1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực trạng và định hướng phát triển bền vững sinh kế đô thị cổ hà nội

262 75 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 262
Dung lượng 5,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

phường, có lịch sử phát triển lâu đời, luôn được các nhà quản lý lãnh đạo và cả các nhà nghiên cứu tìm hiểu, tác động thúc đẩy nhằm đảm bảo nơi đây là đầu tàu phát triển kinh tế của Thủ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

VIỆN VIỆT NAM HỌC VÀ KHOA HỌC PHÁT TRIỂN

TRỊNH THỊ HẠNH

THỰC TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG

PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG SINH KẾ ĐÔ THỊ CỔ HÀ NỘI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VIỆT NAM HỌC

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

VIỆN VIỆT NAM HỌC VÀ KHOA HỌC PHÁT TRIỂN

TRỊNH THỊ HẠNH

THỰC TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG

PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG SINH KẾ ĐÔ THỊ CỔ HÀ NỘI

Chuyên ngành: Việt Nam học

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận án này do chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của GS.TS Phạm Hồng Tung Trong luận án sử dụng các hình ảnh, số liệu, kết quả nghiên cứu

là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn theo đúng quy định của cơ sở đào tạo

Tác giả luận án

Trịnh Thị Hạnh

Trang 4

Nhân dịp này, tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo UBND Quận Hoàn Kiếm, UBND Phường Hàng Đào, UBND Phường Hàng Bạc, UBND Phường Hàng Buồm cùng các hộ gia đình, nhân dân trên địa bàn nghiên cứu đã sẵn sàng tham gia khảo sát, trả lời phỏng vấn, tạo điều kiện để tôi có được những tư liệu quý báu, những số liệu xác thực phục vụ cho quá trình hoàn thiện luận án

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu trường Đại học Công nghiệp

Hà Nội, Ban Lãnh đạo khoa Lý luận chính trị - Pháp luật, các đồng nghiệp đã luôn giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình công tác để tôi có thể yên tâm học tập và nghiên cứu

Cuối cùng, tôi xin dành tất cả sự yêu thương và lời cảm ơn tới gia đình: chồng con, bố mẹ, các anh chị em, bạn bè và người thân đã luôn ở bên, động viên, giúp tôi có động lực mạnh mẽ để hoàn thành Luận án

Xin trân trọng cảm ơn!

Nghiên cứu sinh

Trịnh Thị Hạnh

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 8

1 Lý do chọn đề tài 8

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 10

3 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 11

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án 12

5 Phương pháp, địa bàn, giả thuyết nghiên cứu và nguồn số liệu 13

6 Mô tả khái quát địa bàn khảo sát cư dân 20

7 Tính mới của đề tài 20

8 Kết cấu Luận án 21

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 22

1.1 Các nghiên cứu chung về Hà Nội 22

1.2 Các nghiên cứu chung về sinh kế 30

1.3 Các nghiên cứu về sinh kế ở Hà Nội 49

1.4 Một vài nhận xét về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 54

Chương 2 NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ SINH KẾ VÀ SINH KẾ ĐÔ THỊ 57

2.1 Khái niệm sinh kế, sinh kế bền vững và lý thuyết khung sinh kế bền vững DFID 57

2.1.1 Khái niệm sinh kế 57

2.1.2 Sinh kế bền vững 59

2.1.3 Khung lý thuyết sinh kế bền vững DFID 64

2.2 Sinh kế đô thị 71

2.2.1 Đô thị và đặc điểm của đô thị Hà Nội 72

2.2.2 Tính bền vững của sinh kế đô thị 75

2.2.3 Những nội dung cơ bản của khung sinh kế bền vững đô thị 76

Trang 6

2.2.4 Một số cách tiếp cận cơ bản trong nghiên cứu sinh kế bền

vững đô thị 80

Tiểu kết chương 2 84

Chương 3 THỰC TRẠNG SINH KẾ Ở KHU VỰC ĐÔ THỊ CỔ HÀ NỘI 86

3.1 Tổng quan về điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội khu vực đô thị cổ Hà Nội 86

3.1.1 Những đặc điểm tự nhiên 86

3.1.2 Những đặc điểm kinh tế 90

3.1.3 Hệ thống cơ sở hạ tầng 92

3.1.4 Văn hóa-xãhội 94

3.1.5 Về ba phường của đô thị cổ Hà Nội tại Quận Hoàn Kiếm 94

3.2 Thực trạng sinh kế khu vực đô thị cổ Hà Nội 99

3.2.1 Nguồn lực sinh kế 99

3.2.2 Các hoạt động sinh kế cơ bản 134

3.2.3 Các kết quả sinh kế 153

Tiểu kết chương 3 163

Chương 4 ĐỊNH HƯỚNG MÔ HÌNH SINH KẾ,QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO SINH KẾ BỀN VỮNG CHO VÙNG ĐÔ THỊ CỔ HÀ NỘI 165

4.1 Những yếu tố tác động đến sinh kế khu vực đô thị cổ Hà Nội 165

4.1.1 Trình độ nhận thức của người dân không đồng đều 165

4.1.2 Quá trình đô thị hóa nhanh 166

4.1.3 Tác động của quá trình hội nhập và toàn cầu hóa 168

4.1.4 Các cơ chế, chính sách của Nhà nước, của thành phố 170

4.2 Định hướng mô hình sinh kế cho vùng đô thị cổ Hà Nội 174

4.2.1 Các điều kiện xây dựng và triển khai mô hình sinh kế 175

4.2.2 Đề xuất một số mô hình sinh kế 176

Trang 7

4.2.3 Xây dựng lộ trình triển khai thực hiện các mô hình sinh kế 180

4.3 Các chính sách phát triển kinh tế - xã hội đối với khu vực đô thị cổ Hà Nội giai đoạn 2018 - 2030 181

4.3.1 Đối với gia đình làm nghề truyền thống 181

4.3.2 Đối với dự án giãn dân ra khỏi khu vực đô thị cổ Hà Nội 182

4.3.3 Đối với việc bảo tồn, giữ gìn văn hóa, giá trị truyền thống 185

4.4 Quan điểm và cơ sở đề xuất giải pháp đảm bảo sinh kế bền vững cho vùng đô thị cổ Hà Nội 186

4.4.1 Quan điểm đảm bảo sinh kế bền vững cho vùng đô thị cổ Hà Nội 186

4.4.2 Cơ sở của việc đề xuất các giải pháp 190

4.5 Các giải pháp để phát triển sinh kế bền vững vùng đô thị cổ Hà Nội nhằm cải thiện khả năng tiếp cận các nguồn lực sinh kế 192

4.5.1 Các giải pháp để cải thiện nguồn lực sinh kế 193

4.5.2 Tạo môi trường thuận lợi về thể chế chính sách 201

4.5.3 Về tôn giáo, tín ngưỡng 202

4.5.4 Thực hiện xây dựng và quản lý đô thị thông minh 203

Tiểu kết chương 4 204

KẾT LUẬN 206

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 209

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 210

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ĐHQG : Đại học Quốc gia HĐND : Hội đồng nhân dân GDP : Tổng sản phẩm quốc nội

NXB : Nhà xuất bản PVS : Phỏng vấn sâu

VNH & KHPT : Việt Nam học và Khoa học phát triển

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 2.1 Các yếu tố trong hoàn cảnh dễ bị tổn thương 78 Bảng 3.1 Tương quan nhóm tuổi theo Phường sinh sống 102 Bảng 3.2 Mức độ hài lòng với cuộc sống ở khu vực phố cổ hiện nay theo

giới tính 105 Bảng 3.3 Tương quan nguồn vốn kinh doanh theo nhóm tuổi 116 Bảng 3.4 Số học sinh, giáo viên, trường, lớp trong Quận Hoàn Kiếm năm

2016 128 Bảng 3.5 Độ tuổi của người dân trên địa bàn 129 Bảng 3.6 Tương quan nghề nghiệp theo khu vực sống 129 Bảng 4.1 Đánh giá mức độ hài lòng với cuộc sống ở khu vực đô thị cổ

hiện nay theo nhóm tuổi 165

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang

Hình 2.1 Phân tích khung sinh kế của hộ gia đình 64

Hình 2.2 Tài sản sinh kế 77

Hình 3.1 Thời gian sinh sống của các hộ gia đình khu vực đô thị cổ Hà Nội 102

Hình 3.2 Lý do người dân sống ở khu vực đô thị cổ Hà Nội 104

Hình 3.3 Tình hình giao thông ở các tuyến phố 107

Hình 3.4 Mức độ ủng hộ chủ trương dọn dẹp vỉa hè của thành phố 109

Hình 3.5 Tình hình nguồn nước của các hộ gia đình kinh doanh trong khu vực đô thị cổ Hà Nội hiện nay 111

Hình 3.6 Thu nhập bình quân đầu người trong hộ gia đình 114

Hình 3.7 Nguồn vốn kinh doanh của các hộ gia đình 116

Hình 3.8 Những khó khăn trong việc vay vốn của các hộ gia đình kinh doanh 117

Hình 3.9 Mức độ tạo điều kiện, hỗ trợ của chính quyền địa phương về hoạt động sản xuất kinh doanh của các hộ gia đình 118

Hình 3.10 Tình hình thu nhập của các hộ dân chợ đêm trên phố Hàng Đào hiện nay 120

Hình 3.11 Tình hình khách mua hàng ở chợ đêm trên phố Hàng Đào hiện nay 122

Hình 3.12: Tình hình các mặt hàng ở chợ đêm trên phố Hàng Đào hiện nay 122

Hình 3.13 Mức độ hài lòng của người dân về trường học ở khu vực đô thị cổ 125

Hình 3.14 Tình hình trạm y tế phường hiện nay 126

Hình 3.15.Mối quan hệ giữa các hộ sản xuất kinh doanhtrong khu vực 131

Hình 3.16 Lý do lựa chọn thuê mướn lao động của các hộ gia đình 132

Trang 11

Hình 3.17 Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh

ngành nghề truyền thống của các hộ gia đình 138

Hình 3.18 Lý do duy trì nghề truyền thống của gia đình 141

Hình 3.19 Đánh giá tầm quan trọng của việc duy trì hoạt động sản xuất của ngành nghề truyền thống hiện nay 143

Hình 3.20 Vai trò của việc duy trì các ngành nghề truyền thống 144

Hình 3.21 Cách thức bán sản phẩm hiện nay của các hộ gia đình 147

Hình 3.22 Ngành nghề mang lại thu nhập lớn nhất cho phường 151

Hình 4.1 Nghề nghiệp của người dân trên địa bàn 169

Hình 4.2 Mức độ hài lòng với chủ trương giãn dân ra khỏi khu vực phố cổ của thành phố Hà Nội ra khu đô thị Việt Hưng 183

