Không gian cảnh quan, kiến trúc đình làng thường phát triển cả phía sau, phía trước và hai bên, với nhiều hạng mục: hậu cung, ống muỗng ống muống, tiền tế, các dãy tả vu, hữu vu, tam qua
Trang 1Trờng cao đẳng s phạm trung ơng
Khoa xã hội và nhân văn
lịch sử di tích việt nam
kiến trúc đình làng việt nam
Hà Nội, ngày 10 tháng 10 năm 2010
Đình Việt Nam
Trước kia theo tỡnh hỡnh chung của cả nước, đỡnh của cỏc làng mạc Việt Nam chỉ là quỏn để nghỉ Năm
1231 Trần Nhõn Tụng xuống chiếu cho đắp tượng Phật ở đỡnh quỏn
Ngụi đỡnh làng với chức năng là nơi thờ thành hoàng và là nơi hội họp của dõn chỳng cú lẽ bắt đầu vào thờ Lờ sơ và định hỡnh vào thời nhà Mạc Cú lẽ sự phỏt triển của Nho giỏo vào cuối thế 15 đó cấy dần Thành hoàng vào đỡnh làng Khởi đầu là đỡnh Quảng Văn (1489) Nhưng hiện nay dấu vết sớm nhất của
Trang 2đình làng thì Thành hoàng chỉ gặp từ thế kỷ 16 Trước đây đình thường chỉ có 3 gian và 2 trái Gian giữa không có sạp, trong gian thờ Thành hoàng Cuối thế kỷ 17 từ gian giữa và kéo dài về sau gọi là chuôi vồ, tạo cho đình làng mang kiểu chữ Đinh Cuối thế kỷ 17, nhất là thế kỷ 19, đình làng được bổ sung tòa tiền tế
§ình làng nguyên là nơi thờ thành hoàng theo phong tục tín ngưỡng trong xã hội Việt Nam cổ đại Vì vậy
nó thường được xếp vào thể loại công trình phục vụ cho tôn giáo, tín ngưỡng Tuy nhiên, đình làng còn là một công trình thuộc thể loại kiến trúc công cộng dân dụng do tính chất phục vụ đa chức năng của nó Ngoài là nơi thờ Thành hoàng làng, đình làng còn là trung tâm hành chính, quản trị phục vụ cho mọi hoạt động thuộc về cộng đồng làng xã; là nơi làm việc của Hội đồng kỳ mục trước đây (trong thời phong kiến);
là nơi hội họp của dân làng; Đây cũng là nơi diễn ra các lễ hội làng truyền thống, nơi sinh hoạt văn hóa, văn nghệ của làng Nói chung, với ba chức năng cơ bản trên (tín ngưỡng, hành chính, văn hóa-văn nghệ), đình làng là nơi diễn ra mọi hoạt động của làng xã Việt Nam dưới thời phong kiến
Phía trước đình làng thường có sân rộng, hồ nước cây xanh tạo cảnh quan Kiến trúc đình làng có thể chỉ 5-7 gian, hoặc có thể có tới 9 gian như ở đình làng Đình Bảng Đây cũng là số gian lớn nhất mà kiến trúc
cổ Việt nam có được Đình làng thường phổ biến loại bốn mái, có khi cũng phát triển thêm loại tám mái (kiểu chồng diêm) do những ảnh hưởng của kiến trúc Trung Hoa về sau này Mặt bằng đình có thể là kiểu chữ Nhất (kiểu này thường thấy ở các đình cổ, thế kỷ XVI); hoặc quy mô, phức tạp hơn với những bố cục mặt bằng chữ Đinh, chữ Nhị, chữ Công, chữ Môn (chữ Hán) Đây là các dạng mặt bằng xuất hiện về sau,
bổ sung cho sự phong phú của đình làng Việt Nam, đi liền với quá trình phát triển thêm về mặt chức năng của đình làng Không gian cảnh quan, kiến trúc đình làng thường phát triển cả phía sau, phía trước và hai bên, với nhiều hạng mục: hậu cung, ống muỗng (ống muống), tiền tế, các dãy tả vu, hữu vu, tam quan, trụ biểu, hồ nước, thủy đình, Trong bố cục đó, không gian chủ yếu vẫn là tòa đại đình (đại bái), là nơi diễn
