Khái niệm về chi phí giao dịch được giới thiệu lần đầu tiên bởi Ronald Coase120 vào năm 1937. Nghiên cứu của Coase (1937) đặt nền móng cho học thuyết chi phí giao dịch, từ khóa này cũng được trích dẫn trong nhiều công trình nghiên cứu nhiều năm sau đó, nhưng không được sử dụng hay phát triển. Tuy nhiên phải đợi đến Williamson121 (1975), người phát triển khái niệm trên và xây dựng học thuyết chi phí giao dịch (transaction cost economics or theory) giải thích sự tồn tại của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Học thuyết này của Williamson đã góp phần hoàn thiện hơn những nội dung nghiên cứu trước đây của Coase; đồng thời, học thuyết cũng làm rõ các hình thức quản lý giao dịch và các hình thức tổ chức doanh nghiệp khác nhau. Kinh tế học chi phí giao dịch cung cấp hệ thống ba phương thức quản trị: quản trị thị trường, theo thứ bậc và các hình thức trung gian pha tạp. Hệ thống này cơ bản dựa trên hai yếu tố là tần số các mối quan hệgiao dịch và đặc tính của tài sản trong hoàn cảnh thông tin không hoàn hảo hay mất cân bằng, có số ít các chủ thể tham gia giao dịch, và nhất là tính không chắc chắn với một bối cảnh giao dịch. Các điều kiện này cùng tồn tại với hai đặc tính của con người là khả năng tư duy giới hạn và chủ nghĩa cơ hội.
Trang 1HỌC THUYẾT CHI PHÍ GIAO DỊCH
Tiếp cận về chi phí giao dịch (transaction cost economics), theo quan điểm của Coase (1937), các học giả cho rằng nghiên cứu doanh nghiệp cần phải đặt trong mối tương quan so sánh giữa chi phí giao dịch nội bộ và giá trị tạo ra bên ngoài Kết hợp với quan điểm hợp đồng
và ký kết giữa các thành viên trong doanh nghiệp (Williamson, 1975), doanh nghiệp được coi
là “một mạng lưới những hợp đồng giao dịch đặc thù”
Khái niệm về chi phí giao dịch được giới thiệu lần đầu tiên bởi Ronald Coase120 vào năm 1937 Nghiên cứu của Coase (1937) đặt nền móng cho học thuyết chi phí giao dịch, từ khóa này cũng được trích dẫn trong nhiều công trình nghiên cứu nhiều năm sau đó, nhưng không được sử dụng hay phát triển Tuy nhiên phải đợi đến Williamson121 (1975), người phát triển khái niệm trên và xây dựng học thuyết chi phí giao dịch (transaction cost economics or theory) giải thích sự tồn tại của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường Học thuyết này của Williamson đã góp phần hoàn thiện hơn những nội dung nghiên cứu trước đây của Coase; đồng thời, học thuyết cũng làm rõ các hình thức quản lý giao dịch và các hình thức tổ chức doanh nghiệp khác nhau
Nội dung chương này được chia thành ba phần chính: bản chất của doanh nghiệp gắn với chi phí giao dịch (the nature of the firm associated with transaction costs) (phần 1), các
mô hình quản trị doanh nghiệp theo đặc điểm giao dịch (governance structures based on transactional characteristics) (phần 1), các yếu tố thị trường tác động đến giao dịch (Environmental factors emphasizing the transactional characteristics) (phần 1)
1 BẢN CHẤT CỦA DOANH NGHIỆP GẮN VỚI CHI PHÍ GIAO DỊCH
1.1 Chi phí giao dịch và sự tồn vong của doanh nghiệp
Coase (1937) đề xuất khái niệm về chi phí giao dịch bằng cách so sánh chi phí của thị trường và chi phí của doanh nghiệp Trong một nền kinh tế trao đổi thông qua thị trường, hoạt động sản xuất và trao đổi được tổ chức và phối hợp theo hệ thống giá thị trường Các cá nhân cần phải bỏ ra nhiều chi phí để nghiên cứu về các điều kiện của cuộc trao đổi mình muốn thực hiện và để tìm được đối tác mong muốn Việc nghiên cứu này dẫn đến các chi phí thương lượng hợp đồng (trao đổi) riêng biệt cho mỗi giao dịch/trao đổi Chi phí sản xuất ở đây nằm ngoài chi phí giao dịch
