1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đời sống kinh tế văn hóa của cư dân phường trà cổ thành phố móng cái tỉnh quảng ninh (1998 2018)

121 41 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 3,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay làm thế nào để vừa thúc đẩy sự phát triển toàn diện của kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, đồng thời giữ được nhữn

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo đúng quy định

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2019

Tác giả luận văn

Trần Thúy Hương

Xác nhận của Khoa chuyên môn

PGS.TS Hà Thị Thu Thủy

Xác nhận của người hướng dẫn khoa học

PGS.TS Nguyễn Thị Quế Loan

Trang 4

Tôi xin trân trọng cảm ơn các cơ quan, ban ngành, đoàn thể, các vị lãnh đạo và

bà con nhân dân của phường Trà Cổ, thành phố Móng Cái đã cung cấp tư liệu, tạo điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn

Xin bày tỏ lòng biết ơn Ban Giám hiệu Trường THPT Quảng Hà - nơi tôi đang công tác, các đồng nghiệp, bạn bè và những người thân yêu trong gia đình đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu

Luận văn này là kết quả bước đầu của quá trình nghiên cứu khoa học, song do điều kiện năng lực và thời gian còn hạn chế, đề tài không tránh khỏi những sơ suất, thiếu sót Tác giả mong được sự đóng góp, bổ sung của các thầy cô và các bạn để công

trình thêm hoàn thiện

Tác giả luận văn

Trần Thúy Hương

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các chữ viết tắt v

Danh mục các bảng vi

Danh mục các biểu đồ vii

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8

5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 9

6 Đóng góp của đề tài 10

7 Bố cục của đề tài 10

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ PHƯỜNG TRÀ CỔ, THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH 12

1.1 Vị trí địa lý và lịch sử hình thành 12

1.2 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 15

1.3 Dân cư và truyền thống cách mạng 19

1.4 Đời sống kinh tế, văn hóa của cư dân phường Trà Cổ trước năm 1998 22

Chương 2 ĐỜI SỐNG KINH TẾ CỦA CƯ DÂN PHƯỜNG TRÀ CỔ (1998 - 2018) 29

2.1 Kinh tế ngư nghiệp 30

2.1.1 Hoạt động khai thác thủy hải sản 30

2.1.2 Hoạt động nuôi trồng thủy hải sản 35

2.2 Kinh tế du lịch - dịch vụ 38

2.3 Kinh tế nông nghiệp 49

Trang 6

Chương 3 ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA CƯ DÂN PHƯỜNG TRÀ CỔ (1998 - 2018) 55

3.1 Văn hóa vật chất 55

3.2 Văn hóa tinh thần 60

3.2.1 Phong tục, tập quán 60

3.2.2 Lễ hội 68

3.2.3 Tín ngưỡng, tôn giáo 79

3.3 Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa 82

KẾT LUẬN 88

TÀI LIỆU THAM KHẢO 91

PHỤ LỤC 95

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 1.1 Sản lượng và bình quân lương thực đầu người ở Trà Cổ 27

Bảng 2.1 Thống kê số liệu khai thác thủy sản tại phường Trà Cổ (1998 - 2018) 31

Bảng 2.2 Những ngư cụ chủ yếu của ngư dân Trà Cổ hiện nay 33

Bảng 2.3 Số lượng khách và doanh thu từ du lịch của phường Trà Cổ từ năm 1998 đến năm 2018 39

Bảng 2.4 Thu nhập của 20 hộ gia đình kinh doanh dịch vụ du lịch tại Trà Cổ 44

Bảng 2.5 Giá trị sản xuất nông nghiệp của Trà Cổ (2009 - 2015) 50

Bảng 2.6 Phương tiện phục vụ đời sống trong gia đình ở Trà Cổ (2018) 53

Bảng 3.1 Những lễ hội chính được tổ chức tại phường Trà Cổ 68

Trang 9

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Trang

Biểu đồ 1.1 Diện tích các loại đất của phường Trà Cổ 16

Biểu đồ 1.2 Dân số phường Trà Cổ các năm 1998, 2008, 2018 19

Biểu đồ 2.1 Số hộ gia đình chuyên canh nuôi trồng thủy sản ở Trà Cổ 36

Biểu đồ 2.2 Diện tích và sản lượng nuôi trồng thủy sản ở Trà Cổ 36

Biểu đồ 2.3 Thị phần khách du lịch chia theo quốc tịch đến Trà Cổ 44

Biểu đồ 2.4 Sản lượng lương thực bình quân đầu người của phường Trà Cổ 51

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Khi viết về chủ nghĩa duy vật biện chứng, Ph.Ăngghen đã nhận định: “Con

người trước hết cần phải ăn, uống, chỗ ở và mặc đã rồi mới có thể làm chính trị, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo…” [6, tr.499 - 450] Luận điểm này thực sự có giá trị lý luận

khoa học cho sự phát triển của lịch sử nhân loại nói chung và mỗi quốc gia nói riêng

Đó chính là quy luật phát triển của tất yếu của loài người: Cơ sở vật chất của đời sống

xã hội sẽ quyết định đặc thù của thượng tầng kiến trúc Đó cũng là một lôgíc đơn giản

có ý nghĩa biện chứng giữa vật chất và ý thức nói chung cũng như mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa nói riêng Chính vì lẽ đó mà các thể chế nhà nước, các quan điểm pháp quyền đã cố gắng thúc đẩy quan hệ giữa kinh tế và văn hóa nhằm đáp ứng các nhu cầu vật chất, tinh thần ngày càng cao của con người Vấn đề kinh tế, văn hóa vì thế mà thu hút được quan tâm của nhiều nhà khoa học trên thế giới

Trong đời sống của các cộng đồng cư dân, kinh tế và văn hóa là lĩnh vực hoạt động mang tính thiết yếu, gắn liền với nhu cầu vật chất và tinh thần của con người Ở mỗi giai đoạn, hoạt động kinh tế và văn hóa thường có tác động qua lại và ảnh hưởng lẫn nhau Cùng với quá trình phát triển kinh tế, mục tiêu nâng cao các giá trị văn hóa cũng được đặt ra Do vậy, nghiên cứu kinh tế, văn hóa của các cộng đồng cư dân từng khu vực cụ thể là một việc làm cần thiết nhằm đem lại những hiểu biết chính xác và toàn diện hơn về lịch sử địa phương cũng như lịch sử dân tộc Bởi lẽ, lịch sử địa phương ngoài những đặc điểm chung mang tính quy luật của lịch sử dân tộc còn có những nét đặc thù Đó là một thực tế khách quan phản ánh điều kiện môi trường lịch sử cụ thể với những mối quan hệ cụ thể trên một lãnh thổ cụ thể

Những thập niên gần đây, một trong những đặc trưng và xu thế của các quan hệ kinh tế quốc tế có liên quan đến phát triển các vùng ven biển Vì lẽ đó, trong công cuộc xây dựng đất nước, Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm đến việc phát triển kinh tế, văn hóa ở các địa phương duyên hải, bởi việc xây dựng và triển khai chính sách đối với vùng ven biển và hải đảo có ý nghĩa chiến lược đối với việc bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ quốc gia Tuy vậy, cho đến nay chúng ta vẫn chưa tận dụng và phát huy hết các lợi thế về khai thác các nguồn lợi tài nguyên của mình Việc nghiên cứu địa hình, khí hậu, môi trường sinh thái, đời sống kinh tế, phong tục, tập quán của cư dân ven biển không chỉ giải quyết được mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế, văn hóa và bảo vệ môi trường,

Trang 11

giữa phát triển kinh tế và chủ quyền, an ninh quốc gia mà còn tạo điều kiện cho kinh

tế phát triển từ đất liền vươn ra ngoài khơi

Nằm ở vị trí tiền tiêu vùng Đông Bắc của Tổ quốc, có chung đường biên giới trên biển với Trung Quốc, phường Trà Cổ là một bán đảo có vị trí địa - chiến lược quan trọng Trải qua bao thăng trầm cùng dân tộc, nơi đây điểm đầu Sa Vĩ vẫn hiên ngang như một minh chứng trường tồn trước thời gian:

“Hùng vĩ thay toàn thân đất nước, Tựa Trường Sơn vươn tới Trường Sa

Từ Trà Cổ rừng dương tới Cà Mau rừng đước,

Đỏ bình minh mặt sóng khơi xa ” [40; tr.132]

Với vị trí đó, Trà Cổ cần phải được tạo điều kiện phát triển mạnh về kinh tế, giữ vững bản sắc về văn hóa Nhận thức được tầm quan trọng đó, ngày 20/7/1998, Chính phủ đã thành lập phường Trà Cổ, trực thuộc thành phố Móng Cái Trải qua 20 năm phát triển (1998 - 2018), kinh tế và văn hóa của Trà Cổ đã có những chuyển biến, góp phần làm thay đổi bộ mặt địa phương và cuộc sống của nhân dân Từ một làng vạn chài nghèo, sống nhờ vào nguồn hải sản tự nhiên đánh bắt ở biển, đến nay Trà Cổ đã xây dựng được nền kinh tế phát triển với cơ cấu: Du lịch - dịch vụ, ngư nghiệp, nông - lâm nghiệp, trong đó du lịch - dịch vụ là ngành kinh tế mũi nhọn

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, địa phương cũng còn bộc lộ những tồn tại, bất cập cần phải được giải quyết Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay làm thế nào để vừa thúc đẩy sự phát triển toàn diện của kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, đồng thời giữ được những nét đặc trưng độc đáo về văn hoá của cư dân vùng Trà Cổ trước xu thế bị phá vỡ, nguy cơ đánh mất bản sắc, đánh mất truyền thống, ảnh hưởng văn hoá ngoại lai, xa rời văn hoá truyền thống? Điều này một phần có sự đóng góp của công tác nghiên cứu, điều tra, đánh giá tổng hợp kinh

tế, văn hóa của địa phương nhằm xây dựng cơ sở khoa học cho việc đề xuất những giải pháp, mô hình phát triển bền vững về kinh tế, mang bản sắc văn hóa đặc trưng cho phường Trà Cổ

Với những lý do trên, tác giả chọn đề tài “Đời sống kinh tế, văn hóa của cư

dân phường Trà Cổ, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh (1998 - 2018)” làm luận

văn thạc sĩ với hy vọng việc nghiên cứu đề tài không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận, mà

còn góp phần làm sáng tỏ những vấn đề thực tiễn của phường Trà Cổ

Trang 12

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trà Cổ là vùng đất mang những đặc trưng riêng về địa lý, tự nhiên, văn hóa Thế nhưng, những nghiên cứu về Trà Cổ giai đoạn 1998 - 2018 còn là một khoảng trống

Để thực hiện luận văn, tác giả đã kế thừa kết quả nghiên cứu liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến đề tài, cụ thể như sau:

Năm 1983, tác giả Lê Ngọc Thắng, Đào Bá Dậu trong nghiên cứu “Đôi nét về

làng biển ở nước ta” đã khái quát những nét tiêu biểu nhất của cư dân một số làng ven

biển Việt Nam về đặc điểm kinh tế, phong tục, tập quán, tín ngưỡng [13]

Trong bài “Vài nét về đời sống của ngư dân vùng biển Đông Bắc Việt Nam”

(năm 1985), tác giả Diệp Trung Bình đã nghiên cứu về sinh hoạt sinh kế và đời sống văn hóa, xã hội của ngư dân ở khu vực vùng Đông Bắc Việt Nam Tác giả đã chỉ ra mối quan hệ về gia đình, dòng họ và ảnh hưởng trực tiếp của các mối quan hệ này đến đời sống ngư dân ở vùng Đông Bắc Việt Nam [5]

Tác giả Nguyễn Khắc Sử đã chỉ rõ vai trò, vị trí của biển với cư dân tiền sử vùng

Đông Bắc Việt Nam trong nghiên cứu “Biển với cư dân tiền sử vùng Đông Bắc” (năm

1995) Ông nhận định: Có thể xem vùng biển Đông Bắc Việt Nam là vùng văn hóa biển đậm nét nhất trong các nền văn hóa tiền sử nước ta [36]