ra các hoạt động hội họp, ăn khao, khao vọng, phạt vạ của dân làng Đại đình bao giờ cũng là tòa nhà lớn nhất trong quần thể, bề thế, trang trọng Đại đình ở các đình cổ thường có sàn lát ván, cao từ 60 đến 80cm, chia làm ba cốt cao độ, là sự phân chia thứ bậc cho những người ngồi ở Đại đình Ở những tòa Đại đình của các ngôi đình chưa có Hậu cung, bàn thờ Thành hoàng được đặt ở chính gian giữa Đại đình, gian này không lát ván sàn và có tên là "Lòng thuyền"
Hậu cung là nơi đặt bàn thờ Thành hoàng Trong Hậu cung có Cung cấm, là nơi đặt bài vị, sắc phong của
vị thần làng Xung quanh Hậu cung thường được bít kín bằng ván gỗ, tạo không khí uy nghiêm và linh thiêng
Trang 3Đỡnh làng khụng những cú giỏ trị về mặt kiến trỳc cao, là kiến tỳc thuần Việt nhất của dõn tộc, mà cũn là kho tàng hết sức giỏ trị về mặt điờu khắc dõn gian Đõy là thế giới cho nền nghệ thuật điờu khắc dõn gian phỏt triển mạnh mẽ Trờn cỏc vỡ kốo, tất cả cỏc đầu bẩy, đầu dư, đố, xà kẻ, vỏn giú, vỏn nong (dong) là nơi cỏc nghệ sĩ điờu khắc dõn gian chạm khắc cỏc đề tài tỏi hiện cuộc sống và lao động của con người, cảnh sắc thiờn nhiờn giàu tớnh dõn gian và phong phỳ, sinh động Chớnh vỡ vậy, cỏc điờu khắc đỡnh làng cũn cú giỏ trị to lớn trong việc nghiờn cứu về cuộc sống vật chất, tinh thần của người Việt Nam trước đõy
Nú cú giỏ trị lịch sử sõu sắc
Kiến trúc
Kiến trỳc truyền thống được xõy dựng dựa trờn những nguyờn tắc của thuật phong thủy Địa điểm của
đỡnh khỏc đền chựa Trong khi chựa và đền chuộng địa điểm tĩnh mịch, cú khi u tịch, khuất lối thỡ đỡnh làng chủ yếu lấy địa điểm trung tõm Lý tưởng nhất là đỡnh cú địa điểm thoỏng đóng nhỡn ra sụng nước Nếu khụng cú được ao hồ thiờn nhiờn thỡ dõn làng cú khi đào giếng khơi để cú mặt nước phớa trước đỡnh cho đỳng thế "tụ thủy" vỡ họ cho đú là điềm thịnh món cho làng Kiểu xõy dựng bằng gỗ bao gồm cỏc yếu
tố nghiờng về trang trớ và chạm khắc
Đỡnh làng thường là một ngụi nhà to, rộng được dựng bằng những cột lim trũn to thẳng tắp đặt trờn những hũn đỏ tảng lớn Vỡ, kốo, xà ngang, xà dọc của đỡnh cũng làm toàn bằng gỗ lim Tường đỡnh xõy bằng gạch Mỏi đỡnh lợp ngúi mũi hài, hai đầu hồi xõy bớt đốc hoặc làm bốn gúc đầu đao cong Trờn núc đỡnh là hai con rồng chầu mặt nguyệt, tục gọi là "lưỡng long triều nguyệt" hay "lưỡng long tranh chõu"
Sõn đỡnh được lỏt gạch Trước đỡnh cú hai cột trụ cao vỳt, trờn đỡnh được tạc hỡnh con nghờ
Trong đỡnh, gian giữa cú bàn thờ, thờ một vị thần của làng gọi là Thành hoàng Một chiếc trống cỏi cũng được để trong đỡnh để đỏnh vang lờn theo nhịp ngũ liờn thỳc giục dõn làng về đỡnh tụ họp bàn tớnh cụng việc của làng
điêu khắc trong đình làng
Đỡnh làng, nhất là đỡnh làng ở miền Bắc, là kho tàng hết sức phong phỳ của điờu khắc Việt Nam trong lịch