120 Giải Nobel Kinh tế năm 1991
353
Trang 2Trước tình hình chi phí trao đổi/giao dịch tốn kém, doanh nghiệp (nội bộ hóa việc sản xuất và các giao dịch vào trong một tổ chức gọi là doanh nghiệp) đem lại lợi ích đáng kể cho các cá nhân Doanh nghiệp giúp tiết kiệm chi phí sản xuất (bằng lợi ích kinh tế theo quy mô)
và chi phí giao dịch Lợi ích về chi phí giao dịch được thể hiện rõ qua việc tiết kiệm được chi phí nghiên cứu thông tin liên quan đến giá cả và chi phí thương lượng và kí kết hợp đồng Lợi ích về chi phí đặc biệt đáng kể trong trường hợp hoạt động sản xuất cần đến một chuỗi các hoạt động, thao tác
Lấy một ví dụ đơn giản là việc chế tạo một sản phẩm có ba bộ phận tách rời Nếu mỗi
bộ phận được chế tạo riêng lẻ bởi ba người khác nhau, để sản phẩm này được hoàn thành, ba người này phải nhất trí hợp tác trên thị trường Điều này sẽ dẫn đến (1) quá trình nghiên cứu mất thời gian và tốn kém của mỗi người về giá của mỗi bộ phận mà họ thực hiện và (2) các chi phí không thể bỏ qua để thương lượng và kí kết ba hợp đồng khác nhau giữa ba người Nhưng nếu một người đứng ra làm chủ bằng cách thành lập một doanh nghiệp, thực hiện thương lượng và kí kết trực tiếp hai hợp đồng với hai người kia thì ngay lập tức, doanh nghiệp
có thể giúp đạt được một hợp đồng với tất cả chi phí sinh ra giữa hai người này so với cơ chế trước của thị trường Chúng ta hãy tưởng tượng nếu số bộ phận tạo thành sản phẩm lớn hơn 3, chẳng hạn là 5: theo cơ chế thị trương, cần phải có 9 hợp đồng độc lập, nhưng thông qua doanh nghiệp, hoặc chỉ cần một người đứng ra làm chủ thì chỉ cần 4 hợp đồng trực tiếp với người này
Hình 48: So sánh quan hệ giao dịch trên thị trường và với doanh nghiệp
Coase (1937) định nghĩa doanh nghiệp như một mối quan hệ quyền lực: “… một hệ
thống các mối quan hệ được hình thành khi các nguồn lực được quản lý phụ thuộc vào một người chủ”122 Doanh nghiệp thực hiện ký kết các hợp đồng bất đối xứng, theo đó người lao
động chấp nhận tuân theo ý muốn của người sử dụng lao động “Hợp đồng [lao động] là một
hợp đồng mà theo hợp đồng này, người lao động tuân theo chỉ thị của chủ doanh nghiệp
121
Giải Nobel Kinh tế năm 2009
122
“A firm, therefore, consists of the system of relationships which comes into existence when the direction
of resources is dependent on an entrepreneur”
Trang 3trong phạm vi giới hạn nhất định để được trả một khoản thù lao nhất định và khoản thù lao này có thể cố định hoặc thay đổi”4 Mối quan hệ này đối lập với các mối quan hệ trên thị trường vì các chủ thể được xem như đối xứng với nhau trên thị trường và không có mối quan
hệ quyền lực hay lệ thuộc
Bản chất của doanh nghiệp tư bản dựa trên sự tồn tại của mối quan hệ lệ thuộc này Quan hệ tiền lương là đặc thù trong tổ chức tư bản sản xuất: nó bao hàm quan hệ quyền lực, với quyền lực do người lãnh đạo trực tiếp đảm nhận hoặc những người đại diện cho người này (người được ủy quyền) Lao động được xem là sự chuyển nhượng tạm thời lực lượng lao động cho người sử dụng lao động Người này có quyền sử dụng lực lượng lao động theo ý mình và tuân theo các điều khoản hợp đồng và quy định của pháp luật hiện hành