Hình 4.3 Tỷ lệ dân không muốn di dời khỏi khu vực phố cổ 184

Hình 4.4 Mức độ hài lòng với cuộc sống ở khu vực phố cổ 184

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Sinh kế, hiểu theo nghĩa chung nhất là “kế sinh nhai” của con người, tức là cách thức con người (ở cả cấp độ cá nhân và cộng đồng) phát huy tất cả những gì họ có (vật chất và phi vật chất) để tạo ra các phương tiện sống cho bản thân mình Nghiên cứu sinh kế hiện nay không còn là vấn đề mới mà trên thực tế đã trở thành một hướng nghiên cứu rộng mở của khoa học liên ngành Bởi lẽ, để tồn tại và phát triển, con người sống ở bất kỳ một xã hội hay thời đại nào cũng sống dựa trên những sinh kế nhất định Khảo sát, nghiên cứu các

mô hình sinh kế chính là vấn đề cốt lõi để hiểu về cách sống của con người trong thời đại đó Vì vậy, nghiên cứu về sinh kế trở nên phổ biến và phát triển

cả trên thế giới và ở Việt Nam

Tuy nhiên, thực tế cho thấy, các nghiên cứu sinh kế hiện nay ở Việt Nam hầu hết đều tập trung vào nghiên cứu sinh kế ở vùng nông thôn, những nơi có sự “khủng hoảng sinh kế” như: nghiên cứu sinh kế dưới sự tác động của biến đổi môi trường, của đô thị hóa, của biến đổi khí hậu, giao thông, hay nghiên cứu sinh kế dưới góc nhìn của xóa đói giảm nghèo Trong khi đó, nghiên cứu sinh kế của cư dân đô thị đã bắt đầu được quan tâm nhưng vẫn còn khá khiêm tốn Vì vậy, việc tìm hiểu sinh kế đô thị đang đặt ra nhiều vấn

đề hết sức mới mẻ và cần có sự vào cuộc của cả các nhà nghiên cứu và các nhà quy hoạch, lãnh đạo, quản lý để phát triển sinh kế đô thị bền vững, hiệu quả và hội nhập

Hà Nội là thành phố có lịch sử lâu đời, đồng thời, là trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học, công nghệ và giáo dục quan trọng nhất của cả nước Hà Nội là một đô thị luôn giữ vị trí trọng yếu đối với sự phát triển của cộng đồng

- quốc gia dân tộc Việt Nam Vì vậy, vấn đề sinh kế đô thị phải là một trong những vấn đề luôn được quan tâm đặc biệt trong sự nghiệp xây dựng và phát triển bền vững của Thủ đô Đặc biệt, khu vực đô thị cổ Hà Nội với 36 phố

Trang 13

phường, có lịch sử phát triển lâu đời, luôn được các nhà quản lý lãnh đạo và

cả các nhà nghiên cứu tìm hiểu, tác động thúc đẩy nhằm đảm bảo nơi đây là đầu tàu phát triển kinh tế của Thủ đô và là nơi mọi người dân đều có được sinh kế bền vững cũng như mở ra những mô hình sinh kế mới Bên cạnh đó, một loạt các vấn đề đang đặt ra đầy thách thức cho Thủ đô, đặc biệt là khu vực đô thị cổ như mật độ dân số quá cao lại phân bố không hợp lý, ô nhiễm môi trường, hệ thống cơ sở hạ tầng, bệnh viện, trường học và các cơ sở dịch

vụ công, vui chơi giải trí đều quá tải, mức sống của người dân chưa cao Nhiều chính sách của Đảng, Nhà nước và các cấp chính quyền được đưa ra để giải quyết những vấn đề cấp bách trên, nhằm cải thiện môi trường sống của người dân, nhưng sự thay đổi diễn ra còn rất chậm chạp, chưa mang lại hiệu quả cao Tất cả những yếu tố trên vừa tạo ra những thuận lợi, vừa có những thách thức, tác động trực tiếp đến vấn đề sinh kế của người dân Hà Nội, đặc biệt là tính bền vững và hiệu quả của sinh kế

Với tính cách là một giải pháp giảm nghèo, sinh kế bền vững được tiếp cận dựa trên sự lựa chọn chiến lược sinh kế trong phát triển bền vững, cách thức con người duy trì cuộc sống và tầm quan trọng của các vấn đề thể chế Trong nghiên cứu về sinh kế bền vững, luôn đặt con người vào vị trí trung tâm của sự phát triển, cách tiếp cận này tập trung vào các hoạt động giảm nghèo bằng cách để người nghèo tự xây dựng cuộc sống dựa trên các cơ hội của họ, hỗ trợ họ tiếp cận các nguồn lực và tạo dựng môi trường thuận lợi về thể chế và chính sách để giúp họ hiện thực hóa các cơ hội Điều này khác với những nỗ lực giảm nghèo trước đây thường có xu hướng tập trung vào tăng cường các nguồn lực hoặc cung cấp các dịch vụ cho người dân hơn là tập trung vào phát triển con người, nguồn lực quan trọng của sự phát triển

Đối với những người dân ở Hà Nội, nhất là khu vực đô thị cổ, nơi có mức sống cao hơn so với nhiều tỉnh thành của cả nước, thì vấn đề sinh kế trước hết là vươn lên làm giàu Tức là vượt lên trên cách tiếp cận truyền

Trang 14

thống, nghiên cứu sinh kế đô thị bền vững đặt lên ưu tiên hàng đầu sự phân tích các mô hình sinh kế hiệu quả, bền vững, chỉ ra các giải pháp, các “chiến lược sinh kế” để phát huy các mô hình sinh kế đó Đương nhiên, người ta cũng không loại trừ việc nghiên cứu các mô hình, các chiến lược sinh kế phù hợp với các nhóm cư dân đô thị yếu thế để hướng tới mục tiêu xóa đói giảm nghèo bền vững

Như vậy, câu hỏi đặt ra cho các nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách là làm thế nào để tạo được cơ chế, môi trường, cơ hội, nguồn lực để thúc đẩy người dân ở khu vực đô thị cổ Hà Nội đảm bảo được cuộc sống và vươn lên làm giàu, phát triển kinh tế bền vững Điều này đòi hỏi cần có sự khảo sát, phân tích đánh giá các mô hình sinh kế ở Hà Nội để tìm ra mô hình sinh kế bền vững, hiệu quả và phù hợp nhất Đây là một khoảng trống lớn để tác giả

chọn đề tài: “Thực trạng và định hướng phát triển bền vững sinh kế đô thị cổ

Hà Nội:” làm đề tài cho luận án tiến sĩ chuyên ngành Việt Nam học của mình

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1 Mục tiêu

Khảo sát, đánh giá thực trạng sinh kế của cư dân thuộc khu vực đô thị

cổ Hà Nội ở ba phường thuộc quận Hoàn Kiếm: Hàng Đào, Hàng Bạc, Hàng Buồm

Phân tích các yếu tố tác động tới mô hình sinh kế của cư dân tại ba phường thuộc quận Hoàn Kiếm: Hàng Đào, Hàng Bạc, Hàng Buồm

Làm rõ định hướng phát triển sinh kế của người dân trong thời gian tới Trên cơ sở đó đề xuất các kiến nghị, giải pháp nhằm phát triển bền vững các mô hình sinh kế đô thị phù hợp, hiệu quả đối với đô thị Hà Nội trong quá trình hội nhập

2.2 Nhiệm vụ

Để đạt được mục tiêu trên, luận án sẽ đi sâu giải quyết những nhiệm vụ sau:

Trang 15

- Một là, hệ thống hoá một số vấn đề lý luận cơ bản về sinh kế, sinh kế

bền vững và sinh kế đô thị Hà Nội

- Hai là, khảo sát, phân tích thực trạng và định hướng sinh kế đô thị của vùng nội thành ở ba phường thuộc quận Hoàn Kiếm: Hàng Đào, Hàng Bạc, Hàng Buồm của Thủ đô Hà Nội

- Ba là, đề xuất các giải pháp nhằm duy trì, phát triển những mô hình sinh kế hiệu quả, bền vững và phù hợp khác

3 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

3.1 Câu hỏi nghiên cứu

Trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc thành tựu nghiên cứu về sinh kế của người đi trước, luận án hướng tới trả lời các câu hỏi sau:

- Hướng tiếp cận nào phù hợp với nghiên cứu sinh kế đô thị bền vững nói chung và sinh kế ở vùng đô thị cổ Hà Nội nói riêng?

- Thực trạng sinh kế hiện nay ở ba phường thuộc quận Hoàn Kiếm: Hàng Đào, Hàng Bạc, Hàng Buồm vùng nội thành Hà Nội có những đặc điểm gì? Những vấn đề gì đang đặt ra cơ bản và cấp bách nhất trong quá trình hội nhập? Yếu tố nào tác động chủ yếu tới mô hình sinh kế hiện nay?

- Định hướng sinh kế nào là bền vững, hiệu quả và phù hợp hiện nay cho ba phường thuộc quận Hoàn Kiếm: Hàng Đào, Hàng Bạc, Hàng Buồm?

- Các giải pháp để phát triển bền vững mô hình sinh kế phù hợp cho ba

phường thuộc quận Hoàn Kiếm: Hàng Đào, Hàng Bạc, Hàng Buồm?

3.2 Giả thuyết nghiên cứu

- Nguồn lực sinh kế (bao gồm nguồn lực tự nhiên, vật chất, tài chính, con người và xã hội) đóng vai trò then chốt đối với sinh kế hộ gia đình, bởi vì nó quyết định các hoạt động sinh kế được thực hiện và các kết quả sinh kế đạt được

Các giả thuyết nghiên cứu về sinh kế đô thị được đặt ra là:

1) Số lượng dân nhập cư càng nhiều thì hoạt động sinh kế bị ảnh hưởng càng lớn Các cơ chế, chính sách phù hợp và ngược lại có tác động không nhỏ

Trang 16

đến hoạt động sinh kế đô thị

2) Tác động mạnh mẽ của quá trình đô thị hóa sẽ ảnh hưởng khá nhiều tới hoạt động sinh kế từng khu vực đồng thời, tạo ra sự chênh lệch thu nhập giữa các hộ gia đình

3) Khi các nguồn lực phát triển sinh kế bị ảnh hưởng, bị tác động bởi các yếu tố trên, người dân thường có những điều chỉnh phù hợp đối với các hoạt động sinh kế phụ thuộc vào năng lực thích ứng của họ và có thể được phân chia thành hai cấp độ: thích ứng bị động và thích ứng chủ động trong quá trình phát triển sinh kế

4) Để tăng cường năng lực thích ứng về sinh kế của người dân trước tác động của các vấn đề nêu trên trong dài hạn, bên cạnh nỗ lực của người dân, rất cần các biện pháp hỗ trợ của nhà nước nhằm giúp họ chuyển từ thích ứng

bị động sang thích ứng chủ động

Trên cơ sở đó, luận án được thực hiện dựa trên việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu liên ngành của khu vực học hiện đại, phối hợp với phương pháp so sánh, phân tích tổng hợp, khái quát hóa và ở mức độ nhất định là phương pháp khảo sát liên ngành