sử Điờu khắc cũng tồn tại ở chựa, đền, cỏc kiến trỳc tụn giỏo khỏc, nhưng khụng ở đõu nú được biểu hiện hết mỡnh như ở Đỡnh Điờu khắc ở đỡnh làng khụng những là nguồn tài liệu để nghiờn cứu lịch sử Mỹ thuật Việt Nam, mà cũn là nguồn tài liệu để nghiờn cứu đời sống ngày thường cũng như tõm hồn của người nụng dõn Việt Nam
Trang 4Nói điêu khắc đình làng cũng là nói đến nghệ thuật trang trí đình làng Điêu khắc ở đây là điêu khắc trang trí Người thợ làm đình chẳng những thành thạo trong việc dựng đình mà còn biết tô điểm cho ngôi đình thêm đẹp Điêu khắc ở đây do đó gắn liền với kiến trúc Hầu như trên các thành phần của kiến trúc đình làng đều được các nghệ nhân xưa dùng bàn tay điêu luyện của mình chạm khắc thành những hình mẫu có giá trị nghệ thuật cao, thu hút sự chú ý của mọi người lúc ghé thăm đình
Ngay những ngôi đình từ thế kỷ XVI cho đến thế kỷ XVIII, điêu khắc trang trí đình làng mang đậm tính chất nghệ thuật dân gian Những nhà điêu khắc vô danh xuất thân từ nông dân đã đưa vào đình làng những hình ảnh gần gũi với cuộc sống thực, hay là cả với giấc mơ của họ, với một phong cách hết sức độc đáo và một tâm hồn hết sức sôi nổi Khác với những kiến trúc tôn giáo khác, ngay ở những vị trí tôn nghiêm của đình làng, ta cũng có thể gặp hình tượng những đôi trai gái đùa ghẹo nhau hay đang tình tự Từ thế kỷ XIX, điêu khắc đình làng hầu như không còn những cảnh sinh hoạt dân gian Từ đây chỉ còn những hình trang trí hoa lá và phổ biến là hình tứ linh (long, ly, quy, phượng) Trong các đình thế kỷ XIX, thường có những bức cửa võng trước điện thờ được chạm trổ khá công phu
ë các ngôi đình miền Trung, điêu khắc trang trí không phong phú như các ngôi đình miền Bắc Có người
đã tổng kết về trang trí trên gỗ ở các ngôi đình vùng Thừa Thiên - Huế : "Trong kết cấu gỗ của nội thất tùy quan niệm thẩm mỹ mà dân làng có thể chạm trổ chi tiết đầu rồng, đuôi rồng ở đầu đuôi kèo, chạm hoa và đường chỉ xuyên tâm ở thanh xà và đòn tay Việc chạm trổ nhiều, thích ứng với các đình có kết cấu vừa phải, thanh tú Chạm trổ ít, thích ứng với các đình có kết cấu gỗ to lớn, đồ sộ " Đây cũng là tính chất trang trí nói chung của ngôi đình miền Trung Nhưng nếu điêu khắc trang trí tên gỗ có giảm sút thì ngược lại, ở các ngôi đình miền Trung lại phát triển hình thức trang trí bằng cách đắp nổi vôi vữa và gắn các mảnh sành sứ lên phần ngoài của kiến trúc Thường thì ở nóc mái và các đường gờ mái, người ta trang trí hình tứ linh ë hai đầu hồi thường được trang trí hình dơi xòe cánh bằng sành sứ để cầu phúc Đây là cách trang trí phổ biến đời Nguyễn
Đình miền Nam cũng có lối trang trí đắp nổi mặt ngoài gần giống đình miền Trung, nhưng điêu khắc trang trí trên gỗ thì cũng có điểm khác biệt Phần lớn chạm khắc gỗ này đã có từ giữa thế kỷ XIX Bốn cột đình thường được trang trí hình rồng, nên gọi là "long trụ" Nhiều nơi, long trụ chạm rời bên ngoài ốp vào, nhưng cũng có nơi long trụ được trổ một khối nguyên Ngoài những cột long trụ đình Nam Bộ thường có các bao lam trước điện thờ, như cửa võng trong các đình miền Bắc, được chạm trổ rất tinh vi, đề tài thường là tứ linh, cá hóa long, rồng, hổ