Công trình “Biển với người Việt cổ” (năm 1996) [14] của Viện nghiên cứu Đông

Nam Á, nghiên cứu về người Việt cổ với việc khai thác tài nguyên sinh vật biển Những kết quả nghiên cứu của công trình đã cung cấp cái nhìn lịch đại để nhận thấy người Việt thời tiền, sơ sử cho đến thời kỳ độc lập tự chủ và kể cả ngày nay luôn có mối quan

hệ khăng khít không tách rời biển Vì vậy, mối quan hệ giữa người Việt với biển được xem như là một tất yếu, khi mà đất nước Việt Nam có chiều dài bờ biển lên tới 3.260km, các vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam rộng gấp ba lần diện tích lãnh thổ trong đất liền, lại nằm trên trục đường giao thông của ngã ba Đông Nam Á, thuộc khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, một vị trí chiến lược quan trọng cho sự phát triển kinh tế

- chính trị - quân sự - văn hoá - xã hội

Công trình “Cộng đồng ngư dân ở Việt Nam” (2002) của tác giả Nguyễn Duy

Thiệu đã nghiên cứu tương đối toàn diện và sâu các mặt đời sống của cộng đồng ngư dân, về cơ cấu tổ chức xã hội và các phương thức, ngư cụ đánh bắt truyền thống Tác giả đã giới thiệu ba tín ngưỡng có tính đại diện của ngư dân: thờ cá Ông, thờ Mẫu và

Trang 13

thờ Thánh Công trình là tư liệu tham khảo quan trọng để chúng tôi tiếp cận đời sống tín ngưỡng của cư dân Trà Cổ [37]

Tác giả Lê Hồng Lý có bài “Đôi nét về văn hoá dân gian ven biển trong nền

kinh tế thị trường” [28] Trong bài viết của mình, tác giả đã khẳng định: Biển luôn ở

cạnh người Việt, nhưng hình như nó không được người Việt chú ý đến và việc khai thác biển của người Việt chủ yếu là khai thác ven bờ và vùng nước lợ Tác giả đã giới thiệu một số sinh hoạt văn hóa tiêu biểu của các cộng đồng cư dân ven biển nước ta như: lễ hội cá Ông, lễ hội thờ Thành Hoàng làng, tín ngưỡng thờ tổ tiên, phong tục thuyền mới Đặc biệt, tác giả đề cập đến những tác động của kinh tế thị trường, làm cho bộ mặt đời sống và nhiều yếu tố văn hóa của cư dân ven biển có nhiều thay đổi

Năm 2010, tác giả Nguyễn Thị Hải Lê trong bài nghiên cứu “Đặc trưng văn hóa

biển của người Việt” đã phân tích khá rõ đặc trưng cơ bản về văn hóa biển của người

Việt là: Yếu tố biển xen lẫn yếu tố nông nghiệp - đồng bằng và luôn tồn tại những cặp đối lập, song hành; Truyền thống biển trong văn hóa của người Việt là truyền thống biển cận duyên; Xét theo trục không gian, chất biển từ nhạt ở miền Bắc, đậm hơn ở miền Trung và lại ít đi khi vào Nam Bộ, theo trục thời gian, chất biển ngày càng đậm đặc theo tiến trình lịch sử; Đã tiếp thu truyền thống biển của các dân tộc khác trong quá trình tiếp xúc và giao lưu Những luận điểm này của Nguyễn Thị Hải Lê là tư liệu tham khảo quan trọng để chúng tôi xem xét yếu tố môi trường tác động đến đời sống kinh tế, văn hóa cư dân Trà Cổ [27]

Tác giả Trần Thị Mai An viết bài “Phác thảo yếu tố biển trong văn hóa Việt

Nam” (2010) [1], bên cạnh hệ thống hóa các vấn đề về văn hóa biển, nguồn gốc của

văn hóa biển, phân tích các yếu tố biển trong tri thức dân gian người Việt, tác giả cũng

đi sâu vào làm rõ các hoạt động kinh tế sơ khai trên biển

Năm 2012, Lê Thanh Tùng hoàn thành luận án tiến sĩ “Lễ hội cổ truyền của cư

dân ven biển Hải Phòng và sự biến đổi trong giai đoạn hiện nay” Trong luận án, tác

giả đã nghiên cứu về đặc điểm lễ hội truyền thống của cư dân ven biển Hải Phòng, đồng thời so sánh để thấy những biến đổi trong giai đoạn hiện nay Những nhận định trong nghiên cứu của Lê Thanh Tùng là tài liệu quan trọng để tác giả luận văn có cơ sở khi xem xét về nguồn gốc của cư dân Trà Cổ khi đối sánh những nét tiêu biểu trong văn hóa biển ở Hải Phòng với vùng ven biển Trà Cổ [43]

Trang 14

Những công trình nghiên cứu về tỉnh Quảng Ninh liên quan đến luận văn mà tác giả đã tiếp thu được như:

Năm 1996, tác giả Điền Nam - Trần Nhuận Minh có bài “Những lễ hội độc đáo

ở tỉnh Quảng Ninh” đăng trên Tạp chí Văn hoá dân gian đã giới thiệu khá chi tiết về 3

lễ hội truyền thống của Quảng Ninh: Lễ hội làng Quan Lạn (Vân Đồn), lễ hội Tiên Công thuộc 7 xã vùng nam sông Bạch Đằng, hội hái hoa trong lễ cưới Bài viết đi sâu giới thiệu những nét độc đáo, màu sắc riêng biệt của các lễ hội kể trên [29]

Năm 1998, Ban Tuyên giáo tỉnh uỷ Quảng Ninh cho xuất bản cuốn “Quảng

Ninh đất và người” Công trình đã cung cấp một cái nhìn mang tính hệ thống về lịch

sử, văn hóa đất và người Quảng Ninh, cũng như nhận định rõ hơn những tiềm năng, triển vọng trong đầu tư, phát triển kinh tế tại tỉnh Quảng Ninh [3]

Công trình “Văn hóa dân gian làng Vân” (2002) trên đảo Quan Lạn, huyện Vân

Đồn của tác giả Nguyễn Quang Vinh đã nghiên cứu về lịch sử, vị thế và cư dân vùng văn hóa làng Vân - một làng quê lâu đời trên đảo Cuốn sách đề cập đến cuộc sống lao động, các ngành nghề, một số phong tục, tập quán, tôn giáo tín ngưỡng, đình chùa, nghè, miếu và lễ hội thơ ca, hò vè ở làng Vân [45]

Năm 2003, Sở văn hóa và thông tin tỉnh Quảng Ninh đã cho xuất bản cuốn “Lý

lịch di tích kiến trúc nghệ thuật đình Trà Cổ” Bên cạnh làm rõ quá trình hình thành

của đình Trà Cổ, tài liệu cũng đã cung cấp cho người đọc những nét đặc trưng về kiến trúc mang đậm nét văn hoá cổ truyền của người Việt Ngoài ra, tài liệu cũng giới thiệu khái quát về nét độc đáo của lễ rước thần trên biển và hội thi “Ông voi” [34]

Năm 2003, Tỉnh ủy - Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh xuất bản bộ sách “Địa

chí Quảng Ninh” gồm 3 tập đã cung cấp một cách tổng hợp, khái quát về vị trí địa lý -

lịch sử, kinh tế - chính trị, văn hóa - xã hội của tỉnh Quảng Ninh Bộ sách sách làm rõ những nét cơ bản về đất đai, địa hình, sông núi, khí hậu, con người, truyền thống lịch

sử, quá trình phát triển kinh tế, văn hoá, phong tục tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo, luật

lệ, hệ thống chính trị, an ninh, quốc phòng…và các mối liên hệ gắn bó giữa các lĩnh vực đó trên nền địa lý tỉnh Quảng Ninh Bộ sách cung cấp những tư liệu khái quát về địa phương mà mình nghiên cứu [40 - 42]

Kỷ niệm 40 năm ngày thành lập tỉnh Quảng Ninh (30/10/1963-30/10/2003), Ban

Tuyên giáo Tỉnh ủy Quảng Ninh cho xuất bản cuốn “Quảng Ninh 40 năm xây dựng và

Trang 15

phát triển” Cuốn sách giới thiệu khái quát về đặc điểm địa lý, kinh tế, tiềm năng và

truyền thống cách mạng của xứ mỏ Công trình đã nhìn lại quá trình 40 năm xây dựng

và phát triển, cùng cả nước thực hiện đổi mới, vượt qua không ít khó khăn, thách thức

để đạt được những thành tựu to lớn Trong dòng chảy lịch sử ấy, nhiều kinh nghiệm quý giá về xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội được đúc kết Công trình là tư liệu quan trọng để tác giả luận văn tham khảo khi viết về những chuyển biến về kinh tế của cư dân phường Trà Cổ đặt trong bối cảnh chung của tỉnh Quảng Ninh [4]

Tác giả Nguyễn Quang Vinh trong công trình “Văn hóa ẩm thực Quảng Ninh”

(2006) đã nghiên cứu về những món ăn truyền thống, phong phú của tỉnh Quảng Ninh Mặc dù có điểm tương đồng trong nguồn nguyên liệu, tên gọi món ăn với các cư dân vùng ven biển khác, song trong cách chế biến của cư dân Quảng Ninh có nét riêng biệt, mang đặc trưng của vùng mình Vì vậy, nên những món ăn này rất cần được khai khác, phát triển để góp phần thúc đẩy du lịch và tạo dựng thương hiệu cho Quảng Ninh [46]

Tác giả Đàm Thị Uyên, Nguyễn Thanh Thủy có bài “Tục thờ cúng trong đời

sống tâm linh của ngư dân đảo Quan Lạn, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh” (2009)

đăng trên tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á [39] Các tác giả đã nghiên cứu phong tục thờ cúng khá phong phú của cư dân đảo Quan Lạn vào các dịp lễ hội trong năm Bài viết là tư liệu để tác giả tham khảo so sánh viết về tục thờ cúng ở Trà Cổ

Năm 2011, BCH Đảng bộ phường Trà Cổ xuất bản cuốn “Lịch sử cách mạng

của Đảng bộ và nhân dân phường Trà Cổ (1958 - 2008)” Công trình đã ghi lại truyền

thống lịch sử quý báu của địa phương, những sự kiện lịch sử, những thành tựu nổi bật

và những hạn chế trong quá trình chỉ đạo của Đảng bộ trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, trong lao động sản xuất ở Trà Cổ giai đoạn 1958 - 2008 [2]

Luận văn thạc sỹ của tác giả Hoàng Văn Vinh về “Xây dựng đời sống văn hóa

ở huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh” (2013) Bên cạnh việc khái quát những vấn đề

cơ bản về văn hóa, xây dựng đời sống văn hóa và đặc điểm của địa phương, tác giả đã phân tích sâu về thực trạng, chỉ ra những hạn chế và nguyên nhân trong việc xây dựng đời sống văn hóa trên toàn địa bàn huyện [47] Cùng với lĩnh vực nghiên cứu về đời

sống văn hóa còn có luận văn của tác giả Phạm Thị Thúy Nga về “Xây dựng đời sống

văn hóa tại xã Vạn Ninh, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh” (2014) Luận văn đã

khái quát những vấn đề cơ bản về xây dựng đời sống văn hóa và thiết chế văn hóa ở cơ

Trang 16

sở Tác giả cũng phân tích thực trạng và đưa ra một số nhóm giải pháp về xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở tại xã Vạn Ninh, thành phố Móng Cái [30]

Tác giả Nguyễn Thị Phương Thảo (2016) với công trình “Văn hóa vùng biển

đảo Quảng Ninh qua các lễ hội truyền thống” đã nghiên cứu khá tỉ mỉ về hệ thống

các di tích lịch sử - văn hóa trên đảo Quan Lạn và lễ hội đua thuyền tại Vân Đồn Tác giả đã nêu ra được một số đặc trưng cơ bản của người dân vùng biển nơi đây,

đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa

Bên cạnh các công trình và bài viết kể trên, một số công trình nghiên cứu, tập san, bài viết, báo cáo của các phòng, ban cũng đề cập đến hoạt động kinh tế, văn

hóa trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh như: Tác giả Hồng Hải với công trình “Quảng

Ninh tiềm năng và triển vọng” (1991); “Báo cáo kết quả dự án sưu tầm lễ hội đình Trà Cổ” (2005) do Sở Văn hóa Thông tin Quảng Ninh phát hành; Vũ Trọng Hoàng

với công trình “Quảng Ninh trên đường hội nhập” (2011); Từ Thị Loan với công trình “Ca dao, dân ca vùng mỏ và vùng biển Quảng Ninh” (2013) Tác giả Nguyễn Thị Phương Thảo với một loạt bài nghiên cứu về lễ hội tại Quảng Ninh như “Mối

tương quan giữa các lễ hội ven biển quảng ninh với các lễ hội vùng duyên hải bắc bộ” (2014), “Những đặc trưng của lễ hội truyền thống ven biển Quảng Ninh”