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận án tập trung nghiên cứu các loại hình sinh kế của cư dân ở ba phường thuộc quận Hoàn Kiếm: Hàng Đào, Hàng Bạc, Hàng Buồm của đô thị

cổ Hà Nội

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về thời gian: Luận án nghiên cứu, khảo sát và phân tích đặc điểm, thực trạng sinh kế trong giai đoạn hiện nay (từ năm 1986 đến nay) so với giai đoạn trước 1986 và định hướng phát triển sinh kế trong giai đoạn tiếp theo

- Về không gian: Luận án nghiên cứu vấn đề sinh kế ở đô thị cổ Hà Nội, thông qua ba phường ở quận Hoàn Kiếm, Hà Nội là Hàng Đào, Hàng Bạc,

Trang 17

Hàng Buồm Đây được coi là ba trường hợp điển hình có tính đại diện cao cho toàn bộ khu vực đô thị cổ Hà Nội, dưới góc nhìn sinh kế Đây là ba phường có những điều kiện tự nhiên, xã hội, lịch sử hình thành và cư dân, hoạt động nghề nghiệp, hoạt động thương mại, dịch vụ có thể đại diện cho hầu hết các phường nội thành Hà Nội Qua đó cho phép tác giả thực hiện so sánh đối chiếu với các phường khác ở Hà Nội cũng như ở các thành phố khác để thấy rõ sự khác biệt trong quá trình định hướng phát triển, bền vững đô thị Hà Nội

5 Phương pháp, địa bàn, giả thuyết nghiên cứu và nguồn số liệu

5.1 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu, nghiên cứu sinh đã phối hợp

sử dụng hệ thống phương pháp nghiên cứu liên ngành của Khu vực học và Nghiên cứu sinh kế Trong đó, một số phương pháp quan trọng nhất đã được sử dụng là:

- Khảo sát thực tế liên ngành: Nghiên cứu sinh đã tiến hành nhiều

đợt khảo sát tại địa bàn nghiên cứu, nhằm quan sát, khám phá về địa bàn

ba phường Hàng Đào, Hàng Bạc, Hàng Buồm với tính cách là một không gian phát triển, không gian sinh kế; phỏng vấn người dân và du khách, chính quyền sở tại, thu thập và kiểm chứng thông tin…

- Phương pháp phân tích - thống kê: được sử dụng để xem xét ảnh

hưởng của (1) các yếu tố tác động đến nguồn lực sinh kế, (2) nguồn lực sinh kế ảnh hưởng đến hoạt động sinh kế, và (3) hoạt động sinh kế ảnh hưởng đến kết quả sinh kế bằng phương pháp bình phương nhỏ nhất OLS

và nguồn số liệu điều tra hộ gia đình tại ba phường của quận Hoàn Kiếm,

Hà Nội

- Phương pháp chọn mẫu:Sau khi xác định được kích cỡ mẫu điều

tra, các hộ gia đình được lựa chọn bằng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên có phân tổ (dựa vào ngành sản xuất chính của hộ) Quy trình chọn mẫu sinh kế bền vững được thực hiện như sau:

Trang 18

- Bước 1: Ở từng phường, lập danh sách các hộ gia đình được điều tra phân theo các sinh kế chính: sản xuất, dịch vụ, du lịch

- Bước 2: Chọn hộ gia đình được điều tra về phát triển sinh kế theo phương pháp chọn ngẫu nhiên dựa trên danh sách hộ đã được phân tổ theo lĩnh vực chính

- Phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi: Nghiên cứu sinh đã tiến

hành điều tra bẳng bảng hỏi người dân tại địa bàn ba phường Hàng Đào, Hàng Bạc, Hàng Buồm với tính cách là một không gian phát triển, không gian sinh kế

 Phương pháp phỏng vấn sâu:phỏng vấn cá nhân (là chủ hộ hoặc một thành viên của hộ gia đình) để tìm hiểu sâu và thu thập ở mức tối đa thông tin ban đầu về chủ đề nghiên cứu Tại mỗi phường, 05 cuộc phỏng vấn sâu cá nhân

đã được thực hiện đại diện cho 3 nhóm sinh kế chính ở địa phương (sản xuất,

du lịch, dịch vụ) Như vậy, đối với ba phường, đã có 15 cuộc phỏng vấn sâu cá nhân được thực hiện vào tháng 10-2017

Thảo luận nhóm tập trung: là phươngpháp thảo luận của một nhóm

các hộ gia đình có chung chủ đề và một số đặc điểm kinh tế-xã hội nhất định phù hợp với chủ đề của cuộc thảo luận nhằm thu thập thông tin từ những cuộc thảo luận với một nhóm từ 6-8 người có chung một số đặc điểm kinh tế-xã hội nhất định phù hợp với chủ đề của cuộc thảo luận Luận án đã áp dụng phương pháp thảo luận nhóm với hai nhóm đối tượng: (1) cán bộ lãnh đạo phường và (2) các hộ gia đình đại diện cho 03 nhóm sinh kế chính Tại mỗi phường, 02 cuộc thảo luận nhóm đã được thực hiện với 02 nhóm đối tượng trên Như vậy,

06 cuộc thảo luận nhóm đã được thực hiện vào tháng 10/2017

Các cuộc thảo luận nhóm tập trung và phỏng vấn sâu được thực hiện dựa trên các câu hỏi đóng hoặc mở để tìm hiểu những thông tin chung về: (1) nhận thức của người dân về thực trạng địa phương, (2) khả năng bị tổn thương về sinh kế của cư dân trước tác động của các yếu tố đô thị hóa, toàn

Trang 19

cầu hóa, (3) các hoạt động thích ứng về sinh kế của các cư dân trước tác động của các yếu tố kể trên và (4) các hình thức hỗ trợ sinh kế của nhà nước do người dân đề xuất Các nội dung cụ thể của phỏng vấn sâu cá nhân và thảo luận nhóm được trình bày ở Phụ lục

5.2 Quy trình thu thập, xử lý thông tin

Quá trình thu thập, xử lý thông tin sơ cấp vê phát triển sinh kế được thực hiện qua 2 bước:

* Bước 1: Thu thập thông tin định tính về sinh kế đô thị Nghiên cứu định tính thường được sử dụng để khám phá những vấn đề kinh tế-xã hội chưa nhiều người biết đến, tìm hiểu nhận thức của cộng đồng về một vấn đề kinh tế-xã hội nào đó và phát hiện những biện pháp can thiệp phù hợp cũng như phát hiện những vấn đề mới phát sinh Có ba phương pháp thu thập thông tin chủ yếu được sử dụng trong nghiên cứu định tính là: (1) phỏng vấn sâu (không cấu trúc và bán cấu trúc), (2) thảo luận nhóm (tập trung và không tập trung), và (3) quan sát, ghi nhận (hình ảnh, mô tả)

Đối với Luận án này, trước hết, nghiên cứu định tính được thực hiện vì cho đến nay, chưa có nhiều nghiên cứu về sinh kế đô thị ở ba phường Hàng Đào, Hàng Bạc, Hàng Buồm nên việc thu thập những thông tin mang tính khám phá là rất cần thiết trước khi tìm hiểu những thông tin cụ thể hơn về vấn

đề này

* Bước 2: Thu thập thông tin định lượng: Trong quá trình phân tích thông tin định lượng liên quan đến đề tài Luận án, dựa trên các thông tin định tính thu thập được, bảng hỏi hộ gia đình của 3 phường đã được xây dựng nhằm thu thập các thông tin định lượng ở cấp hộ gia đình Một cuộc khảo sát

hộ gia đình tại ba phường Hàng Đào, Hàng Bạc, Hàng Buồm đã được thực hiện vào tháng 12/2017 để lấy số liệu phân tích trong luậnán

* Kích cỡ của mẫu phiếu điều tra về sinh kế đô thị: Tổng số hộ điều tra

là 300, trong đó 100 hộ sản xuất, 110 hộ làm dịch vụ và 90 hộ làm du lịch

* Phương pháp tiến hành chọn mẫu điều tra: Sau khi xác định được kích cỡ mẫu điều tra, các hộ gia đình được lựa chọn bằng phương pháp chọn

Trang 20

mẫu ngẫu nhiên có phân tổ (dựa vào ngành sản xuất chính của hộ) Quy trình chọn mẫu điều tra về sinh kế đô thị được thực hiện như sau:

- Bước 1: Ở từng phường, lập danh sách các hộ gia đình được điều tra phân theo các sinh kế chính: sản xuất, dịch vụ, du lịch

- Bước 2: Chọn hộ gia đình ở ba phường: Hàng Đào, Hàng Bạc, Hàng Buồm được điều tra theo phương pháp chọn ngẫu nhiên dựa trên danh sách hộ

đã được phân tổ theo lĩnh vực ngành, nghề chính

* Cách thức thu thập, xử lý thông tin về sinh kế: Nghiên cứu sinh trực tiếp phỏng vấn các thành viên, chủ hộ gia đình thông qua việc trao đổi, mua hàng Cách thức thu thập thông tin này cũng gặp phải hạn chế trong việc có được những thông tin trung thực và đầy đủ nhất Chính vì vậy, số lượng phiếu điều tra hợp lệ chỉ còn 300 phiếu so với 360 phiếu được phát ra Số liệu trong luận án đã được xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0

* Thông tin chính được thu thập và xửlý:Các thông tin định lượng được thu thập bao gồm 8 phần chính: (1) thông tin chung về hộ gia đình; (2) tình hình tại địa phương; (3) các nguồn lực sinh kế; (4) các hoạt động sinh kế; (5) các kết quả sinh kế, (6) các hoạt động ứng phó về sinh kế trước các yếu tố tác động; (7) nhu cầu của hộ gia đình đối với các hình thức hỗ trợ của nhà nước; và (8) sinh kế khả thi hiện nay

Các nguồn lực sinh kế cơ bản của ba phường liên quan đến sinh kế các hộ gia đình

• Nguồn lực tự nhiên: vị trí địa lý, diện tích đất ở và sinh hoạt của các

Trang 21

• Nguồn lực xã hội: các mạng lưới xã hội, tổ chức xã hội, cách thức tiếp cận thông tin (loa, phường, bưu điện, nhà văn hóa, hoạt động công tác tổ trưởng tổ dân phố)

Các hoạt động sinh kế cơ bản của ba phường:

• Sản xuất: đo bằng giá trị sản xuất bình quân hộ một năm

• Dịch vụ: giá trị dịch vụ bình quân hộ một năm của ba phường

• Du lịch:

Các kết quả sinh kế

• Về kinh tế: thu nhập bình quân hộ một tháng của ba phường

• Về xã hội: cơ hội việc làm của mỗi người dân

• Về môi trường: sử dụng tài nguyên thiên nhiên, các vấn đề về ô nhiễm hoặc suy thoái môi trường

Thể chế và chính sách phát triển kinh tế-xã hội liên quan đến sinh kế

ở phường:

• Cấp trung ương

• Cấp thành phố

• Cấp phường

Bối cảnh bên ngoài

• Xu thế toàn cầu hóa

• Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

5.3 Nguồn số liệu

5.3.1 Nguồn dữ liệu thứ cấp

Nguồn dữ liệu sử dụng trong luận án được thu thập từ 5 nguồn chính sau:

*Niên giám thống kê: Đây là ẩn phẩm được Tổng cục Thống kê xuất

bản hàng năm, bao gồm các số liệu thống kê cơ bản phản ánh khái quát thực trạng phát triển kinh tế-xã hội của cả nước, các vùng, các địa phương và một

số vùng lãnh thổ trên thế giới nhằm cung cấp thêm tư liệu tham khảo phục vụ nhu cầu nghiên cứu và so sánh quốc tế

Luận án sử dụng số liệu được công bố trong Niên giám thống kê ở 2 cấp:

 Niên giám thống kê cấp thành phố (Hà Nội)

Trang 22

 Niên giám thống kê cấp huyện (quận Hoàn Kiếm)

* Khảo sát mức sống của dân cư Việt Nam (VHLSS) trong quá trình phát triển sinh kế: Để đánh giá mức sống dân cư phục vụ công tác hoạch định

chính sách và lập kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, Tổng cục Thống kê tiến hành các cuộc điều tra mức sống dân cư với chu kỳ 2 năm một lần (bắt đầu từ năm 2002) Tính đến nay (không kể cuộc điều tra đời sống, kinh tế hộ gia đình năm 1999), đã có 7 cuộc điều tra mức sống dân cư được thực hiện vào các năm 2002, 2004, 2006, 2008, 2010, 2012, 2014 Các thông tin, số liệu thu thập qua khảo sát các năm về sinh kế bền vững phục vụ cho mục tiêu theo dõi

và giám sát một cách có hệ thống mức sống các tầng lớp dân cư Việt Nam; qua các năm; giám sát, đánh giá việc thực hiện Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo trong quá trình phát triển sinh kế; góp phần đánh giá kết quả thực hiện các Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ và các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam

Các số liệu được khai thác từ bộ số liệu phục vụ cho các phân tích của Luận án bao gồm:

Các nguồn lực sinh kế cơ bản: (1) nguồn lực tự nhiên; (2) nguồn lực vật chất (đường giao thông, tiếp cận điện, sử dụng nước sạch, chợ); (3) nguồn lực tài chính (tiền tiết kiệm, tiền vay ngân hàng); (4) nguồn lực xã hội (tiếp cận thông tin)

Các hoạt động sinh kế cơ bản: sản xuất, du lịch, dịch vụ

Các kết quả sinh kế: thu nhập bình quân hộ một tháng, tình trạng nghèo đói

Bối cảnh bên ngoài như toàn cầu hóa, khủng hoảng kinh tế…

* Điều tra về lao động và việc làm tham gia vào phát triển sinh kế: Từ

năm 2007 đến nay, Tổng cục Thống kê hàng năm tiến hành điều tra về lực lượng lao động nhằm đưa ra các đánh giá về thị trường lao động phục vụ sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước Luận án đã khai thác số liệu từ các

Trang 23

cuộc điều tra trong 5 năm gần đây để thu thập thông tin về tình hình lao động

và việc làm ở quận Hoàn Kiếm với ba phường: Hàng Đào, Hàng Bạc, Hàng Buồm của thủ đô Hà Nội

* Các báo cáo, điều tra, nghiên cứu của các tổ chức và cá nhân về phát triển sinh kế được sử dụng để có góc nhìn đa chiều về vấn đề nghiên cứu:

Nhìn chung, báo cáo của các sở, ngành, quận, huyện Thành phố Hà Nội và của Bộ Nội vụ và Tổng cục Thống kê có độ tin cậy khá cao Báo cáo Tình hình kinh tế - xã hội năm 2018; Kế hoạch kinh tế - xã hội năm 2019 của quận Hoàn Kiếm

Bên cạnh đó, nguồn tài liệu thứ cấp được tham khảo và sử dụng ở đây còn bao gồm hàng trăm công trình nghiên cứu đã được công bố về Hà Nội nói chung và về khu vực đô thị cổ Hà Nội nói riêng Ngoài ra còn có những tài liệu nghiên cứu về sinh kế ở các khu vực khác được sử dụng như những nguồn thông tin tham khảo, đối sánh, kiểm chứng

5.2.2 Nguồn dữ liệu sơ cấp

Ba phường Hàng Đào, Hàng Bạc, Hàng Buồm được chọn để nghiên cứu điển hình về sinh kế ở vùng lõi của Hà Nội vì các lý do chính sau:

Thứ nhất, ba phường trên nằm trong khu vực phố cổ lâu đời và nổi

tiếng nhất của không gian lịch sử - văn hóa, không gian phát triển Thăng Long – Hà Nội Các hoạt động sinh kế của người dân ở đây có thể được xem

là rất tiêu biểu cho một số hoạt động sinh kế điển hình của vùng lõi của Hà Nội là sản xuất, buôn bán, dịch vụ, du lịch…

Thứ hai, dân cư ba phường trên đóng góp lực lượng lao động dồi dào

và với kinh nghiệm làm nghề truyền thống hằng nămba phường đã đóng góp khoảng 6.000 tỷ đồng vào giá trị GDP của toàn thành phố Hà Nội Ba phường trên có ảnh hưởng quan trọng, nổi bật đến sự phát triển kinh tế - xã hội của quận Hoàn Kiếm nói riêng và thành phố Hà Nội nói chung

Trang 24

Thứ ba, đây là ba phường nội đô của Hà Nội với nhiều hoạt động sản

xuất kinh doanh đã và đang là những điển hình tốt về phát triển sinh kế đô thị bền vững và hiệu quả của Thủ đô Hà Nội

Tài liệu sơ cấp được sử dụng trong luận án là những nguồn thông tin và

số liệu thu thập được qua khảo sát ở địa bàn nghiên cứu Thông tin thu được

từ phỏng vấn sâu một số lãnh đạo và chuyên viên các sở, ngành; thành phố; quận; phường; các tổ chức và công dân có liên quan đến địa bàn nghiên cứu

6 Mô tả khái quát địa bàn khảo sát cư dân

Điều tra khảo sát đã được thực hiện tại khu đô thị cổ Hà Nội, đặc biệt

ba phường Hàng Đào, Hàng Bạc, Hàng Buồm ở quận Hoàn Kiếm, Hà Nội Sở

dĩ tác giả lựa chọn ba phường này làm địa điểm khảo sát bởi vì đây là ba phường nằm ở trung tâm khu phố cổ Hà Nội, dân số tập trung đông đúc, sầm uất, làm nên đặc trưng riêng của khu vực đô thị cổ Hà Nội, đại diện cho ba nhóm ngành sinh kế nổi bật (sản xuất, kinh doanh, dịch vụ) Hàng Đào là phường kinh doanh buôn bán lụa, vải đã nổi tiếng từ lâu và hiện nay là buôn bán các mặt hàng quần áo sầm uất Hàng Buồm là một phố nghề luôn luôn tấp nập với các dịch vụ du lịch, ẩm thực nổi tiếng ở phố cổ hiện nay Hàng Bạc là một trong số ít phường còn giữ được ngành nghề kim hoàn truyền thống với những nghệ nhân nổi tiếng với đôi tay khéo léo, tài hoa, cẩn thận, tỉ mỉ làm ra những sản phẩm tinh xảo, độc đáo làm nên nét đặc trưng nổi bật của khu đô thị cổ Hà Nội Đến trung tâm thủ đô Hà Nội, không ai không đến thăm phố

cổ, đến phố cổ du khách không thể bỏ qua những con phố đã đi cùng năm tháng lịch sử của người dân Hà thành Ba phường nói trên, vì vậy, chia sẻ đặc điểm chung cùng là nơi thu hút đông đảo khách du lịch trong nước và quốc tế

7 Tính mới của đề tài

7.1 Về khoa học

- Luận án là một công trình nghiên cứu chuyên sâu, hệ thống trên cơ sở

tiếp cận phương pháp liên ngành và về sinh kế đô thị cổ Hà Nội Nghiên cứu tiếp cận trên nhiều chiều cạnh, trong mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại, dưới góc nhìn lịch đại và đồng đại; Luận án đã hệ thống hóa cơ sở lý luận

Trang 25

chung về sinh kế, sinh kế đô thị và đề xuất cách tiếp cận mới cho nghiên cứu sinh kế đô thị bền vững

- Luận án chỉ rõ đặc điểm quá trình phát triển sinh kế đô thị của ba phường Luận án chỉ ra các vấn đề đặt ra trong phát triển sinh kế trong giai đoạn hiện nay và dự báo xu hướng phát triển sinh kế đô thị Hà Nội trong tương lai Đồng thời luận án đã đề xuất được nhóm giải pháp thực tế, có tính khả thi nhằm bảo tồn và phát huy các mô hình sinh kế truyền thống và phát triển cho phù hợp với xu thế hội nhập và phát triển của đất nước

7.2 Về thực tiễn

- Luận án là nguồn tư liệu quan trọng giúp các nhà lãnh đạo, các nhà quản lý, các nhà kinh doanh tham khảo để hoạch định các chính sách, các mô hình sinh kế bền vững để hoạch định các chính sách xây dựng, phát triển kinh

tế, văn hóa – xã hội ở đô thị Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung

- Luận án tiến hành khảo sát các mô hình sinh kế hiện tại ở ba phường của quận Hoàn Kiếm: Hàng Đào, Hàng Bạc, Hàng Buồm thuộc đô thị cổ Hà Nội Đề xuất, lựa chọn mô hình sinh kế bền vững, hiệu quả và phù hợp cho ba phường

ở quận Hoàn Kiếm: Hàng Đào, Hàng Bạc, Hàng Buồm

Trang 26

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN

ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1 Các nghiên cứu chung về Hà Nội

Theo kết quả của một số nghiên cứu, cho đến tháng 11 năm 2015, có ít nhất 8.000 công trình nghiên cứu về Hà Nội đã được công bố ở Việt Nam và nước ngoài [92] Điều này cho thấy một thực tế là, Hà Nội nhận được sự quan tâm mạnh mẽ của các nhà khoa học, không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều nơi trên thế giới, thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau

Việc nghiên cứu về Hà Nội đã được bắt đầu từ khá sớm và phát triển liên tục trong suốt 150 năm qua Theo nhóm nghiên cứu của Vũ Văn Quân và Đỗ Thị Hương Thảo, cho đến năm 2008, diễn trình phát triển của việc nghiên cứu

về Hà Nội có thể được chia thành 3 thời kỳ lớn: Thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, thời kỳ 1946 – 1975 và thời kỳ 1976 – 2008 Trên cơ sở

đó, nhóm nghiên cứu này đã có thống kê – phân tích công phu, chi tiết về số lượng các công trình có liên quan đến Hà Nội xuất hiện trong từng năm và trong từng lĩnh vực

Theo đó, trong thời kỳ thứ nhất đã có 160 công trình được công bố, trong đó số công trình trong lĩnh vực lịch sử là: 115; y tế và thể thao là: 25; kinh tế: 23; nghệ thuật: 23; di tích lịch sử là: 21; địa lý: 20; tín ngưỡng tôn giáo: 18; nhân vật lịch sử: 11; văn hóa và ngôn ngữ: 5 Trong thời kỳ này, phần đông các tác giả là người nước ngoài (các nhà du hành, nhà truyền giáo, nhà buôn, quan chức thực dân… có ghi chép, khảo sát về Hà Nội) Nhìn chung, tuy các công trình nghiên cứu về Hà Nội thời cận đại đã được thực hiện và trình bày theo khuôn mẫu của khoa học xã hội phương Tây nhưng cũng chủ yếu dừng lại ở mức ghi chép, khảo sát, mô tả và ít nhiều có so sánh, phân tích

Trang 27

Trong thời kỳ thứ hai (1946 – 1975), có 234 công trình được công bố, trong đó nhiều nhất vẫn là các nghiên cứu thuộc lĩnh vực lịch sử với 154 công trình; các nghiên cứu thuộc lĩnh vực nhân vật lịch sử: 56; di tích lịch sử: 52; văn hóa – nghệ thuật: 23; địa lý: 23; kinh tế: 22; tôn giáo – tín ngưỡng: 20; văn học – ngôn ngữ: 9; giáo dục: 7 và y tế - thể thao: 4 Đây là thời kỳ nghiên cứu về Hà Nội dường như chỉ là công việc của các nhà khoa học xã hội Việt Nam, đặc biệt là ở miền Bắc Hầu như không có các nghiên cứu của người nước ngoài, kể cả các học giả ở Liên Xô và các nước trong phe xã hội chủ nghĩa Ở phương Tây, tuy đã bắt đầu xuất hiện một số nghiên cứu công phu

về Việt Nam của một số học giả người Pháp, người Mỹ nhưng tại đó Hà Nội chỉ được đề cập đến với ý nghĩa một địa phương, một thành phố của Việt Nam mà thôi

Trong thời kỳ tiếp theo (1976 – 2008), số lượng nghiên cứu về Hà Nội bắt đầu tăng nhanh Theo thống kê của nhóm nghiên cứu Vũ Văn Quân và Đỗ Thị Hương Thảo thì số công trình khoa học về Hà Nội được công bố trong thời kỳ này lên đến 5.619 tác phẩm Trong đó đặc biệt tăng nhanh kể từ đợt

kỷ niệm 40 năm ngày giải phóng Thủ đô (1994) và đặc biệt là trong những năm chuẩn bị cho đại lễ kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội Trong đó các công trình nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực lịch sử là: 1.880 công trình; văn hóa: 3813; văn hóa – nghệ thuật: 1.732; di tích lịch sử - văn hóa: 1.315; tôn giáo – tín ngưỡng: 702; văn học – ngôn ngữ: 64; kinh tế - xã hội: 1.513; kinh tế: 1.256; giáo dục: 209; y tế - thể dục, thể thảo: 48; địa lý: 655; nhân vật: 615 [92]

Tác giả Phạm Hồng Tung tổng kết thời kỳ tiếp theo từ năm 2009 –

2015, qua tổng hợp từ nhiều nguồn số liệu thống kê (của Thư viện Quốc gia, Nhà xuất bản Hà Nội, Trung tâm Hà Nội học và Phát triển thủ đô…), có 424 công trình nghiên cứu về Hà Nội được công bố Bên cạnh đó, còn có 164 luận

án tiến sĩ được thực hiện với các đề tài có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp

Trang 28

đến Hà Nội Đối với các công trình nghiên cứu khoa học, các lĩnh vực được quan tâm nhiều nhất là văn hóa giáo dục (145 công trình) và lịch sử, nhân vật (119 công trình) Về các luận án tiến sĩ, các lĩnh vực được quan tâm lại là kinh tế (24 công trình), y tế, thể dục thể thao (24 công trình), xã hội (21 công trình) Các vấn đề về quản lý nhà nước và pháp luật, môi trường sinh thái, nông nghiệp, nông thôn nhận được sự quan tâm mạnh mẽ

Đây là thời điểm mà Hà Nội đã được mở rộng, tuy nhiên phần lớn các công trình nghiên cứu vẫn tập trung vào không gian Thăng Long – Hà Nội cũ Các công trình nghiên cứu về Hà Nội với địa giới hành chính mới và về phần

“Hà Nội mới” còn chưa nhiều

Tóm lại, thực tế nghiên cứu về Thăng Long – Hà Nội trong suốt hơn

150 năm qua đã khẳng định rằng, nghiên cứu lịch sử - văn hóa Thăng Long –

Hà Nội được chú trọng khai thác nhất Bên cạnh đó, lĩnh vực kinh tế - xã hội cũng giành được sự quan tâm khá mạnh mẽ của giới nghiên cứu về Hà Nội trong hơn 150 năm qua

Nhìn một cách tổng thể, các công trình đã được công bố có liên quan đến Hà Nội có thể được phân loại thành 3 nhóm lớn:

Thứ nhất là nhóm các công trình tiếp cận và nghiên cứu Hà Nội với

tính cách một bộ phận của quốc gia - dân tộc Việt Nam hay của một khu vực xác định như miền Bắc Việt Nam, châu thổ sông Hồng… Các công trình này chính là các bộ lịch sử dân tộc, các công trình nghiên cứu về văn hóa, về kinh

tế - xã hội Việt Nam Bên cạnh đó, còn có nhiều công trình đề cập đến Hà Nội

và một số nội dung, khía cạnh trong đời sống của Hà Nội như lịch sử phong trào yêu nước và cách mạng, về giai cấp công nhân, nông dân, trí thức Việt Nam, về công nghiệp, về làng nghề Việt Nam hoặc về giao thông, kiến trúc Việt Nam… Có thể nhắc tới một số công trình trực tiếp liên quan đến đề tài luận án, như:

Trang 29

Cuốn Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam của tác giả Bùi Văn

Vượng (2002), Nxb Văn hóa Thông tin, đã có cái nhìn tổng quát về các khái niệm nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề thủ công truyền thống; Tác giả đã phân tích khá toàn diện về điều kiện hình thành các làng nghề cũng như tiềm năng và hạn chế trong quá trình phát triển các làng nghề Trong đó có đề cập đến các làng nghề truyền thống của Hà Nội như làng giấy dó Yên Thái, làng gốm sứ Bát Tràng

Công trình Ứng xử cổ truyền với tự nhiên và xã hội của người Việt Bắc

Bộ qua ca dao, tục ngữ của tác giả Trần Thúy Anh (2009), Nxb Văn hóa

Thông tin, gồm 4 chương nghiên cứu về ứng xử cổ truyền với tự nhiên và xã hội của người Việt ở vùng châu thổ Bắc Bộ qua ca dao, tục ngữ Mô hình ứng

xử truyền thống và mô hình mới về ứng xử với tự nhiên và xã hội của người Việt ở vùng châu thổ Bắc Bộ, trong đó có Hà Nội

Cuốn Tổng tập nghề truyền thống Việt Nam do Trương Minh Hằng

(2012), Nxb Khoa học xã hội, chủ biên gồm 6 tập, đã tổng hợp rất nhiều bài viết, công trình, sách của nhiều tác giả về nghề, làng nghề truyền thống ở Việt Nam Ngoài ra, tác giả đã tập hợp rất nhiều nghiên cứu, những bài viết

về các ngành, nghề truyền thống ở Việt Nam như nghề chế tác đá, nghề chế tác kim loại, mỹ nghệ, nghề chế tác gỗ, mây, tre Trong đó có trình bày về các nghề truyền thống ở Hà Nội

Thứ hai là nhóm công trình tiếp cận và khảo cứu về Hà Nội với tính

cách là một chỉnh thể và là một đối tượng nghiên cứu độc lập Những nghiên cứu về nhóm các công trình này không nhiều Một số công trình tiêu biểu có

thể kể ra, như cuốn Hà Nội nghìn xưa được công bố vào năm 1975 của GS

Trần Quốc Vượng và nhà nghiên cứu Vũ Tuân Sán, Nxb Quân đội nhân dân Đây được coi công trình nghiên cứu đầu tiên về Hà Nội với một cái nhìn tổng thể, coi Hà Nội là một đối tượng nghiên cứu độc lập Tuy nhiên, các tác giả chưa nhìn nhận, xem xét Hà Nội dưới góc độ nghiên cứu sinh kế đô thị, để

Trang 30

thấy một Hà Nội luôn luôn tự đổi mới để đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra hội nhập và phát triển

GS Trần Quốc Vượng với cuốn sách Hà Nội – Thủ đô nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1984), Nxb Sự thật, đã trình bày khái quát về sự

thay đổi toàn diện của Hà Nội trong thời kỳ đổi mới Đồng thời, tác giả đã cung cấp rất nhiều thông tin về phát triển kinh tế nông nghiệp, thủ công nghiệp, dịch vụ, của Hà Nội trên cơ sở khai thác tư liệu chính sử

Cuốn sách Trên mảnh đất ngàn năm văn vật (2000), Nxb Hà Nội, sưu

tầm những bài viết của Giáo sư Trần Quốc Vượng đã giải mã, giải ảo từng di tích, từng truyền thuyết, từng địa danh, từng câu ca dao có liên quan đến Hà Nội Ông nhìn thấy thời gian, thấy không gian, vạch ra không chỉ chiều sâu lịch sử văn hoá mà cả quy hoạch, quy luật hình thành và phát triển của vùng đất “thượng đô kinh sư mãi muôn đời”

Cuốn Hà Nội nửa đầu thế kỉ XX (2000) của Nguyễn Văn Uẩn, Nxb Hà

Nội, một công trình đồ sộ với khoảng 3000 trang Tác giả đã nghiên cứu khá chi tiết tỉ mỉ về bức tranh toàn cảnh về Hà Nội, trong đó tác giả đã làm nổi bật hoạt động sinh kế Hà Nội được hiện lên thông qua mô tả kĩ lưỡng theo không

gian địa lý Phải đến tác phẩm Thăng Long - Hà Nội thế kỉ XVII - XVIII - XIX

của Nguyễn Thừa Hỷ, một chuyên luận có cái nhìn khá toàn diện, sâu sắc và

có giá trị khoa học cao, đã đánh giá kết cấu kinh tế - xã hội tiêu biểu của một

đô thị phong kiến tiêu biểu là Thăng Long - Hà Nội mới được trình bày tập trung, chắt lọc từ các căn cứ khá tin cậy là chính sử, địa chí Việt Nam

