1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những đêm trắng chuyển thể từ văn học sang điện ảnh dưới góc nhìn liên văn hóa

103 132 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 1,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dựa trên lý thuyết về chuyển thể, luận văn đặt chuyển thể trong mối quan hệ với liên văn hóa để thấy được mối quan hệ hai chiều giữa chúng, đồng thời, tạo lập tiền đề lý thuyết cho phép

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

LƯU NGỌC LY

NHỮNG ĐÊM TRẮNG – CHUYỂN THỂ TỪ

VĂN HỌC SANG ĐIỆN ẢNH DƯỚI GÓC NHÌN

LIÊN VĂN HÓA

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Hà Nội - 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

LƯU NGỌC LY

NHỮNG ĐÊM TRẮNG – CHUYỂN THỂ TỪ

VĂN HỌC SANG ĐIỆN ẢNH DƯỚI GÓC NHÌN

LIÊN VĂN HÓA

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Văn học nước ngoài

Mã số: 60 22 02 45

Người hướng dẫn khoa học:

TS Nguyễn Phương Liên

Hà Nội - 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Qua luận văn này tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn tới các thầy cô giáo khoa Văn học – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn– Đại học Quốc gia Hà Nội đã tận tình giảng dạy, chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong suốt những năm học vừa qua, giúp tôi trưởng thành hơn trong chuyên môn cũng như cuộc sống

Tôi xin tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Phương Liên, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và đóng góp những ý kiến quý báu cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này

Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thành viên khóa K61 khoa Văn học của trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội đã giúp đỡ, động viên và chia sẻ khó khăn cùng tôi trong quá trình học tập tại trường

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Trong luận văn có tham khảo một số kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học, các bạn học viên, các khoá luận tốt nghiệp, luận văn của các khoá trước

Công trình này chưa được tác giả nào công bố

Hà Nội, tháng 6 năm 2019

Học viên

LƯU NGỌC LY

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Lịch sử vấn đề 4

2.1.Tư liệu tiếng Việt 4

2.2 Tư liệu tiếng nước ngoài 5

2.3 Những vấn đề tồn tại 6

3 Đối tượng, mục đích, phạm vi nghiên cứu 7

4 Phương pháp nghiên cứu 8

5 Cấu trúc luận văn 8

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT CHUYỂN THỂ 10

1.1 Khái niệm chuyển thể 10

1.1.1 Chuyển thể như là tái hiện 10

1.1.2 Chuyển thể như là kiếp sau 17

1.2 Tác phẩm Những đêm trắng 23

1.2.1 Các phiên bản chuyển thể Những đêm trắng 23

1.2.2 Tiềm năng chuyển thể 25

1.2.2.1 Tiềm năng từ đề tài 25

1.2.2.2 Tiềm năng từ thể loại 29

1.2.2.3 Từ nhà làm phim 36

1.3 Chuyển thể dưới góc nhìn liên văn hóa 39

1.3.1 Giao tiếp liên văn hóa 39

1.3.2 Chuyển thể với giao tiếp liên văn hóa 40

Chương 2: TÍNH LIÊN VĂN HÓA Ở CẤP ĐỘ HÌNH TƯỢNG 44

2.1 Nhân vật 44

2.1.1 Ước mơ của kẻ mộng mơ 44

2.1.2 Chờ đợi – phần thưởng hay sự đọa đày 51

Trang 6

2.2 Thời gian 54

2.2.1 Vòng tròn thời gian khép kín trong Bốn đêm của kẻ mộng mơ 54

2.2.2 Vòng tròn thời gian tịnh tiến trong Người yêu dấu 58

2.3 Không gian 62

2.3.1 Không gian toàn vẹn trong Bốn đêm của kẻ mộng mơ 63

2.3.2 Huyền áo hóa không gian trong Người yêu dấu 72

Chương 3: TÍNH LIÊN VĂN HÓA Ở CẤP ĐỘ THỂ LOẠI 76

3.1 Phong cách đạo diễn 76

3.1.1 Robert Bresson và Làn sóng mới tại Pháp 76

3.1.2 Bhansali với thể loại phim nhạc kịch Ấn Độ 78

3.2 Kỹ thuật làm phim 79

3.2.1 Khung cảnh 80

3.2.2 Ánh sáng và màu sắc 85

KẾT LUẬN 91

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 93

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Chuyển thể từ văn học đến điện ảnh cũng lâu đời như chính lịch sử điện ảnh Ngay từ buổi bình minh của điện ảnh, ngành nghệ thuật này đã gắn chặt số mệnh của nó với văn học Tuy nhiên hoạt động chuyển thể thường được coi là việc tạo ra bản sao mô phỏng, tái hiện văn học dưới dạng hình ảnh Hiểu chuyển thể như là tái hiện là quan niệm mà luận văn sẽ áp dụng để khởi đầu nghiên cứu chuyển thể, song, qua đó, gợi mở ra những khả năng khác của chuyển thể

Tác phẩm Những đêm trắng (White nights) của F.M Dostoesky là một tác

phẩm văn học đã được chuyển thể tới hơn 19 lần Điều đặc biệt là những phiên bản chuyển thể của nó luôn luôn có sự biến đổi về mặt không - thời gian so với nguồn văn học, từ thế kỉ XIX của nước Nga đến thế kỉ XX, thậm chí là XXI của các nước khác trên thế giới Một tác phẩm có lịch sử chuyển thể đầy ấn tượng và đặc biệt như

Những đêm trắng sẽ cho phép luận văn áp dụng những khả năng của chuyển thể

một cách triệt để

Dựa trên lý thuyết về chuyển thể, luận văn đặt chuyển thể trong mối quan hệ với liên văn hóa để thấy được mối quan hệ hai chiều giữa chúng, đồng thời, tạo lập tiền đề lý thuyết cho phép thăm dò các đặc điểm văn hóa ẩn sau hai phiên bản

chuyển thể mà luận văn sẽ tập trung phân tích là Bốn đêm của kẻ mộng mơ (Phiên bản chuyển thể Những đêm trắng của đạo diễn người Pháp Robert Bresson) và

Người yêu dấu (Phiên bản chuyển thể của đạo diễn người Ấn Độ Sanjay Leela

Bhansali) Vì thế, chúng tôi đặt tên cho luận văn: Những đêm trắng – chuyển thể

từ văn học sang điện ảnh dưới góc nhìn liên văn hóa

Trang 8

2 Lịch sử vấn đề

2.1.Tư liệu tiếng Việt

Ở Việt Nam, điện ảnh có từ những năm 1890 Tuy nhiên, dấu mốc thực sự cho

sự ra đời của nền điện ảnh Việt Nam vào năm 1923, khi xuất hiện bộ phim truyện

đầu tiên: Kim Vân Kiều - do Công ty Chiếu bóng Đông Dương thực hiện (dựa trên tác phẩm bất hủ Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du) Từ đó trở đi, những bộ

phim chuyển thể đã trở thành kí ức vàng son một thời trong tâm trí của khán giả:

Lục Vân Tiên (1957, dựa theo truyện Nôm Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu),

Vợ chồng A Phủ (1961, chuyển thể từ truyện ngắn Vợ chồng A Phủ của nhà văn Tô

Hoài), Chị Tư Hậu (1963, chuyển thể từ tác phẩm Một chuyện chép ở bệnh viện của nhà văn Bùi Đức Ái), Nổi gió (1966, dựa trên vở kịch cùng tên của Đào Hồng Cẩm), Loan mắt nhung (1970, dựa theo truyện Loan mắt nhung của Nguyễn Thuỵ Long), Trống mái và Gánh hàng hoa (1971, dựa theo tiểu thuyết của nhóm Tự lực

văn đoàn)… Thế nhưng, vấn đề nghiên cứu chuyển thể còn khá rời rạc Nghiên cứu chuyển thể gần như chỉ xuất hiện dưới hình thức những bài báo đăng trên tạp với

dung lượng ít ỏi: "Về cái gọi là tính văn học trong điện ảnh" (Tạp chí Nghiên cứu

Nghệ thuật, số 06-1984, Lê Châu); "Từ văn học đến điện ảnh" (Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, số 2-2001, Hương Nguyên); "Mối quan hệ giữa văn học và điện ảnh" (Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, số 10-2002, Minh Trí)…Các bài báo đều mới chỉ

nhấn mạnh đến vai trò của văn bản nguồn (các tác phẩm văn học) đối với văn bản đích (phim chuyển thể) mà chưa chỉ được ra những khả năng chuyển thể cụ thể Có thể thấy, ở Việt Nam, chuyển thể đã được tiếp cận ở những cấp độ: nghiên cứu chuyển thể là hình thức của liên văn bản; nghiên cứu chuyển thể như là một hình thức so sánh liên ngành (đối chiếu giữa một bên là truyện và phim và chỉ ra sự khác biệt giữa hai loại hình) Vấn đề nghiên cứu chuyển thể ở Việt Nam chưa mang lại ý thức sâu sắc giữa tác phẩm và bộ phim Điều này có thể do xuất phát thực tế điện ảnh chuyển thể còn tương đối nghèo nàn, do đó, chưa thấy tính chất phức tạp của chuyển thể Chỉ đến công trình của Nguyễn Nam [8], ông mới có những bước nhìn nhận vấn đề chuyển thể rộng hơn không chỉ ở khía cạnh phong cách sáng tạo của

Trang 9

tác giả mà còn là sự trượt nghĩa gốc của bản chuyển thể, đặt văn bản chuyển thể trong vùng văn hóa có nhiều yếu tố tiếp nhận phức tạp hơn Các công trình đó là:

Từ Chùa Đàn đến Mê Thảo: Liên văn bản trong văn chương và điện ảnh (2000) và

Sự thực tuyệt đối trong tự sự tiếp nhận: tiếp nhận và cải biên Rashomon ở Việt Nam (2011) “Trong khi ở tiểu luận đầu tiên Từ Chùa Đàn đến Mê Thảo, Nguyễn Nam

mặc dù có nhắc đến “quan hệ giữa tác phẩm văn học và tác phẩm điện ảnh”, tuy nhiên ông tập trung nhiều hơn vào việc chỉ ra những khác biệt trong sự xử lý những đơn vị hình thức giữa hai tác phẩm để khám phá những lớp nghĩa chìm, bởi vậy cải biên/chuyển thể vẫn chỉ được hiểu là sự biến đổi; thì ở tiểu luận về tiếp nhận và cải biên Rashomon, Nguyễn Nam đã tiến một bước dài khi ứng dụng khái niệm cải biên

vào phân tích đời sống của bộ phim Rashomon ở Việt Nam” [1, tr.3] Tiếp đó, một

vài học giả đã bắt đầu nhắc đến khái niệm liên văn hóa trong văn học, văn hóa hay

trong lĩnh vực sử học như trong bài viết của Thái Phan Vàng Anh trong Toàn cầu

hóa và xu hướng đa văn hóa, liên văn hóa trong văn học (Nhìn từ văn xuôi Việt Nam đầu thế kỉ XXI): “Thay vào đó, đa văn hóa, liên văn hóa sẽ làm nên diện mạo

mới của văn hóa toàn cầu, nơi mà cả cái phổ quát lẫn cái riêng/khác đều có thể cùng tồn tại” [2] Tác giả đã chỉ ra rằng liên văn hóa là một xu hướng tất yếu của dòng chảy văn học nói chung và Việt Nam nói riêng Tuy nhiên, nhìn chuyển thể từ văn học sang điện ảnh dưới góc nhìn của liên văn hóa vẫn còn là “mảnh đất” trống

2.2 Tư liệu tiếng nước ngoài

Tại giải Oscar 2009, trong số 5 đề cử cho Phim hay nhất có tới 3 bộ phim là

phim chuyển thể từ các tác phẩm văn học: The Curious Case of Benjamin Button chuyển thể từ một truyện ngắn của nhà văn Mỹ Frank Scott Fritzgerald, The Reader

chuyển thể từ tác phẩm best-seller của nhà văn Đức Bernhard Schlink và

Revolutionary Road chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Mỹ Richard