(2014), “Nhận diện lễ hội truyền thống ven biển Quảng Ninh” (2014) đã đề cập đến

những phương diện về đời sống vật chất và văn hóa của cư dân vùng biển Quảng Ninh nói chung, trong đó có liên quan đến mức độ nhất định đến địa danh Trà Cổ nói riêng

Cho đến nay, mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về cư dân ở biển đảo nói chung, về kinh tế, văn hóa - xã hội của tỉnh Quảng Ninh hoặc các hoạt động kinh tế và một số nét sinh hoạt phong tục, tập quán, lễ hội của cư dân ven biển Quảng Ninh song chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống về kinh

tế, văn hóa phường Trà Cổ từ năm 1998 đến năm 2018 Do đó, việc nghiên cứu có

hệ thống đời sống kinh tế, văn hoá của cư dân Trà Cổ trong 20 năm (1998 - 2018), nhận diện được những nét đặc trưng, xu hướng biến đổi là những vấn đề cấp thiết,

có ý nghĩa về mặt khoa học và thực tiễn

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Trang 17

Luận văn tập trung nghiên cứu về đời sống kinh tế, văn hóa của cư dân phường

Trà Cổ, thành phố Móng Cái (1998 - 2018)

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về thời gian: Luận văn giới hạn thời gian nghiên cứu từ năm 1998 đến năm

2018 Sở dĩ lấy thời gian từ năm 1998 là do sự kiện ngày 20/07/1998, Chính phủ ban hành Nghị định 52/NĐ-CP về việc thành lập thị xã Móng Cái thuộc tỉnh Quảng Ninh

(trên cơ sở diện tích, dân sô huyện Hải Ninh) và thành lập các phường, xã thuộc thị xã

Theo đó, xã Trà Cổ được đổi thành phường Trà Cổ và chính thức hoạt động theo đơn

vị hành chính mới, từ đây mở ra một thời kì mới với những chuyển biến mạnh mẽ về kinh tế - xã hội trong lịch sử phát triển của địa phương

- Về không gian: Đề tài chủ yếu nghiên cứu hoạt động kinh tế, văn hóa của cư

dân ở phường Trà Cổ Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu, tác giả sẽ đề cập đến một

số địa phương để tìm ra những nét tương đồng và khác biệt với đời sống kinh tế, văn hóa của cư dân Trà Cổ

- Về nội dung nghiên cứu: Tác giả tập trung nghiên cứu về hoạt động du lịch -

dịch vụ, ngư nghiệp, nông nghiệp của cư dân phường Trà Cổ Về đời sống văn hóa, tác

giả nghiên cứu về văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của cư dân Trà Cổ

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu tổng thể về kinh tế, văn hóa phường Trà Cổ, thành phố Móng Cái trong 20 năm (1998 - 2018) Trên cơ sở đó đề xuất kiến nghị nhằm thúc đẩy hơn nữa phát triển kinh tế - xã hội của Trà Cổ nói riêng và tỉnh Quảng Ninh nói chung trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Xuất phát từ mục đích trên, tác giả sẽ thực hiện nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, khái quát về phường Trà Cổ

Thứ hai, nghiên cứu các hoạt động kinh tế, văn hóa của cư dân phường Trà Cổ

trong giai đoạn từ năm 1998 đến năm 2018

Thứ ba, từ kết quả nghiên cứu, đề tài rút ra đặc điểm riêng về tình hình kinh tế,

văn hóa của cư dân phường Trà Cổ trong giai đoạn 1998 - 2018 Trên cơ sở đó, đề tài

Trang 18

đưa ra một số giải pháp nhằm thúc đẩy kinh tế, văn hóa của Phường phát triển bền vững hơn nữa trong giai đoạn

5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

5.1 Nguồn tư liệu

Để thực hiện đề tài, tác giả sử dụng các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị của các cấp

ủy Đảng, Nhà nước, báo cáo của UBND phường Trà Cổ về phát triển kinh tế, văn hóa cho nhân dân địa phương trong khoảng thời gian mà luận văn đề cập Những số liệu thống kê của các sở, ban, ngành như niên giám thống kê của tỉnh Quảng Ninh, Chi cục Thống kê thành phố Móng Cái, báo cáo của Ban Quản lý các di tích, cũng được chúng tôi tập hợp, xử lý

Tác giả luận văn tham khảo các cuốn lịch sử địa phương, công trình nghiên cứu của các học giả đã công bố thành sách, các bài viết trên các tạp chí chuyên ngành, luận

án tiến sĩ, các báo cáo trong các hội thảo, chuyên đề có đề cập đến khía cạnh tiếp cận của đề tài

Cùng với các nguồn tài liệu thành văn nói trên, tác giả luận văn còn sử dụng một

số tài liệu thu thập được qua các đợt điền dã thực tế tại phường Trà Cổ thông qua quan sát địa hình, cảnh quan, đời sống, văn hóa, xã hội…của nhân dân địa phương; sử dụng phiếu điều tra thu thập thông tin; chụp ảnh tư liệu để có sự nhìn nhận thực tế, đánh giá khách quan những kết quả đạt được và chưa đạt được về kinh tế, văn hóa tại địa phương

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở nguồn tư liệu đã được sưu tầm, chọn lọc và xác minh, chúng tôi sử dụng hai phương pháp chủ yếu là phương pháp lịch sử và phương pháp logic Với phương pháp lịch sử, chúng tôi cố gắng khôi phục lại bức tranh chân thực, sinh động theo đúng trình tự thời gian với những sự kiện, những con số cụ thể phản ánh trung thực về đời sống kinh tế, văn hóa của cư dân phường Trà Cổ từ 1998 đến 2018 Phương pháp lôgic được sử dụng để phân tích, đánh giá, khái quát, rút ra đặc trưng về những nội dung đề tài nghiên cứu

Ngoài ra luận văn còn sử dụng các phương pháp điền dã dân tộc học để quan sát, khảo tả một cách chân thực bức tranh kinh đời sống kinh tế, văn hóa của cư dân Trà Cổ Bên cạnh đó, việc quan sát phỏng vấn, trao đổi ý kiến để thu thập thông tin về những vấn đề liên quan đến đời sống kinh tế, văn hóa của cư dân trên bán đảo cũng

Trang 19

được thực hiện Phương pháp phân tích tổng hợp được dùng để nhận thức sâu đối tượng nghiên cứu Phương pháp so sánh để chỉ ra sự tương đồng và khác biệt giữa kinh tế, văn hóa của Trà Cổ với các địa phương khác

6 Đóng góp của đề tài

Về khoa học: Đề tài là công trình nghiên cứu toàn diện, giúp người đọc có cái

nhìn tổng thể về tình hình kinh tế - văn hóa phường Trà Cổ giai đoạn 1998 - 2018 Từ thực tiễn nghiên cứu, tác giả luận văn chỉ ra những điểm mạnh, khó khăn, bất cập trong quá trình phát triển kinh tế - văn hóa ở một địa phương ven biển

Về thực tiễn: Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả tập hợp, xử lý nguồn

tư liệu có liên quan đến đề tài Hy vọng đây sẽ là một đóng góp nhỏ về mặt tư liệu phục

vụ cho việc nghiên cứu, giảng dạy về lịch sử địa phương, về văn hóa vùng hoặc địa chí văn hóa Kết quả của luận văn có thể gợi mở cho các cơ quan quản lý có cách nhìn thấu đáo về chuyển biến kinh tế, văn hóa tại địa phương để có những điều chỉnh chính sách phù hợp nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng đời sống cho nhân dân

7 Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương, cụ thể như sau:

Chương 1: Khái quát về phường Trà Cổ, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh Chương 2: Đời sống kinh tế của cư dân phường Trà Cổ (1998 - 2018)

Chương 3: Đời sống văn hóa của cư dân phường Trà Cổ (1998 - 2018)

Trang 20

Hình: Bản đồ các đơn vị hành chính của thành phố Móng Cái

(Nguồn: https://mongcai.gov.vn)

Trang 21

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ PHƯỜNG TRÀ CỔ THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH 1.1 Vị trí địa lý và lịch sử hình thành

Phường Trà Cổ là điểm cực Đông Bắc của Tổ quốc (mũi Gót hay mũi Sa Vĩ), là nơi đặt nét vẽ đầu tiên về đất liền trên bản đồ Việt Nam Phía Bắc của phường Trà Cổ giáp phường Hải Hòa; phía Nam giáp biển Đông; phía Tây giáp phường Bình Ngọc; phía Đông giáp Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, phân định biên giới Việt Nam - Trung Quốc bằng cột mốc 1377, 1378 Đây là một phường biên giới, có đường biên giới biển giáp với Trung Quốc dài 7,5km Vị trí của phường khoảng 21°25’ Bắc, 108°00’ Đông Phường nằm về phía Đông Nam của thành phố Móng Cái, cách trung tâm thành phố 8km, cách Hà Nội 334km, từ Hạ Long ra Trà Cổ khoảng 132 km

Mặc dù có một phần không gian địa lý tự nhiên gắn với “đất liền” nhưng nhìn một cách tổng quan, Trà Cổ là một bán đảo mà bao quanh là bờ biển dài, được bồi tụ

do sóng và dòng biển ven bờ tạo nên, có nước thủy triều lên xuống Trước kia từ Móng Cái ra Trà Cổ phải vượt qua một đầm lầy như một eo biển nhỏ, tục gọi là sông Trà Cổ nên địa thế khu vực gần như một hải đảo Một con đê được đắp nối Trà Cổ vào đất liền

và quãng đầm cũ ngăn cách Trà Cổ và Móng Cái đã bị lấp dần vào thế kỷ 20 Hình thế của Trà Cổ là một dải đất dài chạy theo hướng đông bắc - tây nam Mặt đông nam nhìn

ra Vịnh Bắc Bộ, hướng tây bắc trông vào đất liền Góc đông bắc nhìn sang Trung Quốc

là mũi Gót Góc tây nam là mũi Ngọc hướng về đảo Vĩnh Thực

Như vậy, Trà Cổ là một bán đảo nằm ở vị trí tiền tiêu, có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế, văn hóa, đảm bảo an ninh quốc phòng Về an ninh: Đây là một điểm chốt quan trọng, không thể đánh chiếm, thuận lợi trong việc kiểm soát diễn biến trên nhiều hướng: Trên biển khơi, trên các đảo và cả phần lục địa ven biển Trà Cổ hợp thành một vòng cung thoải quay phần lõm về phía biển khơi đã hình thành nên một lá chắn lớn cho đất liền Đồng thời, do nằm ở vị trí cửa khẩu trên biển, kiểm soát một vùng biển rộng lớn nên vai trò của Trà Cổ càng được tăng cường Nằm ở vị trí “cửa ngõ” trong giao lưu kinh tế với đất liền và với nhiều khu kinh tế lớn mạnh của Trung Quốc, Trà Cổ lại được bao bọc bởi một vùng biển rộng lớn, nằm ngay cạnh ngư trường lớn Đông Bắc với nguồn lợi hải sản phong phú Chính những điều

Trang 22

kiện đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế biển đồng thời cũng là điều kiện cho phát triển các ngành kinh tế truyền thống như nông nghiệp, lâm nghiệp Trà

Cổ cũng có mối liên hệ mật thiết với các điểm, tuyến du lịch trong đất liền do có đặc điểm và chế độ hải văn thích hợp để phát triển nhiều loại hình du lịch biển Nằm trong khu vực rìa của Biển Đông, Trà Cổ có điều kiện thuận lợi trong giao lưu kinh tế với các nước trên thế giới, đặc biệt là khu vực châu Á - Thái Bình Dương, khu vực phát triển kinh tế năng động của thế giới Vì vậy, Trà Cổ có vị trí quan trọng trong trung chuyển hàng hóa

Với vị trí địa lý, vị thế và tiềm năng như trên, chắc chắn Trà Cổ sẽ có những đóng góp tích cực, hiệu quả cho phát triển chung của tỉnh Quảng Ninh Tuy nhiên, trong những năm qua, kinh tế biển của Phường mặc dù đã có những kết quả khả quan nhưng nhìn chung quy mô phát triển còn chưa tương xứng với tiềm năng vốn có