Trên cơ sở làm rõ bản chất của doanh nghiệp, Coase (1937) tiếp tục tìm câu trả lời
“…tại sao doanh nghiệp hình thành trong nền kinh tế thuần trao đổi” 123 (trang 390), vì sao các cá nhân muốn hợp thành tổ chức, doanh nghiệp hay các thực thể kinh doanh khác thay vì trao đổi buôn bán và thỏa thuận qua hợp đồng và thị trường Nếu hoạt động sản xuất và kinh doanh có thể thực hiện được mà không cần đến tổ chức, vậy tại sao và với điều kiện gì con người lại muốn thành lập doanh nghiệp
Để giải thích, Coase (1937) đưa ra một khái niệm, là nền tảng của khoa học tổ chức sau
này, khái niệm về “hiệu quả tổ chức” (organizational efficiency) Một tổ chức kinh tế được xem là hiệu quả khi giảm thiểu được “chi phí vận hành của hệ thống kinh tế” (costs of
running the economic system) (Arrow, 1969, trang 48), bao gồm không chỉ chi phí sử dụng cơ chế thị trường mà cả chi phí sử dụng, duy trì, thay đổi… các thể chế hay tổ chức Các chi phí vận hành này được gọi là chi phí giao dịch Như vậy, đơn vị phân tích ở đây là các giao dịch, thường gắn liền với hợp đồng vốn mang bản chất của một loại hình tổ chức cụ thể nào đó Chi phí giao dịch, theo Coase (1937), gồm 3 loại:
Chi phí xác định giá hợp lý: “Chi phí tổ chức sản xuất rõ ràng nhất có thể thấy theo cơ
chế giá là chi phí xác định giá phù hợp” Chi phí này không được Coase xác định rõ và chắc chắn một điều rằng cơ chế xác định giá sẽ rất tốn kém Ví dụ: để vận hành một thị trường chứng khoán bao gồm các trụ sở và một mạng lưới thông tin với chi phí được phản ảnh trong mỗi giao dịch thực hiện trên thị trường; việc ước tính được các chi phí xác định giá này là có thể thực hiện được nhưng cũng như đối với các thị trường khác, việc xác định các thành phần của chi phí giao dịch này cực kì phức tạp Ngoài ra, nhận thức về thị trường chưa được phát triển nên không có được các chỉ dẫn cụ thể về các chi phí này
Chi phí thương lượng và kí kết một hợp đồng: Mỗi giao dịch trên thị trường tạo thành
một hợp đồng riêng biệt Doanh nghiệp cũng ký kết hợp đồng nhưng số lượng hợp đồng ít
123
“… why a firm emerges at all in a specialized exchange economy”
Trang 4hơn “Một người tham gia sản xuất không phải kí kết hàng loạt hợp đồng với những người khác mà người này có hợp tác làm việc trong doanh nghiệp, điều này là cần thiết khi việc hợp tác này là kết quả trực tiếp của hoạt động cơ chế giá Hàng loạt hợp đồng này sẽ được thay thế bằng một hợp đồng duy nhất”
Williamson (1985) phân loại chi phí giao dịch cụ thể hơn, gồm: chi phí tiền giao dịch (ex ante costs) và chi phí hậu giao dịch (ex post costs) “Chi phí tiền giao dịch gồm chi phí
soạn thảo, đàm phán và đảm bảo hợp đồng” (trang 20)124 Chi phí hậu giao dịch “… gồm (1)
chi phí vì không phù hợp do giao dịch biến động vượt ngoài những thỏa thuận trong quan hệ hợp đồng, (2) chí phí trả giá từ những nỗ lực của đôi bên nhằm chỉnh sửa những sai lệch sau khi đã thống nhất hợp đồng, (3) chi phí thiết lập và vận hành gắn liền với cấu trúc quản trị (thường không được đàm phán) luôn phải xử lý, và (4) chi phí bảo lưu chắc chắn thực hiện các cam kết” (trang 21)125
Chi phí tiền giao dịch và chi phí hậu giao dịch có quan hệ phụ thuộc lẫn nhau và cần
