Ở các nước phát triển có trình độ quản lý cao, mạng lưới y tế phát triển, tỷ lệ chấn thương cột sống cổ có tổn thương thần kinh chiếm khoảng 40% 50% nhưng con số này ở nước ta có thể lên
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Chấn thương cột sống nói chung và chấn thương cột sống cổ nói riêng
là những tổn thương rất nặng gặp trong các trường hợp TNGT, ngã cao…,thường là những thương tổn tủy cổ cấp tính, chẩn đoán khó khăn và phân loạiphức tạp Trong những năm qua, đi cùng với sự phát triển của nền kinh tế,công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phương tiện, nhu cầu giao thông tăngnhanh trong khi cơ sở hạ tầng chưa đồng bộ, ý thức người dân chưa cao dẫntới gia tăng tỷ lệ TNGT, TNLĐ đến mức báo động Ở Việt Nam tuy chưa cóthống kê chính thức nhưng số lượng bệnh nhân chấn thương cột sống cổ ngàycàng tăng Theo thống kê, hằng năm ở Hoa Kỳ có khoảng 11.000 trường hợp
bị chấn thương cột sống, tập trung chủ yếu ở nam giới trong lứa tuổi thanhthiếu niên và trung niên [1]
Chấn thương cột sống cổ gồm chấn thương cột sống cổ cao là các chấnthương ở C1 và C2 chiếm khoảng 25% và chấn thương cột sống cổ thấp baogồm các chấn thương từ C3 đến C7 chiếm khoảng 75% và đây cũng là tổnthương chính gây nên tàn tật [2] Trong chấn thương cột sống cổ cao mặc dùchỉ có 2 đốt sống nhưng đã có rất nhiều kiểu vừa gãy vừa trật Chấn thươngcột sống cổ thấp thường là một thảm họa đối với người bệnh và gia đìnhngười bệnh Tỉ lệ tử vong trong chấn thương cột sống cổ thấp rất cao, tỉ lệ tànphế cũng cao, chỉ có tỉ lệ hồi phục là thấp Chấn thương cột sống cổ thấp đặcbiệt nguy hiểm khi người bệnh có hẹp ống sống cổ (bẩm sinh hoặc mắc phải).Nếu không có hẹp ống sống cổ, chấn thương phải rất mạnh, sự xê dịch nhiềuthì mới có khả năng gây ra thương tổn tủy Trong trường hợp có hẹp ốngsống, chỉ cần chấn thương vừa phải, sự xê dịch ít là tủy đã có thể bị thươngtổn rất nặng So với chấn thương cột sống lưng - thắt lưng, chấn thương cột
Trang 2sống cổ cao nguy hiểm hơn rất nhiều do tủy ở vùng này có rất nhiều chứcnăng quan trọng ảnh hưởng đến khả năng sống còn của người bệnh
Ở các nước phát triển có trình độ quản lý cao, mạng lưới y tế phát triển,
tỷ lệ chấn thương cột sống cổ có tổn thương thần kinh chiếm khoảng 40% 50% nhưng con số này ở nước ta có thể lên tới 70% Nguyên nhân chính là do
-sự hiểu biết về chấn thương cột sống ở các cơ sở y tế tuyến huyện, tỉnh cònhạn chế, công tác sơ cứu không đúng nguyên tắc đã làm nặng thêm cácthương tổn dẫn đến tỷ lệ tử vong và tàn phế rất cao, là gánh nặng cho gia đình
và xã hội [3]
Ở nước ta, chấn thương cột sống, đặc biệt là chấn thương cột sống cổvẫn chưa được quan tâm đúng mức ngay cả trong y tế cũng như ngoài cộngđồng Việc phát hiện, chẩn đoán và công tác sơ cứu còn yếu dẫn đến bỏ sóttổn thương, làm tăng tỷ lệ tổn thương thứ phát Do đó, vấn đề đặt ra là cầnphải chẩn đoán sớm, chính xác để có thái độ xử trí phù hợp Trong giám định ypháp, việc xác định có tổn thương cột sống cổ do TNGT, TNLĐ, TNSH, các
vụ án, bệnh lý có vai trò rất quan trọng trong việc cho tỷ lệ tổn thương cơ thể
để xác định mức đền bù, định khung hình phạt tù Tại Việt Nam đối với chuyênngành pháp y hiện chưa có đề tài nào nghiên cứu về tổn thương cột sống cổ,
chính vì vậy chúng tôi thực hiện đề tài: “Mô tả các hình thái chấn thương cột sống cổ trên bệnh nhân bị tai nạn được điều trị tại Bệnh viện Việt Đức” với
mục tiêu:
Mô tả các hình thái tổn thương cơ bản của chấn thương cột sống cổ
trên bệnh nhân bị tai nạn.
