Để xác định ra được các giống lúa mới có năng suất cao, chất lượng tốt có khả năng thích nghi với điều kiện sinh thái của huyện Thường Tín từ đó làm phong phú thêm bộ giống tại địa phươn
Trang 1-
TRẦN THỊ ANH
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG VÀ
PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ GIỐNG LÚA TẠI
HUYỆN THƯỜNG TÍN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Ngành: Khoa học cây trồng
Mã số ngành: 8.62.01.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN THỊ MÃO
Thái Nguyên – 2019
Trang 2Tôi xin cam đoan, số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn này là trung thực Nội dung nghiên cứu chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào khác
Tôi xin cam đoan, các thông tin trích dẫn và tài liệu được trình trong luận văn được ghi rõ nguồn gốc
Tác giả
Trần Thị Anh
Trang 3Có được kết quả luận văn này:
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TS Nguyễn Thị Mão đã tận tình
giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài cũng như trong quá trình hoàn chỉnh luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn BGH nhà trường, các thầy, cô Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên; UBND xã Duyên Thái và UBND xã Văn Bình huyện Thường Tín đã nhiệt tình giúp tôi trong thời gian thực hiện đề tài và hoàn chỉnh luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, hỗ trợ tôi trong thời gian học tập và hoàn thiện luận văn này
Tác giả
Trần Thị Anh
Trang 4LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề: 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
3 Yêu cầu của đề tài 2
4 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 2
4.1 Ý nghĩa khoa học 2
4.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài: 4
1.2 Tình hình sản xuất và nghiên cứu lúa trên thế giới: 5
1.2.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới: 5
1.2.2 Tình hình nghiên cứu lúa trên Thế giới 11
1.3 Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam 13
Nguồn: Tổng Cục Thống kê, 2018 16
1.4 Tình hình nghiên cứu lúa ở Việt Nam 16
1.5 Tình hình sản xuất lúa của Hà Nội 19
1.6 Tình hình sản xuất lúa của huyện Thường Tín 21
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1 Vật liệu nghiên cứu 24
2.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu: 24
2.3 Nội dung nghiên cứu: 25
2.4 Phương pháp nghiên cứu: 25
2.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 25
2.4.2 Quy trình kỹ thuật 26
Trang 52.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 31
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32
3.1 Tình hình sinh trưởng của các giống lúa thí nghiệm vụ Xuân 2018 tại huyện Thường Tín thành phố Hà Nội 32
3.1.1 Các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của các giống lúa thí nghiệm vụ Xuân 2018 tại huyện Thường Tín thành phố Hà Nội 32
3.1.2 Chiều cao cây và số nhánh tối đa của giống lúa tham gia thí nghiệm 35
3.1.3 Khả năng đẻ nhánh của các giống lúa tham gia thí nghiệm 38
3.2 Đặc điểm nông sinh học của các giống lúa thí nghiệm vụ Xuân 2018 tại huyện Thường Tín thành phố Hà Nội 43
3.3 Tình hình nhiễm sâu bệnh hại và khả năng chịu rét của các giống lúa tham gia thí nghiệm 45
3.4 Các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất và chất lượng của các giống lúa tham gia thí nghiệm 49
3.4.1 Các yếu tố cấu thành năng suất 49
3.4.2 Năng suất và chất lượng của các giống lúa tham gia thí nghiệm 53
KẾT LUẬN ĐỀ NGHỊ 59
1 Kết luận 59
2 Đề nghị 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
Trang 6Bộ NN&PTNT: Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn
NSLT: Năng suất lí thuyết;
NSTT: Năng suất thực thu;
P2O5: Lân nguyên chất;
QCVN: Quy chuẩn Việt Nam;
SRI: System of Rice Intensification - Hệ thống canh tác lúa cải tiến;
TCVN: Tiêu chuẩn Việt Nam;
TGST: Thời gian sinh trưởng;
TLB: Tỉ lệ bệnh
Trang 7Bảng 2.1 Diễn biến diện tích, năng suất, sản lượng lúa trên thế giới 6
Bảng 2.2 Diện tích, năng suất, sản lượng lúa của các châu lục năm 2017 8
Bảng 2.3 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của 10 nước đứng đầu thế giới năm 2017 9
Bảng 2.4 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa nước ta từ năm 2011-2017 14
Bảng 2.5 Diện tích, năng suất, sản lượng lúa của một số vùng trồng lúa chính của Việt Nam năm 2017 15
Bảng 2.6 Diện tích, năng suất, sản lượng lúa của Hà Nội 20
giai đoạn 2011 - 2017 20
Bảng 2.7: Tình hình sản xuất lúa của huyện Thường Tín giai đoạn 2012 - 2017 21
Bảng 2.8 Cơ cấu lúa giống lúa của huyện Thường Tín giai đoạn 2012-2017 22
Bảng 3.1 Các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của các giống lúa 33
thí nghiệm vụ Xuân 2018 tại xã Duyên Thái và xã Văn Bình huyện Thường Tín 33
Bảng 3.2 Chiều cao cây và số nhánh của giống lúa tham gia thí nghiệm vụ Xuân 2018 tại xã Văn Bình và xã Duyên Thái huyện Thường Tín 36
Bảng 3.3 Khả năng đẻ nhánh của các giống lúa tham gia thí nghiệm vụ Xuân 2018 tại xã Duyên Thái và xã Văn Bình huyện Thường Tín Hà Nội 39
Bảng 3.4 Động thái đẻ nhánh của các giống lúa tham gia thí nghiệm vụ Xuân 2018 tại Xã Duyên Thái 40
