1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bảo đảm quyền tự do và an toàn cá nhân bằng pháp luật tố tụng hình sự việt nam

108 59 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tại Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, nhà làm luật đã bổ sung thêm nhiều điểm mới đột phá có liên quan tới việc bảo đảm các quyền con người nói chung, quyền tự do và an toàn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ HÂN

BẢO ĐẢM QUYỀN TỰ DO VÀ AN TOÀN CÁ NHÂN BẰNG

PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ HÂN

BẢO ĐẢM QUYỀN TỰ DO VÀ AN TOÀN CÁ NHÂN BẰNG

PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự

Mã số: 8380101.03

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN VĂN HIỂN

HÀ NỘI - 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Những kết luận khoa học của luận văn chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ, trích dẫn trong luận văn bảo đảm tính chính xác, trung thực, tin cậy Tôi đã hoàn thành tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết lời cam đoan đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Thị Hân

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung và pháp luật quốc tế về bảo đảm quyền tự

do và an toàn cá nhân bằng pháp luật tố tụng hình sự 7

1.1 Một số vấn đề lý luận chung về bảo đảm quyền tự do và an toàn cá nhân bằng pháp

luật tố tụng hình sự 7

1.1.1 Khái niệm quyền tự do và an toàn cá nhân trong hệ thống các Quyền con

người………7

1.1.2 Khái niệm quyền tự do và an toàn cá nhân trong pháp luật tố tụng hình sự……11

1.1.3 Khái niệm, đặc điểm của bảo đảm quyền tự do và an toàn cá nhân bằng pháp luật

tố tụng hình sự……….14

1.1.4 Ý nghĩa của bảo đảm quyền tự do và an toàn cá nhân bằng pháp luật tố tụng hình

sự……… 17

1.2 Pháp luật quốc tế về bảo đảm quyền tự do và an toàn cá nhân bằng pháp luật tố

tụng hình sự 20

1.2.1 Một số văn bản pháp lý quốc tế về bảo đảm quyền tự do và an toàn cá nhân bằng

pháp luật tố tụng hình sự 20

1.2.2 Pháp luật tố tụng hình sự của một số nước trên thế giới về bảo đảm quyền tự do

và an toàn cá nhân 25 Chương 2: Bảo đảm quyền tự do và an toàn cá nhân bằng pháp luật tố tụng hình

sự Việt Nam và thực tiễn thi hành 31 2.1 Bảo đảm quyền tự do và an toàn cá nhân bằng pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam 31

Trang 5

2.1.1 Bảo đảm quyền tự do và an toàn cá nhân trong giai đoạn từ sau Cách mạng Tháng Tám

năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 31

2.1.2 Bảo đảm quyền tự do và an toàn cá nhân trong giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật

Tố tụng hình sự năm 1988 đến trước khi ban hành Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 34 2.1.3 Bảo đảm quyền tự do và an toàn cá nhân tại Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 43

2.1.3.1 Quy định liên quan đến việc bất khả xâm phạm về thân thể, không bị bắt, giam,

giữ trái pháp luật 44

2.1.3.2 Quy định liên quan đến việc bảo đảm cá nhân không bị tra tấn, đối xử, trừng

phạt tàn ác, vô nhân đạo hay bị hạ nhục 52 2.1.3.3 Quy định liên quan đến việc bảo đảm quyền bào chữa của cá nhân 56

2.1.3.4.Quy định liên quan đến việc bảo đảm xét xử công bằng………59

2.2 Thực tiễn thi hành Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam trong việc bảo đảm quyền tự

do và an toàn cá nhân 67 Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam nhằm đảm bảo quyền tự do và

an toàn cá nhân 73

3.1 Sự cần thiết của việc hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam nhằm bảo đảm

quyền tự do và an toàn cá nhân 73

3.2 Hoàn thiện các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam nhằm đảm bảo

quyền tự do và an toàn cá nhân 74

3.2.1 Hoàn thiện quy định liên quan đến việc bất khả xâm phạm về thân thể, không bị

bắt, giam, giữ trái pháp luật 75

3.2.2 Hoàn thiện quy định liên quan đến quyền bào chữa 83

3.2.3 Hoàn thiện quy định liên quan đến vấn đề xét xử công bằng 88

Trang 6

3.2.4 Hoàn thiện quy định khác có liên quan 90

3.3 Những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình

sự Việt Nam nhằm đảm bảo quyền tự do và an toàn cá nhân 93 KẾT LUẬN 96 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97

Trang 7

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong xã hội dân chủ, quyền con người nói chung, quyền tự do và an toàn cá nhân nói riêng luôn được xác định là những giá trị chung được toàn nhân loại thừa nhận, nó luôn giữ vị trí thượng tôn và được pháp luật quốc tế cũng như pháp luật của từng quốc gia ghi nhận, bảo vệ Điều này được khẳng định trong các văn kiện quốc tế về quyền con người như: Tuyên ngôn nhân quyền thế giới năm 1948 (UHDR); Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 (ICCPR), trong đó nhấn mạnh: mọi người đều có quyền hưởng tự do và an ninh cá nhân