Trong những công trình nghiên cứu tiêu biểu về Hà Nội, cuốn Lịch sử

Hà Nội (2015) của Philippe Papin do Mạc Thu Hương dịch, Nxb Thế giới, đã

tái hiện một Hà Nội, vùng đất của những huyền thoại cổ xưa, trải qua bao thăng trầm của lịch sử, Hà Nội vẫn luôn xứng đáng là trung tâm của cả nước

mà còn là trung tâm của toàn cõi Đông Dương, như tác giả đã viết: “Trong thành phố Hà Nội xã hội chủ nghĩa hôm nay, những vết sẹo của ba mươi năm

Trang 31

chiến tranh đang dần phai mờ, tiếp nối là biết bao sự huyên náo của thời đại, chứng tích của những nền văn hóa khác nhau vẫn còn hiện hữu”[63]

Đề tài KX.09.12 do GS.TS Phùng Hữu Phú làm chủ nhiệm với đề tài:

“Phương hướng, giải pháp phát huy tiềm lực tự nhiên, kinh tế, xã hội và giá trị lịch sử - văn hóa để phát triển bền vững Thủ đô Hà Nội đến năm 2020” (2010) Tác giả, đã phân tích khá rõ nét những đặc trưng cơ bản của tiềm lực

tự nhiên, kinh tế, xã hội và đưa ra định hướng phát triển cho những nghề thủ công, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề của Thủ đô Hà Nội, đồng thời, cho thấy vai trò hỗ trợ phát triển trên cơ sở ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến hiện đại vào sản xuất của Thủ đô Hà Nội Công trình khẳng định vai trò của khoa học công nghệ hiện đại là việc làm cần thiết cho sự phát triển các làng nghề hiện nay

Bên cạnh đó còn rất nhiều tác phẩm nghiên cứu về Hà Nội, có thể kể

đến như cuốn Thành cổ Việt Nam của Đỗ Văn Ninh, cuốn Tìm lại dấu vết

thành Thăng Long của Phạm Hân, cuốn Thành lũy phố phường con người Hà Nội trong lịch sử của Nguyễn Khắc Đạm, Hà Nội nghìn năm xây dựng, Kiến trúc Hà Nội thế kỉ XIX, XX của Đặng Thái Hoàng Các tác giả, cho thấy nét

rêu phong cổ kính của một Hà Nội xưa với nhiều dấu tích thiêng liêng đã đi sâu vào lòng người dân Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung Một loạt tác

phẩm của nhà Hà Nội học Nguyễn Vinh Phúc như Hà Nội qua những năm

tháng; Hà Nội thành phố nghìn năm; Đường Hà Nội; Hỏi đáp 1.000 năm Thăng Long, Du lịch Hà Nội, Thần tích Hà Nội và tín ngưỡng thị dân; và Lịch sử Thăng Long - Hà Nội… đó là những cái nhìn tổng quát về một Thăng

Long – Hà Nội cổ kính, sầm uất với nhiều ngành nghề đặc trưng

Thứ ba là nhóm các công trình đề cập đến những nội dung, vấn đề,

nhân vật, địa phương… cụ thể của Hà Nội Đây là nhóm có số lượng công trình lớn nhất đi sâu nghiên cứu về một hoặc một vài chủ đề cụ thể có liên quan đến Hà Nội

Trang 32

Hai đề án Bảo tồn và phát triển nghề, làng nghề Hà Nội giai đoạn từ

2010 đến năm 2020 (Ban hành kèm theo quyết định số 554/QĐ -UBND

ngày 27/1/2010 của UBND thành phố Hà Nội) và đề án Phát triển sản phẩm

xuất khẩu chủ yếu của làng nghề Hà Nội giai đoạn 2013- 2020 (Ban hành

kèm theo quyết định số 7430/QĐ- UBND ngày 9/12/2013 của UBND thành phố Hà Nội) đã tổng hợp hiện nay thành phố Hà Nội có khoảng 1.350 nghề

và làng nghề, chiếm gần 59% tổng số làng có nghề trong cả nước Các đề án nhận định trong giai đoạn hiện nay, các làng nghề đang có xu hướng chuyển động tích cực góp phần phát triển sinh kế vùng nông thôn, chuyển dịch cơ cấu theo hướng “công nghiệp- dịch vụ - nông nghiệp” ngay trên địa bàn nông thôn

Đô thị hóa và quản lý kinh tế đô thị ở Hà Nội (2000) của tác giả

Nguyễn Đình Hương, Nxb Chính trị quốc gia, đã đề cập một số vấn đề đô thị hóa và quản lý kinh tế đô thị; thực trạng kinh tế và quản lý kinh tế đô thị ở Hà Nội Từ đó, đề xuất một số giải pháp về đổi mới kinh tế và quản lý kinh tế đô thị ở Hà Nội góp phần phát triển đô thị Hà Nội trong giai đoạn hiện nay

Công trình Văn hóa ứng xử của người Hà Nội với môi trường thiên

nhiên (2002) của tác giả Nguyễn Viết Chức, Nxb Văn hóa thông tin, đã trình

bày những vấn đề chung về môi trường thiên nhiên Việt Nam và cách ứng xử văn hóa của người Việt Nam nói chung và người Hà Nội nói riêng đối với môi trường thiên nhiên Tác giả đã chỉ ra những thách thức của toàn cầu hóa trong điều kiện công nghiệp hóa – hiện đại hóa và đề xuất những giải pháp trong ứng xử văn hóa với môi trường thiên nhiên hiện nay

Lê Du Phong, Nguyễn Văn Áng, Hoàng Văn Hoa, (Viện Nghiên cứu

kinh tế và phát triển) đã bàn khá sâu trong công trình Ảnh hưởng của đô thị

hóa đến nông thôn ngoại thành Hà Nội (2002), Nxb Chính trị quốc gia, về

một số vấn đề lí luận và thực tiễn về đô thị hoá; những tác động ảnh hưởng của quá trình đô thị đến nông thôn ngoại thành Hà Nội và những phương

Trang 33

hướng, giải pháp xử lí những ảnh hưởng của đô thị hoá đối với nông thôn ngoại thành Hà Nội

Vũ Quốc Tuấn với cuốn Làng nghề, phố nghề Thăng Long - Hà Nội trên

đường phát triển (2010), Nxb Hà Nội, đã cung cấp cho luận án những cứ liệu

hữu ích về thực trạng làng nghề, phố nghề Hà Nội, những thành tựu chủ yếu khôi phục và phát triển làng nghề, phố nghề Hà Nội; phương hướng phát triển, những nhóm giải pháp chủ yếu phát triển làng nghề, phố nghề Hà Nội trong thời kỳ mới Trong đó, luận án có thể học hỏi những ý tưởng về giải pháp để phát triển làng nghề, phố nghề Hà Nội như: xây dựng chiến lược sản phẩm xúc tiến thương mại, phát triển thị trường, về vốn cho sản xuất, kinh doanh, bảo vệ môi trường, bảo đảm mặt bằng cho sản xuất kinh doanh, ứng dụng khoa học, công nghệ, nâng cao chất lượng đội ngũ lao động kỹ thuật, tôn vinh nghệ nhân[82]…

Vũ Trọng Lâm (2015), Xác định mũi nhọn kinh tế của thủ đô Hà Nội giai

đoạn 2015 – 2020, Nxb Khoa học và kỹ thuật Tác giả đã hệ thống hóa những

vấn đề cơ sở lý luận của việc xác định mũi nhọn kinh tế cho các địa phương, phân tích phương pháp luận và mô hình xác định mũi nhọn kinh tế, kinh nghiệm quốc tế và trong nước; phân tích các bài học kinh nghiệm về xác định mũi nhọn kinh tế ở phạm vi quốc gia và các địa phương; đặc biệt là phân tích thực trạng việc xây dựng và phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn của Thủ đô Hà Nội trong giai đoạn vừa qua; đề xuất mô hình, phương pháp xác định mũi nhọn kinh

tế của thủ đô Hà Nội giai đoạn 2015 - 2020 và đề xuất các kiến nghị các giải pháp tổ chức thực hiện

Bên cạnh đó, còn rất nhiều nghiên cứu về kinh tế Thăng Long - Hà Nội, đặc biệt là kinh tế thủ công nghiệp là vấn đề được quan tâm của rất nhiều người yêu mến và tâm huyết với thủ đô Trên nhiều đầu báo, tạp chí, thường xuyên có các bài viết quan tâm nhiều đến vấn đề phát triển kinh tế, nhất là

trong khoảng một thập kỉ gần đây Có thể kể một số bài viết: Nghề thủ công

Trang 34

Thăng Long - Hà Nội: Thực trạng và nhu cầu phát triển của tác giả Hồng

Dương trên báo Lao động số 138 năm 2000, Nghề kim hoàn ở Việt Nam hôm

nay của Nguyễn Ngọc Khuông, Vấn đề phố nghề cổ truyền trong lòng thành phố mới của Nguyễn Vinh Phúc Và còn nhiều nghiên cứu khác như: Bảo tồn

và phát triển các làng nghề Hà Nội trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa thủ đô trên tạp chí Thăng Long- Hà Nội số 23 năm 2004, Làng, phố nghề

Hà Nội - Sự định hình và biến đổi của Trương Duy Bích trên tạp chí Văn hóa

dân gian xuất bản số 1 năm 2007

Trong các công trình, tác phẩm nghiên cứu về Hà Nội, sinh kế đô thị

Hà Nội, việc các tác giả khai thác triệt để thông tin từ các nguồn tư liệu là vô cùng quan trọng Tư liệu thành văn, tư liệu bản đồ, tư liệu địa bạ được khai thác từ nhiều góc độ khác nhau làm nổi bật mục đích nghiên cứu của mỗi tác giả trong nghiên cứu của mình Chính việc sử dụng linh hoạt các nguồn số liệu, kết hợp nhiều nguồn tư liệu có liên quan đã làm cho các nghiên cứu về

Hà Nội rất phong phú, đa dạng

1.2 Các nghiên cứu chung về sinh kế

Sinh kế là hoạt động của con người để tồn tại và trở thành một phần quan trọng nhất của đời sống cộng đồng Nghiên cứu sinh kế thực chất là tìm hiểu việc con người tạo ra thu nhập để duy trì cuộc sống của mình như thế nào; tiếp theo là sự sáng tạo ra các giá trị của đời sống văn hóa ra sao? Việc nghiên cứu sinh kế còn giúp người ta hiểu được hệ thống tri thức trong sản xuất được tích lũy từ thế hệ này sang thế hệ khác Ở các môi trường tự nhiên khác nhau, các cộng đồng lại có những cách ứng xử khác nhau để tồn tại và phát triển