Bảng 3.5 Động thái đẻ nhánh của các giống lúa tham gia thí nghiệm vụ Xuân 2018 tại Xã Văn Bình 41
Hình 3.2 Động thái đẻ nhánh của các giống lúa tham gia thí nghiệm vụ Xuân 2018 tại xã Văn Bình 42
Bảng 3.6 Một số chỉ tiêu nông học của các giống lúa tham gia thí nghiệm vụ Xuân năm 2018 44
Bảng 3.7 Tình hình nhiễm bệnh bệnh khô vằn của các giống lúa thí nghiệm vụ Xuân 2018 tại xã Văn Bình và Duyên Thái huyện Thường Tín 46
Trang 82018 tại xã Văn Bình và xã Duyên Thái huyện Thường Tín 48 Bảng 3.9 Các yếu tố cấu thành năng suất của các giống lúa thí nghiệm tại xã Văn Bình và xã Duyên Thái huyện Thường Tín 49 Bảng 3.10 Năng suất của các giống tham gia thí nghiệm vụ Xuân 2018 tại xã Văn Bình và xã Duyên Thái huyện Thường Tín 53 Bảng 3.11 Chất lượng thóc, gạo của các giống lúa thí nghiệm vụ Xuân 2018 tại xã Văn Bình 55 Bảng 3.12 Chất lượng cơm của các giống lúa thí nghiệm tại xã Văn Bình 57
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề:
Lúa gạo là nguồn lương thực chính cung cấp 60% năng lượng trong khẩu phần ăn của con người Gạo có thành phần dinh dưỡng chủ yếu là tinh bột chiếm khoảng 80%, protein 7 - 10%, lipit 1 - 3%, ngoài ra còn có các loại vitamin, các loại khoáng khác, đặc biệt là vitamin B1, vitamin B2 Bên cạnh
đó lúa còn có các sản phẩm phụ như rơm, rạ, trấu, cám phục vụ cho chăn nuôi
và các ngành công nghiệp chế biến như dệt, dược, y học… Lúa là cây lương thực dễ cất trữ, ít mối mọt, có tầm quan trọng rất lớn trong đời sống hàng ngày và sự phát triển của toàn xã hội, với Việt Nam lúa là mặt hàng xuất khẩu góp phần tăng thu nhập quốc dân
Thường Tín là huyện ngoại thành, cách trung tâm thành phố Hà Nội 18
km, nằm trong vùng đồng bằng châu thổ sông hồng, có điều kiện thời tiết khí hậu, đất đai màu mỡ phù hợp cho phát triển cây trồng nói chung và cây lúa nói riêng Tổng diện tích đất nông nghiệp của huyện 7.876,44 ha trong đó diện tích sản xuất lúa 5089,55 ha chiếm 64,61% Cơ cấu giống lúa có hai nhóm chính: nhóm giống chịu thâm canh 60 - 65% và nhóm giống chất lượng
35 - 40% Từ lâu cây lúa là cây trồng cho thu nhập chính, xác định được vai trò quan trọng của cây lúa, hàng năm huyện có nhiều chính sách hỗ trợ như thủy lợi nội đồng, chuyển giao tiến bộ kĩ thuật, công tác bảo vệ thực vật góp phần tăng thu nhập đảm bảo công tác an ninh lương thực trên địa bàn huyện Với xu thế phát triển của xã hội kết hợp với tốc độ đô thị hóa, diện tích đất nông nghiệp có nguy cơ bị giảm mạnh, bộ giống lúa hiện tại đã sử dụng nhiều năm nay, năng suất có xu hướng giảm và nguy cơ nhiễm sâu bệnh cao, người dân hầu như rất ít lựa chọn giống lúa mới vào sản xuất mà thường dùng các giống đã có từ lâu như Khang dân, Thiên ưu 8, Bắc thơm 7 để sản xuất
Trang 10Để xác định ra được các giống lúa mới có năng suất cao, chất lượng tốt
có khả năng thích nghi với điều kiện sinh thái của huyện Thường Tín từ đó làm phong phú thêm bộ giống tại địa phương góp phần làm tăng năng suất cũng như sản lượng lúa trong huyện và đạt hiệu quả kinh tế cao chúng tôi
thực hiện đề tài “Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống lúa tại huyện Thường Tín thành phố Hà Nội”
2 Mục tiêu của đề tài
Chọn được 1-2 giống lúa có triển vọng cho năng suất, chất lượng phù hợp với điều kiện sinh thái của địa phương
3 Yêu cầu của đề tài
- Theo dõi khả năng sinh trưởng của các giống lúa tham gia thí nghiệm
- Theo dõi đặc điểm hình thái của các giống lúa tham gia thí nghiệm
- Đánh giá tình hình nhiễm sâu bệnh hại và khả năng chống đổ của các giống lúa tham gia thí nghiệm
- Đánh giá tiềm năng năng suất của các giống lúa tham gia thí nghiệm
4 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
4.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Đề tài lựa chọn được giống lúa có khả năng sinh trưởng phát triển tốt, chống chịu tốt, cho năng suất cao và ổn định, thích nghi với điều kiện huyện Thường Tín và các tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng, góp phần mở rộng diện tích các giống lúa làm tăng hiệu quả sản xuất
Trang 11- Đề tài góp phần chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tăng vụ nhằm khai thác hết tiềm năng đất đai, đảm bảo an ninh lương thực, góp phần xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống cho các hộ nông dân
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học của đề tài:
Ngày nay, sản xuất lúa muốn phát triển theo hướng hàng hóa với chất lượng cao, quy mô lớn nhằm phục vụ nhu cầu thị trường, cần phải thay thế các giống cũ, năng suất, chất lượng thấp bằng các giống mới năng suất, chất lượng cao, chống chịu tốt Đặc biệt là ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng, sử dụng giống có khả năng chống chịu tốt, cho năng suất cao sẽ góp phần phát huy hiệu quả kinh tế, đồng thời góp phần xoá đói giảm nghèo cho người sản xuất
Cây lúa chịu ảnh hưởng rất lớn bởi điều kiện thời tiết, khí hậu cũng như đất đai Tùy từng giống cụ thể mà yêu cầu điều kiện sinh thái khác nhau, do vậy mà việc lựa chọn giống thích hợp với từng điều kiện sinh thái để cây trồng phát triển trong điều kiện thuận lợi nhất nhằm phát huy hết tiềm năng của giống để đạt năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao nhất là hết sức cần thiết