Những cư dân đặt chân đến vùng đất Trà Cổ “khai sơn lập thạch” vốn có gốc gác từ Đồ Sơn Chính vì vậy, người Trà Cổ qua bao đời nay vẫn lưu truyền câu ca

“Người Trà Cổ - Tổ Đồ Sơn” để con cháu luôn nhớ về nguồn cội gốc gác xa xưa của

mình Theo truyền thuyết của nhân dân địa phương, vào thế kỷ XV, cuộc chiến tranh Trịnh-Mạc đã khiến nhân dân vùng Đông Bắc, nhất là quê hương của nhà Mạc ở Nghi Dương, Kiến Thuỵ (Hải Phòng) điêu đứng, nhiều gia đình phải tha hương tìm vùng đất mới sinh sống Trong số đó có 12 gia đình dân chài quê ở Đồ Sơn đã lên thuyền đi về phía đông bắc Trong một lần sóng to gió lớn, 12 gia đình đã trôi dạt vào một bán đảo hoang vu chỉ có sú vẹt Sau khi đặt chân lên đảo, 6 gia đình khi nhìn thấy cảnh nơi đây hoang vu và buồn chán nói rằng:

“Ở đây ăn bổng lộc gì Lộc sung thì chát, lộc si thì già” [2; tr.9]

Và thế là 6 gia đình tìm cách trở về với quê hương cũ, 6 gia đình còn lại nhìn thấy phong cảnh hữu tình, tiềm năng đầy hứa hẹn của vùng đất mới, có thể sống bằng nghề đánh bắt nên đã ở lại sinh sống và lập làng Họ nói rằng:

“Ở đây vui thú non tiên, Tháng ngày ngày lọc nước lấy tiền nuôi nhau” [2; tr.9]

Các gia đình cùng nhau khai phá vùng đất mới, ngày ngày vừa đánh cá vừa khai hoang, sau một thời gian họ đã tạo lập được một làng nhỏ Trải qua thời gian, ngôi làng

Trang 23

dần trù phú, con cháu đông đúc Họ đã lập lên một làng mới nhưng họ không quên hướng về quê hương cũ nên đã lấy tên làng Trà Phương và Cổ Trai ở Đồ Sơn (Hải

Phòng) ghép thành tên làng “Trà Cổ” để đặt cho làng mới của mình, với ý nghĩa luôn

nhớ về quê hương Đồ Sơn Cuối thời hậu Lê, xóm làng ấy đã phát triển thành một vùng quê với một tổ chức xã hội ổn định Như nhiều làng quê khác trên đất nước Việt Nam, ngôi đình làng đã được nhân dân góp công, góp của xây dựng lên, đó chính là đình Trà

Cổ Theo lời kể của nhân dân địa phương thì sau khi xây dựng, các cụ tiên công ở đây

đã về quê cũ tại Đồ Sơn xin chân hương để rước các vị thành hoàng ở đó là Khổng Lộ, Giác Hải, Nhân Minh, Huyền Quốc, Quảng Trạch Đồng thời tôn hai vị thần là Ngọc Sơn (Thần Núi) và Bạch Điểm Tước (Thần Chim) lên làm thành hoàng của làng Về sau, từ ngôi làng nhỏ đã mở rộng thêm các thôn Đông Thịnh, Tràng Lộ, Tràng Sa, Sa

Vĩ, Ngọc Sơn và Bình La [34; tr.28]

Từ khi lập làng đến nay, Trà Cổ đã trải qua nhiều lần sáp nhập, chia tách với nhiều đơn vị hành chính khác nhau Thời nhà Nguyễn trở về trước là vạn Trà Cổ thuộc tổng Hải Ninh, châu Vạn Ninh, trấn An Quảng Dưới thời Tự Đức là xã Trà cổ thuộc châu Vạn Ninh Thời Đồng Khánh là xã Trà Cổ thuộc Tổng Ninh Hải, Châu Vạn Ninh [33; tr.427] Thời Thành Thái xã Trà Cổ thuộc châu Hà Cối, phủ Hải Ninh Thời Duy Tân, năm 1910, xã Trà Cổ được chia thành hai xã: Trà Cổ ở phía bắc và Bình Ngọc ở phía nam, cả hai thuộc tổng Hải Ninh, châu Móng Cái Bình Ngọc gồm hai thôn Ngọc Sơn và Bình La Trà Cổ bao gồm những thôn còn lại

Hòa bình lập lại, ngày 2/7/1964, Hội đồng Chính phủ đã ra Quyết định số 106/CP đổi thị xã Móng Cái thành thị trấn Móng Cái thuộc huyện Móng Cái Lúc này, huyện Móng Cái bao gồm 21 xã và thị trấn là Trà Cổ, Bình Ngọc, Vạn Ninh, Vĩnh Trung, Vĩnh Thực, Cái Chiên, Xuân Hòa, Xuân Hải, Lục Lầm, Xuân Lan, Xuân Ninh, Vạn Xuân, Ninh Dương, Đoan Tinh, Quất Động, Quất Đoài, Thán Phún, Pò Hèn, Lục Phủ, Tràng Vinh và thị trấn Móng Cái

Thực hiện Quyết định số 354 - QĐ/UBND ngày 30/8/1990 của UBND tỉnh

Quảng Ninh về việc chuyển dân cư, chính quyền thị trấn Hải Ninh và các cơ quan thuộc huyện Hải Ninh từ nơi sơ tán về địa điểm cũ Được sự đồng ý của huyện, 5 năm 1991-

1995 Trà Cổ đã đón nhận 524 hộ với 2800 khẩu ở nơi sơ tán về nơi ở cũ, thành lập lại

2 thôn Tràng Lộ và Tràng Vĩ [2; tr.113]

Trang 24

Tiếp đó, ngày 20/7/1998, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định số

52/1998/NĐ-CP tái lập thị xã Móng Cái (trên cơ sở toàn bộ diện tích và dân số của huyện Hải Ninh cũ) trực thuộc tỉnh, bao gồm 5 phường: Hòa Lạc, Trần Phú, Ka Long (trên cơ sở các khu của thị trấn Móng Cái cũ), Ninh Dương (từ xã Ninh Dương), Trà Cổ (từ xã Trà Cổ) và 11 xã: Quảng Nghĩa, Hải Tiến, Hải Đông, Hải Yên, Hải Hòa, Hải Xuân, Vạn Ninh, Hải Sơn, Bình Ngọc, Vĩnh Trung và Vĩnh Thực Như thế, phường Trà Cổ đã được thành lập trên cơ sở 13,69 km² và 2.631 người của xã Trà Cổ

Đến ngày 24/9/2008, Chính phủ ra Nghị định số 03/NĐ-CP về việc thành lập thành phố Móng Cái thuộc tỉnh Quảng Ninh, bao gồm 17 đơn vị hành chính, trong đó

có 7 phường: Hòa Lạc, Trần Phú, Ka Long, Ninh Dương, Trà Cổ, Hải Yên, Hải Hòa

và các xã Quảng Nghĩa, Hải Tiến, Hải Đông, Vạn Ninh, Hải Xuân, Vĩnh Thực, Vĩnh Trung, Bắc Sơn, Hài Sơn, Bình Ngọc

Trải qua 20 năm phát triển, với những thành tựu đạt được trên các lĩnh vực, ngày 19/9/2018, thành phố Móng Cái được công nhận là đô thị loại II Trà Cổ thời điểm này là một trong 17 đơn vị hành chính trực thuộc thành phố Móng Cái

1.2 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên

Địa hình của Trà Cổ thuộc dạng đồi núi thấp, bị chia cắt mạnh, sườn dốc, không đối xứng Đỉnh cao nhất cũng không vượt quá 200m Do đặc điểm hình thành bán đảo nên dạng địa hình đồng bằng nguồn gốc lục địa ít Trong khi đó các dạng đồng bằng nguồn gốc biển chưa phát triển Các dạng địa hình tích tụ đã tạo nên những bãi tương đối bằng phẳng, được tạo thành bởi cát trung và thô, rất thuận lợi để phát triển hoạt động du lịch Một số quả đồi ăn lan ra sát mép biển, bị mài mòn mạnh mẽ, tạo ra những vách dốc đứng, có thể tận dụng để phát triển loại hình du lịch mạo hiểm kết hợp với nghỉ dưỡng trên bãi biển

Trà Cổ có diện tích đất tự nhiên là 1301,07 ha (chiếm 3% diện tích của thành phố Móng Cái), trong đó đất nông nghiệp 394,33ha (30,3%); đất phi nông nghiệp

501,18ha (38,52%); đất chưa sử dụng 405,06ha (31,18%) [2; tr.6]

Trang 25

Biểu đồ 1.1 Diện tích các loại đất của phường Trà Cổ (ĐVT: %)

(Nguồn: Tác giả xây dựng)

Đặc điểm nổi bật nhất của lớp thổ nhưỡng tại Trà Cổ là quá trình feralit và laterit xảy ra mạnh mẽ Quá trình phong hóa rất sâu sắc khiến cho quá trình khoáng hóa diễn

ra nhanh, tầng đất mỏng và độ mùn thấp Biên độ triều khá cao, tạo thành những lạch triều ăn sâu vào đất liền gây ra hiện tượng mặn hóa nên đất ngập mặn theo chu kỳ trên các bãi có nguồn gốc tích tụ biển, bao gồm đất mặn sú vẹt, đất chua mặn [15; tr.20] Hiện nay, tại địa phương diện tích loại đất này không lớn, song có khả năng lan tỏa ở các vùng đất thấp đang canh tác Vào mùa khô, xảy ra quá trình thổi mòn của gió khiến cho các đụn cát di động phủ và lấn chìm cả các vùng đất deluvi và đất feralit

Nhóm đất đỏ vàng chiếm diện tích lớn nhất tại Trà Cổ Đa số các loại đất này

có tầng mỏng hoặc dày trung bình Hàm lượng chất dinh dưỡng thấp, độ phì thấp, đất dốc và tầng mỏng nên thích hợp dành cho trồng rừng, khôi phục rừng tự nhiên, xây

dựng khu bảo tồn quốc gia, khu du lịch sinh thái; Nhóm đất dốc tụ có diện tích giới

hạn Hàm lượng mùn và các chất dinh dưỡng thuộc loại trung bình Tuy diện tích đất nhỏ hẹp nhưng lại có giá trị sử dụng làm vườn, đất thổ cư, đất canh tác nông nghiệp;

Nhóm đất cát phủ lên các bề mặt thềm tích tụ có địa hình bằng phẳng hoặc lượn sóng,

nghiêng thoải nên có giá trị sử dụng nhiều mặt: Các đất cát xen lẫn đất dốc tụ hiện đang được sử dụng trồng lúa nước hoặc hoa màu; Đất cát trắng chiếm tỷ lệ đáng kể trong nhóm đất cát Loại đất này gồm chủ yếu là đất cát mịn, hạt trung hoặc đất cát pha Hàm lượng mùn và các chất dinh dưỡng thấp Đất có khả năng sử dụng trồng rừng phi lao, keo lá chàm và các loại cây cải tạo đất khác Ngoài ra, có thể dùng làm đất thổ cư, đất

30

Đất nông nghiệp Đất phi nông nghiệp Đất chưa sử dụng

Trang 26

vườn, đất trồng lúa và hoa màu; Đất bãi cát ngập triều chu kì chiếm diện tích lớn nhất trong nhóm đất cát Loại đất này thích hợp làm đầm nuôi hải sản

Mạng lưới thủy văn ở Trà Cổ khá nghèo nàn Do diện tích phường nhỏ, địa hình chia cắt đơn giản, thêm vào đó, mặt đệm dưới thảm rừng cũng như lớp thổ nhưỡng đã

bị phá hủy, bào mòn sâu sắc, do đó không có giá trị giữ, tích trữ nước và điều tiết dòng chảy trên mặt nên hầu hết chỉ là dòng chảy tạm thời vào mùa mưa

Biển ở Trà Cổ có chế độ nhật triều, biên độ dao động trên 3m Do biên độ dao động của thủy triều cao và sóng lớn về mùa mưa bão sẽ gây nhiễm mặn nước dưới đất