Trang 5Như vậy, điờu khắc trang trớ, cựng với kiến trỳc đó làm cho đỡnh cú những nột riờng trờn chiều dài của đất nước
Một số đình làng lâu đời tại hà nội
ỡnh Đụng Ngạc, cũn cú tờn nụm là đỡnh Vẽ, ở sỏt bờ đờ sụng Hồng, rià làng Vẽ, xó Đụng Ngạc, huyện Từ Liờm, thành phố Hà Nội, nằm ven đường 23 Hà Nội - Chốm
Đỡnh Vẽ được dựng năm 1635, dưới triều vua Lờ Thỏnh Tụng, đó qua một số lần trựng tu
Ngoài cựng là hai cột trụ biểu và hai bức bỡnh phong, đến hồ nước rộng trồng sen và thả cỏ
Nhà tam quan ngoại là một nếp nhà ga gian, cú bốn hàng cột bằng gỗ, phiỏ trước bưng kớn bằng gỗ, trờn vỏn bưng ở hai bờn khắc hai chữ "Thiện" và "ác", giữa là cửa ra vào, nền lỏt gạch Bỏt Tràng, mỏi lợp ngúi mũi hài, liền hai hồi tam quan xõy hai cổng nhỏ, mỏi vũm, lợp ngúi ống, nối tiếp với tường bao tạo nờn một khu khộp kớn
Nhà tam quan nội một gian, cửa giữa lớn, hai cửa bờn thấp và nhỏ bằng gỗ, mỏi lợp ngúi mũi hài, cốn chạm trổ văn hoa lỏ, tường bao quanh nối liền với nhà tả mạc và hữu mạc, tạo nờn kiểu kiến trỳc nội chữ
"đinh" ngoại chữ "quốc"
Tả mạc và hữu mạc xõy kiểu tường hồi bớt đốc, mỏi lợp ngúi mũi hài, hai đầu đốc mỏi gắn hỡnh đuụi cỏ
Đầu đao uốn cong, cột gạch vuụng, vỡ kốo kiểu thượng rường hạ kẻ Nhà bờn tả cú sỏu tấm bia Gian giữa
cú tấm bia lớn đặt trờn lưng rựa; bia dựng năm Vĩnh Thịnh thứ 5 (1710)
Đại đỡnh gồm hai tũa hỡnh chữ "nhị", hai mỏi cựng chảy vào một mỏng nước
Toà ngoại bảy gian hai dĩ, gồm tỏm hàng cột kờ trờn chõn tảng đỏ xanh Mỏi lợp ngúi mũi hài, hai đầu đốc mỏi gắn hai tượng nghờ, khoảng gấp khỳc bờ dải cú gắn hỡnh đầu nghờ, bốn đầu đao cong vỳt gắn hỡnh đầu rồng, đầu hướng về núc
Toà nội cú kết cấu kớch thước: như toà ngoại
Hậu cung là một toà nhà chạy dọc về phiỏ sau chia làm hai nếp, ngoài là trung cung, trong là hậu cung
Trang 6Trung cung nối với đại đình bằng hai dãy nhà cầu ở hai bên gọi là hành lang Hậu cung là nhà ba gian, có bốn hàng cột Trần nhà lát bằng các tấm gỗ dài Vì kèo gian giữa được chạm trổ dày đặc Bức cốn nách chạm trổ tồng chầu Bốn đầu dư chạm trổ đầu rồng ngậm ngọc Toà hậu cung có cung cấm một gian hai
dĩ, có sàn gỗ cao, trên đặt long ngai bài vị thành hoàng làng
ình Thanh Hà ở số 10 Ngõ Gạch, phường Đồng Xuân, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, trước đây đình
thuộc thôn Thanh Hà, tổng Đồng Xuân, huyện Thọ Xương, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Nội
Đình quay mặt về hướng đông Cổng tam quan được xây sát hè phố, có ba cửa ra vào rộng hẹp khác nhau Qua sân hẹp vào đến tiền bái Toà tiền bái được làm theo kểu tường hồi bít đốc, gồm ba gian Bộ vì kèo kết cấu kiểu chồng rường, con rường thứ hai được thay bằng hai con rường nhỏ đỡ đầu rường trên, mang dáng dấp của giá chiêng không trốn cột