Yates Thành công lớn của phim No Country for Old Men (chuyển thể từ tác phẩm cùng tên của nhà văn Cormac McCarthy) tại Oscar 2008 và The Reader (chuyển thể

từ tiểu thuyết The Reader của Bernhard Schlink) tại Oscar 2009 khiến giới phê bình

phim ngày càng ấn tượng với phim chuyển thể từ tác phẩm văn học Khá nhiều cuộc

Trang 10

bình chọn liên quan đến phim chuyển thể đã thu hút sự quan tâm của đông đảo khán giả, các nhà nghiên cứu – phê bình điện ảnh và báo giới Hoạt động chuyển thể sôi nổi tại kinh đô điện ảnh Holywood và cả bên ngoài đế chế này luôn chiếm ưu thế trong sản xuất phim Điều này đã tạo động lực cho các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực chuyển thể Tài liệu nghiên cứu chuyển thể cũng vì thế trở nên rất đa dạng Có thể kể đến những tác phẩm khởi đầu và có tầm quan trọng trong nghiên cứu chuyển

thể như: Introduction: The Theory and Practise of Film Adaptation; In Literature

and Film: a Guide to Theory and Practise of Film Adaptation (Robert Stam và

Alessandra Raengo); The Theory of Adaption (Linda Hutcheon); The adaption

industry, the cultural economy of comtemporary literature adaption (Simone

Murray); Beyond fidelity: the dialogics of adaptation ( Robert Stam, biên tập James

Naremore)… Các nghiên cứu trên đã bàn đến địa hạt của chuyển thế như là sự diễn giải, sự viết lại,… và lí giải khá chi tiết cho những cơ chế đó Các học giả cũng bắt đầu chạm đến mối quan hệ của liên văn hóa và chuyển thể qua các bài so sánh

những trào lưu phim đang được chuyển thể rầm rộ trên thế giới như Boy over

Flower hay Ngôi nhà hạnh phúc Nhìn chung, lý thuyết chuyển thể trong môi

trường liên văn hóa từ tài liệu nước ngoài khá dồi dào và tiềm năng

Trang 11

sự trỗi dậy mạnh mẽ của ý thức tạo điều kiện cho việc tiếp cận phim chuyển thể như

là một mối liên hệ liên văn bản, thậm chí đối thoại với văn bản nguồn trong một bối cảnh văn hóa liên văn hóa Bằng cách đó, chúng ta có thể nhìn chuyển thể qua lăng kính của của liên văn hóa để thấy được tiềm năng vĩnh viễn và dồi dào của chuyển thể với giao lưu và hội nhập văn hóa Qua khảo sát tư liệu trong và ngoài nước,

chúng tôi cũng nhận thấy rằng tài liệu bàn về chuyển thể với trường hợp Những đêm

trắng chưa nhiều, thậm chí chưa được bàn luận một cách trực tiếp Điều này đã thôi

thúc người viết mạnh dạn chọn vấn đề này để nghiên cứu

3 Đối tƣợng, mục đích, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là chuyển thể cùng những khả năng của nó, chuyển thể và mối quan hệ với giao tiếp liên văn hóa Qua đó, luận văn có thể nhận diện và phân tích được hạt nhân cơ bản được bảo lưu cũng như biến đổi khi chuyển

thể từ văn học lên phim của tác phẩm Những đêm trắng trong bối cảnh liên văn hóa

ấy

- Phạm vi nghiên cứu của đề tài:

+ Phạm vi nội dung: Luận văn sẽ tiến hành tìm hiểu các bình diện cụ thể sau: lý

thuyết và ứng dụng của chuyển thể, mối quan hệ của chuyển thể và giao tiếp liên văn hóa, những vấn đề về hình tượng và thể loại của tác phẩm văn học nguồn và Những đêm trắng

+ Phạm vi tư liệu: Tiến hành phương pháp nghiên cứu trường hợp thông qua việc khảo sát các tài liệu liên quan đến:

* Các tài liệu liên quan đến nội dung chuyển thể văn học và điện ảnh

* Truyện Những đêm trắng của tác giả F.M Dostoevsky

* Phim Bốn đêm của kẻ mộng mơ của đạo diễn Robert Bresson

* Phim Người yêu dấu của đạo diễn Sanjay Leela Bhansali

Trang 12

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn có sự kết hợp của nhiều phương pháp:

- Phương pháp liên ngành nhằm phân tích các quan hệ chuyển thể văn học và điện ảnh

- Phương pháp xã hội học trong việc phác họa lại lịch sử hình thành của khái niệm chuyển thể

- Phương pháp so sánh để làm nổi bật đặc điểm của các type chuyển thể sẽ trình bày cũng như đặc điểm của các phim chuyển thể với văn bản nguồn và với nhau cũng như triển khai các thảo luận về định nghĩa khái niệm chuyển thể

- Phương pháp ký hiệu học và ký hiệu học văn hóa để tìm hiểu những dòng chảy văn hóa ngầm ẩn chi phối đến các kỹ thuật chuyển thể từ văn học sang điện ảnh

- Phương pháp phân tích – tổng hợp giúp bóc tách từng yếu tố cấu thành của các văn bản dưới tác động của văn hóa và sau cùng là tổng hợp để thấy được một bức tranh tổng quát về các sinh thể chuyển thể mới được hình thành

5 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: TỔNG QUAN LÍ THUYẾT CHUYỂN THỂ ĐIỆN ẢNH ĐỌC VĂN BẢN NGUỒN

Trong chương này, luận văn sẽ trình bày những quan niệm, khái niệm về chuyển thể cùng với sự khái quát đặc trưng của chuyển thể từ văn học sang điện ảnh, để từ đó đi đến quan niệm về chuyển thể của luận văn Song song với

đó, luận văn sẽ giới thiệu và đánh giá về tiềm năng chuyển thể của văn bản

nguồn Những đêm trắng để lí giải cho hiện tượng chuyển thể mang tính vượt

không gian và thời gian này Từ đó, luận văn tiến tới xác lập mối quan hệ giữã chuyển thể và giao tiếp liên văn hóa để xác lập khung lý thuyết khi phân tích hiện tượng chuyển thể từ văn học sang điện ảnh dưới góc nhìn liên văn hóa Chương 2: TÍNH LIÊN VĂN HÓA Ở CẤP ĐỘ HÌNH TƯỢNG

Trang 13

Áp dụng lý thuyết đã xác lập ở Chương 1, luận văn sẽ đi vào phân tích tính liên văn hóa ở cấp độ thứ nhất, cấp độ hình tượng của hai bản chuyển thể điện

ảnh là Bốn đêm của kẻ mộng mơ (Robert Bresson 1971) và Người yêu dấu

(Sanjay Leela Bhansali 2003) qua các tín hiệu về hình tượng Cụ thể là ở các khía cạnh: Không gian, thời gian và nhân vật để từ đó thấy được văn hóa đã tác động, chi phối và tạo ra những tác phẩm chuyển thể mới như thế nào

Chương 3: TÍNH LIÊN VĂN HÓA Ở CẤP ĐỘ THỂ LOẠI

Trong chương này, luận văn sẽ đi vào phân tích những dấu hiệu ngầm ẩn của văn hóa mỗi quốc gia (Pháp và Ấn Độ) đã tác động lên đặc trưng thể loại,

cả ở hình thức và nội dung của hai bản chuyển thể điện ảnh Trong cấp độ thể loại, luận văn tập trung làm rõ hai khía cạnh là phong cách riêng của hai đạo diễn: tư tưởng và các kỹ thuật phim đã được áp dụng Qua đó, chúng ta sẽ thấy được tính bản địa khi so sánh với văn bản văn chương nguồn

Trang 14

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT CHUYỂN THỂ

1.1 Khái niệm chuyển thể

1.1.1 Chuyển thể như là tái hiện

Đây là một quan niệm phổ biến nhất về chuyển thể trong sáng tạo điện ảnh Đặc trưng chất liệu ngôn từ của văn học mang đến những hình tượng gián tiếp và không

có tính trực quan Điện ảnh lại là loại hình nghệ thuật sinh sau đẻ muộn, bởi vậy, nó

có tham vọng tổng hợp nhiều khả năng trần thuật bên trong mình Nhờ những phương tiện điện ảnh mang đến hình ảnh sống động, khả năng hồi cố, đan cài, song song trong tâm tưởng, điện ảnh đã giúp trực quan hóa văn học mà kịch sân khấu hay nhà hát opera không thể tái hiện được Khái niệm chuyển thể (adaptation, một số cách dịch khác là cải biên/thích nghi) trong các diễn ngôn nghiên cứu điện ảnh, đặc biệt là điện ảnh chuyển thể và các nghiên cứu sinh học Nguyên nghĩa, adaptio/adaptare có nghĩa là làm cho vừa vặn (to make fit, to alter) Chuyển thể (trong mối quan hệ giữa văn học và điện ảnh) đã trở thành một hình thức gắn liền với lịch sử phát triển của màn bạc ngay từ khi nó ra đời vào thế kỉ XX Điện ảnh một mặt gắn chặt với những tiến bộ khoa học giúp nó “sao chép” những chuyển động của đời sống thực, mặt khác tìm nội dung cho việc kể lại đời sống ở người anh

cả lão làng – văn học Tới năm 1915, các hình ảnh văn chương sẽ ngày càng trở

thành chất liệu cho điện ảnh nhằm tách màn bạc ra khỏi truyền thống nghệ thuật tạp

kỹ và đem đến một kỳ vọng mới từ xã hội cho ngành nghệ thuật máy móc (nổi bật

nhất là phiên bản phim tiếng Ý của tiểu thuyết Ba Lan Quo vadis năm 1913 cùng tác phẩm huyền thoại Intolerance của D.W.Griffith năm 1916, sử dụng điệp khúc

hình ảnh trong thơ của Walt Whitman để kết nối kinh Tân ước, hai câu chuyện lịch

sử và một tấn kịch hiện đại lại với nhau Năm 1932, tác phẩm The Magic Mountain

được dựng thành phim kéo theo đó là tâm trạng mâu thuẫn của chính tác giả với phim chuyển thể: căm ghét nó - nhưng cũng rất yêu nó Tới năm 1996, các tác phẩm

của Jane Austen như Sense and Sesibility (1915); Clueless (1915)… cũng được

chuyển thể, đã tạo nên một thế hệ độc giả mới quan tâm đến chính tác phẩm văn

Trang 15

chương của Jane thông qua việc xem phim Điện ảnh từ thời sơ khai đã luôn kiếm tìm những nguồn văn học khác nhau để khai thác (Các tiểu thuyết, kịch văn học, truyện ngắn, thơ và thậm chí cả bài luận cũng luôn có đối xử xứng tầm trong phim ảnh), vì thế, Dudley Andrew đã chỉ ra rằng: “việc nghiên cứu chuyển thể cũng

tương đồng như nghiên cứu màn bạc nói chung” [34, trg.7] Chuyển thể được xem

là một xu hướng phổ quát trong tất cả các xã hội loài người nhằm viết lại một văn bản gốc nào đó Kết quả của việc đó là tác phẩm chuyển thể hoặc trung thành hoặc

rất ít liên hệ với văn bản nguồn: “Chuyển thể, với tư cách là là một tác phẩm phát triển từ bản gốc-đôi khi thậm chí là cả nhào nặn và biến đổi - từ một nguồn có sẵn”

[13]