ở những nơi địa hình thấp

Trà Cổ nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, từ tháng 3 đến tháng 8 gió Đông Nam đem theo hơi biển thổi vào đất liền nhưng từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau, khi gió mùa Đông Bắc tràn về, vùng đất Trà Cổ có khí hậu tương đối lạnh, nhiều sương

mù Nhiệt không khí biến thiên rất mạnh trong năm, mưa vừa và phân hóa ra thành hai mùa mưa, khô phù hợp với hai mùa gió Nhiệt độ trung bình trong năm ở Trà Cổ 23,4oC, nhiệt độ tối đa không quá 35oC, thấp nhất trung bình cũng không dưới 14oC Tổng lượng nhiệt 8000 - 8400oC Lượng mưa bình quân là 2.568,3mm/năm, mùa mưa tập trung từ tháng 4 đến tháng 9, chiếm 92% tổng lượng mưa cả năm Tháng có lượng

mưa lớn nhất là tháng 6 đạt 632,7 mm Độ ẩm không khí thông thường 83 - 84%, thấp

nhất là vào thời kì nửa đầu mùa đông - khoảng 76 - 78% Nắng ở Trà Cổ khá dồi dào Tổng số giờ nắng trung bình 1800 - 1820 giờ/năm [15; 23] Chính vì những điều kiện khí hậu trên mà Trà Cổ rất thích hợp với loại hình du lịch nghỉ ngơi, tắm biển, thể thao dưới nước kết hợp với tham quan

Trên địa bàn Phường có 230,44 ha đất có rừng bao gồm rừng phòng hộ 216,63

ha; rừng sản xuất 13,81 ha Rừng ở Trà Cổ chủ yếu là rừng phòng hộ ven biển gồm phi

lao và rừng ngập mặn sú vẹt [2; tr.11] Sát bờ biển Trà Cổ là các dải rừng phi lao vừa

có tác dụng chắn cát vừa tạo thành cảnh quan hấp dẫn Đây là thành quả lao động của người dân đã trồng và chăm sóc

Thực vật ở Trà Cổ được chia thành các nhóm sau: Nhóm cây gỗ có 33 loài, phần lớn là gỗ tạp, thiếu cây gỗ quý Nhóm cây lương thực, thực phẩm có 59 loài bao gồm cây lương thực truyền thống như lúa, ngô, khoai lang và các cây có củ khác [15; tr.23] Cây thực phẩm đa dạng nhưng sản lượng thấp chủ yếu là các cây trồng như các loại

Trang 27

đậu, lạc, vừng Cây cho quả gồm nhiều loại nhưng sản lượng tập trung vào các cây trồng như vải, nhãn, xoài

Quần xã sinh vật thủy sinh khá đa dạng, có rất nhiều loài quý hiếm, có giá trị kinh tế Khu hệ thực vật phù du với 292 loài vi tảo Khu hệ động vật phù du gồm 112 loài Khu hệ động vật đáy gồm 207 loài Khu hệ cá có hơn 120 loài cá, trong đó khoảng

13 loài cá có giá trị kinh tế [15; tr.23] Hàng năm dân cư ở đây đánh bắt được một lượng hải sản lớn có giá trị dinh dưỡng như: cua bể, tôm he, mực, sứa, sò huyết, sá sùng, ghẹ…ngoài ra còn một lượng cá rất phong phú về chủng loại Trữ lượng hải sản

có thể khai thác hàng năm ờ vùng biển Trà cổ khoảng 900 - 1000 tấn [2; tr.12] Trữ lượng này không chỉ đủ cung cấp cho nhân dân mà còn đủ cung cấp cho khách du lịch

và xuất khẩu

Tài nguyên biển ở Trà Cổ được nhìn nhận với góc độ du lịch nằm trong quần thể du lịch Hạ Long - Móng Cái Bãi biển Trà Cổ được mệnh danh là “trữ tình nhất Việt Nam” – một vẻ đẹp còn nguyên vẹn hài hòa, bình dị với bãi cát trắng mịn màng, trải dài 17 km từ mũi Gót ở phía Bắc đến mũi Ngọc ở phía Nam, phẳng lặng trong nền nước biển xanh biếc bốn mùa Ở đây, có rừng phi lao chạy dọc theo bờ biển, không khí quanh năm mát mẻ, trong lành là điều kiện thuận lợi dể phát triển du lịch Nơi đây có tiềm năng rất lớn trong việc tổ chức các tour du lịch quốc tế theo đường bộ và đường biển từ Đông Hưng - Móng Cái - Hạ Long đi vào sâu nội địa Việt Nam và ngược lại từ Việt Nam đi vào các địa phương của Trung Quốc và các nước ASEAN

Tài nguyên khoáng sản của Trà Cổ khá nghèo nàn, chủ yếu gồm các khoáng sản phi kim như cát xây dựng, sét cao lanh Khoáng sản kim loại đen chủ yếu là khoáng sản sắt thuộc loại limonit, có nguồn gốc phong hóa thấm đọng Chất lượng của quặng được đánh giá là không cao vì hàm lượng lưu huỳnh lớn hơn chỉ tiêu công nghiệp mặc

dù tổng hàm lượng sắt cao hơn do đó có ít triển vọng

Với những lợi thế riêng về vị trí địa lý, vùng biển, tài nguyên, vùng đất Trà Cổ

đã hội tụ nhiều thế mạnh so với các địa phương khác để phát triển một nền kinh tế với

cơ cấu du lịch - dịch vụ - ngư nghiệp - nông nghiệp Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi, điều kiện tự nhiên tại Trà Cổ cũng có những hạn chế nhất định: Ảnh hưởng của bão, dông, áp thấp nhiệt đới đổ bộ vào khá nhiều và với cường độ mạnh Sự thay đổi của khí hậu rất rõ theo mùa cộng thêm với số lượng lớn các hiện tượng thời tiết cực

Trang 28

đoan như sương mù, mưa phùn, khô hạn, xảy ra khá nhiều đã có ảnh hưởng lớn đến hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản, du lịch và đặc biệt ảnh hưởng bất lợi cho sinh hoạt, đời sống, sức khỏe của cư dân

1.3 Dân cư và truyền thống cách mạng

Từ khi thành lập Phường đến năm 1998, dân số phường Trà Cổ luôn có sự biến động Nếu như năm 1998, dân số Phường là 2631 người, năm 2008 là 3550 người, thì năm 2018 tăng lên 5370 người (xem biểu đồ 1.2)

Biểu đồ 1.2 Dân số phường Trà Cổ các năm 1998, 2008, 2018 (ĐVT: người)

(Nguồn: Tác giả tổng hợp số liệu dựa trên báo cáo Đảng ủy phường Trà Cổ cung cấp)

Với điều kiện tự nhiên thuận lợi, Trà Cổ trở thành điểm hội tụ dân cư các tộc người Trong đó chiếm đa số là dân tộc Kinh với 5274 người (98,2%), các dân tộc thiểu

số như Tày, Dao, Sán Chay, Hoa có 96 người (1,8%) [26]

Chủ nhân của vùng đất Trà Cổ có nguồn gốc chủ yếu là người Kinh từ Đồ Sơn (Hải Phòng) đến khai phá và định cư trên vùng đất mà họ gọi tên làng là Trà Cổ, ngày nay thuộc địa bàn hai phường Trà Cổ và Bình Ngọc Nguyên nhân di cư một phần là

do chiến tranh loạn lạc, mặt khác là do triều đình phong kiến khuyến khích dân cư tìm đất hoang, đất bãi để khai khẩn mở rộng đất canh tác nên những cư dân từ Đồ Sơn đã tìm đến mảnh đất này lập nghiệp Trong đình Trà Cổ hiện nay, ngay gian chính giữa

còn đó đôi câu đối: “Đồ Sơn ngật nhĩ kinh hương địa/Trà Cổ nguy nhiên kỷ niệm từ”,

(nghĩa là Đồ Sơn là đất cố hương, người Trà Cổ làm đình tưởng nhớ) Theo cụ Nguyễn Văn Hữu [phụ lục 1.2; 5] tên gọi Trà Cổ là ghép của hai làng Trà Phương và Cổ Trai

Trang 29

nổi tiếng của đất Nghi Dương xưa (nay thuộc Kiến Thụy, Hải Phòng) Vùng đất này, vốn là đất phát tích của nhà Mạc đầu thế kỷ XVI Vì vậy, trong lễ hội đình Trà Cổ xưa không thể thiếu nghi lễ một đoàn rước từ Trà Cổ về quê tổ Đồ Sơn vào ngày 25/5 và đến 30/5 thì thuyền từ Đồ Sơn quay về đến Trà Cổ Trong đình cũng thờ các vị thành hoàng của quê Đồ Sơn

Những cư dân di cư từ Đồ Sơn đến Trà Cổ xuất thân chủ yếu là làm nông nghiệp, đến Trà cổ, để thích nghi với môi trường sống, họ sống chủ yếu bằng nghề chài lưới đánh bắt thủy sản và buôn bán, các hoạt động nông nghiệp chiếm vị trí không đáng kể

Sách Lịch triều Hiến chương loại chí về viết xã Trà Cổ: “Dân chúng đều theo nghề

buôn bán kiếm lợi, rất ít kẻ theo nghiệp nông tang” [7; tr 306] Hoạt động kinh tế của

địa phương rất khác biệt:

Ngư diêm như thổ dân xu lợi Hòa đạo vô điền thuế bạc chinh (Đất nhiều cá muối dân sung túc Ruộng ít hoa màu thuế giảm khinh)

họ linh hoạt, dễ thích nghi với điều kiện sống, do đó đã tạo ra phương thức sản xuất đa dạng Họ không chỉ đơn thuần đánh bắt cá, chế biến hải sản, làm muối mà còn trồng trọt, chăn nuôi, buôn bán…

Trải qua các thời kì lịch sử, nhân dân các dân tộc cư trú tại vùng đất biên giới, trên địa bàn Trà Cổ sống hòa đồng, có truyền thống đoàn kết, gắn bó với nhau trong lao động sản xuất, phấn đấu xây dựng phát triển kinh tế - xã hội Với vị trí là cửa ngõ tuyến biên giới trên biển giữa Việt Nam - Trung Quốc, Trà Cổ là một trong những địa

Trang 30

phương của thành phố Móng Cái đã từng ghi dấu nhiều chiến công chống giặc ngoại xâm, giữ gìn bờ cõi biên cương của Tổ quốc Thê kỷ XI, Lý Thường Kiệt từ Móng Cái chủ động tiến công diệt giặc Tống ở châu Khâm, châu Liêm, người dân Trà Cổ cùng với nhân dân các dân tộc Móng Cái đã anh dũng đứng lên theo tiếng gọi của tướng quân Lý Thường Kiệt tham gia vào diệt giặc Tống Trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông, dưới sự chỉ huy của tướng Trần Hoán, quân ta đã thắng trận đầu ở vùng Mũi Ngọc - Vạn Ninh cuối năm 1287, bắt nhiều thuyền và tù binh địch Cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, Móng Cái là nơi liên tiếp bị quân Thanh và các toán giặc bên Trung Quốc tràn qua biên giới đất liền hoặc từ cửa biển Trà Cổ vào cướp phá, nhân dân Trà Cổ cùng với nhân dân các địa phương của Móng Cái và các quan quân nhà Nguyễn đánh giặc quyết liệt, bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia

Thời kỳ thực dân Pháp xâm lược nước ta, ngay từ những ngày đầu, nhân dân Trà Cổ cùng với nhân dân các dân tộc Móng Cái đã anh dũng đứng lên đánh Pháp Trà

Cổ còn là cửa ngõ ra nước ngoài tìm đường cứu nước của nhiều nhà yêu nước, chiến

sĩ cách mạng Cụ Phan Bội Châu, Nguyễn Thượng Hiền (1904 - 1909) trên đường xuất dương sang Trung Quốc đã ở lại Trà Cổ hàng chục ngày, được nhân dân Trà cổ che chở, đùm bọc Cụ Phan Bội Châu đã để lại một bài thơ cách mạng và một câu đối tặng chùa Nam Thọ (Vạn Linh Khánh) Năm 1926, một đoàn xuất dương đi Quảng Châu của Hội Hưng Nam, trong đó có đồng chí Trần Phú đã qua xã Trà Cổ trên đường sang Trung Quốc thực hiện nhiệm vụ cách mạng Năm 1928, hàng chục học sinh trường Tiểu học Trà Cổ đã bí mật rời quê hương sang Trung Quốc làm cách mạng, để giải phóng quê hương, đất nước Phát huy truyền thống yêu nước của quê hương, cán bộ, đảng viên và nhân dân các dân tộc Trà Cổ tiếp tục đứng lên đánh đổ đế quốc, phong kiến giành độc lập dân tộc

