quan yếu với rối loạn lo
âu, tính cách dễ chịu và cởi mở được cho là ít có sự liên quan đến rối loạn lo
âu [45] Một nghiên cứu tổng quan khác cũng cho kết quả tương tự và chobiết thêm những người có rối loạn thần kinh ví dụ như rối loạn trầm cảm, cha
mẹ từng rối loạn lo âu hoặc các yếu tố di truyền có ảnh hưởng đến việc hìnhthành tính cách và từ đó dẫn đến việc hình thành nhân cách và có liên quanđến rối loạn lo âu [7] Kết quả này tương tự ở nghiên cứu của Brandes vàcộng sự [9] và các nghiên cứu trên các nhóm đối tượng nghiện thuốc [47],bệnh nhân ngoại trú [47], bệnh nhân đau dạ dày [49]
Trang 27Thêm vào đó, nghiên cứu tổng quan trên sinh viên cho thấy những sinhviên có kiểu nhân cách ưu tư và nóng nảy có nguy cơ mắc rối loạn lo âu caohơn những sinh viên có kiểu nhân cách bình thản và nhân cách hăng hái [8].Nghiên cứu của Katkute và cộng sự trên 338 sinh viên y khoa và 73 sinh viênnhân văn cho thấy tỷ lệ lo âu - trầm cảm ở sinh viên y khoa là 43% và nhữngsinh viên có tính cách nóng nảy và hướng nội thì thường gặp phải căng thẳng,
lo âu hơn những sinh viên khác [49]
1.4.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam về mối liên quan giữa đặc điểm nhân cách và rối loạn lo âu
Hiện tại, ở Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu về mối liên quan giữađặc điểm nhân cách và rối loạn lo âu trên đối tượng sinh viên nhất là sinhviên y khoa Tuy nhiên, cũng có một nghiên cứu về mối liên quan giữa khíchất (một cách dịch khác của nhân cách) và stress ở học sinh trung học phổthông của tác giả Đồng Thị Yến vào năm 2013 đã chỉ ra có sự tương quangiữa stress và hai loại nhân cách ưu tư và nóng nảy Những học sinh có kiểukhí chất ưu và nóng nảy có xu hướng bị stress cao hơn những học sinh có kiểukhí chất khác [50]
Thêm vào đó, nghiên cứu của tác giả Đỗ Thị An cũng đưa ra kết luậnmức độ rối loạn lo âu ở sinh viên có đặc điểm nhân cách như sống nội tâm,hay phiền muộn cao hơn sinh viên hiền lành, bình thản, nhanh nhẹn, hoạt báthay nóng tính [13]
Trang 28CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1 Địa điểm, thời gian nghiên cứu
- Địa điểm: Nghiên cứu được thực hiện tại trường Đại học Y Hà Nội.
- Thời gian: Tháng 11/2016 – Tháng 6/2017.
- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu sử dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt
ngang
1.2 Đối tượng nghiên cứu
- Sinh viên hệ bác sĩ năm thứ hai trường Đại học Y Hà Nội
- Tiêu chuẩn lựa chọn:
Sinh viên đang học năm thứ hai hệ bác sĩ Trường Đại Học Y Hà Nộinăm học 2016 – 2017
Sinh viên có mặt tại thời điểm nghiên cứu
Sinh viên đồng ý tham gia nghiên cứu
1.3 Phương pháp nghiên cứu
1.3.1 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu
Cỡ mẫu nghiên cứu: chọn toàn bộ sinh viên năm thứ hai hệ bác sĩtrường ĐHYHN năm học 2016 – 2017 với tổng số sinh viên là 768 sinh viên
Trang 291.3.2 Các biến số nghiên cứu
Nơi sinh Theo giấy khai sinh ( Thành thị
-Nông thôn – Nước ngoài )Nơi ở hiện tại Theo địa chỉ tạm trú/thường trú Sống với ai Người thân – Bạn bè - Người
quen, họ hàng – Một mình
Thu nhập Thu nhập trung bình hàng tháng
từ tất cả các khoản thu (VNĐ)Khoản nợ Số tiền nợ tính đến hiện tại (VNĐ)Điểm trung bình ĐTB năm học 2015 – 2016
Thông tin gia
đình
Trình độ học vấn củabố/mẹ
Theo cấp học ( Tiểu học, THCS,THPT, ĐH – CĐ )
Nghề nghiệp của bố/mẹ Công nhân viên chức – Nông dân
– Tự do – Kinh doanh – Nộitrợ…
Tiền sử rối
loạn lo âu
Bố mẹ từng mắc RLLA Có/KhôngAnh/Chị/Em ruột từng mắc
RLLA
Có/Không
Trang 30Nhóm biến số Tên biến số Chỉ số/Định nghĩa
Mục tiêu 1 : Xác định tỷ lệ rối loạn lo âu
Rối loạn lo âu Rối loạn lo âu
Rối loạn lo âu theo giớiRối loạn lo âu theo ngành họcRối loạn lo âu theo nơi sống
Tỉ lệ rối loạn lo âu chung
Tỉ lệ rối loạn lo âu theo giới
Tỉ lệ rối loạn lo âu theo ngành học
Tỉ lệ rối loạn lo âu theo nơi sống
Mục tiêu 2 : Mô tả mối liên quan giữa đặc điểm nhân cách và rối loạn lo âu
ổn định
Kiểu NC hướng nội – ngoại
và kiểu NC thần kinh ổnđịnh – không ổn định
Tỉ lệ NC hướng nội - ngoại theogiới
Tỉ lệ NC hướng nội - ngoại theongành học