Có thể thấy, việc làm phim dựa trên một văn bản có trước cũng lâu đời như chính cơ cấu điện ảnh Quá nửa số phim thương mại đều bắt nguồn từ những tác phẩm văn học - cho dù tất cả những văn bản gốc đó đều chẳng nhận được chút tôn trọng sùng bái nào Chuyển thể rõ ràng đã mang đến nội dung và đôi khi là cả hình thức để tái hiện hiện thực và để hình thành cho mình một thứ ngôn ngữ riêng Với những bước đỡ đầu đầy vững chắc và hứa hẹn của văn học, chuyển thể đã trở thành một trong những hoạt động lâu đời nhất và cốt lõi nhất của lịch sử điện ảnh Trung tâm tính của chuyển thể thường được đem ra thảo luận chính là trung thành hay khác biệt, từ đó trở thành một trong những vấn đề đáng quan tâm nhất của lịch sử chuyển thể Những động cơ của hành động tái hiện, mô phỏng này có thể tìm thấy ngay trong chính những tác phẩm nguồn Văn bản văn chương với chất liệu bằng

ngôn từ đã xây nên những hình tượng gián tiếp Chúng được gợi ra từ sự đọc của

mỗi độc giả Tuy không mang đến một chỉ dẫn cụ thể nhất quán cho điện ảnh, song văn học lại mang đến cho ngành nghệ thuật thị giác này những kinh nghiệm gián tiếp vô cùng quý giá Thêm nữa, ước muốn được nhìn những gì trực quan, những gì hữu hình đã tồn tại quá lâu trong sự tưởng tượng từ việc đọc tác phẩm văn chương cũng tạo nên động lực để các nhà làm phim chuyển thể để thị giác hóa điều ấy Hoạt động chuyển thể từ văn bản văn chương đến phim ảnh theo quan điểm truyền thống là hoạt động dịch Nhà làm phim sẽ phải dịch chuyển đơn vị cơ sở của

Trang 16

văn chương là ngôn từ sang đơn vị cơ sở của điện ảnh là hình ảnh Sự dịch chuyển này về bản chất là tái hiện, thị giác hóa lại ngôn từ lên phim Cụ thể hơn, hoạt động chuyển thể mang tính tái hiện này sẽ liên quan đến các thuật ngữ của hệ thống ngôn ngữ (nếu ta cũng quan niệm phim như một văn bản) mà trong đó đơn vị cơ sở cấu thành nên văn bản văn học chính là tự vị, từ và câu, còn văn bản phim là bóng tối và ánh sáng được chiếu đèn, các hình dạng và âm thanh có thể nhận biết được, và các hành động được biểu diễn Các hệ thống này có thể được xây dựng theo cách riêng nhưng chúng ta luôn luôn có thể tạo nên được sự phù hợp thích đáng từ các hệ thống khác nhau bằng cách tạo nên những dấu hiệu đặc biệt từ mỗi đơn vị trong hệ thống và nhấn mạnh đặc điểm chung của chúng Vấn đề chuyển thể sẽ trở thành vấn

đề tìm kiếm hai hệ thống giao tiếp cho các yếu tố có vị trí tương đương trong các hệ thống có khả năng khơi gợi cái được biểu đạt ở mức độ phù hợp sẵn có Keith

Cohen trong Film and Literature: The Dynamics of Exchange đã tìm cách chứng

minh cho mối liên hệ giữa những hình thức nghệ thuật này: “Tôi từng đưa ra một nhận định cơ bản rằng cả ngôn ngữ và hình ảnh đều là tập hợp các ký hiệu thuộc về

hệ thống và rằng, ở một mức độ trừu tượng nhất định, những hệ thống này mang lại

sự tương đồng với hệ thống khác Cụ thể hơn, trong mỗi hệ thống như thế này đều

có nhiều mã khác nhau (thuộc về cảm giác, quy chiếu, biểu tượng) Vậy thì cái mang lại khả năng cho một nghiên cứu về liên hệ giữa hai hệ thống ký hiệu khác biệt, giống như tiểu thuyết và phim, là cái thực tế rằng những mã tương tự có thể tái hiện không chỉ trong hệ thống… Bởi vậy, người ta có thể thấy chính cơ cấu của hệ thống ngôn ngữ mang các mối tương quan phức tạp và đa dạng: ngoài các chức năng khác, chức năng ngôn ngữ là để định rõ các đơn vị được phân cắt bởi hình ảnh (nhưng cũng góp phần phân cắt chúng), và … ngoài các chức năng khác, chức năng của hình ảnh là để truyền cảm hứng cho các hình thể ngữ nghĩa (nhưng cũng được

chúng truyền cảm hứng” [4, trg.374]

Chính bản thân điện ảnh trong lịch sử phát triển của mình cũng góp phần định hình nên quan niệm về việc tái hiện Ngay từ đầu, điện ảnh đã vay mượn tư liệu văn học trong mọi thể loại để làm nên nội dung và đề tài với mong muốn tự tách mình

Trang 17

ra khỏi nghệ thuật tạp kỹ và vươn tới một địa hạt mà ở đó vị thế của nó được ghi

nhận hơn Thiết nghĩ, ta cần có một cái nhìn tổng quát về mối “nhân duyên” giữa

điện ảnh và văn học để thấy được những động cơ và cách thức của mối quan hệ không dễ miêu tả giữa hai ngành này Điện ảnh có thể coi là sự kế nhiệm của nhiếp ảnh Kĩ thuật máy móc đã mang đến cho công chúng phương Tây những năm 1750-

1825 sự hứng thú say mê với hình ảnh và sản phẩm thị giác: “William Hogarth, người xây dựng phương thức kể chuyện trào phúng thông qua một loạt các khắc bản; những tranh tầng sâu và tranh toàn cảnh mô phỏng nổi tiếng đã xuất hiện đâu

đó trong sân khấu kịch chính thống và dàn tranh trào phúng (Trong những năm

1790, tác phẩm Phantasmagoria của Etienne Gaspard Robertson đã thu hút hàng

vạn người với những phản thân về Rosseau, Marat và những vĩ nhân khác của Cách mạng Pháp), và vô số tuyệt tác khoa học (chẳng hạn như kính viễn vọng do Ngài David Brewster phát minh năm 1814) đã báo trước sự ra đời của phương thức và

công cụ khoa học năm 1826 và 1839” [4, trg.17] Điều này làm dấy lên sự tranh

luận gay gắt về vị thế của văn học trong nền văn hóa dễ bị cuốn hút bởi hình ảnh động thay vì sức mạnh truyền thống của ngôn từ tinh xảo Chủ nghĩa hiện thực thế

kỉ 19 trở thành thước đo phản ánh hiện thực của văn học và các ngành văn hóa thị giác mới nổi như thế Tuy nhiên, nếu những tiền thân của điện ảnh cứ kể mãi về phong cảnh và phản thân, chính nó cùng với sức mạnh mê hoặc của mình khiến khán giả cảm thấy ngột ngạt Họ muốn một sản phẩm thị giác kể một nội dung có

chiều sâu Các dự án quay bằng đèn chiếu Magic lanter trong tiểu thuyết của Walter

Scott; những tác phẩm văn xuôi khác cùng tiểu thuyết hàng loạt trở thành một loại hình hòa quyện giữa nhiếp ảnh và kể chuyện thông qua sự hỗ trợ của ảnh in bằng thạch bản hay sau năm 1880 là cả việc in ảnh bán sắc Sự gặp gỡ văn học và điện ảnh tiếp tục được phát triển trong hình thái mà chúng tôi khảo sát từ tiền cổ điển, cổ điển cho đến những bước ngoặt thể nghiệm của điện ảnh Trong những năm 1895-

1925, những chuyển thể điện ảnh học tập tính kịch từ nhiều tác động, trong đó có chủ nghĩa hiện thực và kịch melo thế kỉ 19, sự thống trị của các trào lưu kịch đại chúng như đại sảnh âm nhạc, các màn ca nhạc tạp kỹ, và có lẽ quan trọng nhất, là

Trang 18

điều kiện kĩ thuật của điện ảnh thời kì đầu với những máy quay cồng kềnh, chỉ có thể đặt tĩnh tại để tái hiện lại góc nhìn của khán giả ngồi hàng giữa trong nhà hát kịch Những phim tài liệu phản thân trong thời bình minh của lịch sử điện ảnh khó

có thể tiếp cận tới lượng công chúng đại chúng, vì thế, một cách tất yếu, đề tài văn học trở thành lựa chọn của màn bạc tiền cổ Một loạt những câu chuyện văn học nổi

tiếng đang thịnh hành đã được chuyển thể từ phiên bản sân khấu hóa như Cinderella

(1900), Robinson Crusoe (1920), Guilliver's travels (1902), Uncle Tom's cabin (1903) Động cơ đưa điện ảnh tìm về với văn học là có thể lí giải được Nó xuất

phát từ vị thế của bộ môn này Điện ảnh thời kì đầu chỉ là những trò tạp kĩ rẻ tiền được đem ra hội chợ để kinh doanh Nó mang đến những khung hình động và những phong cảnh được ghi lại lướt qua mắt người xem Nội dung của nó thời kì đầu vốn chỉ là những chuyển động, những phong cảnh Điện ảnh tiền cổ điển chuyển sang cổ điển với sự xuất hiện các tác phẩm của D.W.Griffith năm 1913 Griffith đã nỗ lực để đưa điện ảnh và văn học trở thành những đối thủ ngang tài, khi ông cho rằng, bằng những cải tiến kĩ thuật, hình ảnh có thể đặt ngang hàng với ngôn

từ như một công cụ truyền tải có sức hấp dẫn đối với con người Từ những bộ phim một cuộn (dài từ 10-15 phút) của thời tiền cổ điển, màn bạc cổ điển, mà cụ thể là với kinh nghiệm cá nhân của Griffth, đã ra đời phiên bản chuyển thể phim dài hơn

hai cuộn của Enoch Arden Điều này đã làm thay đổi hướng đi của điện ảnh và văn

học khi mà giờ đây, điện ảnh có thể kể những câu chuyện dài từ 90-100 phút truyền tải nội dung của những tiểu thuyết và những vở kịch Charles Dickens trở thành nguồn truyền cảm hứng mạnh mẽ cho những bộ phim của Griffith

Xuất phát từ những căn cứ đầu tiên trong hoạt động chuyển thể văn học của điện ảnh, ta thấy một động lực rất lớn của ngành nghệ thuật non trẻ này chính là tự cải thiện mình để bắt kịp với giá trị đã tồn tại lâu đời của ngôn ngữ, từ những phân cảnh kịch hóa thời kì tiền điện ảnh, từ những bộ phim chuyển thể hiện đại đầu tiên

đủ sức truyền tải chi tiết những cuốn tiểu thuyết đồ sộ lên màn ảnh cho đến sự phát triển của kỹ thuật điện ảnh để bắt nhịp được tinh thần của văn bản gốc Chuyển thể văn học sang điện ảnh do vậy vẫn được coi là tái hiện bởi lẽ “ý thức của chúng ta

Trang 19

không mở ra đối với thế giới mà lại thấm vào thế giới tùy theo hình dạng ý thức hệ của nó, vậy thì mỗi sự biểu diễn trên màn bạc sẽ đều tồn tại trong mối liên hệ với một khối thống nhất nào đó vốn được đặt trong hệ thống kinh nghiệm cá nhân hoặc

đại chúng” [4, trg.366] Các nhà làm phim hay bộ phim (ít nhất là theo phương thức

tái hiện hiện thực) đều phải phỏng theo một khuôn mẫu có trước

Quan niệm này đã bộc lộ những bất cập rõ thấy Thứ nhất, tính trung thành là điều không thể phủ nhận trong chuyển thể nhưng bản thân hoạt động chuyển thể đã mang những mầm mống kháng cự lại tính sao chép tuyệt đối Hoạt động chuyển thể chính là sự cơ giới hóa ngôn từ bằng hình ảnh Dù hai hệ thống này có khả năng tương tác và chia sẻ những mã tự sự thì theo Gombrich, “chuyển thể là quá trình hoàn toàn có khả năng, tuy nhiên không bao giờ đạt được đến độ hoàn hảo, bởi vì mỗi một hình ảnh minh họa đều là một cấu trúc các yếu tố được xây dựng từ sự sử

dụng truyền thống một hệ thống” [4, trg.374] Thêm vào đó, chuyển thể cũng bị giới

hạn bởi khả năng của nó không thể địch lại được với khả năng kể chuyện vô tận của văn chương Những trường hợp bộ phim trung thành với tinh thần của văn bản gốc nhưng phải lược bỏ đi một vài khía cạnh cho phù hợp với khả năng trình diễn của màn ảnh (khả năng này đến từ phía bản thân điện ảnh và từ phía khán giả) vẫn được đánh giá là chuyển thể trung thành Trường hợp của những phiên bản chuyển thể

tiểu thuyết Anna Karenina có thể giúp ta soi chiếu được vào sự mẫu thuẫn trong

quan niệm và cách đánh giá tính trung thành Trong những nhân vật chính của tác phẩm văn học cổ điển này, bên cạnh mối tình của Anna xung quanh hai người đàn ông là chồng và người tình, thì chuyện tình của Kitty cũng được khắc họa và xuyên suốt tác phẩm Thế nhưng, câu chuyện tình yêu không thành của Kitty với Vronsky

và cái kết là cuộc hôn nhân êm đềm với Levin của cô không mấy được các nhà làm phim đoái hoài Họ chỉ tập trung làm nổi bật tuyến nhân vật Anna-Alexei-Vronsky Nhưng khán giả thay vì tốn nhiều giờ để đọc cuốn tiểu thuyết, họ xem phim và vẫn thâu tóm được tinh thần của bộ phim Mãi cho đến bản chuyển thể mới nhất năm