Cửa bức bàn bao kín mặt cả ba gian Hai gian bên, trước kia có sàn cao hơn mặt nền 0,50m, nay đã đổ đất cao để lát gạch hoa Gian giữa thấp Ba gian được ngăn cách bằng chấn song hình con tiện Quá giang được chạm trổ hình rồng, hoa cúc, mây xoắn, tia chớp, lá cách điệu
Nối liền toà tiền bái với hậu cung là một phương đình, được dựng bằng bốn cột cái, hai bộ vì kèo, bốn mái, trên các con đường có chạm nổi hoa lá, dưới rường lắp ván kín, chạm nổi hình phượng vũ hàm thư Lồng giữa các xà đai hai bên là bốn con lân lớn chạm theo kiểu nửa hình tròn
Toà hậu cung cũng làm theo kiểu bốn hàng chân Bên trong hậu cung đặt khám thờ, có cửa võng được chạm trổ tinh xảo, sơn son thiếp vàng
Đình Thanh Hà có hơn 50 viên gạch trang trí thời Mạc và 9 tấm bia đá thời Nguyễn, trong đó quan trọng
hơn cả là bia "Thanh Hà ngọc phả bi kû " khắc lại một bia thời Lê và bia "Trùng tu Thanh Hà đình bi ký",
ghi lại sự tích và lịch sử xây dựng
Đình thờ thần thành hoàng là Trần Lựu, tướng thời Trần
Lễ hội hằng năm vào ngày 4 tháng 4 và ngày 15 tháng 9 âm lịch là ngày sinh và ngày hoá của thành hoàng
Trang 7ình Kim Liên, còn gọi là đền Kim Liên hoặc đền Cao Sơn (Cao Sơn Đại vương thần từ), ở làng
Kim Liên, phường Kim Liên, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội
Đình được xây dựng vào đầu thế kỷ XVI, trên một gò đất cao, cách La Thành khoảng 100m Đình quay về hướng nam, gồm tam quan và đền thờ thần
Tam quan là một nếp nhà ba gian, xây kiểu tường hồi bít đốc, bốn góc tường hồi xây bốn trụ cao bằng nóc mái Bốn vì kèo kết cấu kiểu chồng rường giá chiên, cột trốn Các con rường được chạm trổ hình mây cuốn, hai câu đầu và hai bẩy của hai vì kèo giữa được trang trí phượng ngậm sách, long mã, rồng theo kỹ thuật chạm bong kên và chạm lộng
Đình có kết cấu hình chữ "đinh", gồm bái đường và hậu cung Bái đường chỉ còn lại vết tích các hòn đá tảng kê chân cột to và dày Hậu cung là một dãy nhà dọc ba gian xây gạch trần, mái lợp ngói ta, trong nhà xây vòm cuốn, gian ngoài cùng có bệ gạch cao, đặt hương án gỗ sơn son thiếp vàng Hương án trang trí kín các đồ án hoa văn theo các ô hình chữ nhật bằng kỹ thuật chạm thủng, chạm nổi hình hổ phù, long mã tranh châu, tứ linh, tứ quý, bát bửu
Hậu cung thờ Cao Sơn Đại vương và hai vị nữ thần phối hưởng Trong ban thờ, long ngai thờ thành hoàng Cao Sơn Đại vương có kích thước lớn, chạm khắc tinh vi, sơn son thiếp vàng lộng lẫy, bệ ngai hình vuông, gồm nhiều lớp được làm theo kiểu chân quỳ dạ cá, các lớp trên được chạm thủng hoa dây
Đình thờ Cao Sơn Đại vương, tương truyền Cao Sơn là một trong năm mươi người con của Lạc Long Quân và Âu Cơ đã theo cha lên núi, là vị thứ hai được thờ trong đền núi Tản Viên Thần là người được coi
là người đã ngầm giúp vua Lê Tương Dực dẹp loạn ở Đông Đô, nên năm 1509 được lập đền thờ ở Kim Liên gần Thăng Long, là một trong bốn trấn ở kinh đô Thăng Lon (bắc là Trấn Vũ, đông là Bạch Mã, tây
là Linh Lang, nam là Cao Sơn)
ình Triều Khúc, Còn gọi là đình Đại Cổ Miếu, ở thôn Triều Khúc, xã Tân Triều, huyện Thanh Trì,