Nghiên cứu pháp luật tố tụng hình sự, có thể thấy rằng, vấn đề bảo đảm quyền con người nói chung, quyền tự do và an toàn cá nhân nói riêng mang nhiều yếu tố đặc thù bởi vấn đề này sẽ được tiến hành đồng thời trong quá trình giải quyết vụ án hình sự cho những người tham gia tố tụng, đặc biệt là những người đang bị tình nghi là đã thực hiện hành vi phạm tội

Tại Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, nhà làm luật đã bổ sung thêm nhiều điểm mới đột phá có liên quan tới việc bảo đảm các quyền con người nói chung, quyền tự do và an toàn cá nhân nói riêng như: i) sửa đổi, bổ sung một số nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự: nguyên tắc suy đoán vô tội; không ai bị kết án hai lần vì một tội danh, tranh tụng trong xét xử được bảo đảm; quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội ; ii) hoàn thiện về tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng cũng như người tham gia tố tụng khi quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan

tố tụng, tăng quyền, tăng trách nhiệm cho điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, quy định bắt buộc phải ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh khi hỏi cung bị can tại nơi giam giữ hoặc tại trụ sở cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra… Đây được coi là những điểm mới quan trọng tại Bộ luật Tố tụng hình sự

Trang 8

2

2015, là cơ sở pháp lý nhẳm giải quyết đúng đắn, khách quan, công bằng vụ án hình sự, đồng thời, thể hiện bước nhảy mới của nước ta trong công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa khi các nhà làm luật ngày càng thể chế hóa sâu rộng hơn những chính sách pháp luật tố tụng hình sự được nêu tại các Nghị quyết của Đảng và phản ánh chủ trương, đường lối thống nhất của Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền con người nói chung, quyền tự do và an toàn cá nhân nói riêng

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, trong thực tiễn vấn đề quyền con người nói chung và quyền tự do, an toàn cá nhân nói riêng của người bị buộc tội vẫn đang bị xâm phạm, vẫn còn đó những vụ án có dấu hiệu bức cung, dùng nhục hình; tình trạng làm oan người vô tội; sự sai phạm trong quá trình áp dụng các biện pháp ngăn chặn… vẫn chưa thuyên giảm nhiều Thực trạng này đã và đang gây nên bức xúc lớn trong dư luận, đòi hỏi các cơ quan có thẩm quyền cần có những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động thực thi pháp luật nói chung, hoạt động tư pháp hình sự nói riêng nhằm bảo đảm pháp chế, công bằng xã hội cũng như bảo đảm quyền và lợi ích của công dân

Vì vậy, việc nghiên cứu vấn đề “Bảo đảm quyền tự do và an toàn cá nhân bằng pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam” dưới góc độ một đề tài khoa học rõ ràng có ý nghĩa cấp bách và cần thiết trong công cuộc cải cách tư pháp hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu

Vấn đề quyền tự do và an toàn cá nhân của con người trong tố tụng hình sự thì đây không phải là một nội dung hoàn toàn mới trong khoa học pháp lý, nhưng so với các đề tài khác như chế định các nguyên tắc cơ bản, các giai đoạn tố tụng hình sự thì quyền tư do và

an toàn cá nhân vẫn còn là một đề tài chưa có nhiều khai phá, chưa có nhiều sản phẩm nghiên cứu chuyên sâu, trực tiếp, thay vào đó đa phần các học giả mới chỉ thể hiện sự quan tâm của mình đối với đề tài này một cách gián tiếp thông qua các chủ đề có liên quan

Trang 9

3

Qua tìm hiểu, hiện nay có một số giáo trình, bài viết, nghiên cứu, luận văn thạc

sĩ, sách chuyên khảo…đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp tới vấn đề này như sau:

Dưới góc độ sách chuyên khảo, giáo trình:

- TS Trịnh Tiến Việt chủ biên (2015), Bảo vệ tự do và an ninh cá nhân bằng

pháp luật hình sự Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội;

- TS Trịnh Tiến Việt (2012), Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về

oan, sai và các giải pháp phòng, chống nhìn từ góc độ cải cách tư pháp, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 3, 4/2012;

- Khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội (2011), Hỏi đáp về quyền con người,

Nxb Hồng Đức;

- Võ Thị Kim Oanh (chủ biên) (2010), Bảo đảm quyền con người trong tư pháp

hình sự Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh;

- GS TS Nguyễn Đăng Dung, TS Vũ Công Giao, ThS Lã Khánh Tùng (đồng

chủ biên) (2010), Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người và cuốn sách nhiều tập “Quyền con người” của GS TS Võ Khánh Vinh chủ biên, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2010