2012, Joe Wright mới đưa lên màn ảnh chuyện tình không kém phần đau đớn và lãng mạn của Kitty với hai người đàn ông trong cuộc đời cô Ngoài ra, những yếu tố

Trang 20

thương mại can thiệp vào điện ảnh cũng gây ảnh hưởng tới nỗ lực làm tròn tính trung thành của điện ảnh khi những nhà sản xuất lo sợ rằng họ sẽ không thể giữ chân khán giả trong một khoảng thời gian quá lâu Sự cắt gọt nội dung của văn bản văn chương nguồn vì vậy trở thành tất yếu Thứ hai, quan niệm về chuyển thể như hoạt động dịch kém sáng tạo đã tước đi mọi quyền lợi của đạo diễn chuyển thể -một kiểu dịch giả, quyền sở hữu tác phẩm của chính mình Tác phẩm chuyển thể vừa là của anh ta vừa không phải Trong các hợp đồng tiêu chuẩn ở Anh yêu cầu loại bỏ

dịch giả khỏi bất kì quyền lợi nào trong dịch thuật Từ đó, dấy lên những vụ kiện

bản quyền giữa văn bản văn học và những bộ phim chuyển thể chỉ mang tính phỏng

tác, hay chuyển thể lỏng (loose adaptation) Vụ kiện trấn động trong giới làm phim kinh dị những năm 1921 là một ví dụ Nguyên tác truyện Dracula thuộc bản quyền

của người vợ quá cố của nhà văn Bram Stoker, song bà đã không bán lại nó nhà làm phim Albin Grau, mặc dù bản quyền của nó được thông cáo là đã thuộc về cộng đồng Mỹ do sơ suất của cục bản quyền Đức Grau đã làm bộ phim với rất nhiều sự

khác biệt so với nguồn văn học, từ nhan đề (Nosferatu) cho đến cốt truyện, nhưng

tòa án liên bang vẫn quyết định tiêu hủy toàn bộ những sản phẩm liên quan đến bộ phim bởi bản quyền vẫn thuộc về người vợ quá cố cho đến kì hạn 50 năm kể từ ngày người sở hữu qua đời May mắn là chúng ta vẫn giữ được một kịch bản của bộ

phim Nosferatu Những nhà phê bình cho rằng, “nếu không có những thay đổi từ bộ

phim này, ma cà rồng sẽ không bao giờ được cho rằng là dễ bị tổn thương dưới ánh mặt trời hoặc có thể bị giết bởi chính kẻ địch của mình”[12] Và không có những cải biến đáng kinh ngạc của Grau thì cũng sẽ không có những bộ phim ma cà rồng

của hiện tại Việc tước quyền tồn tại của Nosferatu thật phi lí, bởi lẽ, “chính tác phẩm Dracula của Bram Stoker cũng được khơi gợi cảm hứng từ nhân vật nổi tiếng

nhất trong lịch sử La Mã, Vlad Dracula, đã được nhào nặn và xuất hiện trong văn học dân gian Stoker đã đắm chìm vào lịch sử, vào truyền thuyết của Transylvania,

điều mà ông ấy gọi là vòng xoáy của sự tưởng tượng [12] để làm nên tuyệt tác của

mình Như vậy, chuyển thể như là tái hiện đã bộc lộ những bất cập và cần phải có một cái nhìn rộng hơn về chuyển thể Những học giả nổi tiếng về nghiên cứu

Trang 21

chuyển thể như Robert Stam và Linda Hutcheon đã bàn về tính trung thành, về quan niệm chuyển thể như là tái hiện như sau: việc để cho văn bản gốc thống trị bản chuyển thể là quy chuẩn cứng nhắc, không đủ để phân tích hiện tượng chuyển thể

1.1.2 Chuyển thể như là kiếp sau

Vậy phải nhìn nhận và đánh giá đúng về chuyển thể ra sao? Trong phần này, luận văn xin nêu ra quan niệm của mình về chuyển thể và coi chuyển thể như là một

cách viết lại tạo ra những tiền kiếp của tác phẩm văn chương nguồn Tuy chuyển thể

như là tái hiện bộc lộ những xơ cứng, song, không một hoạt động chuyển thể nào

lại không có yếu tố tái hiện Để góp phần mở rộng và hoàn thiện thêm khái niệm chuyển thể, nghiên cứu đi vào tìm hiểu khả năng diễn giải của chuyển thể văn học trong sáng tạo điện ảnh Diễn giải ở đây được hiểu là tái hiện lại chủ đề quan trọng của tác phẩm, đưa ra cách hiểu của mình về chủ đề, tư tưởng tác phẩm hay nhấn mạnh một số phương diện nào đó (mà không phải toàn bộ của văn bản nguồn) lên phim Bộ phim chuyển thể có yếu tố diễn giải sẽ luôn gặp phải những câu hỏi từ phía nhà làm phim và độc giả: Bộ phim có quyền diễn giải không? Và nếu có thì

đâu là giới hạn của diễn giải? Để có thể trả lời cho những câu hỏi này, nghiên cứu

sẽ khảo sát những ví dụ có độ lùi về thời gian và đặc biệt liên quan đến hành động

dịch-người anh em sinh đôi của chuyển thể Thời kì trung cổ, những bà đồng ngồi

trên một cái ghế trong các ngôi đền làm nhiệm vụ đọc những chỉ thị toát lên từ khe

nứt lòng đất mà họ cho rằng đó là ý nguyện của thần linh Hành động này thực chất chính là hành động dịch/thông ngôn, không loại trừ khả năng những bà đồng đã

thêm bớt ý kiến cá nhân để hoàn thiện một thứ mệnh lệnh được mã hóa với người

thường Dịch thời kì trung cổ trở thành hoạt động tâm linh quan trọng, ở đó, sản phẩm diễn ngôn của một người được coi là ý nguyện của thần linh mà không có sự đối chất hay nghi ngờ Hay một ví dụ nổi tiếng cũng làm dấy lên quyền hạn của

dịch xuất hiện từ rất sớm trong thần thoại, thơ ca và văn chương- Icarus Khởi

nguyên trong thần thoại Hi Lạp, câu chuyện chủ yếu lưu truyền bằng phương thức truyền miệng Đó là câu chuyên về Icarus và cha mình, Deadalus với đôi cánh huyền thoại cùng cái kết không có hậu mà phiên bản nổi tiếng nhất được Ovid ghi

Trang 22

lại trong Metamorphoses.Trong phiên bản của Ovid, nhân vật chính của chuyện kể

là Daedalus, người được ca ngợi như là một nhà phát minh kì tài Thực tế, tên của Icarus không được đề cập mãi cho đến cái kết của câu chuyện khi bố của Icarus gọi tên nhân vật trước khi rơi xuống biển Câu chuyện được đẩy lên cao trào chính lúc

đó Trong đó, có một dòng thơ được dịch sát với phiên bản của Ovid từ tiếng Hi Lạp: “When the boy boldly began to rojoice in his speed (or wings), he forsook his leader as ambition drew him higher in the skies1 (Tạm dịch: Khi chàng trai liều lĩnh bắt đầu tận hưởng tốc độ của mình, anh ta đã làm mất đi sự tỉnh táo bởi ước vọng bay cao hơn nữa trên bầu trời)” Các bản dịch từ thời của Ovid đã mang đến những sắc thái khác nhau Chúng tôi thử đối chiếu hai bản dịch của Arthur Golding và George Sandy để tìm ra những cách dịch khác nhau:

When the Boy a frolicke courage

caught

To flie at random

Whereupon forsaking quight his guide,

Of fond desire to flie to Heaven, above

his boundes he stide 2

When the boy, much tooke With pleasure of his wings, his Guide forsooke:

And rauisht with desire of heaven, a loft Ascends

Trong bản dịch của Arthur, từ frolicke ám chỉ một điều gì đó vui vẻ khi sử dụng

nó như một tính từ Vì thế, Golding tập trung vào sự dũng cảm vui vẻ của Icarus, trong khi George Sandys tập trung vào niềm vui sướng của mình với đôi cánh trên

vai George dường như đã dịch với một ý tưởng về ước mơ cổ xưa của loài người về

hành động bay, nhấn mạnh vào hành động bay của Icarus vốn được xem như là truyền thuyết đầu tiên về hành động này Không chỉ Arthur hay George có những cách biệt về việc dịch mà còn rất nhiều dịch giả khác khi tiếp cận với nguyên tác

1

http://www-personal.umich.edu/~jimw/ myths/Metamorphoses%20-%20Ovid,%20p rose.html

Trang 23

của Ovid đã cấy ghép vào trong đó một ý tưởng của riêng mình như Sir Samuel Garth, Dryden, Pope…nhấn mạnh khát vọng con trẻ của Icarus, và cuối cùng Brookes More đã đem câu chuyện của Icarus sang bối cảnh thế kỉ 20 và nhấn mạnh vào sự kiêu hãnh và trống rỗng:

“Proud of his success,

the foolish Icarus forsook his guide,

and, bold in vanity, began to soar,

rising upon his wings to touch the skies”3

Rõ ràng, phiên bản của Ovid đề cập đến Icarus như là một người có tham vọng lấn át cả sự sợ hãi bị mặt trời thiêu đốt, tuy nhiên hầu hết các bản dịch lại tập trung vào sự hiếu thắng và ngu ngốc của tuổi trẻ Icarus dẫn đến sự hủy diệt