Trên cơ sở yêu cầu sinh thái của cây lúa, với điều kiện đất đai và khí hậu của thành phố, những giống lúa mới có thể sinh trưởng phát triển tốt và cho năng suất cao
Hiện nay, một số giống lúa cho năng suất và chất lượng cao đã được công nhận và đang phát triển phổ biến trong sản xuất như: Giống Bắc Hương
9, Đài Hương số 8, SL16, Lam Sơn 116, Gia Lộc 26, SL18,…
Tuy nhiên, những giống kể trên chưa được gieo trồng ở huyện Thường Tín thành phố Hà Nội vì vậy cần triển khai nghiên cứu khả năng thích ứng của giống lúa mới tại địa bàn của Thành phố Xuất phát từ những cơ sở khoa học trên, chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài này
Trang 131.2 Tình hình sản xuất và nghiên cứu lúa trên thế giới:
1.2.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới:
Trên thế giới, lúa là một trong ba cây lương thực quan trọng nhất, lúa gạo là cây lương thực của miền nhiệt đới và cận nhiệt đới đang nuôi sống hơn 50% dân số thế giới, chiếm trên 28% sản lượng lương thực của toàn thế giới Hiện nay, trên thế giới có khoảng 114 nước trồng lúa phân bố trên tất cả các châu lục nhưng tập trung nhiều nhất vẫn là châu Á Trong đó có 18 nước có diện tích trồng lúa trên 1 triệu ha tập trung ở châu Á, có khoảng 27 nước có năng suất trên 5 tấn/ha, đứng đầu là Ai cập (9,7 tấn/ha), Úc (9,5 tấn/ha), El Salvado (7,9 tấn/ha)(Lưu Ngọc Quyến, 2015)
Phạm vi trồng lúa trên thế giới phân bố rất rộng, từ vùng thấp đến vùng cao, từ những vùng nóng ẩm của Ấn Độ đến các vùng sa mạc có tưới ở Pakistan và độ cao 2500m so với mặt nước biển Lúa có thể trồng ở nhiều loại đất khác nhau, từ phù sa màu mỡ đến các loại đất cát, đất sét, đất bạc màu, đất trũng úng ngập, nghèo dinh dưỡng và pH 3-10 Điều đó chứng tỏ cây lúa có khả năng thích ứng rộng với những điều kiện khác nhau trên thế giới
Do xác định được tầm quan trọng của cây lúa trong nền kinh tế - xã hội nên nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là những nước đang phát triển quan tâm chú trọng đẩy mạnh sản xuất phát triển cây lúa Những năm gần đây, khi khoa học kỹ thuật phát triên mạnh mẽ đã áp dụng nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, làm cho diện tích được mở rộng, năng suất sản lượng lúa tăng nhanh, điều đó thể hiện qua bảng 2.1
Trang 14Bảng 2.1 Diễn biến diện tích, năng suất, sản lượng lúa trên thế giới
Năm Diện tích
(triệu ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
Trang 15thường như lũ, hạn hán, ngập úng, do quá trình sản xuất ở nhiều nước gặp phải thiên tai và dịch hại.… bên cạnh đó hình việc hình thành các vùng chuyên canh cây công nghiệp, cây ăn quả cũng đang trực tiếp làm cho diện
tích canh tác lúa trên thế giới bị thu hẹp
Trong giai đoạn này, năng suất lúa thế giới tăng đều đều liên tục từ năm
2011 đến năm 2016 Năm 2011 năng suất đạt 43,364 tạ/ha, năm 2016 năng suất đạt được 46,366 tạ/ha, tăng 3,002 tạ/ha so với năm 2011 Điều này cho thấy, trình độ thâm canh lúa của nhân dân trên thế giới ngày càng được nâng cao
Theo dự báo của các nhà khoa học trên Thế giới thì năng suất lúa bình quân trên Thế giới đã đạt gần mức tối đa và ít có biến động nhưng sản lượng lúa trong tương lai sẽ giảm vì diện tích gieo trồng ngày càng bị thu hẹp, do tốc độ đô thị hoá ngày càng nhanh, đất nông nghiệp một phần bị chuyển đổi thành đất xây dựng khu công nghiệp, làm đường giao thông và các khu đô thị
Theo thống kê của tổ chức Liên Hợp Quốc, năm 2011 dân số Thế giới đạt khoảng 7 tỷ người và dự kến đến năm 2030 lên khoảng 8,47 tỷ người, với tốc độ tăng dân số nhanh như vậy thì vấn đề an ninh lương thực luôn là vấn
đề cấp bách quan trọng hàng đầu Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA) thì tổng nhu cầu về gạo của toàn thế giới luôn cao hơn hẳn so với tổng lượng gạo sản xuất hàng năm của cả thế giới từ 2 - 4 triệu tấn, vì vậy trong cả hiện tại và tương lai vấn đề đảm bảo an ninh lương thực thế giới nói chung và nhất là ở các quốc gia ở khu vực châu Á, châu Phi, khu vực Mỹ Latinh vẫn là những vấn đề được quan tâm hàng đầu Hay nói cách khác, sản xuất lương thực, trong đó có sản xuất lúa luôn là nhiệm vụ quan trọng của mỗi quốc gia trên thế giới
Cây lúa ưa khí hậu nóng, ẩm, chân ruộng ngập nước và cần nhiều công chăm sóc Theo thống kê, trên thế giới có khoảng 114 quốc gia trồng lúa,
Trang 16trong đó 51 nước có diện tích trồng lúa trên 1.000.000 ha tập trung ở châu Á, chiếm 9/10 sản lượng lúa gạo trên thế giới
Ở châu Á, lúa là lương thực chính giống như bắp của dân Nam Mỹ, hạt
kê của dân châu Phi hoặc lúa Mì của dân châu Âu và Bắc Mỹ Tuy nhiên, các nước trong khu vực này đều rất đông dân với tập quán lâu đời dùng lúa gạo, nên lúa gạo sản xuất ra chủ yếu để sử dụng trong nước
Nhìn chung, năng suất lúa cao tập trung ở các quốc gia có nhiệt độ ngày và đêm cao hơn và trình độ canh tác phát triển tốt hơn Các nước nhiệt đới có năng suất bình quân thấp do chế độ nhiệt và ẩm độ cao, sâu bệnh phát triển mạnh và trình độ canh tác hạn chế Diện tích, năng suất, sản lượng lúa
của các châu lục năm 2017 được trình bày trong bảng 2.2
Bảng 2.2 Diện tích, năng suất, sản lượng lúa của các châu lục năm 2017 Các châu lục Diện tích