phân tích trong tổng thể toàn diện, không nên xem xét từng phần Định lượng chi phí giao dịch là công việc hết sức phức tạp Các nghiên cứu thực nghiệm về chi phí giao dịch thường không định lượng chúng, mà tập trung tìm hiểu cấu trúc tổ chức quan hệ (thực hiện theo hợp đồng, cấu trúc quản lý) có phù hợp hay không với các thuộc tính của chi phí giao dịch (Williamson, 1985) Mục tiêu hướng đến là tìm ra một cấu trúc quản lý giao dịch tối ưu có thể làm giảm đồng thời chi phí giao dịch và chi phí sản xuất
1.2 Quy mô doanh nghiệp
Theo Coase (1937), quy mô của doanh nghiệp bị giới hạn bởi số lượng giao dịch có thể
thực hiện một cách hiệu quả “Doanh nghiệp trở nên lớn hơn đồng nghĩa rằng các giao dịch
bổ sung […] được chủ doanh nghiệp thực hiện và trở nên nhỏ hơn đồng nghĩa anh ta bỏ không thực hiện một số giao dịch nữa” (trang 393)126 Và, có những giao dịch lại được thực
hiện tối ưu nhất bởi cơ chế thị trường Vì vậy, “… nếu mở doanh nghiệp có thể loại bỏ được
các chi phí và giảm được chi phí sản xuất, liệu có còn giao dịch nào nữa trên thị trường nữa không? Tại sao không phải tất cả mọi hoạt động sản xuất đều được thực hiện bởi một doanh nghiệp lớn?” (trang 394)127 Coase (1937) đưa ra ba giải thích cho vấn đề này
124
Ex ante costs “are the costs of drafting, negotiating, and safeguarding an agreement”
125
“Ex post costs of contracting take several forms These include (1) the maladaption costs incurred when transactions drift out of alignment in relation […] (2) the haggling costs incurred if bilateral efforts are made to correct ex post misalignments, (3) the setup and running costs associated with the governance structures (often not the courts) to which disputes are referred, and (4) the bonding costs of effecting secure commitments” 126
“A firm becomes larger as additional transactions (which could be exchange transactions coordinated through the price mechanism) are organized by the entrepreneur and becomes smaller as he abandons the organization of such transactions”
127
“… if by organizing one can eliminate certain costs and in fact reduce the cost of production, are there any market transactions at all? Why is not all production carried on by one big firm?”
Trang 5“Thứ nhất, khi quy mô doanh nghiệp lớn hơn, lợi nhuận của chủ doanh nghiệp có thể
sẽ giảm xuống và chi phí giao dịch bổ sung trong doanh nghiệp có thể sẽ tăng lên Và lẽ dĩ nhiên đến một điểm nào đó chi phí giao dịch bổ sung trong phạm vi doanh nghiệp sẽ bằng với chi phí thực hiện giao dịch này trên thị trường hoặc do một chủ doanh nghiệp khác tổ chức Thứ hai, có thể là khi các giao dịch tăng lên, chủ doanh nghiệp không biết cách sử dụng hiệu quả các yếu tố sản xuất Một lần nữa, doanh nghiệp sẽ tiến đến điểm mà tại đó, tổn thất
do lãng phí nguồn lực bằng với chi phí tiếp thị của giao dịch trao đổi trên thị trường hoặc bằng với tổn thất nếu giao dịch do một chủ doanh nghiệp khác tổ chức
Cuối cùng, giá cung cấp một hoặc hơn một yếu tố sản xuất có thể tăng vì “các lợi ích khác” (“other advantages”) của một doanh nghiệp nhỏ lớn hơn của một doanh nghiệp lớn Điểm mà tại đó doanh nghiệp dừng phát triển có thể được xác định khi kết hợp các yếu tố nêu trên Hai lý do đầu tiên được đưa ra ở trên có lẽ tương ứng với cụm từ sau của các nhà kinh tế: “giảm lợi nhuận của người quản lý” (Coase, 1937, p.394395)
Hình 49: Quan hệ giữa quy mô và chi phí giao dịch của doanh nghiệp
Coase (1937) kết luận: “nếu mọi yếu tố khác như nhau, doanh nghiệp sẽ có xu hướng