Nhờ các phiên bản dịch khác nhau này mà cho đến tận thế kỉ 20, hình ảnh Icarus vẫn có sức sống và trở thành biểu tượng của con người cần phải mở rộng giới hạn của sự tưởng tượng Hành động thông ngôn của các bà đồng, hay đặc biệt là câu chuyện về Icarus thực chất đều xuất phát từ một nguồn (tự trị hay được coi tự trị tạm thời) nhưng lại có thể diễn giải theo rất nhiều cách khác nhau “Ở một mức độ nào đó, dịch, bản thân nó chính là diễn giải, nhưng một khi câu chuyện được đặt vào một hình thái khác, ví dụ như một bức tranh hay một bài hát, cấp độ mới của

diễn giải hiện diện trong chính bản thân chúng” [13, trg.12] Tính chất sáng tạo của

dịch được mặc nhiên thừa nhận cho đến thời kì Khai sáng với sự trỗi dậy về ý thức

cá nhân Tại đây, quan niệm về dịch/chuyển thể bị co lại hạn hẹp trong những vấn

đề về tính trung thành (fidelity issue) mà ở trên chỉ ra tính bất cập của nó Mặc dù,

ta đã chứng mình được tính không toàn diện của hành động chuyển dịch cơ giới giữa hai hệ thống ngôn ngữ (điện ảnh và văn học) nhưng số phận của phim chuyển thể không phải chỉ là những phiên bản tái hiện luôn luôn có sự sai khớp với văn bản gốc, mà nó có thể trở thành “một công cụ có thể được sử dụng để mở ra văn bản

nguồn với sự diễn dịch mới” [13, trg.14] Bộ phim giờ đây không chỉ là một cách

viết mà còn là một cách đọc

3

http://amandaeblog.blogspot.com/2005_04_01_archive.html

Trang 24

Chuyển thể vì vậy có thể tìm thấy điểm tương đồng trong lý thuyết về diễn dịch

Quan niệm chuyển thể như là diễn giải không chỉ được củng cố từ những thông điệp thời trung cổ mà đã được các nhà nghiên cứu quan tâm Theo lý thuyết diễn dịch

của Wilhem Dilthey, “lý thuyết vòng thông diễn, tập trung vào lý thuyết diễn dịch,

cho rằng sự lý giải về một văn bản chỉ xảy đến sau khi đã có sự thấu hiểu về nó, ấy vậy nhưng sự thấu hiểu từ trước về nó lại được chứng thực bằng sự lý giải cẩn thận

mà nó cho phép Nói cách khác, trước khi thảo luận hay phân tích về một văn bản,

chúng ta phải nắm được khái niệm tổng quát về ý nghĩa của nó” [5] Khi nắm được

khái niệm tổng quát về văn bản nguồn, tức nghĩa, diễn dịch đã trải qua một quá trình thâu nhận vào mình những nhân tố tiên nghiệm từ bản gốc, để từ đó, dịch giả thể hiện những ý tưởng khả thể gắn với sự tưởng tưởng và tương thích của mình

sang một hình thái mới Diễn dịch vì vậy vừa là một bước nhảy, vừa là một quá trình Trường hợp Icarus từ thần thoại cho đến phiên bản đầu tiên của Ovid và hàng

loạt những bản dịch sau đó cũng xảy ra với cơ chế vòng thông diễn Ovid, Arthur, George hay Brookes…đều bắt đầu từ việc nắm được nội dung của câu chuyện thần thoại (văn bản tự trị), sau đó “loại trừ Icarus ở vị trí trung tâm hoặc bằng cách loại

bỏ Daedalus ra khỏi bức tranh mà hai nhân vật cùng tồn tại, người nghệ sĩ đang tạo

ra một trần thuật mang tính diễn giải bằng cách yêu cầu độc giả tập trung vào những

khía cạnh khác của câu chuyện” [13, trg.12]

Cơ chế diễn giải này trong chuyển thể bắt nguồn từ việc đọc Joy Gould Boyum

trong Double Exposure: Fiction into film cho rằng “cả khán giả và nhà làm phim đều là người đọc” [17, trg.30] Bà tranh luận rằng mỗi người xem đại diện cho một

cách diễn giải về chuyển thể khác nhau phụ thuộc vào việc họ có hoặc không áp đặt

sự kì vọng của mình vào bản chuyển thể Theo Boyum, “người xem lí tưởng là người mà sự tái biểu tượng hóa của họ về một tiểu thuyết cụ thể nào đó sẽ đấu tranh

với sự tái biểu tượng của tiểu thuyết lên phim” [17, trg.30] Vậy điều gì đã tạo ra những cuộc picnic diễn giải và trao quyền cho người đọc đến thế? Umberto Eco đã

trao cho chúng ta câu trả lời qua những bài viết về lý thuyết tác phẩm mở Quan điểm chuyển thể là diễn giải lại rõ ràng ngày càng được các nhà làm phim thích thú

Trang 25

Neil Sinyard trong Filming Literature (1986) cho rằng: Nghệ thuật chuyển thể quan

tâm việc diễn giải nhiều hơn là việc tái sản xuất và, cuối cùng, chuyển thể là sự tiếp cận tốt nhất với tư cách một hoạt động của phê bình văn học, không phải sự minh họa bằng hình ảnh của toàn bộ cuốn tiểu thuyết [37, trg.49] Cha đẻ của lý thuyết chuyển thể- Andre Bazin cũng quan niệm: chuyển thể điện ảnh được định nghĩa là quá trình chuyển hóa mà không nên cố gắng để tái sản xuất nguồn văn bản gốc Nhiệm vụ của nhà làm phim là phải có sự tưởng tượng thị giác đủ để tạo ra sư tương thích trong phong cách giữa phim và văn bản, nếu không thì, đó chỉ là sự tưởng tượng [14, trg.49] Nhiệm vụ của một nhà làm phim là chuyển thể chất liệu

văn chương đến chính cách tiếp cận của mình bằng cách chọn ra những tình tiết, bao gồm cả những cái khác nữa, và đưa ra một sự thay thế Một phim chuyển thể tuyệt với sẽ mang đến cho văn chương cuộc đời kịch tính và sống động mà không phải lo sợ sẽ chà đạp lên cuốn tiểu thuyết bằng cách chiếm lấy tự do với những nhân vật và cấu trúc khi đưa ra những cách đọc thuyết phục hơn về văn bản nguồn Rõ ràng là hằng hà vô số những khả năng của thị giác hóa khiến cho quan niệm chuyển

thể như là diễn dịch rất quan trọng Nó cho phép chúng ta-với tư cách là người đọc,

giáo viên, nhà phê bình và học sinh của chúng ta so sánh cách đọc với nhau, điều

mà sẽ tạo nên cộng đồng [14, trg.61] Coi chuyển thể như là diễn giải của tiểu

thuyết mở ra một khả năng mới cho cả hai hình thức Tóm lại, mọi hoạt động

chuyển thể đều không thể loại trừ sự tái hiện Song, ta nên nhớ rằng, việc làm một

bộ phim cũng tương đương với quá trình đọc một văn bản văn chương mở và là quá

trình diễn dịch Chuyển thể từ đó mở ra các khả năng: minh họa, đọc và diễn giải

(viết lại)

Quá trình làm phim trở thành quá trình cấp cho văn bản nguồn những nét nghĩa mới bởi khi chuyển thể, điện ảnh phải sử dụng chất liệu và phương tiện mang đặc trưng điện ảnh và bộ phim luôn được xác lập dựa trên một ngữ cảnh xã hội nhất định Ngữ cảnh này có tác động ít nhiều đến quá trình diễn giải mà chúng tôi sẽ làm

rõ trong phần sau

Trang 26

Bản chất của chuyển thể đã làm lung lay tính trung thành của nó Các phiên bản

phim chuyển thể giờ đây đã mạnh dạn viết lại, lược bỏ hoặc cấy ghép những cách

đọc khác của đạo diễn Người xem trở nên thích thú với việc tiếp cận những lăng

kính mới mà không quá quan tâm đến tính trung thành Sự khơi gợi hình tượng gián tiếp và những câu chuyện có đề tài mang tầm nguyên lí phổ quát cho nhân loại mọi

thời đã tạo những khe lạch để những dòng suối mới chảy qua, bồi đắp thêm vào đó,

để huyền thoại trở nên vĩnh hằng hơn trong dòng chảy lịch sử Cách hiểu này mang đến cách hiểu rộng rãi nhất về chuyển thể Bộ phim không chỉ là dịch, không chỉ chuyển thể cái gì, như thế nào mà còn là chuyển thể nhằm mục đích gì, tương tác với ngữ cảnh đương đại, chính trị ra sao Chuyển thể không phải là để minh họa cho tác phẩm sẵn có hay đưa ra một cách đọc chủ quan mà bằng việc đưa ra diễn giải-tạo ra đối thoại, tác động, mượn chuyển thể để nói một cái gì đương đại Chuyển thể

vì thế có thể quan tâm tới sự hồi ứng của công chúng, tới nhu cầu thẩm mĩ thời đại Chuyển thể như là kiếp sau của nguyên tác mang cái nhìn rộng nhất, trở thành hành động bứng trồng nguyên tác vào ngữ cảnh mới, xã hội mới Trường hợp của Kurosawa trong chuyển thể điện ảnh đã trở thành điển phạm trong cách diễn giải,

tạo ra hậu kiếp Bộ phim The bad sleep well (1960) được xem như phiên bản Nhật Bản hiện đại chuyển thể từ tác phẩm Hamlet của William Shakespeare Bộ phim

thiết lập bối cảnh Nhật Bản hiện đại ở thế kỉ 20 thay vì Đan Mạch thế kỉ 16 như trong truyện Nhân vật chính là Nishi, người vừa bị mất cha, ngài Furuya- viên chức

ở Tập đoàn xã hội về phát triển nhà đất Một trong những bi kịch của Nishi chính là hành động tự tử của cha mình khi ông nhảy từ tầng bảy của tòa nhà xuống Sau đó, Nishi trở thành thư kí của Tập đoàn xã hội và cưới Yoshiko-con gái của ông chủ công ty, Iwabuchi như một phần trong kế hoạch điều trần nguyên nhân sự qua đời của người cha Ở mặt này, Kurosawa đã bảo lưu motif báo thù trong Hamlet bằng quyết tâm trả thù cho cha của Nishi Trong khi nhân vật Yoshiko, người bị lợi dụng

và phải chịu đựng những điều khủng khiếp gợi nhớ đến con người thứ hai Hamlet, khi hành động đê hèn của cha cô bị phơi bày, cô đã hóa điên Bộ phim kết lại khi Nishi bị giết và Iwabuchi giành chiến thắng Bộ phim mang đến một thông điệp về

Trang 27

thời đại, đó là mối liên kết đê hèn giữa doanh nghiệp và chính phủ chỉ vì một mục tiêu lợi nhuận Nó ám chỉ về sự mục ruỗng từ bên trong của Nhật Bản hiện đại Qua trường hợp này, ta thấy rằng hạt nhân của kiếp sau trước hết phải nằm chính những

đề tài, motif mà văn học mang đến cho điện ảnh Đó phải là những nội dung, motif mang tính chất phổ quát nhân loại Điều này lí giải tại sao những bộ phim thuộc chủ

đề tình yêu kinh điển luôn được chuyển thể không phải một lần, mà sẽ là viễn cảnh của sự vô hạn

Chuyển thể giờ đây không còn là tái hiện, mô phỏng, sao chép mà đã là hành vi sáng tạo, bứng trồng và tạo ra những kiếp sau của sinh thể nguồn Trên thực tế các quan niệm này không loại trừ lẫn nhau và mục đích của luận văn là nhằm xây dựng quan niệm chuyển thể tự do hơn, rộng rãi hơn bởi chỉ khi đó mới có thể khích lệ sự sáng tạo của đạo diễn, xóa bỏ tính chất đúng sai trên khung qui chiếu chuyển thể Ta cần xem chuyển thể văn học trong sáng tạo điện ảnh là một biểu hiện của đời sống liên văn bản của tác phẩm văn học Một quan niệm như vậy sẽ cho phép chúng tôi

tiếp cận Bốn đêm của kẻ mộng mơ và Người yêu dấu với những diễn giải kì thú như

là một sinh mệnh mới quẫy đạp và đối thoại lại với chính văn bản gốc Những đêm

trắng Một trong những lí do thúc đẩy hoạt động chuyển thể là tiềm năng của văn

bản gốc Phần tiếp theo, nghiên cứu sẽ đi vào phân tích những tiềm năng của văn

bản nguồn Những đêm trắng

1.2 Tác phẩm Những đêm trắng

1.2.1 Các phiên bản chuyển thể Những đêm trắng

Tác phẩm Những đêm trắng của Dostoevsky được xuất bản năm 1848 là câu

chuyện đẫm nước mắt về thế giới mộng tưởng đẹp đẽ của tinh thần và đề tài tình

yêu bi kịch Không kinh điển như Romeo và Juliet nhưng cấu trúc và đề tài của

truyện đã trở thành nguồn cảm hứng lớn cho các nhà làm phim Phim đã được chuyển thể tới chín lần và còn hứa hẹn một tiềm năng chuyển thể trong tương lai xa

hơn Những phiên bản chuyển thể được ghi nhận theo trang

http://dostoevsky- film-adaptations/#nights là: (Le notti bianche, 1957) của đạo diễn người Ý Luchino