(triệu ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
Trang 17triệu ha chiếm 3,6% thế giới Châu Đại Dương có diện tích trồng lúa thấp nhất là 0,08744 triệu ha, chỉ chiếm 0,05% diện tích lúa thế giới nhưng năng suất bình quân lại cao nhất so với các châu lục khác; cao gấp 1,97 lần năng suất lúa châu Á, gấp 3,84 lần so với châu Phi
Đầu thập niên 90 sản lượng lương thực đã tăng 78-80%, có nước tăng gấp đôi nhờ việc lai tạo được những giống mới cho năng suất cao và kỹ thuật thâm canh tiên tiến Tuy vậy, việc thiếu lương thực ở một số nước vẫn xảy ra châu Phi là nước có thời tiết khắc nghiệt rất hay gặp thiên tai, nội chiến xảy ra thường xuyên, sản lượng lương thực bình quân đầu người ở Châu lục này thấp
Thế kỷ 21 với sự tiến bộ vượt bậc của khoa học kỹ thuật, một số nước
có nền nông nghiệp lạc hậu, thiếu đói triền miên, nay đã vươn lên trở thành nước xuất khẩu gạo lớn trên thế giới Nhưng bên cạnh đó tình hình sản xuất lúa trên thế giới chưa đồng đều giữa các châu lục, các quốc gia, rất nhiều nước do nền khoa học chưa phát triển, điều kiện tự nhiên không thuận lợi nên năng suất sản lượng lúa chưa cao
Bảng 2.3 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của 10 nước đứng đầu thế
giới năm 2017 STT Tên nước Diện tích
(triệu ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản Lượng (triệu tấn)
Trang 18Qua bảng 2.3 cho ta thấy: Trong 10 quốc gia sản xuất lúa gạo hàng đầu thế giới có đến 9/10 quốc gia thuộc khu vực châu Á, chiếm sản lượng cao
so với toàn thế giới, và chỉ có một đại diện thuộc Châu lục khác, đó chính là Brazin đứng thứ 8 về diện tích trong bảng thống kê
Ấn Độ là nước có diện tích trồng lúa lớn nhất thế giới, năm 2017, diện tích trồng lúa của Ấn Độ là 43,789 triệu ha, chiếm 26,2% diện tích trồng lúa
cả thế giới Sản lượng lúa đạt 168,50 triệu tấn Ấn Độ cũng là nước khá thành công trong việc chọn tạo giống lúa lai là một trong những nước đi đầu trong cuộc cách mạng xanh
Trung Quốc là quốc gia có sản lượng lúa gạo đứng thứ hai trên thế giới Năm 2017, sản lượng lúa gạo đạt 214,43 triệu tấn chiếm 27,9% sản lượng toàn thế giới Trung Quốc và cả Ấn Độ là một trong những quốc gia có năng suất lúa cao nhất thế giới Đây là hai quốc gia có trình độ thâm canh lúa cao nhất và đi đầu thế giới trong lĩnh vực sản xuất lúa lai (ICARD 2013)
Tuy nhiên, cả Trung Quốc và Ấn độ đều là những nước đông dân, mặc dù
có sản lượng lúa gạo đứng số 1, số 2 trên thế giới nhưng tính bình quân lương thực theo đầu người của 2 quốc gia này lại đạt chỉ số thấp Sản xuất lúa gạo chủ yếu phục vụ nhu cầu trong nước (riêng Ấn Độ vẫn có xuất khẩu) Xét trên thị trường thế giới, chỉ có khoảng 4% sản lượng lúa gạo được được buôn bán trên thị trường thế giới Trong đó Việt Nam (chiếm 15% xuất khẩu gạo thế giới), Thái Lan (chiếm 26%) và Hoa Kì (chiếm 11%) là những nước có xuất khẩu gạo hàng đầu trên thế giới, trong khi đó ba quốc gia nhập khẩu gạo nhiều đó là Inđônixia (nhập khẩu 14%); Bangladesh (nhập khẩu 4%) và Brazin (nhập khẩu 3%) (FAOSTAT, 2019)
Trong bảng 2.3, ta còn thấy có Australia, tuy là một nước có diện tích
và sản lượng lúa rất thấp nhưng vẫn được đưa vào bảng vì đây là nước có năng suất lúa cao nhất trên thế giới, đạt 98,208 tạ/ha Điều này chứng tỏ
Trang 19Australia là nước có nền nông nghiệp phát triển và đáng để các nước trên thế giới phải học hỏi
1.2.2 Tình hình nghiên cứu lúa trên Thế giới
Cây lúa là cây đa dạng về mặt di truyền và hình thái (Casanova D., et
al, 2002) do đó tạo ra những giống lúa mới đạt năng suất cao, chịu thâm canh,
thích nghi với điều kiện sinh thái là việc làm rất quan trọng không chỉ đối với các nhà khoa học mà còn đối với các viện nghiên cứu
- Viện nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) đã lai tạo và chọn lọc thành công hàng nghìn giống lúa tốt và được gieo trồng phổ biến ở nhiều nước trên Thế giới như các giống lúa: IR6, IR8, IR20, IR26 (Giraud G (2010) IRRI đã có những chương trình về chọn lọc và so sánh các dòng giống khác nhau đã tạo ra
sự nhảy vọt về năng suất Viện nghiên cứu này đã có những tập đoàn về giống lúa rất đa dạng và phong phú Năm 1970 IRRI đã thu thập được 1.530 giống lúa địa phương, góp phần nhân lên 12.880 giống, đồng thời Viện đã gửi đi các giống lúa này tới nhiều nước để nghiên cứu (IRRI, 1996)
- Tình hình nghiên cứu lúa ở Mỹ: Năm 1926 JW Jones bắt đầu nêu ra vấn đề ưu thế lai ở lúa khi khảo nghiệm lúa ở Đài Loan Trải qua nhiều thập
kỷ, Mỹ đã có nhiều nhà khoa học tham gia nghiên cứu trực tiếp và giải quyết vấn đề lương thực Trong những năm gần đây các nhà khoa học của Mỹ không chỉ quan tâm đến việc chọn lọc, lai tạo mà còn nghiên cứu tìm ra biện pháp thâm canh phù hợp với từng vùng Năm 2003, Mỹ xuất khẩu được 3,4 triệu tấn gạo đứng thứ ba trên Thế giới sau Thái Lan và Việt Nam
- Tình hình nghiên cứu lúa ở Trung Quốc: Trung Quốc là nước có nhiều thành công trong việc nghiên cứu chọn tạo ra các giống lúa có năng suất cao, chất lượng tốt Các giống lúa lai của Trung Quốc được tạo ra trong thời gian gần đây đều có tính ưu việt hơn hẳn về năng suất, chất lượng, khả năng chống chịu sâu bệnh Các giống lúa lai như: Bồi Tạp Sơn Thanh, Nhị ưu