Trang 3
Tới năm 177 sau công nguyên, Galen đã báo cáo thực nghiệm tiến hànhtrên động vật, mô tả sự mất vận động và cảm giác dưới mức tủy bị tổn thươngcho tới ngừng thở gặp ở tổn thương tủy cổ cao Trong suốt thế kỷ 19, từ saunghiên cứu của Walker chứng minh rằng tổn thương tủy có kéo theo tình trạngliệt vận động và rối lọan cảm giác, có rất ít nghiên cứu về chức năng tủy liênquan đến chấn thương cột sống [3],[4] Sau này, các tiến bộ về sinh học, sinh lýthần kinh, cơ và sự phát triển khoa học kỹ thuật với sự ra đời của chụp cắt lớp
vi tính, chụp cộng hưởng từ đã góp phần phát triển chuyên ngành cột sống
Chẩn đoán hình ảnh có vai trò quan trọng trong chẩn đoán cũng như chỉđịnh điều trị chấn thương cột sống Mở đầu là sự phát triển của tia X, được ápdụng vào bệnh lý tủy sống từ năm 1891 và tới nay vẫn giữ một vị trí quantrọng [5],[6]
Năm 1919, kỹ thuật chụp ống tủy được mô tả đầu tiên bởi Dandy vớiyếu tố cản quang là bơm hơi, sau đó được thay bằng dung dịch có dầu(lipiodol) [7] Sau này nhiều tác giả đã sử dụng chất cản quang tan trong nước
Trang 4mở đầu là Arnell và Lidstrom Tới năm 1970, việc sử dụng chất cản quangđẳng trương có Iode, trọng lượng phân tử thấp mới được áp dụng [3].
Một tiến bộ nữa của chẩn đoán hình ảnh là sự ra đời của chụp cắt lớp vitính Những tác giả đầu tiên đã tổng hợp các nguyên lý và kỹ thuật củaphương pháp này là Odendong, Comark và Hounsfield [8] Ưu điểm củaphương pháp này là cho phép mô tả, đánh giá rõ nét cấu trúc xương và ốngtủy, đặc biệt là các thế hệ phát triển sau này của cắt lớp vi tính giúp tái tạohình ảnh thực sự hữu ích cho việc chẩn đoán
Tới 1977, kỹ thuật chụp cộng hưởng từ được áp dụng đã bổ sung chocác kỹ thuật trước đó bằng việc cho phép mô tả tổn thương của tủy sống vàphần mềm xung quanh
1.1.2 Tại Việt Nam
Từ những năm 1990 trở về trước, chấn thương cột sống cổ ở Việt Nam
ít được quan tâm, những tiêu chuẩn trong chẩn đoán chưa được rõ ràng và ítđược nghĩ tới khi có chấn thương Trong các công trình nghiên cứu cũng nhưtài liệu giáo khoa chủ yếu đặt vấn đề điều trị bảo tồn trong chấn thương cộtsống cổ bằng phương pháp bất động (bột Minerve, kéo crushfield), tỷ lệ tửvong cao do các biến chứng của tủy Một vài cơ sở ở các trung tâm như HàNội, thành phố Hồ Chí Minh đã đặt vấn đề phẫu thuật nhưng chưa có cácnghiên cứu cụ thể đi sâu vào vấn đề này
Sau khi bắt đầu có máy chụp cắt lớp vi tính (1991) và cộng hưởng từ(1996), một số công trình nghiên cứu về cột sống cổ đã được báo cáo nhưDương Đức Bính, Đoàn Lê Dân, Dương Chạm Uyên, Hà Kim Trung
Theo Võ Văn Thành, số liệu thống kê trên 356 trường hợp chấn thươngcột sống cổ trong 11 năm tại khoa cột sống trung tâm CTCH TPHCM chothấy tỷ lệ chấn thương cột sống cổ cao là 10,95%, cổ thấp là 89,05% Đặc biệt
Trang 5trong đó tỷ lệ tổn thương thần kinh là 67,7%, do đó vấn đề đặt ra là phải chẩnđoán sớm, chính xác và điều trị kịp thời mới mong đạt kết quả tốt.
Hà Kim Trung (2005) nghiên cứu 98 trường hợp chấn thương cột sống
cổ có tổn thương thần kinh được điều trị phẫu thuật trong số 368 bệnh nhân bịchấn thương cột sống cổ tại bệnh viện Việt Đức từ cuối năm 1997 đến 2003
có 19,4% chấn thương cột sống cổ cao, còn lại 80,6% là cột sống cổ thấp.Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, điều trị chấn thương cột sống cổ bằng phẫuthuật giúp giảm tỷ lệ tử vong từ 33% xuống còn 9,1%, phòng các biến chứng
do nằm lâu (loét, nhiễm trùng….)