Tỉ lệ NC thần kinh ổn định –không ổn định theo giới
Tỉ lệ NC thần kinh ổn định –không ổn định theo ngành học
Tỉ lệ kiểu NC hướng nội – ngoại
và kiểu NC thần kinh ổn định –không ổn định theo giới
Tỉ lệ kiểu NC hướng nội – ngoại
và kiểu NC thần kinh ổn định –không ổn định theo ngành học
Trang 31Nhóm biến số Tên biến số Chỉ số/Định nghĩa
Mối liên quan
giữa đặc điểm
nhân cách và
rối loạn lo âu
RLLARLLA theo kiểu NC hướngnội – ngoại
RLLA theo kiểu NC thầnkinh ổn định – không ổnđịnh
RLLA theo kiểu NC hướngnội – ngoại và kiểu nhâncách thần kinh ổn định –không ổn định
Tỉ lệ RLLA theo kiểu NC hướngnội – ngoại
Tỉ lệ RLLA theo kiểu NC thầnkinh ổn định – không ổn định
Tỉ lệ RLLA theo kiểu NC hướngnội – ngoại và kiểu nhân cáchthần kinh ổn định – không ổnđịnh
1.3.3 Phương pháp và công cụ thu thập thông tin
- Nghiên cứu sử dụng phiếu điều tra tự điền
- Quy trình thu thập số liệu:
Bộ câu hỏi được xây dựng dựa trên các biến số nghiên cứu Sau khi đãhoàn thành, bộ câu hỏi được tập huấn và điều tra thử trên sinh viên đểkiểm tra tính logic, phù hợp của bộ câu hỏi
Sau đó, liên hệ phòng Đào tạo Đại học để xem lịch học của sinh viên.Trên cơ sở lịch học, chọn thời điểm phù hợp nhất với sinh viên để ítảnh hưởng đến thời gian học tập của sinh viên
Những sinh viên tham gia nghiên cứu sẽ được cung cấp một mã phiếu,giải thích đầy đủ mục đích, tính bảo mật của nghiên cứu, thời gian cầnthiết để hoàn thành một phiếu điều tra, và trên cơ sở đó quyết định cótham gia nghiên cứu hay không
Sinh viên đồng ý tham gia nghiên cứu được tổ chức điều tra theo lớp
Trang 32 Việc điền phiếu hoàn toàn trên cơ sở bảo mật, dưới sự giám sát củađiều tra viên Điều tra viên sẽ kiểm tra phiếu sau khi hoàn thành để đảmbảo không bỏ sót thông tin.
1.4 Xử lý và phân tích số liệu
- Số liệu được làm sạch trước khi nhập liệu
- Số liệu được nhập vào máy tính bằng phần mềm EPIDATA 3.1
- Phần mềm Excel và phần mềm thống kê Stata 12.0 được sử dụng trongphân tích số liệu Nghiên cứu sử dụng phân tích đơn biến để xác địnhmối liên quan giữa đặc điểm nhân cách và rối loạn lo âu
1.5 Sai số và cách khống chế sai số
- Sai số có thể gặp trong nghiên cứu này là sai số thống tin Sai số nhớ lạikhi đối tượng nhớ lại về tình trạng sức khỏe của bản thân để trả lờibảng trắc nghiệm nhân cách HJ.Eysenck, thang đo Zung trong bộ câuhỏi và sai số trong quá trình thiết kế, thu thập thông tin
- Một số biện pháp khắc phục sai số:
Tạo lòng tin giữa nghiên cứu viên và đối tượng nghiên cứu Đối tượngthỏa thuận tự nguyện tham gia nghiên cứu khi đó thông tin sẽ có độchính xác cao hơn
Thiết kế bộ câu hỏi rõ ràng, dễ hiểu
Thảo luận nhằm thống nhất về từng nội dung câu hỏi trong bộ câu hỏi.Hướng dẫn và giải thích cho sinh viên từng câu hỏi, đặc biệt là nhữngcâu hỏi có bước nhảy, những câu hỏi có nhiều tình huống lựa chọn
Phiếu điều tra được giám sát ngay trong ngày điều tra
1.6 Vấn đề đạo đức nghiên cứu
- Nghiên cứu được sự đồng ý của Ban Giám hiệu, phòng Quản lý đào tạođại học, Viện Đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng, Bộ môn Yđức và Tâm lý học
Trang 33- Sinh viên tham gia nghiên cứu hoàn toàn trên cơ sở tự nguyện sau khi
đã được giải thích rõ về mục đích và ý nghĩa của nghiên cứu
- Thông tin của đối tượng tham gia nghiên cứu hoàn toàn được bảo mật.Mỗi sinh viên có một mã số điều tra riêng và không thu thập danh tính
- Kết quả nghiên cứu được phản hồi cho sinh viên, Ban Giám hiệu và cácPhòng, Ban liên quan
Trang 34CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu tiếp cận được 768 sinh viên, trong đó có 531 sinh viêntham gia điền phiếu và hoàn thành phiếu điều tra Số sinh viên còn lại từ chốitham gia nghiên cứu sau khi đã được giới thiệu về mục đích và ý nghĩa củanghiên cứu
Bảng 3.1 Đặc điểm chung của sinh viên (n = 531)
Giới
Nam
Nữ
228303
42,9457,06
Dân tộc
Kinh
Khác
495 36
93,26,8
Trang 35Đặc điểm chung Tần số (n) Phần trăm (%) Nơi ở hiện tại
Tình trạng chung sống/ Sống với ai
Với bố mẹ, anh chị em
Với bạn bè
Với người yêu
Với người quen, họ hàng
3,2021,4759,5115,82
20,5337,8527,878,105,65
Từng mắc rối loạn lo âu