Sinh kế là khái niệm được nhiều tổ chức quốc tế, học giả, người ra quyết định chính sách và những người thực hiện chính sách thường sử dụng trong nghiên cứu, thực hiện các dự án phát triển, đánh giá tình hình kinh tế xã hội của một vùng hoặc một nhóm hộ, phát triển nông thôn, đánh giá tổn

Trang 35

thương, xóa đói giảm nghèo, quản lý tài nguyên thiên nhiên… Có nhiều tổ chức quốc tế như Cơ quan Phát triển quốc tế Anh (DFID), Tổ chức OXFAM, Chương trình Phát triển Liên Hiệp quốc (UNDP), Tổ chức CARE Quốc tế, Quỹ Phát triển Nông nghiệp Quốc tế (IFAD),… sử dụng tiếp cận này trong thực hiện các dự án phát triển của họ Trên thế giới vấn đề sinh kế được quan tâm nghiên cứu từ những năm 80 của thế kỷ XX, bắt đầu từ những nhà nghiên cứu như Robert Chambers, Conway và một số học giả khác Trước đó, khái niệm phương thức mưu sinh được sử dụng trong một số nghiên cứu về kinh tế của A Schultz và H Lavenda Các tác giả đưa ra quan điểm sinh tồn để chỉ việc thỏa mãn những nhu cầu vật chất thiết yếu nhất của con người, nhất là nhu cầu về thức ăn, quần áo và chỗ ở Điều này thể hiện trong cuốn sách của

Emily A Schultz - Robert H Lavenda (2001), Nhân học một quan điểm về

tình trạng nhân sinh Đây là một trong số ít các công trình về sinh kế của học

giả nước ngoài được dịch ra tiếng Việt Nam Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ mới là những miêu thuật đơn thuần, chưa đặt ra những phát hiện mang tính vấn đề

Những ý tưởng về sinh kế bắt đầu được đề cập trong các nghiên cứu của Robert Chambers vào giữa những năm 80, và sau đó được Chambers và Conway nghiên cứu chi tiết hơn vào đầu những năm 90 Chambers, R and G

R Conway (1991) công bố Sustainable rural livelihoods: practical concepts

for the 21st century (Sinh kế nông thôn bền vững: các khái niệm thực tiễn cho

thế kỷ XXI) Qua các nghiên cứu, các ông đã đưa ra khái niệm về sinh kế bền vững ở cấp độ gia đình là “Một sinh kế bền vững có thể đối phó với những rủi

ro và những cú sốc, duy trì và tăng cường khả năng và tài sản; đồng thời cung cấp các cơ hội sinh kế bền vững cho thế hệ sau góp phần tạo ra lợi ích cho cộng đồng, địa phương và toàn cầu và trong ngắn hạn và dài hạn Sinh kế bền vững cung cấp một phương pháp tiếp cận tích hợp chặt chẽ hơn với vấn đề nghèo đói” [118] còn Chambers, Robert (1983) là tác giả của công trình

Trang 36

Rural development: Putting the last first Theo hai ông, sinh kế bền vững bao

gồm các khả năng, các tài sản, các nguồn lực (gồm cả các nguồn lực vật chất

và xã hội) và các hoạt động cần thiết như phương thức để sinh tồn và phát triển Trong phát triển kinh tế hộ gia đình, sinh kế là bền vững khi nó có thể giúp con người đối mặt hoặc vượt qua sự căng thẳng và những thương tổn, nhằm bảo toàn hay tăng thêm các khả năng và tài sản hiện tại và tương lai trong bối cảnh không phá hoại nguồn tài nguyên tự nhiên cơ bản Chiến lược sinh kế hộ gia đình là sự kết hợp sử dụng các nguồn lực hộ gia đình và cộng đồng nhằm đạt tới mục tiêu kinh tế hộ, cải thiện nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của mỗi hộ gia đình Chiến lược sinh kế hộ gia đình có thể là sự định hướng cho mục tiêu sản xuất, kinh doanh, hay cách thức đạt được mục tiêu như bằng sự tận dụng ưu thế của một hay vài loại nguồn lực sinh kế hay đầu vào sản xuất có lợi thế…

Giai đoạn này, khái niệm sinh kế được đề cập và sử dụng phổ biến hơn, đặc biệt chú trọng mục tiêu sinh kế bền vững trong các nghiên cứu về phát triển nông thôn hay giảm nghèo Hầu hết các dự án phát triển liên quan đến đói nghèo, giảm nghèo đều dựa trên những tiếp cận về sinh kế bền vững Càng về sau, hàng loạt các dự án phát triển đánh giá mức sống của con người được tiến hành nên vấn đề sinh kế được đề cập ngày càng kỹ lưỡng Các công trình nghiên cứu về cách kiếm sống của các dân tộc trên thế giới đã đưa ra những chiến lược sinh kế bền vững và coi như là bộ chỉ tiêu của sự phát triển bền vững

Những năm đầu của thế kỷ XXI, khái niệm sinh kế xuất hiện nhiều hơn trong các nghiên cứu của F.Ellis, Barrett và Reardoon…Tiêu biểu cho các

nghiên cứu này là công trình của F Ellis (1998), Household strategies and

rural livelihood diversification (Chiến lược hộ gia đình và đa dạng sinh kế

nông thôn), đã chỉ ra mức độ quan hệ của tăng trưởng kinh tế, cơ hội sinh kế

và cải thiện đói nghèo của người dân Nghiên cứu khẳng định sự bền vững

Trang 37

của sinh kế cộng đồng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: khả năng trang bị nguồn vốn, trình độ lao động, các mối quan hệ trong cộng đồng và chính sách phát triển sinh kế của cá nhân hoặc hộ gia đình

Barrett và Reardon với công trình Heterogeneuos Constraints,

Incentives and Income Diversification Strateges in Rural Africa (1998) đã chỉ

ra mối quan hệ giữa mức độ tăng trưởng kinh tế, cơ hội sinh kế và cải thiện đói nghèo của người dân Đồng thời, các tác giả cũng nhấn mạnh vai trò của thể chế, chính sách phát triển kinh tế - xã hội cũng như các mối liên hệ và hỗ trợ xã hội nhằm cải thiện sinh kế, góp phần xóa đói giảm nghèo Sự bền vững trong các hoạt động sinh kế hộ gia đình phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố như khả năng trang bị nguồn vốn, trình độ của lao động, các mối quan hệ trong cộng đồng, các chính sách phát triển… Tuy vậy, sự bền vững của tài nguyên thiên nhiên là yếu tố nền tảng trong việc quyết định một sinh kế có bền vững hay không trong quá trình phát triển

Đã có nhiều cách tiếp cận và đưa ra định nghĩa khác nhau về sinh kế bền vững, song, có các nghiên cứu đều có sự thống nhất về khái niệm sinh kế bao hàm nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động sinh kế của mỗi cá nhân hay

hộ gia đình, yếu tố quyết định dựa vào năng lực và khả năng của họ, đồng thời, chịu sự tác động của các thể chế, chính sách và những quan hệ xã hội mà

cá nhân hoặc hộ gia đình đã thiết lập trong cộng đồng

Trong nghiên cứu của mình, nhà nghiên cứu F Ellis cho rằng một sinh kế bền vững bao gồm những tài sản (nguồn vốn tự nhiên, vật chất, con người, tài chính và xã hội), những hoạt động và cơ hội được tiếp cận của con người đến các tài sản đều phụ thuộc về mỗi cá nhân hoặc mỗi hộ gia đình Sinh kế cũng được đặt trong mối quan hệ với yếu tố môi trường Tác giả

Koos Neefies (2000) trong cuốn sách Môi trường và sinh kế: Các chiến lược

phát triển bền vững, rất quan tâm đến mối quan hệ giữa đói nghèo và thay

đổi môi trường Tác giả đã phân tích các yếu tố để chiến lược và chính sách

Trang 38

về sinh kế có thể giải quyết những nguyên nhân của sự thoái hóa môi trường, nghèo đói Ông cho rằng: “mối quan hệ này một phần dựa vào lý thuyết và lịch sử, đồng thời cũng dựa vào các bài học thực hiện phát triển Bên cạnh đó, nhà nghiên cứu còn phân tích các yếu tố làm thế nào để chiến lược và chính sách về sinh kế có thể giải quyết những nguyên nhân của sự thoái hóa môi trường, nghèo đói”[60]

Hiện nay, vấn đề sinh kế bền vững đã và đang là mối quan tâm hàng đầu của nhiều nhà nghiên cứu và nhà hoạch định chính sách của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam Mục tiêu cao nhất của quá trình phát triển kinh tế ở các nước là cải thiện sinh kế và nâng cao phúc lợi xã hội cho cộng đồng dân cư, đồng thời, sinh kế là động lực quan trọng hàng đầu vì vậy phải luôn đặt nó trong mối quan hệ với phát triển bền vững Các nghiên cứu sinh kế bền vững hiện nay cơ bản đã được xây dựng khung phân tích sinh kế bền vững thống nhất trên cơ sở các nguồn lực của mỗi hộ gia đình Tuy nhiên, việc phân tích các nguồn lực trong mỗi nghiên cứu đôi khi chưa cụ thể dẫn đến việc thực thi hóa các chính sách từ nhà nước cho những nhóm dân nghèo chưa được thực hiện triệt để

Đối với những công trình nghiên cứu của các học giả là người Việt Nam liên quan đến chủ đề sinh kế, cho đến nay đã có khá nhiều công trình với nhiều mảng vấn đề và nhiều khu vực khác nhau Các nhà khoa học Việt Nam

đã có những công trình phân tích các lý thuyết về sinh kế làm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu vấn đề này

Là một nước mới thoát khỏi tình trạng kém phát triển vài chục năm, rõ ràng, vấn đề xóa đói giảm nghèo tuy được quốc tế đánh giá cao nhưng vẫn đặt

ra rất nhiều thách thức Nghiên cứu của Phạm Bảo Dương (2007), Xác định

những nhân tố hỗ trợ và cản trở hộ nghèo tiếp cận các nguồn lực để giảm nghèo bền vững Tác giả đã dựa vào cách tiếp cận khung sinh kế bền vững để

điều tra nhằm phát hiện những nhân tố thuận lợi và những yếu tố cản trở

Trang 39

người dân ở ba tỉnh Yên Bái, Hà Giang và Quảng Trị trong việc tiếp cận các nguồn vốn sinh kế để giảm nghèo bền vững và có hiệu quả