Với những đóng góp của nhân dân Trà Cổ, ngày 8 và 9/5/1961, trong chuyến đi thăm vùng biển - đảo Đông Bắc của Tổ quốc, Hồ Chủ Tịch đã ra thăm Trà Cổ Trong buổi gặp gỡ, nói chuyện với cán bộ, nhân dân Trà Cổ; cán bộ nhân dân Móng Cái, Bác

ân cần hỏi thăm tình hình sản xuất và đời sống của nhân dân Với cán bộ, Bác yêu cầu phải gương mẫu trong lao động và công tác, gương mẫu trong việc đoàn kết Việt - Hoa, đoàn kết lương giáo Sau đó Bác thăm và nói chuyện với xã viên hợp tác xã đánh cá

Ba Thu Bác ân cần hỏi thăm cuộc sống và công việc sản xuất của các ngư dân Đồng

Trang 31

thời, Hồ Chí Minh nhở ngư dân phải hăng hái tham gia sản xuất, bảo vệ vùng biển nơi địa đầu của Tổ quốc Những lời dạy bảo, căn dặn của Người không chỉ thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Bác Hồ cũng như của Trung ương Đảng và Chính phủ đối với cán bộ, nhân dân Trà Cổ nói riêng, Móng Cái nói chung, mà còn thể hiện sự quan tâm của Bác, của Chính phủ đối với biển đảo, cương vực lãnh hải biên cương Đông Bắc Tổ quốc

Sự kiện ngày 8/5/1961 là một sự kiện lịch sử có ý nghĩa lịch sử vô cùng to lớn, góp phần cổ vũ, động viên cán bộ, nhân dân tỉnh Hải Ninh và huyện Móng Cái nói chung, cán bộ và nhân dân xã Trà Cổ nói riêng ra sức phấn đấu thực hiện mục tiêu chung của toàn dân tộc là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh thống nhất nước nhà

ở miền Nam Tiếp đó, nhân dân Trà Cổ đã góp phần đánh bại cuộc chiến tranh biên giới bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc

Từ năm 1986, thực hiện đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc Trà Cổ đoàn kết, sáng tạo, nỗ lực phấn dấu vượt qua khó khăn, thách thức giành được nhiều thành tựu quan trọng về kinh tế - xã hội, giữ vững biên cương của Tổ quốc

1.4 Đời sống kinh tế, văn hóa của cư dân phường Trà Cổ trước năm 1998

Sau khi thống nhất đất nước, trong những năm 1976 -1985, tình hình kinh tế -

xã hội của Việt Nam gặp nhiều khó khăn Cơ chế quản lý tập trung, quan liêu bao cấp

đã cản trở sự phát triển mọi mặt của xã hội Trong bối cảnh chung của cả nước, kinh tế

- xã hội của Trà Cổ chậm phát triển Cơ sở vật chất bị xuống cấp Khó khăn lớn nhất

là thiếu lao động Nhà nước phải tổ chức di chuyển một số hộ dân ra Trà Cổ nhưng chỉ tập trung vào sản xuất nông nghiệp, không phát triển nghề cá Kinh tế mang nặng tự cấp, tự túc, cơ sở hạ tầng thấp kém, đặc biệt là hệ thống giao thông kết nối với trung tâm tỉnh lỵ Nguồn ngân sách mất cân đối, phần lớn mọi hoạt động của địa phương phụ thuộc vào sự bao cấp từ ngân sách Nhà nước Thu nhập của nhân dân và trình độ dân trí thấp, văn hóa xã hội lạc hậu, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, số hộ đói nghèo chiếm tỉ lệ cao (trên 60%) Trong bối cảnh đó, trên cơ sở đánh giá khách quan những thành tích và hạn chế của địa phương, chính quyền và nhân dân Trà Cổ xác định phương hướng, nhiệm vụ 3 năm 1986 - 1989 là: Thực sự coi nông nghiệp là mật trận hàng đầu Phát triển nông nghiệp trên cả ba mặt: Diện tích, năng suất và sản lượng Củng cố, phát triển các phương tiện đánh bắt thủy hải sản, mở rộng diện tích nuôi trồng hải sản

Trang 32

Đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12/1986) đã đề ra đường lối đổi mới, chủ yếu là đổi mới tư duy kinh tế với 3 chương trình kinh tế lớn: Lương thực - Thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu Thấm nhuần tư tưởng đổi mới của Đảng, nhân dân Trà Cổ chủ động, sáng tạo, vận dụng vào thực tiễn địa phương Nhờ đó, cơ cấu kinh tế từng bước được chuyển dịch, phường đã từng bước bố trí lại cơ cấu đầu tư, giải quyết được những khó khăn gay gắt

Trong sản xuất nông nghiệp tuy phụ thuộc nhiều vào thời tiết, Trà Cổ chú trọng chỉ đạo hợp tác xã nông nghiệp tăng cường đưa giống lúa mới năng suất cao vào sản xuất như CR203 qua đó năng suất lúa tăng hơn trước Tuy nhiên, quá trình thực hiện Chỉ thị 100 của Ban Bí thư đã bộc lộ những hạn chế, không phù hợp với cơ chế thị trường Để khắc phục những hạn chế của Chỉ thị 100, ngày 5/4/1988 Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 10 (gọi là khoán 10) Nội dung Nghị quyết 10 là sắp xếp lại sản xuất nông nghiệp, củng cố và mở rộng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, sử dụng đúng đắn thành phần kinh tế, trong đó quy định hợp tác xã nông nghiệp là đơn vị kinh tế tự quản Dựa vào định hướng này, chính quyền và nhân dân Trà Cổ tiếp tục đề ra phương hướng nhiệm vụ 3 năm 1989 - 1991 với những nhiệm vụ chủ yếu: Thực hiện khoán sản phẩm cuối cùng đến hộ nông dân Đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật để phát triển ngành thủy sản toàn diện, vững chắc Chăm lo phát triển giáo dục, văn hóa, xã hội và làm tốt công tác dân số kế hoạch hóa gia đình [2; tr.109] Thực hiện chương trình lương thực, thực phẩm, trong 2 năm 1989 - 1990, Trà Cổ tiến hành nhiều chủ trương, biện pháp đảm bảo diện tích gieo trồng, thâm canh tăng năng suất cây trồng, củng cố hệ thống thủy lợi Nhờ giao đất lâu dài cho nông dân, năng suất lúa đạt trên 10 tạ/ha Đàn gia súc, gia cầm và đàn lợn tăng dần Ngành thủy sản bước đầu thích ứng và ổn định sản xuất Phong trào nuôi cua xuất khẩu bước đầu có hiệu quả Đặc biệt, năm 1989 Nhà nước miễn thuế nông nghiệp cho nông dân một năm, qua đó kích thích nhân dân hăng hái sản xuất [2; tr.109]

Thực hiện Thông báo số 118 của Ban Bí thư và Chỉ thị số 08 của Hội đồng Bộ trưởng về chủ trương mở cửa biên giới cho nhân dân các xã biên giới hai nước Việt -

Trung Được sự giúp đỡ của huyện, Trà Cổ đầu tư xây dựng một số khách sạn lớn, đầu

tư nâng cấp trường học, trạm xá và một số công trình hạ tầng Qua đó, nhân dân hai

Trang 33

nước đã qua lại thăm thân, trao đồi hàng hóa thiết yếu phục vụ đời sống, nhờ đó hoạt động thương mại - du lịch Trà Cổ phát triển, nguồn thu ngân sách tăng lên

Đời sống văn hóa của cư dân Trà Cổ có sự khác nhau rất rõ rệt trước và sau khoán 10 Trước khoán 10, phong trào văn hóa ở Trà Cổ phát triển khá sôi nổi Đây là thời kỳ cơ chế bao cấp vẫn ảnh hưởng ở mức độ nhất định trên cả nước nói chung và ở Trà Cổ nói riêng Nhà nước đã đầu tư kinh phí, xây dựng thiết chế văn hóa cho phường với 1 nhà truyền thống, 1 nhà văn hóa, 2 đội thông tin xã, 4 đội nghệ thuật quần chúng [2; tr 107] Các đơn vị văn hóa lưu động của tỉnh cho đội chiếu bóng, thông tin cổ động, tuyên truyền văn nghệ, nghệ thuật quần chúng hoạt động sôi nổi Chương trình văn nghệ thường là tạp diễn nhưng cũng có lúc chuyên diến về kịch, tuồng, chèo, ca múa nhạc Hoạt động văn hóa tập trung vào các nội dung thiết thực, thường gắn với nhiệm vụ chính trị, động viên nhân dân địa phương thực hiện tốt đường lối đổi mới của Đảng Bên cạnh đó, công tác khám, chữa bệnh cho nhân dân dược làm thường xuyên Công tác vệ sinh phòng bệnh, tiêm chủng mở rộng được thực hiện nghiêm túc

Vào những năm đầu của thập kỷ 90 của thế kỷ XX, tình hình thế giới diễn biến phức tạp Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu lâm vào khủng hoảng và sụp

đổ, một số người tỏ ra hoài nghi về sự nghiệp đổi mới do Đảng Cộng sản khởi xướng,

về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Thực hiện Chỉ thị 59 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, tháng 7/1991, Đại hội Chi bộ Trà Cổ lần thứ XVIII được tổ chức và

đề ra phương hướng: Cán bộ, đảng viên và nhân dân Trà Cổ đoàn kết một lòng tiếp tục thực hiện Đường lối đổi mới Tập trung phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh, xây dựng quê hương giàu mạnh [2; tr.110]

Trong những năm 1991-1995, kinh tế Trà Cổ đã đạt dược nhiều thành tựu quan trọng Ngành thủy sản có nhiều tiến bộ và trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, có tính quyết định đến sự phát triển kinh tế của địa phương Năm 1991-1995, ngư dân Trà Cổ

đã chuyển từ lao động thô sơ sang đầu tư cơ giới vào đánh bắt, chế biến hải sản, nâng cao năng suất và sản lượng Trong 2 năm 1994 - 1995, sản lượng khai thác hải sản các loại đạt 400-500 tấn/năm, giá trị ngành thuỷ sản đạt hàng tỷ đồng [2; tr.111] Bên cạnh

đó, ngành nuôi trồng thuỷ sản cũng được khai thác và phát triển, các hộ nuôi trồng thủy sản đã đầu tư hàng trăm triệu đồng đề đào ao, đầm nuôi tôm, cua xuất khẩu Đến năm

1995, Trà Cổ đã có hàng chục ha ao, đầm nuôi trồng thuỷ sản góp phần tạo công ăn

Trang 34

việc làm, nâng cao đời sống nhân dân Tuy nhiên, ngành thủy sàn còn nhiều hạn chế: Chưa đầu tư đánh bắt xa bờ, cơ sở vật chất còn manh mún, chưa được đầu tư đúng với tiềm năng, thế mạnh của địa phương

Trong sản xuất nông nghiệp, việc giao đất lâu dài cho người dân đã tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân yên tâm đầu tư sản xuất Diện tích cấy một vụ là 15,5ha, năng suất 17 tạ/ha Cùng với trồng trọt, ngành chăn nuôi tiếp tục được ổn định, phát triển Đàn lợn năm 1994 có 400 con, năm 1995 tăng lên 500 con, đạt trên 30 tấn lợn hơi Ngoài ra còn phát triển đàn gà, vịt, dê, bò là thực phẩm tươi sống phục vụ du lịch

và đời sống nhân dân [2; tr.111] Trong 2 năm 1994 - 1995, Trà Cổ đã trồng và bảo vệ

120 ha rừng xanh tốt Ngoài ra còn trồng hàng ngàn cây bóng mát và cây ăn quả

Ngành dịch vụ - du lịch dược quan tâm, phát triển Chính quyền và nhân dân Trà Cổ xác dịnh: du lịch là ngành lợi thế của địa phương, cần khai thác, phát huy để nâng cao đời sống kinh tế của nhân dân Chính quyền tạo điều kiện cho nhân dân xây khách sạn, nhà nghỉ hiện đại Phối hợp với Ban quản lý du lịch huyện chấn chỉnh lại các lều, quán ven biển đảm bảo sạch sẽ, văn minh và hoạt động có nề nếp Sắp xếp lại các quán ăn, nhà hàng đảm bảo chất lượng tốt, giá thành hạ thu hút đông khách du lịch Qua đó, ngành dịch vụ - du lịch đã tạo việc làm cho hàng trăm người lao động, nguồn thu đạt hàng tỷ đồng