Dưới góc độ công trình nghiên cứu, luận văn, luận án:

- GS.TSKH Lê Cảm chủ trì (2013), Đề tài trọng điểm cấp Đại học Quốc gia Hà

Nội, Quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự: Lý luận, thực trạng và hướng hoàn thiện pháp luật, Hà Nội

- Luận án tiến sĩ luật học “Bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị

can, bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam” của tác giả Lại Văn Trình, bảo vệ tại Đại

học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, 2011;

Dưới góc độ các bài báo khoa học đăng trên các tạp chí chuyên ngành

Trang 10

4

- “Bảo vệ quyền con người bằng pháp luật tố tụng hình sự” của PGS TS

Nguyễn Ngọc Chí, Tạp chí Khoa học, chuyên san Luật học, số 23(2)/2009;

v.v

Có thể thấy rằng, liên quan tới vấn đề bảo đảm quyền tự do và an toàn cá nhân bằng pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam nói chung và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 nói riêng, hiện nay đang có rất ít các công trình nghiên cứu một cách trực tiếp, đầy đủ về vấn đề này

3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: quyền tự do và an toàn cá nhân, bảo đảm quyền tự do và an toàn cá nhân bằng pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam

4 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về quyền tự do và an toàn cá nhân như: khái niệm, nội dung của quyền tự do và an toàn cá nhân; khái niệm bảo đảm quyền tự do và an toàn cá nhân bằng pháp luật tố tụng hình sự, ý nghĩa của việc bảo đảm quyền tự do, an toàn cá nhân bằng pháp luật tố tụng hình sự, quy định của pháp luật quốc tế, pháp luật tố tụng hình sự một số nước trên thế giới và đặc biệt là pháp luật

tố tụng hình sự Việt Nam về vấn đề này…Ngoài ra, Luận văn kết hợp với phân tích thực tiễn thi hành, nêu hạn chế và nguyên nhân của hạn chế để làm cơ sở đưa ra giải pháp hoàn thiện

5 Cơ sở phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở phương pháp luận

Cơ sở phương pháp luận của luận văn là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đấu tranh phòng, chống tội phạm, cũng như thành tựu của các chuyên ngành khoa học pháp lý như: lịch sử, lý luận về Nhà nước và pháp luật, xã hội học pháp luật, luật hình sự, tội phạm học và triết

Trang 11

5

học, những luận điểm khoa học trong các công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo và

các bài viết đăng trên tạp chí trong nước

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình tiếp cận và giải quyết những vấn đề mà luận văn đặt ra, tôi đã sử dụng phương pháp biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác- Lênin, dựa trên đường lối quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về chính sách kinh tế - xã hội và các nội dung khác

có liên quan

Trong những trường hợp cụ thể, tôi kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu phù hợp như thống kê, so sánh, tổng hợp, phân tích…nhằm kết hợp nhuần nhuyễn giữa kiến thức lý luận và thực tiễn để góp phần làm sáng tỏ những vấn đề

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Luận văn là một công trình khoa học ở cấp thạc sĩ luật học đề cập một cách chuyên sâu, đầy đủ và toàn diện vấn đề lý luận, thực tiễn thi hành các quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam có liên quan tới vấn đề bảo đảm quyền tự do và an toàn cá nhân Trên cơ sở nghiên cứu tác giả sẽ đề xuất một số giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật cũng như những giải pháp khác nâng cao hiệu quả áp dụng chúng trong thực tiễn nhằm bảo đảm hơn nữa quyền tự do và an toàn cá nhân Luận văn góp phần hoàn thiện về mặt

lý luận khoa học cho đề tài nghiên cứu, đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là một trong những tài liệu tham khảo có thể được sử dụng để nghiên cứu, học tập, đồng thời cung cấp những luận cứ khoa học phục vụ cho công tác lập pháp và hoạt động thực tiễn của các cơ quan có thẩm quyền, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội này trong giai đoạn hiện nay

Trang 12

6

7 Bố cục luận văn

Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết thúc, kết quả luận văn bao gồm các nội dung sau đây:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung và pháp luật quốc tế về bảo đảm quyền tự do

và an toàn cá nhân trong pháp luật tố tụng hình sự

Chương 2: Bảo đảm quyền tự do và an toàn cá nhân bằng pháp luật tố tụng hình

sự Việt Nam và thực tiễn thi hành

Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng

các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự việt nam nhằm đảm bảo quyền tự do và an

toàn cá nhân

Trang 13

về quyền con người đã được công bố, mỗi định nghĩa lại tiếp cận vấn đề dưới một góc