Trang 28

bts.com/blog/124-dostoyevsky-film-adaptations/"bts.com/blog/124-dostoyevsky-Visconti; (Belye nochi, 1959) của đạo diễn người Nga Ivan Pyryev, (Bốn đêm của

kẻ mộng mơ, 1971) của đạo diễn người Pháp Robert Bresson, (Shabhaye Roshan,

2003) của đạo diễn người Iran Farzad Motamen, ba phiên bản của các đạo diễn Ấn

Độ, (Chhalia, 1960) của Manmohan Desai, (Iyarkai, 2003) của Jananadhan, (Ahista

Ahista, 2006) của Shivam Nair , (Saawariya, 2007) của Sanjay Leela Bhansali,

(Two Lovers, 2008) của đạo diễn người Mỹ James Gray… và phiên bản mới nhất

của đạo diễn người Pháp Nariman Turebaev (Приключение (Adventure) 2015)

Những phiên bản chuyển thể này, trừ phiên bản của Visconti thì hầu hết đều có sự dịch chuyển không-thời gian so với văn bản văn chương nguồn Sự gặp gỡ trong tâm lí chuyển thể này rõ ràng phải xuất phát từ tiềm năng của văn bản văn chương nguồn và sự đồng cảm của nhà làm phim với thiên tài Dostoevsky Với dung lượng

ít ỏi, Những đêm trắng đã trở thành một hiện tượng chuyển thể đáng ghi nhận với

nhiều phiên bản trải dài từ thế kỉ 20 sang thế kỉ 21 của chúng ta ngày nay

Việc lựa chọn ra phiên bản chuyển thể nào để quan sát dòng chảy của liên văn hóa không phải là một quyết định dễ dàng Dựa trên tỉ lệ tương đồng và khác biệt về cấp độ hình tượng và thể loại, dựa trên khả năng tiếp cận và hiểu được các bộ phim cũng như niềm yêu thích cá nhân, chúng tôi chọn ra hai phiên bản, một đại diện cho văn hóa phương Tây thế kỉ 19, một đại diện cho văn hóa phương Đông thế kỉ 20 là

Bốn đêm của kẻ mộng mơ và Người yêu dấu Cả hai phiên bản này đều có sự bảo

lưu trên bề mặt phim những biểu hiện không quá đứt quãng với văn bản nguồn như không gian, nhân vật và đặc tính gắn với nhân vật… song cũng có những “viết lại”

táo bạo, vừa lạ lẫm với Những đêm trắng lại vừa thân quen với và được khán giả

bản địa đón nhận nồng nhiệt Nói cách khác, đây là hai trường hợp người xem dù có

thể đoán được ngay văn bản nguồn là Những đêm trắng song vẫn yêu thích và tìm

thấy linh hồn dân tộc mình trong đó Nó trở thành một sản phẩm văn hóa “nhập khẩu” (về ý tưởng) thành công

Trang 29

1.2.2 Tiềm năng chuyển thể

1.2.2.1 Tiềm năng từ đề tài

Không quá khi cho rằng Dostoevsky đã hình thành cho mình một dòng phim riêng, khi rất nhiều tác phẩm của ông đã được chuyển thể qua nhiều quan điểm văn hóa khác nhau Những tiềm năng từ tác phẩm của Dostoesky xuất phát từ tính cách Nga đậm đặc của ông, đồng thời xuất phát từ tính quốc tế trong suy tư của nhà văn

Nếu như mọi thiên tài đều mang tính dân tộc chứ không có tính quốc tế, và thể hiện cái toàn nhân loại ở trong cái dân tộc tính, thì điều này đặc biệt đúng đối với Dostoevsky Ông thật Nga một cách đặc trưng, là thiên tài Nga nhất trong số những nhà văn vĩ đại của chúng ta và đồng thời lại mang tính toàn nhân loại nhất theo ý nghĩa của mình và theo những đề tài của mình [3, trg.25] Ông đã tự khẳng định

“Tôi bao giờ cũng là người Nga đích thực” – ông viết cho A.Maikov về bản thân mình Chúng ta tìm thấy tính toàn nhân loại qua văn chương của ông Fyodor

Dostoevsky như một dấu ấn trong văn học Nga thế kỷ XIX bởi ông không chỉ đơn

giản là mô tả xã hội Nga, ông còn vượt qua những rào cản thời gian để phản ánh bản chất phức tạp và tình huống phức tạp của con người hiện đại Tiểu thuyết của ông có thể được hình thành như sự phản ánh của bất kỳ ai không chỉ với môi trường của anh ta mà còn với chính anh ta là kết quả của những nguyên nhân bên ngoài [3,

trg 26] Do đó, không có gì đáng ngạc nhiên khi các tác phẩm của ông đã ảnh hưởng đến không chỉ những người kế vị ông trong Văn học Nga mà còn các nhà văn khác

từ các nền văn hóa khác nhau xuất hiện trong thế kỷ XX, thế kỷ XXI và xa hơn nữa

Những đêm trắng, một truyện ngắn với dung lượng khiêm tốn nhưng đã hiện diện

qua nhiều không thời gian khác nhau với vô vàn phiên bản chuyển thể của nó cũng trong mình những tiềm năng mời gọi chuyển thể Trong phần này, luận văn sẽ đi vào phân tích những khả năng về đề tài, thể loại và sự hứng thú của những nhà làm

phim với văn bản nguồn Những đêm trắng của Dostoevsky Những phiên bản

chuyển thể này hầu hết đều có sự dịch chuyển không - thời gian so với văn bản văn

chương nguồn - Những đêm trắng Sự gặp gỡ trong tâm lí chuyển thể này rõ ràng

phải xuất phát từ tiềm năng của văn bản văn chương nguồn và sự đồng cảm của nhà

Trang 30

làm phim với thiên tài Dostoevsky Tác phẩm được giới thiệu như là một dạng nhật

kí tự thuật, nhưng theo một bài nghiên cứu thì nó thực chất là hồi kí Nó gợi lại mối tình lãng mạn chóng vánh của người kể chuyện với một phụ nữ trẻ đẹp trong những

đêm trắng của Petersburg Nhân vật nam chính của Những đêm trắng- thực chất là

người kể chuyện khi còn trẻ - một thư kí 26 tuổi Người kể chuyện dành hầu hết thời gian chìm đắm vào ảo giác về thế giới mộng mơ của chính mình Cốt truyện khá đơn giản Trên đường về nhà vào một tối nọ, kẻ mộng mơ đến giúp đỡ một phụ

nữ trẻ, Nastenka bằng cách xua đuổi những kẻ say rượu đang có ý định lợi dụng cô Sau khi giới thiệu bản thân mình và có được sự tin tưởng của cô, kẻ mộng mơ hẹn gặp Nastenka vào tối hôm sau Họ gặp nhau trong mỗi đêm, mỗi lần gặp gỡ, kẻ mộng mơ lại thêm yêu người con gái ấy Hi vọng của anh ta, tuy nhiên, bị vỡ vụn, vào đêm thứ tư Hôn phu của Nastenka, người mà cô luôn nghi ngờ, trở về từ Moscow và mang cô đi Buổi sáng hôm sau, kẻ mộng mơ thức tỉnh, nhận được lá thứ cầu xin sự tha thứ của Nastenka và ngẫm nghĩ về sự cô độc đang chờ đón mình

ở phía trước nhưng vẫn ánh lên niềm lạc quan Những đêm trắng là một trong

những tác phẩm thuộc thời kì đầu trong sự nghiệp sáng tác của Dostoevsky Tác phẩm này có thể được xếp vào thể loại truyện vừa bởi dung lượng và nội dung khá

khiêm tốn Những đêm trắng là tiếng nói bênh vực cho thế giới cảm xúc đầy mơ

mộng của con người, là tác phẩm dành riêng cho trí tưởng tượng lãng mạn Có thế thấy, tình yêu là đề tài xuyên suốt và quan trọng nhất của tác phẩm Và đề tài này đã gắn liền với bước đi của điện ảnh Tình ái đã trở thành đề tài mà điện ảnh đã khai phá ngay từ những bước đi đầu tiên Tình yêu là một hiện tượng xảy ra trong đời sống của chúng ta Khái niệm tình yêu đã được bàn đến rất sôi nổi và được thách thức bởi các nhà triết học, tâm lý học trong suốt lịch sử nhân loại bởi những tác động to lớn đối với sự tồn tại của mỗi cá nhân và xã hội Từ thời Hi Lạp cổ đại, những nhà triết học nổi tiếng như Socrates, Plato và Aristole đã tranh cãi về định nghĩa, ý nghĩa và bản chất của tình yêu Những tranh cãi triết học về tình yêu rất

quan tâm đến bản chất của nó Trong cuốn sách nổi tiếng của mình, Symposium, Plato đã bàn về tình yêu trong dạng thức logic, kết luận rằng dạng thức cao nhất

Trang 31

của tình yêu là tình yêu thuần khiết (platonic love), tức tình yêu mà không có sự hấp dẫn nhục dục và nó đáng giá hơn hết thảy những dạng thức khác [26] Những tranh

luận tiếp tục kể từ thế kỉ 20 Bằng sự phát triển những kinh nghiệm khoa học như là sinh học, tâm lý học, xã hội học vào đầu thế kỉ, những tranh cãi về chủ đề tình yêu

đã mở ra những hướng khác Robert Sternberg đã đưa ra ba thành tố của tình yêu (Xem sơ đồ 1)

Sự thân tín (Intimacy) là dạng thức mà hai người chia sẻ thân tín và những chi tiết liên quan đến đời sống cá nhân, và thường xuyên hài hòa trong tình bạn và những chuyện tình lãng mạn Dạng thức phổ biến nhất của tình yêu là sự hấp dẫn giới tính và niềm đam mê Tình yêu đam mê được kết tinh và phản ánh trong sự say đắm cũng như tình yêu lãng mạn Cuối cùng là tình yêu cam kết- sự mong đợi rằng mối tình sẽ mãi vĩnh cửu Tất cả các dạng thức của tình yêu được xem như là sự kết hợp đa dạng của ba yếu tố này Không có tình yêu nào lại không chứa đựng ba yếu

tố ấy Trạng thái thích một ai đó (liking) chỉ bao gồm chỉ sự thân tín Tình yê u say đắm chỉ bao gồm đam mê Tình yêu trống rỗng chỉ bao gồm sự cam kết Tuy nhiên, tình yêu lãng mạn bao gồm cả sự thân tín và niềm đam mê Tình yêu bền chắc và sâu đậm (Companionate love) bao gồm sự thân tín và cam kết Tình yêu say đắm (Fatuous love) bao gồm niềm đam mê và sự cam kết Cuối cùng, tình yêu trọn vẹn (Consummate love) bao gồm cả ba yếu tố trên [33, trg.119-135]

Trong Những đêm trắng, vào đêm đầu tiên, hai nhân vật trở nên thân thiết với

nhau và ở đêm thứ hai, họ kể cho nhau nghe về câu chuyện của mình Trong hai đêm này, sự thân mật được hình thành; điều đó có nghĩa là họ đang ở nấc thang đầu tiên của tình yêu của sự quí mến, tương tự như tình bạn (linking/friendship) (Xem bảng 2 [21, trg.232]): “Ông đừng phải lòng mà yêu em…Điều đó không thể được,

em cam đoan với ông Em sẵn sàng kết bạn với ông, đây, tay em đây…”[5;26] Trong đêm thứ ba, người kể chuyện ngày càng bị hấp dẫn bởi Nastenka, anh ta bước sang nấc thứ hai của tình yêu trên nền tảng của niềm đam mê, nhưng Nastenka vẫn duy trì ở nấc thang thứ nhất

Trang 32

Kẻ mộng mơ Nastenka

“Và bây giờ tôi càng biết hơn bao

giờ hết là tôi đã để phí hoài những năm

tháng tốt nhất của đời mình! Bây giờ tôi

biết điều đó, và tôi càng cảm thấy đau

buồn hơn bởi điều nhận biết đó, vì rằng

chính Đức Chúa Trời đã ban tặng cô

cho tôi, hỡi thiên thần tốt bụng của tôi,

để nói với tôi và chứng tỏ với tôi điều

đó Bây giờ, khi tôi ngồi cạnh cô và nói

với cô, tôi lại khiếp sợ khi nghĩ đến

tương lai, vì rằng trong tương lai sẽ lại

là cô đơn, lại là cuộc sống mốc meo,

không cần thiết; và tôi còn biết ước mơ

gì nữa, khi trong đời thực tôi đã được

hạnh phúc đến vậy bên cạnh cô! Ôi,

Chúa sẽ ban phước cho cô, hỡi cô gái

dịu hiền, vì rằng cô đã không xua đuổi

tôi ngay từ lần gặp đầu tiên, vì rằng bây

giờ tôi có thể nói, ít ra tôi đã được sống

hai buổi tối trong đời mình!” [5,

trg.50-51]