lớn dần khi:
a) chi phí tổ chức giảm và các chi phí này, gắn với số lượng giao dịch thực hiện tăng thêm, tăng chậm hơn;
Chi phí
Cường độ giao dịch
Chi phí cận biên của cơ chế thị trường
Chi phí cận biên trong doanh nghiệp quản lý
Quy mô doanh nghiệp (theo số lượng giao dịch)
Trang 6b) chủ doanh nghiệp ít có khả năng mắc sai lầm và những sai lầm này, gắn với số lượng giao dịch thực hiện tăng thêm, tăng ít hơn;
c) giá cung các yếu tố sản xuất giảm (hoặc tăng chậm) so với quy mô lớn hơn của
doanh nghiệp” (trang 396 397)128
Tuy nhiên hoạt động quản lý của doanh nghiệp tạo ra chi phí tỷ lệ thuận với số lượng
giao dịch mà doanh nghiệp triển khai Do đó, Coase (1990) tái khẳng định “nguyên tắc chủ
nghĩa cận biên Principle of marginalism”: “giới hạn về quy mô doanh nghiệp được xác định khi phạm vi các nghiệp vụ của nó mở rộng đạt đến ngưỡng tại đó chi phí tổ chức các giao dịch bổ sung vào doanh nghiệp vượt quá chi phí thực hiện cũng các giao dịch này thông qua thị trường hay tại một doanh nghiệp khác” (trang 19)129 Khi đó, quy mô doanh nghiệp đã đạt mức tối đa Nếu quy mô tiếp tục tăng, chi phí giao dịch của doanh nghiệp sẽ tăng và cao hơn
so với chi phí trao đổi hay mua từ thị trường để thực hiện các giao dịch phụ trội, khi đó doanh nghiệp sẽ hoạt động không hiệu quả hay lỗ (so với thị trường hay đi mua từ thị trường)
2 CÁC MÔ HÌNH QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP THEO ĐẶC ĐIỂM GIAO DỊCH Một nội dung quan trọng trong học thuyết chi phí giao dịch là đặc tính của giao dịch và tác động trực tiếp của những đặc tính này đến việc lựa chọn hình thức quản trị phù hợp Williamson đi sâu vào phân tích hai đặc tính cơ bản của giao dịch là đặc thù của tài sản giao dịch và tần suất giao dịch Hai đặc tính này cùng với tính không chắc chắn của giao dịch quyết định mô hình quản trị hiệu quả
2.1 Đặc điểm của giao dịch
Giao dịch khác với trao đổi khi không mang tính tức thời hay chớp nhoáng Giao dịch gồm ba giai đoạn: thỏa thuận ban đầu, hợp đồng trao đổi và chấm dứt hợp đồng sau khi trao đổi đã diễn ra Thời gian và tính quan trọng của ba giai đoạn này tùy thuộc vào đối tượng được trao đổi
Williamson (1985) định nghĩa “một giao dịch diễn ra khi một tài sản hoặc một dịch vụ
được chuyển giao thông qua một giao diện công nghệ có thể phân tách Một bước hoạt động
128
“Other things being equal, therefore, a firm will tend to be larger:
a) the less the costs of organizing and the slower these costs rise with an increase in the transactions organized
b)the less likely the entrepreneur is to make mistakes and the smaller the increase in mistakes with an increase in the transactions organized
c) the greater the lowering (or the less the rise) in the supply price of factors of production to firms of larger size”
129
“the limit to the size of the firm is set when the scope of its operations had expanded to the point at which the costs of organizing additional transactions within the firm exceeded the costs of carrying out the same transactions through the market or in another firm”
Trang 7kết thúc kết thúc và một bước khác bắt đầu” (trang 1)130 Trong trường hợp này, quan hệ hợp đồng mua bán giữa hai thực thể độc lập về mặt pháp lý được hiểu giống với quan hệ chuyển giao đơn giản và không tạo ra trao đổi tiền tệ nào giữa hai phân xưởng của cùng một nhà máy Hoạt động chuyển giao giữa các thực thể sinh lợi là đối tượng của hợp đồng Một cách khái quát, khái niệm giao dịch trong phương pháp tiếp cận của Williamson được tóm gọn trong phạm vi hợp đồng