Trong điều kiện hiện nay, khi đã có những phương tiện chẩn đoán nhưcắt lớp vi tính, cộng hưởng từ, các dụng cụ chuyên dụng dung trong phẫuthuật cột sống, tiến bộ cuả gây mê hồi sức…điều trị chấn thương cột sốngbằng phương pháp phẫu thuật tại các trung tâm phẫu thuật lớn ở Hà Nội vàthành phố Hồ Chí Minh đã có những kết quả rất khả quan Các báo cáo cũngchỉ ra rằng chấn thương cột sống tại Việt Nam là một vấn đề cần phải giảiquyết và phải được coi là một trong những lĩnh vực mũi nhọn cần nghiên cứu
và thảo luận
1.2 Cơ sở giải phẫu cột sống cổ
Giải phẫu cột sống cổ bao gồm giải phẫu chức năng các thành phầnxương, khớp, đĩa đệm, dây chằng, cơ và các cấu trúc thần kinh
1.2.1 Cấu trúc xương, khớp
Cột sống cổ bao gồm 7 đốt đầu tiên của cột sống nối từ lỗ chẩm đến đốtsống ngực 1, được chia làm hai đoạn với đặc điểm giải phẫu và chức năngkhác nhau [3],[4],[9],[10]
- Các đốt sống cổ cao, không điển hình gồm đốt đội (C1) và đốt trục (C2)
- Các đốt sống cổ thấp, có cấu trúc điển hình từ đốt sống cổ 3(C3) đến
cổ 7(C7)
Trang 61.2.1.1 Các đốt sống cổ cao
C1 (đốt đội)
Đốt đội có cấu trúc không điển hình, khác với các đốt sống khác Đốtđội chỉ có hai cung nối với nhau giống như vòng đai gồm cung trước và cungsau mỏng Đây chính là điểm yếu khi có chấn thương Đốt đội cũng không cómỏm khớp như các đốt sống khác mà có hai khối bên, bề mặt hai khối bênnày lõm xuống hình lòng chảo ở mặt trên tạo thành diện khớp trên khớp vớilồi cầu chẩm, mặt dưới có diện khớp dưới khớp với C2
- Cung trước: mặt trước có củ trước là nơi bám của cơ, mặt sau có hõmnha tạo thành diện khớp tiếp nối với mỏm nha của C2
- Cung sau: mặt sau có củ sau là nơi bám của dây chằng, dọc bờ trên córãnh cho động mạch đốt sống đi qua sau khi đi qua lỗ mỏm ngang C2
C2 (đốt trục)
Đốt trục cũng có cấu trúc không điển hình Ở giữa mặt trên của đốt trụcnhô lên một cấu trúc gọi là mỏm nha, trên mỏm nha có đỉnh nha, tiếp khớpvới hõm nha ở mặt trước và dây chằng ngang ở mặt sau Đốt trục có các mỏmkhớp trên ở hai phần bên của thân và các cuống
Trang 7Hình 1.1 Đốt đội và đốt trục [10]
những thành phần sau:
- Thân đốt sống
- Cung đốt sống: gồm hai cuống và hai mảnh cung đốt sống
- Lỗ đốt sống được bao quanh bởi thân đốt sống ở phía trước, cung đốtsống ở hai bên và phía sau, khi các đốt sống ghép lại tạo thành ống sống
- Các mỏm: từ cung đốt sống chồi ra các mỏm gồm: mỏm ngang, mỏmkhớp trên, mỏm khớp dưới, các mỏm gai ngắn
đốt dưới
Trang 8Hình 1.3 Dây chằng cột sống cổ [10]
1.2.2.2 Đĩa đệm
Đĩa đêm là cấu trúc nằm giữa các thân đốt sống trừ đốt đội và đốt trục.Đĩa đệm có hình thấu kính lồi hai mặt, cấu tạo bởi tổ chức liên kết, dàykhoảng 3mm gồm nhân ở trung tâm và ngoại vi là lớp vỏ xơ
1.2.3 Thần kinh
Cấu trúc thần kinh ở cột sống cổ bao gồm tủy và rễ thần kinh [4],[9],[10],[11]:
Trang 9Tủy cổ tiếp theo hành tủy bắt đầu từ lỗ chẩm, rộng dần ra ở C3 và rộngnhất ở C6 đạt chu vi 38mm Đây là kết quả của sự cung cấp thần kinh tăngdần cho chi trên Tủy sống bao gồm chất trắng và chất xám có thể phân biệttrên phim chụp cộng hưởng từ:
- Chất xám chứa thân tế bào của neuron thần kinh Neuron cảm giác ởsừng sau, neuron vận động ở sừng trước và ở sừng bên là chi phối nội tạng
- Chất trắng chứa các sợi thần kinh và chất đệm,chia làm ba cột: cộttrước, cột bên và cột sau Cột trước chứa đường của bó gai đồi trước chi phốicảm giác sờ, cột bên có các bó vận động và bó cảm giác bắt chéo chi phốicảm giác đau và nhiệt, cột sau chi phối cảm giác sâu