“Bây giờ chúng ta sẽ bên nhau; bây giờ dù có chuyện gì xảy ra với em đi nữa, chúng ta cũng sẽ không bao giờ xa nhau…Bây giờ em đã biết ông, biết hết, biết hết tất cả rồi Và ông biết sao không? Em muốn kể cho ông nghe chuyện của em, kể hết không giấu giếm điều gì Rồi sau đó, xin ông cho em một lời khuyên…Em không cần lời khuyên thông minh, em cần một lời khuyên chân tình, anh em, một lời khuyên như

thể ông đã yêu em cả thế kỉ nay ấy!” [5,

trg.55-56]

Trong lời tâm sự của kẻ mộng mơ với Nastenka, ta đã thấy một niềm hạnh phúc được sóng đôi cùng cô, đây là trạng thái thể hiện cho sự tăng tiến từ nấc thang thứ nhất của tình yêu lên nấc thang thứ hai Còn với Nastenka, sự tăng tiến của cô lại nghiêng về phía thân mật/thân tín nhiều hơn Cô chỉ coi kẻ mộng mơ như một người bạn, người anh trai thân thiết

Trang 33

Ta sẽ áp dụng lí thuyết tam giác tình yêu trên để soi chiếu vào mối quan hệ giữa

kẻ mộng mơ và Nastenka.Trong đêm thứ thứ tư, người trần thuật có một tình cảm sâu sắc và đã thổ lộ nó với Nastenka Trong đêm này, tình yêu của kẻ mộng mơ đã

có biến chuyển ngày một tăng tiến, nhưng Nastenka vẫn ở nấc thứ nhất Vào buổi sáng, họ trở nên cách biệt nảy sinh hành động cam kết qua lá thư của Nastenka Nấc thứ ba của tình yêu đã không nảy sinh ra giữa họ, vì thế, người trần thuật phải xử lí với sự thân mật và đam mê, trải qua một tình yêu lãng mạn, anh ta được bảo trợ với

cả tính thân mật và niềm đam mê mà không xác nhận sự cam kết, và Nastenka duy trì sự thân mật và chỉ trải qua cảm giác thích/ tương tự như tình bạn mà không có cảm xúc gắn kết hay cam kết Cô cảm thấy gần gũi ấm áp mà không có cảm xúc mãnh liệt hoặc cam kết với người kẻ mộng mơ (Chính tình cảm này đã góp phần tạo nên những nảy nở mơ hồ trong người trần thuật về việc anh ta có thể tiến đến một tình yêu mang tính đam mê và cam kết với cô) Ở phần cuối của tác phẩm, người trần thuật chỉ muốn Nastenka có được niềm hạnh phúc mà cô ao ước, anh ta hoàn toàn không oán hận hay bày tỏ sự sở hữu cô mà chúc phúc cho cô Những lời cuối này của kẻ mộng mơ đã mang tinh thần của tình yêu vị tha

Chính chủ đề tình yêu và cốt lõi là kiểu tình yêu vị tha trong Những đêm trắng

đã khiến nó có sức hấp dẫn nhân văn vĩnh cửu Những đêm trắng đã được chuyển

thể tới chín lần, những tư tưởng khác của truyện Dostoevsky có thể được bảo tồn hoặc không, nhưng dường như có một xu hướng là, các nhà làm phim ngày càng tô

đậm chủ đề tình yêu, biến những phiên bản Những đêm trắng trở thành một chuyện

tình đầy phiêu lưu, lãng mạn của thời đại mình, quốc gia mình Nhìn chung, các phiên bản đều bảo tồn trên bề mặt kiểu tình yêu vị tha Và tình yêu giữa hai kẻ mộng mơ và Nastenka đã trở thành một kiểu mẫu mang tính tiềm năng vĩnh cửu đối với nhân loại mọi thời đại

1.2.2.2 Tiềm năng từ thể loại

Điện ảnh thời kì đầu nói riêng và mọi thời đại nói chung luôn cần một nội dung

để kể Những đêm trắng là câu chuyện kể nội dung (chứ chưa phải viết nội dung) Tính mạch lạc của hệ thống sự kiện qua việc phân chia chương của Những đêm

Trang 34

trắng tỏ ra có lợi thế cao so với những tác phẩm viết theo lối dòng ý thức như Đi tìm thời gian đã mất của Marcel Proust bởi nó tạo điều kiện thuận lợi cho đạo diễn

xây dựng các kịch bản phân cảnh Những đêm trắng được phân chia rất rõ ràng

thành 5 chương Mỗi chương được đặt tên theo trình tự thời gian biên niên:

Tên chương Sự kiện Thời gian trần

• Hiện tại • Quá khứ

Đêm thứ hai -Hai người

gặp lại nhau, kẻ mộng mơ định nghĩa về mình cho Nastenka nghe

- Nastenka kể

về hoàn cảnh của mình

- Kẻ mộng mơ giúp Nastenka trao bức thứ đến hôn phu của cô

- Họ thân thiết với nhau hơn và hẹn gặp lại vào

Trang 35

đêm thứ ba Đêm thứ ba - Họ gặp lại

nhau, Nastenka buồn bã vì hôn phu không đến

- Họ chia tay

và hẹn gặp vào đêm thứ tư

Đêm thứ tư - Họ gặp lại

nhau, Nastenka suy sụp vì người tình không đến

Kẻ mộng mơ bày

tỏ tình cảm với cô,

họ gần như trở thành tình nhân

-Vị hôn phu xuất hiện, Nastenka chia tay

kẻ mộng mơ và đoàn tụ với hôn phu

Buổi sáng - Kẻ mộng mơ

tỉnh dậy trong sự chán chường

- Nastenka gửi thư cầu xin sự tha thứ và tình cảm của kẻ mộng

Trang 36

- Kẻ mộng mơ tha thứ và chúc phúc cho cô cùng với một tình yêu thiết tha không thay đổi

Các chương trong Những đêm trắng có quan hệ theo lối diễn giải, theo trật tự

thời gian biên niên Sau mỗi đêm, các nhân vật hiểu rõ hơn về cuộc sống, tính cách,

số phận của nhau, và qua đó, đẩy những cảm xúc của họ lên cao hơn so với chương đầu tiên Kết thúc mỗi chương, mạch truyện vừa mang tính trọn vẹn (cung cấp sâu thêm cho người đọc về nhân vật và sự giao ước của họ) đồng thời tồn tại những bỏ ngỏ chờ được sáng tỏ vào chương tiếp theo Việc phân chia bố cục thành những mảnh hồi ức nhỏ rất phù hợp với kĩ thuật chuyển cảnh của điện ảnh Nếu văn học sử dụng các kĩ thuật ngắt chương, mục, đoạn để hình thành bố cục thì điện ảnh cũng có thể sử dụng các cơ chế này với những trường đoạn phim mang nội dung tương đương chương, mục, đoạn Nhưng không giống như chúng ta lật giở những trang sách để chuyển chương, các nhà làm phim phải làm sau để những đoạn chuyển cảnh của họ trở nên mượt mà, không gây ra hiệu ứng sốc thị giác và đứt đoạn khó hiểu

cho người xem Thêm vào đó, phong cách làm phim Làn sóng mới nói chung và

Robert Bresson nói riêng rất ưa thích việc chia nhỏ các cảnh quay dài và thực hiện hình thức cắt dán, không liền mạch như các đạo diễn thế hệ trước Kết cấu phân

chia theo chương của Những đêm trắng đã giúp nhà làm phim chuyển cảnh được dễ

dàng, dựa vào việc đặt những dòng chữ mang chức năng tương tự của bảng tên thời

kì phim câm hiện lên màn hình Trong phim của Bresson, người xem sống trong câu chuyện của Marthe và Jacques ở hiện tại thông qua lời trần thuật trực tiếp của ống kính máy quay Thậm chí hai hồi ức dài, sự tự thêm vào của cuộc đời nhân vật trước

Trang 37

đó, được giới thiệu gần như trọn vẹn bởi cảnh và được nhìn thấy một cách trực tiếp bởi người xem

Sự ngắt cảnh, dù đột ngột, cũng trở nên mạch lạc và dễ hiểu với người xem, khiến cho diễn tiến của bộ phim trở nên liền mạch, đồng thời bảo tồn được sự hồi hộp do hiệu ứng ngắt cảnh tạo ra

Thêm vào đó, trên bình diện kết cấu bề mặt, Những đêm trắng được cấu tạo

theo kiểu truyện lồng trong truyện Block sự kiện thứ nhất (Truyện khung) ở thì hiện tại qua lời kể trần thuật của kẻ mộng mơ không tên Block sự kiện thứ hai chính là câu chuyện của kẻ mộng mơ ở thì quá khứ kể về chuyện tình yêu với Nastenka Câu chuyện của cuộc đời hai con người nhỏ bé và tình yêu của họ trở

thành nội dung chính Những đêm trắng không có một mạng lưới các tình tiết, sự

kiện phức tạp và dày đặc Cốt truyện mạch lạc nhưng không nhiều sự kiện, thay thế

Trang 38

vào đó, lời văn thiên về mơ tưởng, những khoảng nội tâm mênh mông Kẻ mộng

mơ đã bày tỏ rất nhiều cảm xúc nội tâm cho nhiều đối tượng tại Petersburg: Với bầu trời Petersburg: “Đó là một đêm kì diệu, một đêm mà có lẽ chỉ có thể có được khi chúng ta còn trẻ, hỡi bạn đọc thân mến Bầu trời đầy sao, một bầu trời lộng lẫy đến mức ngước nhìn lên nó ta phải bất giác tự hỏi mình: chẳng lẽ những con người cau

có, trái tính trái nết đủ loại lại có thể sống dưới một bầu trời như thế Đây cũng là một câu hỏi của tuổi trẻ, hỡi bạn đọc thân mến, một câu hỏi rất trẻ, nhưng cầu xin Đức Chúa Trời ban cho bạn thường xuyên hơn câu hỏi ấy!”[5, trg.1] Với những ngôi nhà: “Cả những ngôi nhà cũng quen biết tôi Khi tôi đi ngang qua, chúng dường như chạy ra đón gặp, nhìn tôi bằng tất cả các cửa sổ và hình như nói với tôi:

"Chào anh, sức khoẻ anh thế nào Còn tôi, nhờ trời vẫn khoẻ, đến tháng Năm này tôi sẽ có thêm một tầng nữa" Hay là: "Anh có khoẻ không Còn tôi ngày mai sẽ được sửa chữa" Hoặc: "Hôm rồi tôi suýt cháy rụi, làm tôi sợ quá", và vân vân Trong số đó có những ngôi nhà tôi yêu thích, có những ngôi nhà là bạn thân thiết

của tôi; có một ngôi nhà mùa hạ này sẽ nhờ kiến trúc sư chạy chữa”[5, trg.2]; Với