Một giao dịch bất kỳ có hai đặc tính cơ bản: đặc thù của tài sản giao dịch và tần suất giao dịch
2.1.1 Đặc thù của tài sản giao dịch
Bản chất của tài sản trong giao dịch có ảnh hưởng quan trọng đến hình thức giao dịch
Williamson (1985) định nghĩa đặc tính của một tài sản trong trường hợp “… các tài sản
chuyên dụng không thể tái triển khai mà không mất đi giá trị sản xuất trong trường hợp ngừng hoặc kết thúc sớm các hợp đồng” (trang 54)131 Thực vậy, khái niệm tài sản chuyên
dụng liên quan đến khái niệm tài sản có thể tái triển khai và “… trong bối cảnh liên tục”
(trang 54)132 Khả năng tái triển khai một tài sản kéo theo các chi phí và đặc biệt chi phí cơ hội Các tài sản chuyên dụng tạo ra các chi phí không thể thu hồi, cụ thể là các chi phí cố định
mà một doanh nghiệp không thể thu hồi được Các chi phí này gắn liền với tính chất đặc biệt của tài sản, và tính chất này cản trở việc tái sử dụng các tài sản này vào mục đích khác với mục đích ban đầu mà các chi phí này được đầu tư
Đặc thù của tài sản liên quan đến đầu tư bền vững được thực hiện nhờ vào các giao dịch riêng Do đó, đặc điểm và thông tin về đối tác tham gia giao dịch rất quan trọng Tính liên tục của mối quan hệ cũng được đề cao Vấn đề đảm bảo hợp đồng và các tổ chức kinh tế là nhất thiết khi giao dịch gắn với các tài sản có mức chuyên dụng cao Quá trình sử dụng các tài sản này trong quá khứ và kinh nghiệm đã thu được sẽ giới hạn khả năng tài sản đó được tái sử dụng mới Đặc thù của tài sản dẫn đến sức ì và bền vững trong các mối quan hệ liên quan Các tài sản chuyên dụng sẽ khó có thể chuyển nhượng và cần đến các phương thức giao dịch thích hợp để đạt được hiệu quả tối đa
Williamson (1985) phân biệt bốn loại tài sản chuyên dụng như sau:
Tài sản chuyên dụng địa điểm (site specificity): địa điểm tạo nên tính chuyên dụng
của tài sản khi địa điểm đó không thể hay mất rất nhiều chi phí để tái xây dựng lại Ví dụ, lò
130
“A transaction occurs when a good or service is transferred across a technologically separable interface One stage of activity terminates and another begins”
131
“…specialized assets cannot be redeployed without sacrifice of productive value if contracts should be interrupted or prematurely terminated”
132
“Asset specificity arises in an intertemporal context”
Trang 8thép đặt gần các mỏ than, hay địa điểm của siêu thị nằm tại trung tâm và mặt đường chính là các tài sản chuyên dụng của doanh nghiệp
Tài sản mục đích chuyên dụng (dedicated assets): là các khoản đầu tư theo yêu cầu
của một khách hàng duy nhất; ví dụ mở rộng một nhà máy do nhu cầu bổ sung của một khách hàng là một tài sản chuyên dụng Khoản đầu tư này sẽ khó có thể thực hiện lại theo một cách khác, hay khó có thể hoặc sẽ tốn nhiều chi phí để có thể sử dụng vào các mục đích khác
Tài sản vật chất chuyên dụng (physical asset specificity): xuất hiện, ví dụ, trong
trường hợp phát triển máy móc chuyên làm ra một chi tiết đặc biệt cho một khách hàng Điểm khác nhau của tài sản này so với tài sản mục đích chuyên dụng là nó gắn với các tính chất đặc thù của sản phẩm, tuy không phụ thuộc vào một yêu cầu riêng, nhưng cần những kiến thức cụ thể để thực hiện