Tại mỗi tầng tủy cho ra các rễ thần kinh Rễ vận động ở sừng trước và
rễ cảm giác ở sừng sau Mỗi rễ bao gồm có 6-8 nhánh Rễ vận động và cảmgiác sau khi chui qua màng cứng ở mỗi tầng sẽ hợp nhất thành rễ thần kinh, rễnày đi sang hai bên hướng ra trước và chếch xuống dưới chui qua lỗ tiếp hợpnằm giữa các đốt sống và chui ra ngoài
Hình 1.4 Các rễ thần kinh [10]
Trang 101.3 Phân loại chấn thương cột sống cổ
1.3.1 Đối với cột sống cổ cao
1.3.1.1 Trật khớp đội chẩm
Đây là một tổn thương có tiên lượng rất nặng, hiếm khi xảy ra và tỉ lệ
tử vong cao Cơ chế của tổn thương này được chứng minh là do ưỡn quámức,có thể phối hợp với xoay hoặc kéo dãn… dẫn tới làm rách dây chằng vàbao khớp đội chẩm Năm 1989, có 21 trường hợp được thông báo trong y vănthì có 4 trường hợp tử vong do thương tổn thứ phát, còn lại đều có di chứngthần kinh nặng nề [12],[13],[14] Đa số các tổn thương trật khớp đội chẩmđược phát hiện khi mổ tử thi Alker quan sát trên 312 tử thi bị chấn thương có
19 trường hợp bị trật khớp đội chẩm, Bucholz phát hiện 9 trường hợp khi mổ
112 tử thi do chấn thương [3]
1.3.1.2 Vỡ đốt đội
Vỡ đốt đội được mô tả đầu tiên năm 1920 bởi Jefferson nên được gọi làgãy kiểu Jefferson Tổn thương này chiếm khoảng 3%-13% trong chấnthương cột sống cổ và ít gây tổn thương thần kinh do làm rộng ống tủy [15]
Cơ chế chấn thương do gãy ép trục (ngã cắm đầu xuống)
Đốt đội có 4 vị trí dễ bị tổn thương là các điểm yếu ở cung trước vàcung sau chỗ tiếp giáp với hai khối bên Có nhiều cách phân loại khác nhaunhưng từ khi có chụp cắt lớp vi tính và cộng hưởng từ các tác giả đã thốngnhất chia làm hai loại gồm:
- Vỡ C1 đơn thuần: tổn thương vững, điều trị bảo tồn
- Vỡ C1 kèm rách dây chằng ngang: đây là thương tổn mất vững và dễgây di lệch thứ phát Dây chằng ngang bị rách khi hai khối bên bị căng rộngsang hai bên do gãy cả cung trước và cung sau của C1
Trang 11Hình 1.5 Vỡ đốt đội [3]
1.3.1.3 Trật xoay khớp đội trục
Đây là tổn thương mất vững Khớp đội trục có động tác chủ yếu làđộng tác xoay và được giới hạn nhờ dây chằng giúp khớp không xoay quámức Nghiên cứu của Werne trên tử thi chỉ ra rằng trong các trường hợp trậtxoay thì có tới 63% là trật hai bên và làm C1 di lệch ra trước >5mm Nếu córách dây chằng ngang hoặc mỏm nha phối hợp sẽ gây trật một bên, xoay mộtgóc 45 độ và C1 di lệch ra trước 3-5mm Cơ chế gây trật xoay khớp đội trục
là do sự phối hợp lực xoay và gập bên [16]
Trang 12trên tử thi Cơ chế do quá ưỡn và xoay [3],[17],[18],[19] Tới nay có 5 cáchphân loại gãy mỏm nha,trong đó thông dụng nhất là phân loại của Anderson
và D’Alonzo Phân loại này bao gồm:
- Gãy loại I: Gãy chéo qua đỉnh,tổn thương vững và không gây hậu quả gì
- Gãy loại II: Gãy qua cổ, vị trí tiếp nối giữa giữa mỏm nha và thân C2,tổn thương mất vững
- Gãy loại III: đường gãy có ít nhiều qua thân C2
Hình 1.7 Phân loại gãy mỏm nha [3]
Gãy 2 chân cung C2 hay gãy kiểu treo cổ (gãy Hangman)
Thương tổn này chiếm khoảng 12-18% tổng số thương tổn do chấnthương cột sống cổ Cơ chế là ưỡn quá mức Cách phân loại được áp dụngnhiều là phân loại của Effendi và cộng sự, được cải tiến bởi Levine vàEdwards [3],[20],[21],[22] Cách phân loại này bao gồm:
- Loại I: di lệch <3mm, không gập góc, hay phối hợp với gãy cung sauC1, gãy mỏm nha Đây là tổn thương vững
- Loại II: di lệch>3mm, gập góc < 150 và tì lên góc trên trước C3
Trang 13- Loại IIA: gập góc >15 nhưng không di lệch hoặc di lệch không đáng
kể, có rách dây chằng dọc sau và đĩa đệm Tổn thương mất vững