Trang 20838, Bắc ưu 64, Bắc Thơm, Bồi Tạp 49… đang được trồng khảo nghiệm cũng như sản xuất ở nhiều địa phương và tỏ ra rất thích ứng Ngoài lúa lai ra các giống lúa thuần như Khang dân 18, Kim cương 90 cũng rất ưu việt, những giống này được đưa vào sản xuất ở Việt Nam và mang lại nhiều kết quả cao Hiện nay, các nhà khoa học Trung Quốc đã kết hợp với các nhà khoa học của Việt Nam, Nhật Bản để tìm ra các giống lúa HEXI 34 và HEXI 35 có năng suất cao từ 83,5- 88,0 tạ/ha (Nguyễn Văn Hoan, 2006)
- Tình hình nghiên cứu lúa ở Ấn Độ: Ấn Độ là một nước đi đầu trong cuộc cách mạng xanh về cải tiến giống lúa Viện nghiên cứu lúa Trung ương
Ấn Độ được thành lập năm 1946 tại Cutuck, bang Orisa đóng vai trò đầu tầu trong việc nghiên cứu, lai tạo các giống lúa mới phục vụ cho nhu cầu sản xuất Ấn Độ cũng là nước có giống lúa chất lượng cao nổi tiếng trên Thế giới
như: Basmati, Brimphun (Ying, J et al, 1998) Một trong những giống lúa
chất lượng cao được các nhà khoa học Ấn Độ chọn tạo thành công nhập về Việt Nam là giống BTE-1, giống này đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam công nhận năm 2007
- Tình hình nghiên cứu lúa ở Thái Lan: Thái Lan là nước đứng đầu Thế giới về xuất khẩu gạo Đầu những năm 1950 Thái Lan đã thu thập, chọn lọc, làm thuần một số giống địa phương rồi đưa vào sản xuất ví dụ như: Giống lúa Muang Huang, Dowk Payon được trồng phổ biến ở miền Nam Thái Lan có khả năng đạt 2,8 tấn/ha, giống Khao Dawk Mali 105 là giống lúa chất lượng cao, gạo thơm ngon, dẻo, năng suất đạt 3 - 4 tấn/ha (De Datta S.K., 1981) Các giống này khi nhập vào Việt Nam đã được sử dụng rộng rãi trong sản xuất ở Đồng Bằng Sông Cửu Long từ năm 1992 (Nguyễn Văn Luật, 2001)
Trang 211.3 Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam
Trước năm 1945, diện tích trồng lúa ở hai vùng đồng bằng Bắc bộ và Nam bộ đạt 1,8 triệu ha và 2,8 triệu ha với năng suất bình quân đạt 13 tạ/ha, sản lượng tương ứng là 2,4 -3 triệu tấn Thời gian này người nông dân gieo trồng các giống lúa cũ là chủ yếu, ở miền Bắc sử dụng các giống lúa cây cao,
ít chịu thâm canh, dễ đổ năng suất thấp (Bùi Huy Đáp, 1999)
Theo tác giả Bùi Huy Đáp, (1999), quá trình khai hoang phục hóa cùng với quá trình thâm canh tăng vụ đã đưa tổng diện tích trồng lúa và sản lượng lúa nước ta tăng lên rõ rệt Từ năm 1961-1975, nhờ áp dụng tiến bộ kỹ thuật
đã đưa vào sản xuất một số giống lúa Xuân thấp cây, ngắn ngày đã đảm bảo được thời vụ nên sản xuất lúa ở nước ta đạt được nhiều kế quả đáng kể về năng suất và sản lượng
Từ năm 1975-1986, hòa bình thống nhất đất nước, Nhà nước ta cũng đã
có nhiều chính sách và biện pháp tích cực nhằm phát triển nông nghiệp, đặc biệt là trong sản xuất lương thực để giải quyết nhu cầu cấp bách về lương thực Trong giai đoạn này sản lượng lúa tăng từ 10,29 triệu tấn (1975) lên 16,00 triệu tấn (1986), năng suất tăng từ 21,19 tạ/ha lên 28,06 tạ/ha Tuy nhiên, so với nhu cầu tiêu dùng lương thực trong nước thì vẫn chưa đáp ứng được, nước ta vẫn phải nhập khẩu lương thực, năng suất lúa mặc dù có tăng nhưng nhìn chung vẫn còn thấp
Từ sau khi thực hiện đổi mới (1986) với nhiều chính sách tích cực trong sản xuất nông nghiệp đã giải phóng được sức lao động, phát huy tinh thần sáng tạo, thi đua hăng hái của nhân dân đã góp phần mở rộng diện tích
và sản lượng lương thực Bên cạnh đó, việc đẩy mạnh nghiên cứu chọn, tạo giống lúa mới, áp dụng khoa học kỹ thuật trong sản xuất lương thực, sử dụng giống mới, các loại phân bón, thuôc trừ sâu… đã tạo lên bước phát triển nhanh chóng trong sản xuất lương thực Nước ta từ chỗ thiếu ăn triền miên,
Trang 22phải nhập khẩu lương thực thì nay không những đảm bảo được nhu cầu lương thực trong nước mà còn là một trong những nước xuất khẩu lúa gạo hàng đầu trên Thế giới
Năm 2017 Việt Nam là nước có diện tích trồng lúa lớn trên Thế giới (tổng diện tích trồng lúa năm 2017 của nước ta đạt 7,708 triệu ha, đứng thứ 6 trên Thế giới) Người Việt Nam vẫn thường tự hào về nền văn minh lúa nước của đất nước mình Từ xa xưa cho đến nay cây lúa đã trở thành cây lương thực chủ yếu, có ý nghĩa quan trọng trong đời sống của người Việt Nam, (Bùi Huy Đáp, 1999)
Bảng 2.4 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa nước ta từ năm 2011-2017
Năm Diện tích
(nghìn ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (nghìn tấn)
Trang 23tạ/ha năm 2015 thì vẫn là mức cao so với năng suất của trung bình thế giới Tuy nhiên, năm 2017 cả diện tích, năng suất và sản lượng lúa đều giảm so với năm 2014 và 2015
Trong top 10 quốc gia đứng đầu trên thế giới về sản xuất lúa thì Việt Nam là nước có năng suất lúa đứng trong tốp năng suất cao, chỉ sau 3 nước: Ôxtrâylia, Nhật Bản và Trung Quốc Có thể nói, đây là những thành tựu nổi bật, khẳng định tính chất đúng đắn của đường lối chủ trương phát triển của Đảng và Nhà nước ta trong thời kỳ đổi mới Tuy nhiên, muốn có sự tăng trưởng về năng suất và sản lượng lúa một cách vững chắc thì cần phải nỗ lực nhiều hơn của các cán bộ kỹ thuật trong các Viện nghiên cứu trong việc chọn tạo những giống lúa có năng suất và chất lượng tốt, sự thay đổi cơ cấu mùa vụ hợp lý hơn, cải thiện hệ thống thủy lợi, áp dụng rộng rãi các tiến bộ khoa học – kỹ thuật thâm canh tổng hợp, và không ngừng nâng cao trình độ canh tác của người nông dân