Tài sản con người chuyên dụng (human asset specificity) gắn với kết quả học hỏi của
người đại diện Họ sẽ trở thành chuyên gia thực hiện một nhiệm vụ, và sẽ không dễ để sử dụng tài sản con người chuyên dụng này vào việc khác trong chính cùng tổ chức, chưa kể ở tổ chức khác Một công nhân mỏ là một tài sản chuyên dụng khi người này đặc biệt thông thạo với công việc ở các mỏ than; nhưng sẽ rất khó, hoặc không thể không mất phí đào tạo lại, nếu
để người này có thể thực hiện một nhiệm vụ khác trong doanh nghiệp hay ở một tổ chức khác
2.1.2 Tần suất giao dịch:
Tính chất này rất quan trọng trong việc xác định cấu trúc quản lý giao dịch Thực vậy,
số lượng giao dịch sẽ dẫn đến các chi phí lặp lại Nếu các tài sản có tính chuyên dụng, nhiều giao dịch sẽ trở nên rất đắt Vì vậy cần tập trung quản lý chúng trong một tổ chức để tiết kiệm chi phí giao dịch, nói cách khác nên tự đầu tư xây dựng và khai thác chúng
Mặt khác, nếu số lượng giao dịch với các tài sản có tính chuyên dụng ít, đồng nghĩa số đối tượng có thể tham gia giao dịch cũng không nhiều Khi đó, chủ nghĩa cơ hội càng có cơ hội bộc phát và gia tăng tính không chắc chắn của giao dịch
2.2 Các mô hình quản trị giao dịch thương mại
Các đặc tính của giao dịch sẽ trực tiếp xác định mô hình quản trị hiệu quả, tức là những
mô hình quản trị giúp giảm thiểu cả hai loại chi phí giao dịch và chi phí sản xuất Ba đặc tính của giao dịch xác định mô hình quản trị là: đặc tính của tài sản, tính không chắc chắn và cường độ giao dịch Tính không chắc chắn của giao dịch đặt ra yêu cầu phải có các quyết định linh hoạt và tuần tự Cường độ giao dịch được phân thành: một lần, thỉnh thoảng và thường xuyên Đặc tính của tài sản bao gồm: không đặc biêt, hỗn hợp và rất chuyên biệt Macneil (1978) đã phân chia hợp đồng thành ba loại: hợp đồng cổ điển, hợp đồng quan hệ và hợp đồng tân cổ điển Kết hợp giữa cường độ giao dịch và các đặc tính của tài sản, Williamson (1985) xác định các phương pháp đầu tư tối ưu như sau:
Trang 9Đặc điểm của đầu tư (Investment Characteristics)
Không đặc biệt
(Nonspecific)
Hỗn hợp
(Mixed)
Chuyên biệt
(Idiosyncratic)
Thỉnh thoảng
(occasional)
Mua thiết bị tiêu chuẩn
(Purchasing standard equipment)
Mua thiết bị tùy chỉnh
(Purchasing customized equipment)
Xây dựng cơ sở
(Constructing a plant)
Thường xuyên
(recurrent)
Mua vật liệu tiêu chuẩn
(Purchasing standard material)
Mua vật liệu tùy chỉnh
(Purchasing customized material)
Chuyển đổi địa điểm chuyên dụng của sản phẩm trung gian qua các bước liên tiếp
(Sitespecific transfer of intermediate product across successive stages)
Nguồn: Williamson (1985, trang 73) Hình 50: Các loại hình đầu tư tối ưu theo cường độ giao dịch và đặc tính tài sản
Nhiều đề xuất được đưa ra như sau: (1) Giao dịch tiêu chuẩn hóa cao không yêu cầu mô hình quản trị chuyên biệt (2) Chỉ có giao dịch với cường độ thường xuyên mới hỗ trợ mô hình quản trị chuyên biệt (3) Dù các giao dịch không tiêu chuẩn hóa và chỉ thỉnh thoảng mới có sẽ không hỗ trợ một mô hình quản trị cụ thể, chúng vẫn cần được lưu ý Theo cách phân loại hợp đồng của Macneil, hợp đồng cổ điển có thể áp dụng với tất cả các giao dịch tiêu chuẩn hóa (ở bất kì tần số nào), hợp đồng quan hệ phát triển dành cho các giao dịch không tiêu chuẩn hóa
và không thường xuyên, hợp đồng tân cổ điển cần cho các giao dịch không tiêu chuẩn hóa và thỉnh thoảng mới có