- Loại III: di lệch, gập góc nhiều kèm theo trật khớp C2-C3 một hoặc haibên Rách hoàn toàn dây chằng dọc trước và dọc sau Tổn thương mất vững
Hình 1.8 Gãy C2 kiểu Hangman [3]
1.3.2 Đối với cột sống cổ thấp
Cách phân chia tổn thương cột sống lưng- thắt lưng của Denis theo batrục [23] áp dụng được cho cột sống cổ thấp và được nhiều tác giả chấp nhận,gồm có:
- Trục trước: 1/3 trước thân đốt sống, đĩa đệm và dây chằng dọc trước
- Trục giữa: 1/3 sau thân đốt sống, đĩa đệm, dây chằng dọc sau, châncuống và cung sau
- Trục sau: Gai sau, gai ngang và dây chằng trên gai
Trang 14Hình 1.9 Các trục của Denis khi xác định tình trạng mất vững [23]
Trong đó cột trụ giữa có vai trò quan trọng, các tổn thương được coi làmất vững khi có tổn thương cột trụ giữa hoặc hai cột trụ trở lên
Cách phân loại theo cơ chế thương tổn, hướng lực gây tổn thương chothấy có giá trị trong thực hành lâm sàng
- Độ 3 và 4: Vỡ thân đốt sống không di lệch hoặc di lệch dưới 3mm Dâychằng dọc sau rách, thương tổn thần kinh không phổ biến
- Độ 5: Tổn thương cả 3 trục, thân đốt sống di lệch ra sau
1.3.2.2 Thương tổn dãn – gập cột sống
Đây là cơ chế hay gặp nhất, lực kéo dãn trên cột sống bị gập gây tổnthương dây chằng và xương Đốt trên của đoạn bị tổn thương di lệch ra trướctheo mức độ khác nhau tùy theo thương tổn của các cấu trúc trục sau:
Trang 15- Độ 1: Bán trật khớp.
- Độ 2: Trật khớp 1 bên
- Độ 3: Trật khớp 2 bên
- Độ 4; Di lệch toàn bộ thân đốt sống ra trước
Trong tất cả các mức độ trên đều có thể phối hợp với vỡ diện khớp
Hình 1.10.Thương tổn gập [3] Hình 1.11.Vỡ hình giọt nước mắt [3]
Vỡ hình giọt nước mắt là hình ảnh gián tiếp của thương tổn dây chằngrất nặng, thường gây thương tổn tủy hoàn toàn
Trang 16Hình 1.12.Vỡ thân xương và gãy cung sau [3]
Trang 171.3.2.4 Thương tổn ép – ưỡn
Lực ép xảy ra khi cổ bị ưỡn làm tổn thương trục sau, tiếp theo là trụctrước Thương tổn xảy ra ở mọi vị trí của cột sống cổ, có thể kết hợp vớithương tổn C1 – C2
- Độ 1 và 2: làm rách các thành phần trục sau ở 1 hoặc nhiều tầng,nhưng không làm di lệch thân đốt sống
- Độ 3: Tổn thương mảnh sống 2 bên và rách dây chằng ở cả 3 trục.Thân đốt sống di lệch Thương tổn mất vững Cấu trúc thần kinh bị thươngtổn ở phía trước hoặc sau hoặc hoàn toàn
1.4 Sinh lý bệnh của chấn thương tủy cổ
Ngày nay, nhờ những tiến bộ của các thăm dò cơ bản về tiến trình chấnthương qua các phương pháp thực nghiệm, người ta đã có các bước tiến vượtbậc trong hiểu biết về sinh lý bệnh của chấn thương tủy Hầu hết các tác giảlàm thực nghiệm đều cho thấy tiến trình gây chấn thương tủy bao gồm các cơchế chấn thương tiên phát và thứ phát [3],[4],[24],[25]
Cơ chế phổ biến nhất gây thương tổn thủy tiên phát là sự phối hợp giữa
va đập và chèn ép Sự phối hợp của các lực cơ học này xảy ra trong nhiều cơchế chấn thương khác nhau: vỡ vụn thân đốt sống, gãy trật, vết thương xuyên,rách đĩa đệm Các chấn thương ban đầu này ở mức độ phân tử gây thiếu máu,thiếu oxy tế bào dẫn đến thoái hóa mô thứ phát Có thể xảy ra thay đổi vềhuyết động, các tiểu tĩnh mạch bên trong chất xám dãn ra có thể gây xuấthuyết, tưới máu mô tổn thương có thể giảm gây thiếu máu thứ phát Hiện
Trang 18tượng thoái hóa mô thứ phát sau chấn thương luôn có sự góp mặt của phù tủynhưng cũng không thể biết được phù tủy này là tiên phát hay thứ phát Cácnghiên cứu hiện nay đã chỉ ra vai trò của các sản phẩm chuyển hóa, các chấttrung gian tập trung quá mức, hay các dòng canxi bất thường trong tổn thươngthứ phát.