Bảng 2.5 Diện tích, năng suất, sản lượng lúa của một số vùng trồng lúa
chính của Việt Nam năm 2017 Chỉ tiêu
Vùng
Diện tích (nghìn ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (nghìn tấn)
Bắc Trung bộ và Duyên Hải
Trang 24Qua bảng thống kê, ta thấy, năng suất lúa của vùng Đồng bằng Sông Hồng cao nhất (56,8 tạ/ha) tiếp đến là vùng Đồng bằng Sông cửu Long (56,4 tạ/ha) thấp nhất là vùng Trung du miền núi phía bắc (49,1 tạ/ha) do địa hình đồi núi dốc, khó khăn trong việc canh tác trồng cây lúa nước
Năng suất lúa của Đồng bằng Sông Cửu Long thấp hơn so với của Đồng bằng Sông hồng 0,4 tạ/ha Nguyên nhân là do người dân Đồng Bằng Sông Hồng đã áp dụng các biện pháp Khoa học kỹ vào thuật thâm canh lúa,
sử dụng nhiều gống lúa lai có năng suất cao vào sản xuất, điều kiện đất đai không bị nhiễm mặn và ngập nước Đồng Bằng Sông Cửu Long đất đại bị nhiễm mặn ngập nước, kỹ thuật thâm canh còn hạn chế chủ yếu là gieo sạ cho nên ảnh hưởng đến năng suất lúa Vùng Bắc trung bộ và duyên hải Miền Trung năng suất thấp hơn 2 vùng trên do chịu nhiều ảnh hưởng của yếu tố thời tiết bất thuận như nắng nóng, gió Lào và thiên tai bất khả kháng như: mưa bão, lũ lụt làm giảm đáng kể năng xuất, sản lượng lúa hàng năm (Nguyễn Văn Bộ, 2014)
1.4 Tình hình nghiên cứu lúa ở Việt Nam
Cây lúa có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội của người Việt Nam, cây lúa không chỉ góp phần đảm bảo được vấn đề an ninh lương thực cho quốc gia đông dân thứ 13 trên Thế giới như nước ta mà còn là mặt
Trang 25hàng xuất khẩu đem lại nguồn thu ngoại tệ lớn, giải quyết hàng ngàng việc làm cho người lao động Vì thế Đảng và Nhà nước ta đã xác định việc nghiên cứu toàn diện về cây lúa, đầu tư vào sản xuất lúa là một nhiệm vụ quan trọng Điều kiện sinh thái của nước ta rất đa dạng nên đòi hỏi phải có bộ giống lúa phong phú để đáp ứng được các tiểu vùng sinh thái Do đó trong những năm qua song song với việc nghiên cứu tuyển chọn những giống lúa cũ, lai tạo các giống lúa mới thì nước ta còn chú trọng nhập nội các giống lúa có năng suất
và chất lượng cao trên Thế giới nhằm phục vụ cho nhu cầu sản xuất
Theo thống kê của Trung tâm Khảo nghiệm giống cây trồng (Cục Trồng trọt (2015), trong vụ lúa Đông Xuân năm 2000, riêng các tỉnh ở phía Bắc có 192 giống lúa được gieo trồng (chưa kể một số giống lúa địa phương chưa có tên rõ ràng) thì các giống lúa thuần Việt Nam chiềm 45% diện tích gieo trồng, các giống lúa Trung Quốc chiếm khoảng 55% diện tích gieo trồng Trong đó, các giống lúa như: Khang Dân 18, Q5, Sán Ưu 63, IR17494, X21,
CR 203 là có diện tích gieo trồng lớn nhất
Việt Nam có hàng nghìn giống lúa được gieo trồng từ Bắc vào Nam, trong đó có rất nhiều giống cổ truyền có chất lượng cao như các loại lúa: Tám thơm, lúa Di, Nàng thơm, Nếp cái hoa vàng, Nếp cẩm, Nếp Tú Lệ,…Ngoài ra chúng ta cũng thuần hóa được nhiều giống lúa tốt từ nước ngoài mà nay đã thành các giống lúa đặc sản của Việt Nam có thương hiệu: IR64, Bao Thai Định Hóa, Điện Biên, Séng Cù- Bát Xát, Khaođomaly -Tiền Giang (Nguyễn Thị Lẫm và cộng sự, 2003)
Trong quá trình nghiên cứu phát triển các giống lúa có chất lượng cao, các Viện nghiên cứu và các trường Đại học Nông nghiệp có vai trò vô cùng quan trọng Viện cây lương thực và cây thực phẩm là Viện nghiên cứu cây lúa hàng đầu ở Việt Nam, đã được thành lập từ rất sớm Viện này đã được các nhà khoa học danh tiếng như Giáo sư Lương Đình Của, Viện sỹ Vũ Tuyên
Trang 26Hoàng lãnh đạo và chỉ đạo công tác nghiên cứu, chọn tạo các giống lúa Hàng trăm giống lúa Xuân, lúa Mùa, lúa chịu hạn, chịu úng, lúa nếp, lúa hàng lượng Protein cao, lúa chịu mặn đã được chọn tạo ở Viện này Điển hình giống P4
và P6 là giống lúa lai tạo theo hướng chất lượng protein cao, đây là hai giống lúa tốt và đạt tiêu chuẩn xuất khẩu Giống lúa P4 có thời gian sinh trưởng trung bình, trồng được 2 vụ trên năm năng suất đạt khá cao 55 tạ/ha, cao nhất
có thể đạt 72 tạ/ha Giống P4 có hàng lượng Protein có thể đạt đến 11%, hàm lượng amiloza 16-20%, hạt gạo dài, tỷ lệ xát đạt 70%, tỷ lệ gạo nguyên đạt 65% (Vũ Tuyên Hoàng và cộng sự, 1998) Giống P6 ngắn ngày hơn giống P4, thuộc loại hình thâm canh, hàm lượng protein đạt 10,5%, năng suất đạt 45-55 tạ/ha, cao nhất đạt 60 tạ/ha (Vũ Tuyên Hoàng và cộng sự, 1998) Sau đó là giống lúa LT3 là giống lúa thơm cũng được chọn lọc từ nguồn gen lúa sẵn có được đưa ra sản xuất (Nguyễn Phụ Chu, 2007)
Viện Khoa học Kỹ thuật Việt Nam cũng là Viện nghiên cứu nông nghiệp hàng đầu ở nước ta và có nhiều thành tựu trong việc chọn tạo giống lúa nhất là các giống lúa chất lượng cao và lúa lai Trước đây Viện đã nhập và chọn lọc thành công các giống lúa có chất lượng tốt như: IR64, IR66, NN9A
là những giống đạt tiêu chuẩn xuất khẩu Giống lúa nếp 314 do Viện lai tạo ra cũng được trồng phổ biến Hiện tại các giống lúa HYT84 của Viện lai tạo cũng đã được công nhận năm 2004, đã được ứng dụng ở nhiều nơi và cũng cho kết quả khả quan (Trương Đích, 1999)