Petersburg vào mùa xuân: “Có một cái gì đó cảm động không giải thích được trong phong cảnh thiên nhiên Peterburg của chúng ta khi mùa xuân về bỗng phô bày toàn

bộ tiềm năng, toàn bộ sức lực được trời phú cho của mình, lộng lẫy, xanh tươi, rực

rỡ trăm hoa ”6 5, trg.3]; về những cảm giác nhìn từ điểm nhìn của kẻ mộng mơ trong lời tâm sự với Nastenka, và về chính Nastenka: “Niềm vui và hạnh phúc làm cho con người đẹp lên biết bao! Ôi trái tim sôi cháy tình yêu! Dường như ta muốn trút hết trái tim mình sang trái tim bạn tình, ta muốn tất cả đều vui sướng, tất cả đều cười Và niềm vui đó mới dễ lây lan làm sao! Đêm qua lời lẽ nàng chứa bao nhiêu

là dịu dàng, bao nhiêu là chân thành với trái tim tôi Nàng đã chăm sóc tôi, âu yếm tôi biết mấy! Nàng đã khích lệ và vuốt ve trái tim tôi! Ôi bao nhiêu là nũng nịu lả lơi vì hạnh phúc!”[5; trg.23] Sự độc thoại của trí tưởng tượng, những tình cảm lãng mạn đã lấn át tình tiết sự kiện trong truyện, tạo nên những thiếu vắng về xung đột, mâu thuẫn, những mối quan hệ đan cài chằng chéo hay tạt ngang Mối quan hệ của

bộ ba nhân vật kẻ mộng mơ – Nastenka- vị hôn phu của Nastenka cũng không dựa

Trang 39

trên quan hệ đối lập tiêu trừ mà mang tính chất của quan hệ bổ sung Qua cuộc đời của người này, người kia tìm thấy sự giải tỏa và niềm an ủi (dù có tính tạm thời), họ hoàn thiện nhau bởi niềm hạnh phúc của sự sẻ chia và đồng cảm Điều này giữ cho kết cấu bề mặt của truyện khá êm đềm, đơn giản và không tồn tại mâu thuẫn Một kết cấu với các tầng hình tượng nhân vật, sự kiện mỏng như vậy sẽ là mảnh đất màu

mỡ để các nhà làm phim khai thác tiềm năng chuyển thể, tìm ra ngôn ngữ của riêng

mình Những phiên bản chuyển thể của Những đêm trắng rất ít khi giữ lại nguyên

gốc hình mẫu nhân vật và số phận của họ và thường thêm vào những tình tiết có

tính mâu thuẫn hay một nhân vật hoàn toàn mới như trong phiên bản Saawariya

(2007) Những đêm trắng là câu chuyện của hai người, kẻ mộng mơ và Nastenka,

thế nhưng, phiên bản chuyển thể này lại có một nhân vật thứ ba, người xuất hiện từ đầu đến cuối- cô gái điếm Gub Không những thế, cô còn góp phần tạo ra mâu thuẫn cao trào của mạch tự sự phim Mâu thuẫn đỉnh điểm của phim xảy ra khi Raj

bị Sakina từ chối, anh chán chường và tìm đến Gub để giải khuây Cô đã thất vọng

và đuổi anh ra ngoài đường Sau đó, anh còn bị những gã trai quanh cô đánh đập dã man, điều này làm nên thời điểm mang tính thử thách ý chí và nghị lực cũng như phẩm giá của nhân vật Phiên bản phim Ấn Độ đã mang đến một màu sắc gay cấn hơn, bạo lực và xung đột hơn nhờ vào việc thêm thắt sự kiện vào cốt truyện mỏng của văn bản văn chương gốc Điều đạo diễn bảo tồn chỉ còn là motif tình yêu mang tính tình cờ, vị tha Ngoài hai phiên bản chuyển thể thời kì đầu, những bộ phim chuyển thể sau này đều có sự tái tạo lại hình tượng nhân vật và hệ thống sự kiện Chính những khoảng mơ hồ trong lời văn đã tạo ra vừa thách thức, cũng chính là cơ hội cho điện ảnh Thông thường, những đoạn nội tâm là sức mạnh của văn học chứ không phải sức mạnh của điện ảnh Điện ảnh rất khó để cụ thể hóa những điều thầm kín bên trong nội tâm Điều này đặt ra một thách thức cho môn nghệ thuật thứ bảy: Làm thế nào điện ảnh có thể chạm vào những chỗ tinh vi nhất của địa hạt văn chương? Nhưng chính điều này lại kích thích điện ảnh (Từ Tân hiện thực qua phiên bản của Visconti đến Làn sóng mới với phiên bản của Bresson…) bằng cách dùng

tư duy khuôn hình, thủ pháp để thay thế cho sức mạnh lột tả nội tâm của văn

Trang 40

chương Những đêm trắng mang tiềm năng của chuyển thể tạo ra hậu kiếp chính là

nhờ điểm này Điện ảnh khi đối mặt với tác phẩm chẳng khác nào hành động dám dấn thân vào những chỗ khó chuyển thể để tìm ra ngôn ngữ của riêng mình Và phải trải qua quá trình như vậy, tư duy điện ảnh mới ngày càng được kích thích và phát

triển Điều này tạo ra tính tiềm năng cho Những đêm trắng Chắc rằng con số 9

phiên bản chuyển thể chưa phải là con số cuối cùng đối với một tác phẩm nhiều tiềm năng như thế

1.2.2.3 Từ nhà làm phim

Khác với chủ đề thường thấy của phong trào làm phim thời đại Bresson - Làn

sóng mới, ông lại rất ưa thích những tác phẩm văn học cổ điển Với ông, hai nhà

văn khiến ông nể phục và tìm thấy sự đồng điệu trong chất liệu văn chương của họ chính là Georges Bernanos và F.M.Dostoevsky “Có một sự trung thành đáng kinh ngạc về mặt chi tiết nội tại và bình diện bề mặt trong sự phát triển cốt truyện giữa

các phim của Bresson và văn bản mà nó chuyển thể” [42] Hai nghệ sĩ có mối quan

tâm chung về những vấn đề: cái xấu xa và tội ác, về những phụ nữ bị lạm dụng và ngược đãi, về một xã hội suy đồi và sùng bái tiền bạc Trong những bộ phim thời kì đầu của Bresson, ông đã khắc họa những chỗ mập mờ tinh tế trong những quan hệ

liên cá nhân như là sự phảng phất tinh hoa của Dostoevksky Bộ phim Pickpocket (1959) thực sự phản ánh những âm hưởng mạnh mẽ của Tội ác và trừng phạt mặc

dù Bresson tuyên bố đó là kịch bản gốc do ông viết

Cuối những năm 1960, Bresson đã trực tiếp công khai nguồn văn học từ

Dostoevsky cho những bộ phim của mình: Người phụ nữ dịu dàng (Une femme

douce;1968-69) và Bốn đêm của kẻ mộng mơ (Quatre nuits dun reveur ;1970 -1971)

là hai phim dựa trên tiểu thuyết của Dostoevsky, Cô gái nhu mì và Những đêm

trắng Trong khi thực hiện hai bộ phim này, Bresson cũng viết Notes sur le cinematographe (Ghi chú về điện ảnh) và lời bình luận của ông về lý thuyết và thực

hành điện ảnh, thể hiện mối quan tâm đặc biệt tới phương diện hình thức của tiểu thuyết Dostoevsky “Dostoevsky đặc biệt độc đáo xét về mặt kết cấu Tác phẩm của ông phức tạp một cách lạ thường và có kết cấu chặt chẽ, thuần túy nội tại, với

Ngày đăng: 20/05/2020, 08:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lộ Đức Anh (2013), Viết lại Alice: cải biên như một cơ chế văn hóa. Khóa luận tốt nghiệp khoa Ngữ văn- Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viết lại Alice: cải biên như một cơ chế văn hóa
Tác giả: Lộ Đức Anh
Năm: 2013
3. Berdyaev.N (2017), Thế giới quan của Dostoesky, Nguyễn Văn Trọng dịch, NXB Tri thức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới quan của Dostoesky
Tác giả: Berdyaev.N
Nhà XB: NXB Tri thức
Năm: 2017
4. Timothy Corrigan (2013), Điện ảnh và văn học, Nhiều người dịch, NXB Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điện ảnh và văn học
Tác giả: Timothy Corrigan
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2013
5. Dostoevski Phedor (2011), Đêm trắng, Đoàn Tử Huyến dịch, NXB Lao động- Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đêm trắng
Tác giả: Dostoevski Phedor
Nhà XB: NXB Lao động- Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây
Năm: 2011
6. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2011), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2011
7. IU.M.Lotman (2007), Cấu trúc văn bản nghệ thuật, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu trúc văn bản nghệ thuật
Tác giả: IU.M.Lotman
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
9. Nguyễn Anh Ngọc (2011), Bước đầu tìm hiểu nghệ thuật tự sự của điện ảnh qua bộ phim “Brokeback mountain”, Khóa luận tốt nghiệp khoa Ngữ văn- Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu tìm hiểu nghệ thuật tự sự của điện ảnh qua bộ phim “Brokeback mountain”
Tác giả: Nguyễn Anh Ngọc
Năm: 2011
10. Thompson Kristin, Bordwell David (2007), Lịch sử điện ảnh, Nhiều người dịch, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử điện ảnh
Tác giả: Thompson Kristin, Bordwell David
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
11. Thompson Kristin, Bordwell David (2008), Nghệ thuật điện ảnh, Nhiều người dịch, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật điện ảnh
Tác giả: Thompson Kristin, Bordwell David
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
12. Apter, Emily (2001), On Translation in a Global Market, Public Culture 13: 1-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: On Translation in a Global Market
Tác giả: Apter, Emily
Năm: 2001
13. Jonathan Bailey, Nosferatu vs Dracula: A True Copyright Horror Story, PlagiarismToday. 7 Oct. 2007. Web. 26 Jan. 2013.http://www.plagiarismtoday.com/2011/10/17/dracula-vs-nosferatu-a-true-copyright-horror-story/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nosferatu vs Dracula: A True Copyright Horror Story
14. M M Bakhtin (1978), The Forms of Time and the Chronotopos in the Novel, From the Greek Novel to Modem Fiction’ in PTL. A Journal for Descriptive Poetics and Theory of Literature, 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Forms of Time and the Chronotopos in the Novel
Tác giả: M M Bakhtin
Năm: 1978
15. Charles Bane (2006), Viewing Novels, Reading Films: Stanley Kubrick and the Art of Adaptation as Interpretation, The department of English of Louisiana State University Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viewing Novels, Reading Films: Stanley Kubrick and the Art of Adaptation as Interpretation
Tác giả: Charles Bane
Năm: 2006
16. Barthes Roland (1968), Elements of Semiology, Trans. Annette Lavers and Colin Smith, New York: Hill and Wang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Elements of Semiology
Tác giả: Barthes Roland
Năm: 1968
17. Andre Bazin (1967), In Defense of Mixed Media: What Is Cinema?, Ed and trans Hugh Gray vol I, 53-57, Berkeley: U of California P Sách, tạp chí
Tiêu đề: In Defense of Mixed Media: What Is Cinema
Tác giả: Andre Bazin
Năm: 1967
19. Bhawuk, D. and Triandis, H. (1996), “The Role of Culture Theory in the Study of Culture and Intercultural Training”, Landis, D. and Brislin, R.W., Eds. Handbook of Intercultural Training , Sage, Thousand Oaks, pp.17-34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Role of Culture Theory in the Study of Culture and Intercultural Training”, Landis, D. and Brislin, R.W., Eds. "Handbook of Intercultural Training
Tác giả: Bhawuk, D. and Triandis, H
Năm: 1996
20. Joy Gould Boyum (1985), Double Exposure: Fiction Into Film, New American Library, 1989 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Double Exposure: Fiction Into Film
Tác giả: Joy Gould Boyum
Năm: 1985
21. McFarlance Brian (1996), Novel to Film: An Introduction to Theory of Adaptation, Oxford: Clarendon Sách, tạp chí
Tiêu đề: Novel to Film: An Introduction to Theory of Adaptation
Tác giả: McFarlance Brian
Năm: 1996
22. Colin Burnett (2014), Robert Bresson as a Precursor to the Nouvella Vague: A Brief Historical Sketch, Volume 8, Issue 3/3/2004 at www.offscreen.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Robert Bresson as a Precursor to the Nouvella Vague: A Brief Historical Sketch
Tác giả: Colin Burnett
Năm: 2014
24. Leo Chan (2012), A Survey of the New Discipline of Adaptation Studies: between Translation and Interculturalism, Department of translation, Lingnan University, Hong Kong Sách, tạp chí
Tiêu đề: A Survey of the New Discipline of Adaptation Studies: "between Translation and Interculturalism
Tác giả: Leo Chan
Năm: 2012

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w