Khi có tổn thương tủy, lâm sàng CTTS diễn tiến qua 2 giai đoạn:
Giai đoạn đầu liệt mềm: choáng tủy
Giai đoạn sau tự động tủy (liệt cứng).
Trong một số ít trường hợp, giai đoạn choáng tủy không qua giai đoạn
tự động tủy mà hồi phuc hoàn toàn, gọi là chấn động tủy
1.5 Triệu chứng lâm sàng
Khám lâm sàng có vai trò quan trọng trong chẩn đoán chấn thương cộtsống cổ, nhất là cột sống cổ thấp Trên lâm sàng có thể quan sát được các hộichứng sau [1],[3],[4],[24],[25],[26],[27]:
Hội chứng tổn thương tủy không hoàn toàn:
- Hội chứng tủy trung tâm
- Hội chứng tủy trước
- Hội chứng tủy bên (Hội chứng Brown-Sequard)
- Hội chứng tủy sau
Hội chứng tổn thương tủy hoàn toàn(Hội chứng tủy cắt ngang).
Sốc tủy.
Phân loại gãy cột sống theo Frankel:
Loại A: mất hoàn toàn vận động và cảm giác dưới mức thương tổn.Loại B: còn cảm giác mất vận động
Loại C: còn cảm giác,cơ lực chi đạt đến 2/5
Loại D: còn cảm giác,cơ lực chi đạt 3-4/5
Loại E: vận động và cảm giác bình thường
Trang 191.6 Chẩn đoán hình ảnh
1.6.1 Phương pháp chụp Xquang
Đây là phương pháp bắt buộc đối với tất cả những bệnh nhân nghi ngờ
có thương tổn cột sống cổ
Hình 1.13 Các trục cơ bản khi đọc phim [3]
Chụp các tư thế thẳng, nghiêng, tư thế thẳng mồm há Mục đích để pháthiện thương tổn xương, rõ nhất là gãy mỏm nha và gãy eo C2 Thương tổn C1
và trật C1- C2 thường khó phát hiện bằng X.Quang qui ước
Hình 1.14 Tư thế mồm há phát hiện gãy mỏm nha [3]
Trang 21Hình 1.16 Hình ảnh phim cộng hưởng từ (Dập tủy tương ứng với vị trí gãy
mỏm nha) [3]
1.7 Chấn thương cột sống cổ trong giám định y pháp.
CTCSC luôn có tỷ lệ % tổn thương cơ thể cao Theo thông tư 20/2014/TT-BYT về quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y[28]:
- Tổn thương tủy cổ toàn bộ kiểu khoanh đoạn tỷ lệ 99%
- Tổn thương nửa tủy toàn bộ (hội chứng Brown-Sequard, tủy cổ C4) tỷ
lệ 89%
- Tổn thương tủy gây giảm cảm giác (nông hoặc sâu) một bên từ ngựctrở xuống tỷ lệ 26-30%
- Tổn thương tủy gây mất hoàn toàn cảm giác (nông hoặc sâu) một bên
từ ngực trở xuống (dưới khoanh đoạn ngực T5) tỷ lệ 31-35
- Tổn thương tủy gây giảm cảm giác (nông hoặc sâu) nửa người tỷ lệ31-35%
- Tổn thương tủy gây mất hoàn toàn cảm giác (nông hoặc sâu) nửangười tỷ lệ 45%
- Tổn thương không hoàn toàn một trong các rễ: cổ C4, C5,C6,, C7, C8,,
rễ ngực T1 một bên tỷ lệ 11-15%
- Tổn thương hoàn toàn một trong các rễ: cổ C4, C5,C6,, C7, C8,, rễ ngực
T1 một bên tỷ lệ 21%
- Tổn thương không hoàn toàn đám rối thần kinh cổ tỷ lệ 11-15%
- Tổn thương hoàn toàn đám rối thần kinh cổ tỷ lệ 21-25%
Do khả năng liệt tứ chi cao, sự điều trị khó khăn nên việc chẩn đoán tổnthương cột sống cổ liên quan tới chấn thương có vai trò hết sức quan trọngtrong việc truy cứu hình sự, mức đền bù đối với nạn nhân, cũng như việc xácđịnh cơ chế gây chấn thương để giải thích các trường hợp CTCS cổ có phù
Trang 22hợp với tai nạn,hay vì một nguyên nhân nào khác diễn ra cùng thời điểm nạnnhân bị tai nạn.