Các viện như Viện Di truyền Nông nghiệp cũng đã nghiên cứu và tạo
ra những giống mới nổi tiếng như: DT10, DT12, V18, Viện Bảo vệ Thực vật cũng đã chọn tạo được nhiều giống lúa chất lượng tốt, năng suất cao: CR203, C70, C71,… Viện lúa Đồng bằng Sông Cửu Long là viện nghiên cứu chuyên sâu về các giống lúa lai tại Trung tâm của châu thổ sông Cửu Long, các giống lúa MTL214, MTL305, MTL385, MTL389, OM35-36 do Viện chọn tạo được
Trang 27trồng rộng rãi ở vùng đồng bằng này, tạo được bước ngoặt tăng trưởng về năng suất, sản lượng và chất lượng (Trương Đích, 1999)
Cả nước có trên 30 đơn vị nghiên cứu chọn tạo giống cây trồng mới trong đó có 7 đơn vị thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo Hệ thống các trường Đại học Nông nghiệp cũng rất quan tâm đến công tác nghiên cứu chọn tạo giống cây trồng như: Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội nay là Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã chọn tạo ra giống lúa lai hai dòng mới TH8-3 (T7S/R3)
do Phòng Công nghệ lúa lai thực hiện TH8-3 là giống lúa lai cảm ôn, thời gian sinh trưởng ngắn: vụ mùa 105 - 110 ngày, vụ xuân 121 - 126 ngày, năng suất 50 - 80 tạ/ha, chất lượng gạo tốt, cơm ngon dẻo, nhiễm nhẹ đạo ôn, bạc
lá, khô vằn, rầy nâu, cây cứng, chống đổ khá TH8-3 đã qua khảo nghiệm VCU, DUS, đã thử nghiệm sản xuất tại một số địa phương, được công nhận sản xuất thử trong vụ xuân muộn, mùa sớm, hè - thu ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam Quy trình kỹ thuât nhân dòng và sản xuất hạt lai F1 đã được nghiên cứu thiết lập để phát triển sản xuất với năng suất hạt lai đạt 2,0 - 2,67 tấn/ha (Nguyễn Thị Trâm và cộng sự, 2011); Trường Đại học Nông nghiệp Cần Thơ
đã nghiên cứu ra nhiều giống ngắn ngày có năng suất cao, đặc biệt là có khả năng chống rầy như giống NN3A; Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên là nơi đào tạo ra đội ngũ kỹ sư nông nghiệp chủ yếu phục vụ cho các tỉnh miền Bắc Nhà trường có đội ngũ giảng viên có trình độ cao rất tâm huyết với nghề, ngoài công tác giảng dạy còn tham gia nghiên cứu khoa học và đã chọn tạo ra
2 giống lúa tốt là giống K3 và Nông lâm 7 có khả năng chịu rét và cho năng suất cao (Nguyễn Thị Lẫm và cộng sự, 2003)
1.5 Tình hình sản xuất lúa của Hà Nội
Hà Nội có diện tích lúa hàng năm khoảng 200.000 ha và nằm ở khu vực Đồng Bằng Sông Hồng nên thích hợp cho sự phát triển các loại cây trồng nói chung và cây lúa nói riêng
Trang 28Diện tích, năng suất, sản lượng lúa của Thành Phố Hà Nội trong những năm gần đây được thể hiện qua bảng 2.6
Bảng 2.6 Diện tích, năng suất, sản lượng lúa của Hà Nội
giai đoạn 2011 - 2017
Năm Diện tích
(nghìn ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (nghìn tấn)
Nguồn: Cục thống kê TP Hà Nội, [2018]
Qua bảng số liệu 2.6 ta thấy, diện tích trồng lúa của Hà Nội từ năm
2011 đến 2012 ít có biến động nhưng kể từ năm 2013 trở đi diện tích bắt đầu giảm dần, thấp nhất là năm 2017 chỉ còn 189,9 nghìn ha Nguyên nhân là do đất nông nghiệp bị thu hẹp bởi các khu công nghiệp, quy hoạch phát triển đô thị, xây dựng các công trình công ích, quy hoạch quốc phòng
Về năng suất: Nhìn chung năng suất lúa của Hà Nội cũng tương đối ổn định trong những năm qua Có được kết quả này là do thay đổi được những thói quen canh tác lạc hậu và áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất, sử dụng có hiệu quả của phân bón và phòng trừ sâu bệnh đúng khoa học đồng thời người dân đã mạnh dạn đưa những giống lúa mới cho năng suất cao vào sản xuất Năm 2017, năng suất ở mức thấp nhất (55,4 tạ/ha)
Trang 29là do yếu tố thời tiết và một nguyên nhân trực tiếp đó là do sâu bệnh và thời tiết bất thuận làm ảnh hưởng đến năng suất lúa của Hà Nội
1.6 Tình hình sản xuất lúa của huyện Thường Tín
Thường Tín có diện tích lúa hàng năm khoảng 10 nghìn ha luôn đứng tốp đầu của thành phố Hà Nội Ngành nông nghiệp của huyện được lãnh đạo các cấp quan tâm, có nhiều cơ chế chính sách cho phát triển nông nghiệp (hỗ trợ giống, đầu tư cơ sở hạ tầng cứng hóa kênh mương thủy lợi nội đồng, chuyển giao các tiến bộ KHKT, công tác BVTV,…) góp phần làm tăng năng suất, sản lượng cây trồng Sản lượng lương thực ước tính hằng năm đạt khoảng 65.000 tấn trong đó 40.000 tấn phục nhu cầu tại địa phương, số còn lại cung cấp thị trường thủ đô và các huyện lân cận
Diện tích, năng suất, sản lượng lúa của huyện Thường Tín trong những năm gần đây được thể hiện qua bảng 2.7
Bảng 2.7: Tình hình sản xuất lúa của huyện Thường Tín giai đoạn 2012 - 2017 Chỉ tiêu
Năm
Diện tích (ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (nghìn tấn)
Nguồn: Phòng kinh tế huyện Thường Tín năm [2018]
Nhận xét: Qua số liệu bảng 2.7 ta thấy:
Diện tích trồng lúa của huyện Thường Tín giảm dần qua các năm, từ năm 2012 đến năm 2017 diện tích trồng lúa giảm 1.594,86 ha Nguyên nhân
là do đất nông nghiệp bị thu hẹp bởi chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ cây lúa
Trang 30sang cây ăn quả, cây rau, nuôi trồng thủy sản, xây dựng khu công nghiệp, mở rộng đường giao thông,