Cũng giống như các nghiên cứu sinh kế trên thế giới, nghiên cứu sinh

kế ở Việt Nam, nhất là sinh kế bền vững đô thị được thực hiện bởi các Tổ

chức trong nước và quốc tế Có thể kể đến cuốn sách Phát triển sinh kế bền

vững (2014) của Bộ Kế hoạch đầu tư kết hợp với Dự án giảm nghèo khu vực

Tây Nguyên và The World Bank (Ngân hàng thế giới), giới thiệu các hoạt động phát triển sinh kế của dự án, các nguyên tắc chính trong hỗ trợ phát triển kinh tế, mô hình nhóm cải thiện sinh kế Cũng không thể không kể đến công

trình Hợp tác phát triển sinh kế cộng đồng: Kinh nghiệm và thực tiễn (2014)

của Trung tâm Phát triển nông thôn bền vững Cuốn sách giới thiệu sự hình thành, phát triển của Tổ chức cộng đồng; quyền và nghĩa vụ của Tổ chức cộng đồng, ban điều hành tổ chức, các thành viên; tổ chức, quản lý hoạt động của Tổ chức cộng đồng và sự tăng cường năng lực phát triển thị trường

Có thể kể đến công trình tiêu biểu Phân tích sinh kế, lý thuyết và thực

tiễn của các tác giả Võ Văn Tuấn, Lê Cảnh Dũng (2015), Nxb Đại học Cần

Thơ Cuốn sách đã làm rõ những khái niệm, nội dung, mức độ ứng dụng cũng như các phương pháp tiếp cận và công cụ để phân tích sinh kế Đây là nghiên cứu mang tính học thuật có tính ứng dụng cao như khung phân tích sinh kế bền vững, ứng dụng khung phân tích sinh kế cũng như các phương pháp và công cụ, chính sách can thiệp nhằm nâng cao sinh kế hay xóa đói giảm nghèo

có hiệu quả Ngoài ra, trong hầu hết các công trình khác, phần mở đầu đều được các tác giả đưa ra những lý thuyết về sinh kế để tiếp cận vấn đề cần phân tích

Bài viết Xây dựng năng lực của hệ thống khuyến nông cơ sở để cải

thiện kết quả sinh kế cho người nghèo (2008) của tác giả Đặng Ngọc Quang,

Đặng Đình Thành, trên Tạp chí Khoa học xã hội, (7), đã xác nhận giả thuyết

về khả năng cải thiện những kết quả sinh kế cho người nghèo do Trung tâm

Trang 40

Dịch vụ Phát triển Nông thôn thực hiện trong một dự án ba năm thông qua xây dựng năng lực của hệ thống khuyến nông cơ sở dựa vào nông dân ở cấp thôn xã là có cơ sở Các kỹ năng được cung cấp cho các khuyến nông viên bao gồm đánh giá nhu cầu của nông dân, tổ chức và thực hiện mô hình khuyến nông, lãnh đạo tổ chức cộng đồng, tiến hành các cuộc họp cộng đồng,

và phối hợp giữa các thành viên của hệ thống khuyến nông

Bài viết Khung sinh kế bền vững: Một cách phân tích toàn diện về

phát triển và giảm nghèo (2010) của tác giả Nguyễn Văn Sửu, Tạp chí Dân tộc học, (3), cũng đưa ra cách tiếp cận trong phân tích sinh kế Trong khung

phân tích sinh kế bền vững của DFID thì “sinh kế bao gồm các khả năng, các tài sản (bao gồm cả các nguồn lực vật chất và xã hội) và các hoạt động cần thiết kiếm sống” [76, tr.2-3] Tác giả chỉ rõ, khung sinh kế bền vững được coi là một cách tiếp cận toàn diện về các vấn đề phát triển kinh tế thông qua việc thảo luận về sinh kế của con người và đói nghèo trong các bối cảnh khác nhau Về mặt khái niệm, các tiếp cận này có nguồn gốc từ các nghiên cứu phát triển liên quan đến đói nghèo và giảm nghèo, nổi bật nhất là các phân tích của Amartya Sen, Robert Chambers và một số học giả khác Các nghiên cứu đều nhấn mạnh đến tính hiệu quả của các hoạt động phát triển, các tiếp cận sinh kế bền vững là kết quả của cuộc tranh luận giữa các nhà nghiên cứu và thực trạng phát triển về phát triển kinh tế ở nông thôn Trong đó, khung phân tích sinh kế bền vững do Bộ Phát triển Quốc tế Anh (DFID) được các học giả và các cơ quan phát triển ứng dụng rộng rãi là nội dung chính được giới thiệu và thảo luận trong bài viết này Ở Việt Nam, các cách tiếp cận sinh kế bền vững, nhất là trong khung phân tích sinh kế bền vững của DFID, đã được ít nhiều đề cập và bàn luận trong nhiều diễn đàn Trong khuôn khổ luận án tác giả muốn giới thiệu các nội dung cơ bản của khung phân tích này và phân tích làm rõ tầm quan trọng của các loại nguồn vốn trong việc hình thành sinh kế bền vững ở vùng của nông dân

Ngày đăng: 19/05/2020, 16:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Thúy Anh (2009), Ứng xử cổ truyền với tự nhiên và xã hội của người Việt Bắc Bộ qua ca dao, tục ngữ, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng xử cổ truyền với tự nhiên và xã hội của người Việt Bắc Bộ qua ca dao, tục ngữ
Tác giả: Trần Thúy Anh
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2009
2. Bùi Tú Anh (2015), “Hoàn Kiếm: Kinh nghiệm sau 5 năm triển khai Nghị quyết Đại hội Đảng bộ quận lần thứ XXIV”, tại trang http://dbndhanoi.gov.vn/portal/home/print.aspx?p=4144, 14/9/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn Kiếm: Kinh nghiệm sau 5 năm triển khai Nghị quyết Đại hội Đảng bộ quận lần thứ XXIV”, "tại trang http://dbndhanoi.gov.vn/portal/home/print.aspx?p=4144
Tác giả: Bùi Tú Anh
Năm: 2015
3. Nguyễn Thị Vân Anh (2006), “Sinh kế và tiếp cận nguồn lực đất đai của phụ nữ tại hai xã đồng bằng Bắc bộ và Nam bộ”, Tạp chí Xã hội học, (3), tr.87-94 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh kế và tiếp cận nguồn lực đất đai của phụ nữ tại hai xã đồng bằng Bắc bộ và Nam bộ”, "Tạp chí Xã hội học
Tác giả: Nguyễn Thị Vân Anh
Năm: 2006
4. Minh Anh (2017), “Dân số của Hà Nội năm 2017 tăng lên 1,8% so với năm trước”, tại trang http://thanglong.chinhphu.vn/dan-so-cua-ha-noi-nam-2017-tang-len-1-8-so-voi-nam-truoc, ngày 22 tháng 12 năm 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân số của Hà Nội năm 2017 tăng lên 1,8% so với năm trước”, "tại trang http://thanglong.chinhphu.vn/dan-so-cua-ha-noi-nam-2017-tang-len-1-8-so-voi-nam-truoc
Tác giả: Minh Anh
Năm: 2017
6. Bộ Kế hoạch đầu kết hợp với Dự án giảm nghèo khu vực Tây Nguyên và The World Bank (2014), Phát triển sinh kế bền vững, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển sinh kế bền vững
Tác giả: Bộ Kế hoạch đầu kết hợp với Dự án giảm nghèo khu vực Tây Nguyên và The World Bank
Năm: 2014
7. Nguyễn Viết Chức (2002), Văn hóa ứng xử của người Hà Nội với môi trường thiên nhiên, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa ứng xử của người Hà Nội với môi trường thiên nhiên
Tác giả: Nguyễn Viết Chức
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2002
8. Nguyễn Văn Cường (2015), Nghiên cứu cải thiện sinh kế trong khai thác hải sản đối với ngư dân vùng ven biển thành phố Hải Phòng, Luận án tiến sĩ Nông nghiệp, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cải thiện sinh kế trong khai thác hải sản đối với ngư dân vùng ven biển thành phố Hải Phòng
Tác giả: Nguyễn Văn Cường
Năm: 2015
9. Cục Thống kê Hà Nội (2017), Niêm giám thống kê từ năm 1998 đến 2017, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niêm giám thống kê từ năm 1998 đến
Tác giả: Cục Thống kê Hà Nội
Năm: 2017
10. Chính phủ (2012), Theo Quyết định số 222/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Thành phố Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Theo Quyết định số 222/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Thành phố Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2012
11. Huỳnh Văn Chương và Ngô Hữu Hoạnh (2010), “Ảnh hưởng của việc chuyển đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp đến sinh kế của người nông dân tại Thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam”, Tạp chí Khoa học Đại học Huế, (62), tr. 47-58 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của việc chuyển đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp đến sinh kế của người nông dân tại Thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam”, "Tạp chí Khoa học Đại học Huế
Tác giả: Huỳnh Văn Chương và Ngô Hữu Hoạnh
Năm: 2010
12. Phan Đình Dũng (2014), “Bảo tồn, phát huy di sản văn hóa gắn với sinh kế và phát triển cộng đồng dân cƣ tại chỗ”, Tạp chí Lý luận chính trị, (4), tr. 47-51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn, phát huy di sản văn hóa gắn với sinh kế và phát triển cộng đồng dân cƣ tại chỗ”
Tác giả: Phan Đình Dũng
Năm: 2014
13. Nguyễn Văn Dũng (2016), Sinh kế của người dân tộc thiểu số tái định cư thuộc các công trình thuỷ điện Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang và Plei Krông, tỉnh Kon Tum, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh kế của người dân tộc thiểu số tái định cư thuộc các công trình thuỷ điện Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang và Plei Krông, tỉnh Kon Tum
Tác giả: Nguyễn Văn Dũng
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 2016
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2016
18. Đảng bộ thành phố Hà Nội (2010), Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ XV, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ XV
Tác giả: Đảng bộ thành phố Hà Nội
Năm: 2010
19. Đảng bộ thành phố Hà Nội (2015), Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ XVI, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ XVI
Tác giả: Đảng bộ thành phố Hà Nội
Năm: 2015
20. Phan Nhƣ Đại (2015), Biện pháp hỗ trợ cộng đồng thay đổi sinh kế thích ứng với biến đổi khí hậu tại xã Đa Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa, Luận văn thạc xã hội học, Trường Đại học Lao động xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện pháp hỗ trợ cộng đồng thay đổi sinh kế thích ứng với biến đổi khí hậu tại xã Đa Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa
Tác giả: Phan Nhƣ Đại
Năm: 2015
21. Bùi Văn Đạo (2011), “Tác động của các dự án thủy điện Tây Nguyên đến sinh kế và văn hóa của người dân tái định cư”, Tạp chí Dân tộc học, (2), tr.11-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của các dự án thủy điện Tây Nguyên đến sinh kế và văn hóa của người dân tái định cư”
Tác giả: Bùi Văn Đạo
Năm: 2011

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w