Việc một giám định viên khi giám định trường hợp CTCSC ở nạn nhân
đã chết hay trên một nạn nhân còn sống cần đặc biệt quan tâm đến vị trí nơigãy, lực tác động và nơi lực tác động có thể gây được CTCSC, mối liên quan
để giải thích được CTCSC có liên quan đến vụ việc không
Chính vì vậy việc hiểu biết các hình thái, mức độ chấn thương có ýnghĩa rất quan trọng trong giám định pháp y Hiện nay chuyên ngành pháp ychưa có một nghiên cứu nào về giám định CTCSC nên rất cần thiết tiến hànhnhững nghiên cứu về loại hình chấn thương này, qua đó giúp có thêm nhiềuhiểu biết phục vụ công tác giám định
Trang 23
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Bệnh nhân bị chấn thương cột sống cổ do tai nạn được điều trị tại bệnh việnViệt Đức và được trích sao bệnh án tại Bộ môn Y pháp trường đại học Y Hà Nội
và Khoa giải phẫu bệnh Bệnh viện Việt Đức từ tháng 11/2016 - tháng 4/2017
2.1.1 Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân
- Bệnh nhân được chẩn đoán xác định chấn thương cột sống cổ do tai nạn
- Bệnh nhân được thăm khám lâm sàng về vận động, cảm giác, đượclàm các thăm dò chẩn đoán hình ảnh cần thiết CT scanner, MRI
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
- Bệnh nhân không có đủ thông tin cho nghiên cứu
- Bệnh nhân có các bệnh lý cột sống cổ
- Bệnh nhân không phù hợp tiêu chuẩn lựa chọn
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.2.2 Cỡ mẫu
Nghiên cứu mô tả hồi cứu tất cả các hồ sơ được trích sao bệnh án Ypháp phù hợp tiêu chuẩn nghiên cứu Chúng tôi chọn được 49 trường hợp cóchấn thương cột sống cổ từ tháng 11/2016 - tháng 4/2017
2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu
Theo phiếu nghiên cứu được thiết kế phù hợp với bệnh nhân bị chấnthương cột sống cổ
Trang 24Đặc điểm lâm sàng:
- Rối loạn vận động
- Rối loạn cảm giác
- Phân loại gãy cột sống theo Frankel
- Rối loạn cơ tròn
- Tổn thương phối hợp khác
Chẩn đoán hình ảnh:
- Các hình thái tổn thương trên phim chụp cắt lớp vi tính
- Các hình thái tổn thương trên phim chụp cộng hưởng từ
2.2.5 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Từ tháng 11/2016 đến tháng 4/2017
- Tại Bộ môn Y pháp trường Đại học Y Hà Nội và Khoa Giải phẫubệnh Bệnh viện Việt Đức
2.2.6 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Số liệu được nhập và xử lý trên EXCELL 2010 và Stata 12.0
2.3 Cách thức tiến hành nghiên cứu
2.3.1 Nghiên cứu hồi cứu
Hồi cứu các trích sao bệnh án trong năm 2015 tại Bộ môn Y Pháptrường đại học Y Hà Nội và Khoa Giải phẫu bệnh bệnh viện Việt Đức Thuthập thông tin theo phiếu nghiên cứu thiết kế trước
- Lựa chọn những hồ sơ thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn
- Nghiên cứu cẩn thận, tỉ mỉ ghi chép theo phiếu nghiên cứu thiết kế sẵn
- Thu thập thông tin liên quan đến dịch tễ
- Tổn thương ghi nhận từ bản trích sao bệnh án CTCS cổ
Trang 252.3.2 Nhập thông tin vào phiếu nghiên cứu
+ Số liệu được thu thập và xử lý nghiêm túc, chính xác
2.5 Đạo đức trong nghiên cứu
- Tiến hành nghiên cứu với tinh thần trung thực
- Nghiên cứu nhằm nêu lên các đặc điểm dịch tễ và mô tả các tổnthương trên bệnh nhân bị chấn thương cột sống, không nhằm mục đích khác
- Các thông tin liên quan đến đối tượng nghiên cứu được giữ bí mật, chỉphục vụ cho mục đích nghiên cứu
Trang 26
CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Một số yếu tố liên quan đến chấn thương cột sống cổ
3.1.1 Phân bố theo tuổi
Bảng 3.1 Phân bố theo tuổi
Trang 2722.4
NamNữ
Biểu đồ 3.1 Phân bố theo giới tính của bệnh nhân
Nhận xét:
Trong số 49 bệnh nhân đủ tiêu chuẩn được nghiên cứu có:
- 38 bệnh nhân nam chiếm 77,6%
- 11 bệnh nhân nữ chiếm 22,4%
3.1.3 Nguyên nhân chấn thương
Bảng 3.2 Nguyên nhân chấn thương
Nguyên nhân Số lượng Tỷ lệ (%)
- TNGT chiếm nhiều nhất: 41 trường hợp chiếm 83,7%
- TNSH có 5 trường hợp chiếm 10,2% trong đó chủ yếu là ngã cao.-TNLĐ có 3 trường hợp chiếm 6,1% đều là ngã giàn giáo
Trang 28Mất hoàn toàn
Không xác định được Tổng
là 36,8%, mất vận động hoàn toàn là 42,1%
Trang 29- Trong số 49 bệnh nhân nghiên cứu có 6 bệnh nhân hôn mê, điểmGlasgow thấp < 8 điểm nên không đánh giá được tình trạng rối loạn vận độngcủa bệnh nhân một cách chính xác.