Những năm đầu với “khoán 10” và với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, đời sống vật chất của nhân dân được cải thiện, đi cùng với đó các hoạt động văn hóa đã có những chuyển biến Cơ sở vật chất thì vẫn còn nhưng tổ chức thiết chế văn hóa cũ dưới thời bao cấp bị phá vỡ và thay thế bằng hình thức tổ chức theo truyền thống cổ truyền trong điều kiện mới: Nhà văn hóa của xã hoạt động cầm chừng, số tổ đội chiếu bóng phải tự hạch toán kinh doanh nên cũng ít lưu động về các thôn chiếu phim cho dân xem Phong trào văn nghệ quần chúng chỉ hoạt động vào những ngày hội Những hủ tục và tệ mê tín dị đoan trong đời sống văn hóa của nhân dân đã một thời gian khá dài bị đẩy lùi thì nay lại có nguy cơ tái phát

Trong tình hình đó, việc giải quyết các vấn đề văn hóa - xã hội đã được Chi bộ quan tâm và dần dần đạt được kêt quả tích cực Sự nghiệp giáo dục ổn định, số học sinh trong độ tuổi đến trường, tỷ lệ học sinh giỏi, học sinh khá ngày một tăng Đặc biệt

là xã đã mở 2 lớp xóa mù chữ cho 50 học sinh vùng công giáo Năm 1995, Trà Cổ là

Trang 35

một trong 5 đơn vị của Móng Cái hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học Công tác y tế

- dân số kế hoạch hóa gia đình có chuyển biến tích cực Công tác tiêm chủng mở rộng, phòng, chống các dịch bệnh cho trẻ em; chương trình chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân được coi trọng Làm tốt công tác phòng, khám chữa bệnh cho nhân dân; phát động nhân dân đào hàng trăm giếng nước sạch, 70 hố xí tự hoại, góp phần làm tốt công tác vệ sinh môi trường của địa phương Công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình có nhiều tiến bộ Tỷ lệ phát triển dân số giảm từ 27% năm 1994 xuống còn 10,5% năm

1995 [2; tr.113]

Trong những năm 1991-1995, sau khi đón nhân dân sơ tán về quê lập 2 thôn Tràng Lộ và Tràng Vĩ, chính quyền xã đã triển khai công tác quy hoạch, cấp đất làm nhà ở cho nhân dân trở về, ổn dịnh nơi ăn chốn ở, tích cực khai hoang phục hoá, đẩy mạnh phát triển sản xuất, nhờ đó đời sống nhân dân ổn định và từng bước được cải thiện, số hộ giàu và hộ khá tăng lên, số hộ nghèo giảm đi (còn hơn 20%), cả xã không còn hộ đói Trên địa bàn đã có 20 chiếc bè máy, trên 200 xe máy các loại, trên 50% gia đình có tivi, 40 gia đình có máy phát điện và 4 gia đình đã có ô tô Đời sống tinh thần ngày được cải thiện [2; tr.114]

Sau 10 năm thực hiện đường lối đổi mới 1986 - 1995, chính quyền và nhân dân các dân tộc xã Trà Cổ đã kiên trì phấn đấu vượt qua nhiều khó khăn, vững bước tiến lên Kinh tế - xã hội có nhiều khởi sắc, quốc phòng - an ninh không ngừng được tăng cường, giữ vững, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt Ngày 20/9/1995, Đại hội Đảng bộ xã Trà Cổ lần thứ

XX (nhiệm kỳ 1996 - 2000), được tổ chức Từ thực tiễn và yêu cầu của thời kỳ đổi mới, Đại hội xác định phải đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng: Du lịch

- dịch vụ, nông lâm ngư nghiệp, trong đó du lịch phấn đấu trở thành ngành kinh tế mũi nhọn

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ phường lần thứ XX, nhân dân Trà Cổ tập trung khai thác mọi nguồn lực, thế mạnh, tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp có nhiều tiến bộ Mặc dù trong cơ cấu kinh tế của địa phương, sản xuất nông nghiệp chỉ chiếm

tỷ trọng 10%, song nhân dân vẫn đẩy mạnh thâm canh tăng năng suất Diện tích cây trồng chính là lúa và khoai lang luôn đạt chỉ tiêu đề ra Năng suất lúa tăng từ 21 tạ/ha

Trang 36

(1996) lên 23 tạ/ha (1998) Tổng sản lượng lương thực quy thóc tăng bình quân 2,25% [2; tr.119] Về cơ bản, phường đã tự cân đối được lương thực trong khu vực nông thôn, góp phần điều hoà lương thực, thực phẩm trên địa bàn

Bảng 1.1 Sản lượng và bình quân lương thực đầu người ở Trà Cổ

Năm Tổng sản lượng lương thực (tấn) Bình quân lương thực

(Nguồn: Tác giả tổng hợp số liệu trong Lịch sử cách mạng của Đảng bộ

và nhân dân phường Trà Cổ (1958 - 2008))

Tuy nhiên, kết quả đạt được không đều, dịch vụ nông nghiệp chậm đổi mới, ngành nghề trong nông thôn kém phát triển Chuyển biến về thâm canh, đổi mới về cơ cấu giống và mùa vụ, đầu tư khoa học kỹ thuật cho nông nghiệp còn chậm, còn ít Nhiều vấn đề cho quản lý xã hội ở nông thôn chưa được giải quyết tốt

Nhằm chuyển chăn nuôi sang sản xuất hàng hóa, các hộ gia đình đã mở rộng chăn nuôi theo hướng bán công nghiệp như: sử dụng nguồn thức ăn tổng hợp, đẩy mạnh

tỷ lệ giống lợn lai, đưa giống lợn hướng nạc vào sản xuất; tiếp nhận các giống gia cầm siêu trứng, siêu thịt vào chăn nuôi trong kinh tế hộ gia đình Đàn lợn năm 1998 là 800 con, đạt 133% kế hoạch đề ra Phong trào trồng cây phân tán, cây ăn quả phát triển Đến năm 1998, Trà Cổ trồng và bảo vệ có hiệu quả 183,4 ha rừng, trong đó đã hình thành khu vừng ven biển phục vụ du lịch

Trên cơ sở xác định ngành ngư nghiệp là ngành sản xuất chính của địa phương (60% sổ hộ của địa phương tham gia đánh bắt và nuôi trồng thủy sản), phường Trà Cổ tập trung đầu tư chỉ đạo, đẩy mạnh phát triển nghề cá nhân dân; đầu tư các loại phương tiện và ngư cụ để đánh bắt hải sản Bè máy tăng từ 20 chiếc năm 1996 lên 150 chiếc vào năm 1998 Sản lượng hải sản khai thác ngày một tăng Sáu tháng đầu năm 1998 sản lượng hải sản đạt 200 tấn Riêng sản lượng sứa khai thác 3000 tấn/vụ Phong trào nuôi trồng thủy sản phát triển khá, đến tháng 9/1998 Trà Cổ đã có 24,25ha hồ đầm nuôi

Trang 37

tôm, 3ha bãi bồi khoanh nuôi ngao, sò Doanh thu từ khai thác hải sản đạt gần 4 tỷ đồng Đến tháng 6/1998, Trà Cổ có 150 hộ khai thác sứa và cá có thu nhập từ 15 đến

20 triệu đồng/hộ Qua đó, đời sống của ngư dân ổn định, số hộ nghèo giảm, nhiều hộ

đã trở lên giàu có [2; tr.120]

Trong giai đoạn này, cơ cấu kinh tế ở Trà Cổ có sự chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng du lịch - dịch vụ Với sự nỗ lực phấn đấu của địa phương, đến tháng 9/1998, Trà Cổ có 18 nhà hàng, khách sạn và 75 quán dịch vụ ven biển Năm 1996 -

1998, Trà Cổ đã có 39.509 lượt khách du lịch đến tham quan, nghỉ mát, tắm biển Trong

đó, có nhiều khách mang quốc tịch Châu Âu, Mỹ và Trung Quốc Doanh thu ngành du lịch - dịch vụ đạt trên 5 tỷ đồng/năm [2; tr.120] Trên cơ sở kinh tế phát triển, năm

1996 -1998, xây dựng cơ bản có bước tiển vượt bậc về quy mô, đã xây mới 10 công trình: Bia tưởng niệm, Trường Trung học cơ sở cao tầng, nhà làm việc của Đảng ủy,

ủy ban nhân dân phường, đường dạo ven biển, với tổng mức đầu tư hơn 5 tỷ đồng Trong 5 năm Trà Cổ đã có 500 hộ xây nhà dân dụng, trong đó có 30% hộ xây nhà kiên

cố, cao tầng, tổng giá trị lên tới hàng chục tỷ đồng [2; tr.121]

Đi đôi với phát triển kinh tế, sự nghiệp văn hóa phục vụ nhân dân được đẩy mạnh Hoạt động văn hóa, văn nghệ có nhiều cố gắng, nội dung đã bám sát vào yêu cầu nhiệm vụ chính trị của địa phương Duy trì tốt hoạt động của các cụm truyền thanh, các hình thức biểu diễn, giao lưu văn nghệ từng bước đáp ứng yêu cầu thưởng thức văn hóa của nhân dân Đặc biệt thực hiện Chỉ thị số 27-CT/TW, ngày 12/1/1998 của Bộ

Chính trị về việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội, mừng

thọ, kỷ niệm ngày truyền thống, nhân dân Trà Cổ đã từng bước hình thành nếp sống văn minh, hiện đại

Bên cạnh những thành tựu và tiến bộ, trong lãnh đạo và tổ chức thực hiện Đảng

bộ và nhân dân Trà Cổ vẫn còn bộc lộ những hạn chế: Chưa khai thác hết tiềm năng, thế mạnh của địa phương về du lịch - dịch vụ, đánh bắt, nuôi trồng thủy sản Công tác quy hoạch và quản lý ngành du lịch còn hạn chế Công tác ứng dụng khoa học kỹ thuật nhìn chung phát triển còn chậm, chưa có định hướng cụ thể để phát huy tiềm năng thế mạnh kinh tế địa phương; chưa tạo được sự chuyển biến về năng suất, chất lượng, hiệu quả, chưa đáp ứng được những yêu cầu bức xúc của công cuôc đổi mới Đầu tư cho khoa học, công nghệ còn bị hạn chế So với trước, đời sống của một bộ phận nhân dân

Trang 38

có một số mặt được cải thiện như nhà ở, phương tiện đi lại, tiện nghi sinh hoạt gia đình…nhưng nhìn chung còn khó khăn Một bộ phận nhân dân còn sống dưới mức tối

thiểu Tệ nạn xã hội diễn biến phức tạp

Cùng với những chuyển biến về kinh tế, đời sống văn hóa của cư dân Trà Cổ cũng có nhiều đổi thay Trước thời kì đổi mới và cơ chế khoán 10, hoạt động văn hóa của cư dân vẫn được “bao cấp” nên hoạt động sôi nổi Tuy nhiên, những năm đầu khi

cơ chế bao cấp không còn, hoạt động văn hóa của người dân Trà Cổ có sự hẫng hụt, thậm chí thụt lùi Được sự quan tâm của chính quyền địa phương, đời sống văn hóa của người dân đã dần khởi sắc theo hướng hình thành nếp sống văn minh, hiện đại

Tuy nhiên, khách quan mà nói, nhìn lại chặng đường đã qua, mặc dù vẫn còn hạn chế song những thành quả mà nhân dân Trà Cổ đạt được trong thời kỳ này là rất đáng ghi nhận, đã tạo nên những cơ sở cần thiết và quan trọng để Trà Cổ tiếp tục phát triển ở những giai đoạn tiếp theo

Chương 2 ĐỜI SỐNG KINH TẾ CỦA CƯ DÂN PHƯỜNG TRÀ CỔ (1998 - 2018)

Ngày 20/7/1998, khi Chính phủ ban hành Nghị định 52/NĐ-CP về việc thành lập Thị xã Móng Cái, theo đó, phường Trà Cổ được thành lập trực thuộc thị xã Móng Cái Đảng bộ phường Trà Cổ đã nhanh chóng đề ra chủ trương nhằm mục đích ổn định, phát triển kinh tế, xã hội Nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát là: phát huy tiềm năng thế mạnh của địa phương, đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội, quốc