Hà Nội Cách trung tâm Hà Nội khoảng 10km về phiá tây nam
Đình gồm tam quan, phương đình, hai dãy nhà giải vũ, đại đình và hậu cung
Tam quan là một ngôi nhà gạch ba gian kiểu vì kèo
Trang 8Sau tam quan là phương đình hai tầng, tám mái, mười sáu cột (bốn cột cái lớn và mười hai cột quân), các
kẻ chạy từ cột cái tới nóc Các đầu kẻ có chạm rồng và lá, đầu dư chạm hình đầu rồng thời Nguyễn, góc mái uốn cong, bờ dải đắp nổi hình rồng, phượng hướng về nóc mái
Qua sân là hai nhà giải vũ song song với phương đình
Đại đình là kiến trúc chính gồm năm gian lợp ngói ta, với 24 cột, bốn hàng dọc, sáu hàng ngang, ba mặt xây tường gạch Chính giữa bờ nóc là hình mặt trời lửa Các cánh cửa chính sơn son thiếp vàng Kiến trúc theo lối chồng rường giá chiêng, hai đầu hồi chạm nổi hình mặt hổ Đầu dư của vì kèo gian giữa chạm nổi hình đầu rồng, miệng ngậm viên ngọc Trên các đầu bẩy đều trang trí hình rồng lá, rồng mây, phượng, long mã Các bức cốn trên các bộ vì, được chạm lộng các hình rồng cuốn nước, long, ly, quy, phượng, rồng mẹ, rồng con
Hệ thống y môn và cửa võng được chạm khắc tinh vi và sơn son thiếp vàng lộng lẫy
Hậu cung là một ngôi nhà ba gian nối với gian giữa đại đình tạo nên kiến trúc hình chữ "đinh", đây là nơi đặt long ngai bài vị, đồ thờ tự và mười một đạo sắc phong, sớm nhất là năm Cảnh Hưng thứ 44 (1784), muộn nhất là năm Khải Định thứ 9 (1924)
Đình có niên đại khoảng cuối thời Lê đầu thời Nguyễn
Đình thờ Bố Cái Đại vương Phùng Hưng
ình Cự Chính, còn gọi là đình Con Cóc (do trước kia trên hai trụ trước đình có gắn hai tượng cóc
bằng sứ) ở thôn Cự Chính (tên Nôm là làng Mọc), xã Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội Đình Cự Chính cách chùa Bồ Đề chừng vài chục mét
Đình Cự Chính xây dựng vào thời Lê và đã được tu sửa nhiều lần
Trước kia, tam quan đình lớn, nay sau khi tu sửa, đã thu hẹp lại
Đại đình năm gian hai chái, nối với hậu cung ba gian, tạo thành hình chữ "đinh"
Đại đình lợp ngói ta, trên bờ nóc gắn tượng đôi rồng chầu mặt trời lửa Hình rồng dài, độ uốn lượn lớn
Trang 9Đầu hồi bên phải có một trụ gạch vuông, trên đỉnh đắp một tượng nghê quỳ hai chân trước, xung quanh đắp nhiều chữ Hán và các con vật linh thiêng Các vì kèo được kết cấu kiểu chồng rường Giữa đại đình đặt một hương án sơn son thiếp vàng Phía sau có ba cửa vào hậu cung Các vì kèo hậu cung cũng theo kiểu chồng rường Trên nóc chạm hình dơi bay Cửa chính hậu cung là cửa bức bàn có bốn cánh bằng nhau, sơn đỏ Phần trên cánh cửa chạm thủng những hình dơi đang bay
Trong hậu cung có ba bệ thờ lớn, trên đặt ngai sơn son thiếp vàng
Ngoài sân đình có một cái giếng đá giống như giếng đá chùa Bút Tháp ở tỉnh Bắc Ninh Thành giếng cách mặt đất 0,45m, miệng giếng rộng 0,6m được tạo bằng một khối đá xanh nguyên khối, thắt đáy và thắt miệng, trên có chạm hai lớp cánh sen, bao quanh Giữa lớp cánh sen có chạm hoa văn (hoa sen kiểu bệ tượng Phật thời Lê) Bờ giếng được lát bằng sáu khối đá xanh, giếng sâu 8m, thành giếng được xếp các viên gạch vỡ và các viên đá xanh vòng tròn Nước chỉ để dùng tắm cho Thánh vào những ngày lễ Đây có thể là một khẩu giếng thời Lê, còn lại duy nhất ở Hà Nội