3.3.2 Rối loạn cảm giác
Cảm giác vùng dưới tổn thương của bệnh nhân được đánh giá theo cácmức sau:
Bảng 3.5 Tình trạng rối loạn cảm giác
Vị trí
Bình thường Giảm
Mất hoàn toàn
Không xác định được
- Trong CTCSC thấp, tỷ lệ bệnh nhân có cảm giác bình thường chiếmcao nhất (34,2%), tỷ lệ bệnh nhân có giảm cảm giác (26,3%), tỷ lệ bệnh nhânmất cảm giác hoàn toàn (24,6%), có 3 bệnh nhân không khám được cảm giác
do bệnh nhân không tỉnh, điểm Glasgow của 3 bệnh nhân này là 7, 6, 6 điểm
- Các bệnh nhân mất hoàn toàn cảm giác đều là các bệnh nhân chấnthương cột sống cổ thấp gặp 12/12 trường hợp Bệnh nhân CTCS cổ thấp có
tỷ lệ rối loạn cảm giác cao hơn so với các bệnh nhân CTCS cổ cao
3.3.3 Rối loạn cơ tròn
Trang 30Tình trạng rối loạn cơ tròn được đánh giá dựa vào rối loạn đại tiểu tiện
3.3.4 Phân loại chấn thương cột sống theo Frankel
Bảng 3.7 Phân loại chấn thương cột sống theo Frankel
Trang 31- Gãy chi có 7 trường hợp chiếm 14,3%.
- Chấn thương ngực: Tràn máu, tràn khí màng phổi có 3 trường hợp (6,1%)
- Chấn thương bụng có 2 trường hợp chiếm 4,1%
Trang 32Trong 49 bệnh nhân nghiên cứu có:
- 11 trường hợp chấn thương cột sống cổ cao và 38 trường hợp chấnthương cột sống cổ thấp
- Vị trí tổn thương cụ thể gặp nhiều nhất trong chấn thương cột sống cổthấp là C4-C5
3.4.2 Chụp cắt lớp vi tính
Bảng 3.10 Tổn thương cột sống cổ cao trên phim chụp CLVT
Tổn thương Số lượng (%) * Tỷ lệ chung
Trang 33(%)* là tỷ lệ phần trăm tính trên chấn thương cột sống cổ thấp
Nhận xét
- Trong CTCS cổ thấp, tổn thương hay gặp nhất là vỡ thân đốt sống vàtrật đốt sống đơn thuần tỷ lệ 20,7%, sau đó là vỡ trật đốt sống, tỷ lệ 17,2%
Một số hình ảnh tổn thương gặp trên phim chụp cắt lớp vi tính:
Hình 3.1 Vỡ C1 (bệnh nhân Trịnh Đức L, nam, 25 tuổi )
Trang 34Hình 3.2 Vỡ thân C2 (bệnh nhân Nguyễn Văn N, nam, 43 tuổi)
Hình 3.3 Trật C6-C7 (bệnh nhân Nguyễn Văn C, nam, 48 tuổi)
3.4.3 Chụp cộng hưởng từ
Trong số 49 bệnh nhân nghiên cứu, chụp cộng hưởng từ chủ yếu đượcchỉ định cho các bệnh nhân CTCS cổ thấp, chỉ có 2 bệnh nhân CTCS cổ caođược chỉ định chụp cộng hưởng từ