Trang 39

phòng, an ninh, với cơ cấu kinh tế là: Dịch vụ - du lịch, ngư nghiệp, nông - lâm nghiệp Nhờ sự linh hoạt, chủ động, sáng tạo trong chỉ đạo điều hành của các cấp ủy Đảng, chính quyền phường Trà Cổ, sự đồng thuận của nhân dân mà hoạt động kinh tế của phường từ năm 1998 đến năm 2018 đã phát triển mạnh mẽ trên các lĩnh vực

2.1 Kinh tế ngư nghiệp

Trà Cổ có lợi thế về biển Biển Trà Cổ tương đối sâu và kín, thuận lợi cho tàu thuyền ra khơi vào lộng, tiến hành các hoạt động giao thương, khai thác hải sản Biển Trà Cổ lại có cá song, cá chim, thu, nụ, sá sùng, tôm hùm, bào ngư, ốc hương, cua bể…Do vậy, việc khai thác, nuôi trồng thủy sản thực sự là một ngành mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho cư dân địa phương

2.1.1 Hoạt động khai thác thủy hải sản

Sau khi phường được thành lập, mặc dù được tăng cường lực lượng lao động từ các địa phương khác trong tỉnh sơ tán về Trà Cổ, nghề khai thác thủy hải sản có nhân lực để phát triển nhưng do thiếu sự chuẩn bị nên nghề cá phải mất một thời gian sau mới dần khởi sắc

Trước đây, các làng cá ở Trà Cổ được tổ chức đi biển theo đội với hình thức du thủy của tập hợp dòng họ hay có quan hệ thông gia cùng đánh trên một ngư trường Những làng cá nghiệp dư này thường đi đánh với các trang bị thủ công thô sơ Do ít kinh nghiệm khai thác, đi biển và lợi ích trước mắt, họ dùng nhiều ngư cụ bất hợp pháp huỷ diệt môi trường Một hình thức tổ chức khác trong cộng đồng cư dân đánh bắt thủy hải sản chính là hợp tác xã Tuy nhiên, hiện nay còn rất ít hợp tác xã tồn tại theo đúng thể thức của nó, tuy tàu thuyền mang danh nghĩa là tài sản chung của hợp tác xã nhưng

đã khoán cho các đội hoạt động Mỗi thuyền thường là tài sản chung của một nhóm góp vốn đầu tư, họ cùng chịu trách nhiệm, cùng hưởng lợi và chịu lỗ Thông thường thuyền trưởng và máy trưởng do chủ thuyền đảm nhận Trên thuyền thường có 4 -10 thợ bạn đi ghép Với những thuyền lớn, sản phẩm làm ra được bán và thường chia tứ lục: 6 phần cho tài sản và 4 phần cho công lao động đánh cá, với những thuyền nhỏ thường chia ngũ - ngũ, tức là 5 phần cho tài sản và 5 phần cho công lao động đánh cá

Vài năm gần đây, một số địa phương đã tổ chức các chi hội nghề cá, tập hợp những ngư dân trong 1 hội Chi hội làm nhiệm vụ tập hợp ngư dân, giới thiệu kinh nghiệm sản xuất tiên tiến, giải hoà các mâu thuẫn nội bộ và thông tin thị trường Ngoài

Trang 40

ra, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ và Hội đồng nhân dân, Phường lập Ban Hải sản do một uỷ viên phụ trách Ban này chịu trách nhiệm chung về tình hình sản xuất như đăng

ký, thống kê sản xuất và nắm nhu cầu của ngư dân để phản ánh với chính quyền Ban Hải sản còn tham gia với tổ tư pháp của uỷ ban xã giải quyết các mâu thuẫn xảy ra trong nội bộ ngư dân

Những năm đầu sau khi thành lập Phường, sản lượng thủy hải sản chủ yếu là do đóng góp của nghề lộng ven bờ như lưới rê ba lớp, giã thủ công Sản lượng khai thác năm 1998 chỉ đạt 378 tấn với 62 hộ ngư dân tham gia (bảng 2.1) Do vậy, để phục hồi

và phát triển nghề đánh bắt thủy hải sản, trong những năm qua lãnh đạo địa phương đã

có những chủ trương tăng cường đầu tư cho ngành đánh bắt cá ngoài khơi Đại hội Đảng bộ Trà Cổ lần thứ XXI (2000) đã đề ra chỉ tiêu sản lượng khai thác hải sản đạt

600 - 700 tấn/năm [2; tr.130], đồng thời khuyến khích nhân dân đầu tư phát triển ngành nghề, mạnh dạn vay vốn mua sắm phương tiện, ngư cụ đánh bắt tuyến khơi, gắn đánh bắt hải sản với việc giữ gìn an ninh trên biển và lãnh hải của Tổ quốc

Bảng 2.1 Thống kê số liệu khai thác thủy sản tại phường Trà Cổ (1998 - 2018)

Chỉ tiêu ĐVT 1998 2000 2005 2010 2015 2018

(Nguồn: Tác giả tổng hợp số liệu dựa trên báo cáo hằng năm của Đảng ủy Phường)

Nhờ sự quan tâm kịp thời của chính quyền địa phương nên ngư nghiệp được duy trì và bước đầu mang lại thành quả Từ năm 2000 đến năm 2005, sản lượng đánh bắt hải sản hàng năm thu hoạch đạt từ 450 - 550 tấn Nhưng do ảnh hưởng của cơ chế thị trường, giá cả không ổn định, phương tiện đánh bắt gần bờ là chủ yếu và phụ thuộc vào sức mua của ngư dân Trung Quốc, vì vậy sản lượng đánh bắt có chiều hướng chững lại [2; tr.134] Để khắc phục tình trạng này, Đại hội Đảng bộ Phường lần thứ XXII (2005 - 2010) đã đặt ra chỉ tiêu ngư nghiệp phải tăng 5-10% trong nhiệm kỳ [2; tr.146] Nhờ sự chỉ đạo kịp thời nên ngay trong năm 2005, số hộ có phương tiện đánh bắt là

145 hộ, sản lượng đánh bắt đạt 550 tấn tăng 30 tấn so với năm 2004 [17] Nhưng sang năm 2006, do thời tiết không thuận lợi, ngư trường đánh bắt hải sản gặp nhiều khó khăn, đã ảnh hưởng đến nguồn lợi đánh bắt hải sản Sản lượng chỉ đạt 450 tấn [18] Tuy nhiên, bước sang năm 2008, ngành ngư nghiệp lại phát triển với 262 hộ đánh bắt

Ngày đăng: 19/05/2020, 15:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Thị Mai An (2010), “Phác thảo yếu tố biển trong văn hóa Việt Nam”, Thông tin Khoa học và Công nghệ, Đại học Đà Nẵng, số 40, tr.70 - 78 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phác thảo yếu tố biển trong văn hóa Việt Nam”, "Thông tin Khoa học và Công nghệ
Tác giả: Trần Thị Mai An
Năm: 2010
2. Ban Chấp hành Đảng bộ phường Trà Cổ (2011), Lịch sử cách mạng của Đảng bộ và nhân dân phường Trà cổ (1958 - 2008), Nxb Thông tin và truyền thông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử cách mạng của Đảng bộ và nhân dân phường Trà cổ (1958 - 2008)
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ phường Trà Cổ
Nhà XB: Nxb Thông tin và truyền thông
Năm: 2011
3. Ban Tuyên giáo tỉnh uỷ Quảng Ninh (1998), Quảng Ninh đất và người, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quảng Ninh đất và người
Tác giả: Ban Tuyên giáo tỉnh uỷ Quảng Ninh
Nhà XB: Nxb Lao động xã hội
Năm: 1998
4. Ban Tuyên giáo tỉnh ủy Quảng Ninh (2003), Quảng Ninh 40 năm xây dựng và phát triển, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quảng Ninh 40 năm xây dựng và phát triển
Tác giả: Ban Tuyên giáo tỉnh ủy Quảng Ninh
Nhà XB: Nxb Lao động xã hội
Năm: 2003
5. Diệp Trung Bình (1985), “Vài nét về đời sống của ngư dân vùng biển Đông Bắc Việt Nam”, Tạp chí Dân tộc học, số 2, tr.15 - 20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nét về đời sống của ngư dân vùng biển Đông Bắc Việt Nam”, "Tạp chí Dân tộc học
Tác giả: Diệp Trung Bình
Năm: 1985
6. C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập (1995), tập 19, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập
Tác giả: C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1995
7. Phan Huy Chú (1972), Lịch triều hiến chương loại chí, Tập 1 (Dư địa chí), Quyển thứ ba, bản dịch của Nguyễn Thọ Dực, Phủ Quốc vụ khanh Đặc trách Văn hóa, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại chí
Tác giả: Phan Huy Chú
Năm: 1972
8. Cục Thống kê tỉnh Quảng Ninh (2004), Niên giám Thống kê thị xã Móng Cái, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám Thống kê thị xã Móng Cái
Tác giả: Cục Thống kê tỉnh Quảng Ninh
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2004
9. Cục Thống kê tỉnh Quảng Ninh (2008), Niên giám Thống kê thị xã Móng Cái, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám Thống kê thị xã Móng Cái
Tác giả: Cục Thống kê tỉnh Quảng Ninh
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2008
10. Cục Thống kê tỉnh Quảng Ninh (2010), Niên giám Thống kê Thành phố Móng Cái 2009, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám Thống kê Thành phố Móng Cái 2009
Tác giả: Cục Thống kê tỉnh Quảng Ninh
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2010
11. Cục Thống kê Quảng Ninh (2012), Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ninh năm 1955 – 2011, Quảng Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ninh năm 1955 – 2011
Tác giả: Cục Thống kê Quảng Ninh
Năm: 2012
12. Cục Thống kê tỉnh Quảng Ninh (2014), Niên giám Thống kê thành phố Móng Cái, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám Thống kê thành phố Móng Cái
Tác giả: Cục Thống kê tỉnh Quảng Ninh
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2014
13. Lê Ngọc Thắng, Đào Bá Dậu (1983), “Đôi nét về làng biển ở nước ta”, Tạp chí Dân tộc học, số 2, tr.39 - 44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đôi nét về làng biển ở nước ta”, "Tạp chí Dân tộc học
Tác giả: Lê Ngọc Thắng, Đào Bá Dậu
Năm: 1983
14. Phạm Đức Dương (Chủ nhiệm), Trần Quốc Vượng, Cao Xuân Phổ (chủ biên) (1996), Biển với người Việt cổ, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biển với người Việt cổ
Tác giả: Phạm Đức Dương (Chủ nhiệm), Trần Quốc Vượng, Cao Xuân Phổ (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 1996
15. Đảng bộ thị xã Móng Cái (2008), Lịch sử Đảng bộ thị xã Móng Cái (1946 - 2006), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ thị xã Móng Cái (1946 - 2006)
Tác giả: Đảng bộ thị xã Móng Cái
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2008
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (1982), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ V (năm 1981), Nxb Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ V (năm 1981)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự Thật
Năm: 1982
17. Đảng ủy phường Trà Cổ (2006), Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ năm 2005, mục tiêu cơ bản và những giải pháp, biện pháp trọng tâm triển khai thực hiện nhiệm vụ năm 2006, Tài liệu lưu trữ tại văn phòng Đảng ủy phường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ năm 2005, mục tiêu cơ bản và những giải pháp, biện pháp trọng tâm triển khai thực hiện nhiệm vụ năm 2006
Tác giả: Đảng ủy phường Trà Cổ
Năm: 2006
18. Đảng ủy phường Trà Cổ (2006), Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ năm 2006, phương hướng nhiệm vụ năm 2007, Tài liệu lưu trữ tại văn phòng Đảng ủy phường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ năm 2006, phương hướng nhiệm vụ năm 2007
Tác giả: Đảng ủy phường Trà Cổ
Năm: 2006
19. Đảng ủy phường Trà Cổ (2009), Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ năm 2009, phương hướng nhiệm vụ năm 2010, Tài liệu lưu trữ tại văn phòng Đảng ủy phường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ năm 2009, phương hướng nhiệm vụ năm 2010
Tác giả: Đảng ủy phường Trà Cổ
Năm: 2009
20. Đảng ủy phường Trà Cổ (2010), Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ năm 2010, phương hướng nhiệm vụ năm 2011, Tài liệu lưu trữ tại văn phòng Đảng ủy phường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ năm 2010, phương hướng nhiệm vụ năm 2011
Tác giả: Đảng ủy phường Trà Cổ
Năm: 2010

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w