Đình thờ thành hoàng là Lã Đại Liêu, tướng của thần Tản Viên, có công giúp vua Hùng đánh giặc giữ nước
Lễ hội chính hằng năm vào ngày 12 tháng giêng và 18 tháng 10 âm lịch, theo truyền thuyết là ngày sinh và ngày mất của vị thành hoàng
Hội làng vào ngày 12 tháng 2 âm lịch
ình Quảng Bá ở làng Quảng Bá, xã Quảng An, huyện Từ Liêm, nay là Cụm I, phường Quảng An,
quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội
Trước đây đình được xây dựng trên gò Con Xà, cách ngôi đình hiện tại khoảng 1km về phiá tây nam, cách đường Hà Nội đi Chèm khoảng 1km Đình được dựng lại vào năm Bính Tý, niên hiệu Bảo Đại thứ 11 (1936)
Đình được dựng trên một khu đất cao trông ra Hồ Tây Giếng đình được ngăn với Hồ Tây bằng một bờ gạch Giếng hình vuông, bờ gạch xây ba cấp, hai bên có bậc gạch lên xuống
Trang 10Hai bên sân đình là hai nhà giải vũ, mỗi nhà sáu gian đơn giản, là nơi hội họp của hàng giáp.
Phần sân sát hiên đình được lát gạch Bát Tràng cỡ lớn Trước hai gian phụ sát hiên đình có hai cột trụ gạch hình vuông, có hai đôi câu đối chữ Hán Bẩy hiên chạm hình rồng cách điệu đơn giản
Đại đình có kiến trúc kiểu chữ "nhị", mái lợp ngói ta, bờ nóc thẳng, chính giữa có đắp hình đầu hổ đội mặt trời Hai đầu đắp nổi văn mây cuốn và hình cá hoá rồng Bờ dải chạy thẳng theo kiểu tường hồi bít đốc, có trang trí văn mây và tứ linh
Đại đình cao, rộng, thoáng gồm bảy gian, sáu hàng cột kê trên đá tảng Sáu bộ vì kèo kết cấu kiểu giá chiêng, trang trí đơn giản văn mây, hoa lá cách điệu; các bức cốn được chạm trổ tinh vi với đề tài rồng, lân, phượng hàm thư, ruà
Dưới hoành phi là bộ cửa võng chạm trổ cửu long tranh châu
Hậu cung có ba gian chính, xây cao hơn đại đình, mái lợp ngói ta, giữa bờ nóc có bầu rượu và cá hoá rồng, hai gian phụ mới xây là nơi để đồ tế lễ Vì kèo hậu cung đơn giản
Bệ gạch giữa là nơi đặt ngai thờ bố Cái Đại vương Hai gian bên, mỗi bên đặt ba ngai trong các khám, thờ sáu vị thần
Đặc biệt có nhang án mang phong cách thế kỷ XVII-XVIII
Đình thờ thành hoàng là Bố Cái Đại vương Phùng Hưng
Lễ hội hằng năm được tổ chức vào ngày 12 tháng 2 và ngày 10 tháng 8 âm lịch
ình Bát Tràng là một trong số những ngôi đình lớn của xứ Kinh Bắc xưa Đình nằm tại làng Bát
Tràng, xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội
Đình được làm lại vào năm 1720 đời vua Lê Dụ Tông, xây theo kiểu chữ Nhị, phía trong là hậu cung gồm
3 gian, phía ngoài là tòa đại bái gồm 5 gian 2 chái Cột đình làm bằng những cây gỗ lim lớn, Các gian bên được lát bục gỗ theo bậc tam cấp làm chỗ ngồi, Đình quay ra sông Nhị Hà Hiện nay đình còn lưu giữ hơn
50 đạo sắc phong cho thành hoàng, đời vua Lê Cảnh Hưng, đời vua Quang Trung và vua Cảnh Thịnh