Hợp đồng cổ điển gần giống với nội dung mô tả bên dưới về quản trị thị trường, hợp đồng tân cổ điển bao hàm quản trị ba bên, và hợp đồng quan hệ mà Macneil đã mô tả là mô hình quản trị song phương hay mô hình quản trị hợp nhất
Quản trị thị trường (hợp đồng cổ điển):
Quản trị thị trường là mô hình quản trị chính cho các giao dịch không đặc biệt ở cả hai tần số thỉnh thoảng và thường xuyên Các thị trường là lựa chọn đặc biệt hiệu quả khi dự định
Trang 10thực hiện các giao dịch thường xuyên, vì cả hai bên chỉ cần xem xét kinh nghiệm của mình khi quyết định tiếp tục quan hệ thương mại hay quyết định chuyển sang một hướng khác ở mức chi phí chuyển giao thấp Với tính chất tiêu chuẩn hóa, các hoạt động mua và bán được thực hiện dễ dàng
Các giao dịch không đặc biệt nhưng thỉnh thoảng mới có là các giao dịch dành cho người mua (và người bán) ít có thể dựa vào kinh nghiệm trực tiếp của mình để bảo vệ các giao dịch trước chủ nghĩa cơ hội Tuy nhiên việc đánh giá dịch vụ hoặc kinh nghiệm của những người mua khác của cùng một loại hàng hóa có thể thăm dò được Mặc dù hàng hóa hoặc dịch vụ không phải kiểu tiêu chuẩn hóa, việc đánh giá kinh nghiệm này, bằng phương tiện chính thức và phi chính thức, sẽ thúc đẩy các bên hành xử một cách có trách nhiệm
Ở mô hình này, các giao dịch được ấn định và mang tính khách quan, do đó không có tính nghi ngờ hay không chắc chắn vì mọi sự việc đều được dự đoán trước Hợp đồng dự kiến được tất cả các hoạt động có thể xảy ra nên không gặp vấn đề về kí kết hợp đồng Thông tin
về các bên ít quan trọng trong việc thực hiện giao dịch, nội dung quan trọng được xác định theo các điều khoản chính thức của hợp đồng và các qui định pháp luật liên quan Chủ nghĩa
cơ hội của các tổ chức, cá nhân có ít cơ hội để phát triển vì có một số lượng lớn người cung cấp dịch vụ Khi một khách hàng cảm thấy không hài lòng hoặc bị một nhà cung cấp dịch vụ
có tính cơ hội lừa gạt, họ có thể ngừng hợp tác và chuyển sang mua của một nhà cung cấp khác, việc này thường không xảy ra trong tình huống chỉ có ít tổ chức, cá nhân có khả năng tham gia giao dịch
Quản trị ba bên (hợp đồng tân cổ điển):
Hai loại giao dịch cần đến mô hình quản trị ba bên là giao dịch hỗn hợp và giao dịch có tính đặc biệt cao ở tần số thỉnh thoảng Một khi những người đứng đầu tham gia ký kết hợp đồng, động lực hoàn thành hợp đồng rất cao Không chỉ các hoạt động đầu tư chuyên biệt được thực hiện, chi phí cơ hội thấp hơn nhiều trong các hình thức sử dụng thay thế Tuy nhiên, việc chuyển nhượng các tài sản này cho một nhà cung cấp kế tiếp sẽ đặt ra những khó khăn cao trong việc định giá tài sản
Ngay khi chất lượng tài sản gia tăng, điều quan trọng chính là việc tồn tại các chi phí không thể thu hồi phát sinh từ chất lượng các tài sản Khi hủy bỏ hợp đồng, các bên sẽ phải chịu tổn thất đáng kể Do đó, các bên quan tâm đến một mối quan hệ hợp tác ổn định, lâu dài
và vì vậy, các bên tiến hành kí kết các hợp đồng dài hạn Tuy nhiên, do lý tính của các cá nhân có giới hạn và không thể dự đoán được cách cư xử của các bên, các hợp đồng dài hạn không thể dự tính trước tất cả những việc có thể xảy ra và làm ảnh hưởng đến quá trình thực hiện hợp đồng Từ đó, để quản lý các tranh chấp trong quá trình thực hiện hợp đồng, hợp đồng sẽ bao gồm trọng tài phân xử và đây không phải là trọng tài pháp lý vì quá trình yêu cầu