Về năng suất: Năng suất lúa tương đối ổn định qua các năm, để giữ được năng suất nêu trên do có sự vào cuộc của các cấp Ủy đảng, chính quyền địa phương, sự giúp đỡ của các nhà khoa học, các cơ quan chuyên môn, đặc biệt là sự cần cù chịu khó không ngừng học hỏi, mạnh dạn đầu tư áp dụng các tiến bộ KHKT vào sản xuất của người nông dân (áp dụng hệ thống thâm canh lúa cải tiến SRI, hiệu ứng hàng biên, quản lý dịch hại tổng hợp IPM, )
Cơ cấu giống lúa của huyện Thường Tín những năm gần đây được thể hiện ở bảng 2.8
Bảng 2.8 Cơ cấu lúa giống lúa của huyện Thường Tín giai đoạn 2012-2017 Năm
Nhóm giống
chịu thâm canh
Nhóm giống chất lượng
Nhóm giống năng suất
Nhóm giống chất lượng
Khang dân 18, Q5
Bắc thơm số 7, Hương thơm số 1, RVT
Khang dân 18, Q5
Bắc thơm số 7, Hương thơm số 1, RVT
Khang dân 18, Q5
Bắc thơm số 7, Hương thơm số 1, RVT
Khang dân 18, Q5
Bắc thơm số 7, Hương thơm số 1, RVT
Thiên ưu 8, TBR225,TBR45
Bắc thơm số 7, Hương thơm số 1, RVT
Thiên ưu 8, TBR225, TBR45
Bắc thơm số 7, Hương thơm số 1, RVT
Nguồn: Phòng kinh tế huyện Thường Tín tháng [2018]
Trang 31Nhận xét: Qua số liệu bảng 2.8 ta thấy
Nhóm giống lúa năng suất có xu hướng giảm thay vào đó nhóm giống chất lượng được tăng lên 10% từ năm 2016, điều đó cho thấy việc sử dụng nhóm giống lúa chất lượng vào sản xuất tại huyện Thường Tín được chính quyền ưu tiên góp phần ngày càng nâng cao chất lượng cuộc sống
Nhóm giống lúa năng suất chủ lực là Khang dân và Q5 là 2 giống chủ lực trong năm 2012 đến năm 2015, tuy nhiên trong quá trình sản xuất nó thể hiện một số hạn chế như năng suất có xu hướng giảm, khả năng nhiễm bệnh đạo ôn ở vụ xuân cao,… do vậy năm 2016, 2017 giống thiên ưu 8, TBR225, TBR45 là nhóm giống lúa năng xuất chủ lực được đưa vào sản xuất trên địa bàn huyện
Nhóm giống lúa chất lượng chủ lực là giống Bắc thơm số 7, Hương thơm số 1, RVT, trong những năm qua nhóm giống này được giữ vững trong
cơ cấu giống của địa phương vì khả năng cho năng suất, chất lượng gạo ổn định, phù hợp với điều kiện thâm canh của địa phương
Trang 32Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Vật liệu nghiên cứu
Gồm 6 giống lúa mới: Giống Bắc Hương 9, SL 18, SL 16, Lam Sơn
116, Gia Lộc 26, Đài Hương số 8 và giống Bắc thơm số 7 được gieo trồng phổ biến tại địa phương làm đối chứng
Năm 2016 được Bộ nông nghiệp và PTNT công nhận cho phép sản xuất thử theo quyết định số 235/QĐ - TT
5 SL16 130-135 Trung tâm giống cây trồng Nghệ An Chưa được công nhận giống Quốc gia
6 SL18 130-135 Trung tâm giống cây trồng Nghệ An Chưa được công nhận giống Quốc gia
1992
Năm 1998 được Bộ nông nghiệp công nhận giống quốc gia theo QĐ số 1224/BNN- KHCN ngày 21/4/1998
2.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu:
* Địa điểm nghiên cứu:
- Địa điểm: Thí nghiệm được tiến hành tại xã Văn Bình và xã Duyên Thái, huyện Thường Tín thành phố Hà Nội
Trang 33* Thời gian nghiên cứu:
Vụ Xuân 2018: Từ tháng 1/2018 đến tháng 6 /2018
2.3 Nội dung nghiên cứu:
- Nghiên cứu khả năng sinh trưởng của các giống lúa tham gia thí nghiệm
- Nghiên cứu đặc điểm nông học của các giống lúa tham gia thí nghiệm
- Đánh giá khả năng chống chịu của các giống lúa tham gia thí nghiệm
- Nghiên cứu các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống lúa tham gia thí nghiệm
2.4 Phương pháp nghiên cứu:
- Tiến hành theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khảo nghiệm giá trị canh tác và sử dụng của giống lúa QCVN 01-55: 2011/BNNPTNT của Bộ NN&PTNT, (2011),
- Bệnh khô vằn: Theo QCVN 01-66: 2014/BNNPTNT, Quy chuẩn kỹ thuật
quốc gia về phương pháp điều tra phát hiện hại lúa (Bộ NN&PTNT, 2014)
- Đánh giá độ bạc bụng :Theo QCVN: 8373:2010, tiêu chuẩn Quốc gia về gạo trắng - đánh giá chất lượng cảm quan cơm bằng phương pháp cho điểm
- Chất lượng cơm: Theo TCVN 8737: 2010 GẠO- Đánh giá cho điểm
2.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm gồm 7 công thức, mỗi công thức tương ứng với 1 giống lúa được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh, với 3 lần nhắc lại được tiến hành trong vụ Xuân 2018
- Xung quanh thí nghiệm có dải bảo vệ
- Tổng số ô thí nghiệm là 7 x 3 = 21 ô
- Diện tích mỗi ô thí nghiệm là 10m2 (5m x 2m)
- Tổng diện tích ô thí nghiệm: 210m2 (một địa điểm)
- Sơ đồ thí nghiệm
Trang 342.4.2 Quy trình kỹ thuật
a Thời vụ gieo cấy:
- Ngày gieo: ngày 27/1/2018
- Ngày cấy: ngày 20/2/2018
b Làm đất: Ruộng được cầy bừa kỹ, sạch cỏ dại trước khi cấy bừa san
phẳng mặt ruộng
c Phương pháp làm mạ: Gieo mạ dược, mật độ gieo 28 kg/360m2, mạ
được che phủ nilon 100% ngay sau khi gieo
d Tuổi mạ khi cấy: 24 ngày
Trang 35Thời kỳ lúa:
Lượng phân (kg/ha):
+ Phân chuồng ủ hoai mục: 8000;
* Phòng trừ sâu bệnh: Phòng trừ sâu, bệnh bắt gặp trên ruộng thí nghiệm (sâu cuốn lá nhỏ, sâu đục thân bướm hai chấm, bệnh đạo ôn, rầy nâu ) kịp thời, thường xuyên theo dõi và tiến hành phun thuốc theo hướng dẫn của ngành bảo vệ thực vật
* Thu hoạch khi có khoảng 85 đến 90% số hạt trên bông đã chín Trước
khi thu hoạch mỗi giống lấy mẫu 10 khóm để đánh giá các chỉ tiêu trong phòng
2.4.3 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi
* Nhóm chỉ tiêu về sinh trưởng: Theo dõi 10 cây theo đường chéo của