độ nhất định, nhưng tựu chung lại thì hầu như tất cả các định nghĩa ấy đều chưa bao hàm được toàn bộ các thuộc tính của quyền con người [12, tr.37] Theo định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về quyền con người (OHCHR): “Quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do

cơ bản của con người” [43, tr.100] Đây là định nghĩa thường được trích dẫn bởi các nhà nghiên cứu và nó được nhìn nhận dưới khía cạnh pháp lý Xuất phát từ định nghĩa này

có thể hiểu quyền con người được bảo đảm trên phạm vi toàn cầu, không có giới hạn về mặt không gian địa lý, nó là cơ sở pháp lý vững chắc để đấu tranh lại với những hành động có tính chất xâm hại tới quyền con người

Do quyền con người có phạm vi và nội dung rất rộng nên thường được chia thành các nhóm theo những tiêu chí khác nhau (theo lĩnh vực, chủ thể, nguồn gốc, mức độ pháp điển hóa, phương thức bảo đảm, điều kiện hưởng thụ, sự thừa nhận, giới hạn áp dụng) Theo lĩnh vực của đời sống nhân loại, quyền con người được phân thành hai nhóm chính: các quyền dân sự, chính trị và các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa

Các quyền chính trị bao gồm: quyền tham gia quản lý Nhà nước và thảo luận các

vấn đề chung của cả nước, quyền bầu cử và ứng cử, quyền tự do ngôn luận, quyền tự do

Trang 14

8

báo chí, tự do tín ngưỡng, quyền lập hội, quyền được thông tin, quyền biểu tình, quyền bình đẳng nam nữ, quyền khiếu nại, tố cáo v.v…;

Các quyền dân sự (các quyền tự do cá nhân) bao gồm quyền bất khả xâm phạm

về thân thể, về chỗ ở, quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, quyền được bảo đảm an toàn và bí mật về thư tín, điện thoại, điện tín, quyền tự

do đi lại và cư trú v.v…;

Các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội bao gồm quyền học tập, lao động, quyền tự do

kinh doanh, quyền sở hữu tài sản hợp pháp, quyền phát minh, sáng chế, quyền được bảo vệ sức khỏe, quyền được bảo hộ về hôn nhân, gia đình, các quyền của các đối tượng đặc biệt như thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, người già, trẻ em, người tàn tật không nơi nương tựa v.v…

Xét riêng đối với quyền tự do (đặc biệt là tự do thân thể) và an toàn cá nhân , đây là quyền dân sự chính trị vô cùng quan trọng Có tự do thân thể, cá nhân con người mới có thể có được một cuộc sống bình thường trong môi trường xã hội để học tập, lao động, kinh doanh và tiến hành các hoạt động xã hội khác Tự do nói chung, tự do thân thể nói riêng và an toàn cá nhân là một trong những quyền cơ bản của con người Điều

3 Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 của Liên Hợp quốc khẳng đị nh:

“Mọi người đều có quyền sống, quyền tự do và an toàn cá nhân ” [24, tr.48] Sau đó,

khoản 1 Điều 9 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 của Liên

Hợp quốc tiếp tục quy định: “Mọi người đều có quyền hưởng tự do và an toàn cá nhân

Không ai bị bắt hoặc giam giữ vô cớ Không một ai bị tước quyền tự do trừ trường hợp có lý do và phải theo đúng những thủ tục mà luật pháp đã quy định ” [24, tr.81] Như

vậy, bảo đảm quyền tự do và an toàn cá nhân của con người là trách nhiệm của Nhà nước qua việc ban hành những quy định pháp luật đúng đắn và bảo đảm thực thi có hiệu quả những quy định đó trên thực tế

Thứ nhất về quyền “Tự do cá nhân”

Trang 15

9

Có nhiều khái niệm về tự do (freedom), tuy nhiên có thể hiểu một cách khái quát

“tự do” là tình trạng một cá nhân có thể và có khả năng hành động theo ý chí, nguyện vọng của mình, phù hợp với các quy phạm pháp lý và đạo đức trong một xã hội dân chủ Tự do thường được phân thành tự do chủ động (positive freedom) và tự do thụ động (negative freedom) Tự do chủ động là tự do của cá nhân nhằm để đạt được mục tiêu cụ thể nào đó (ví dụ như tự do ngôn luận, tự do báo chí, hội họp…) Tự do thụ động là tự

do của cá nhân khỏi bị các chủ thể khác xâm phạm đến (như tự do thân thể…)

Quyền tự do cá nhân không được các văn kiện pháp lý quốc tế định nghĩa mà chủ yếu được giải thích trong thực tiễn áp dụng Mạng lưới chuyên gia độc lập của Liên minh Châu Âu về các quyền cơ bản giải thích về quyền này như sau: Quyền tự do cá nhân, chỉ liên quan đến một khía cạnh rất cụ thể của quyền tự do của con người, tự do di chuyển cơ thể theo nghĩa hẹp trong việc bắt bớ và giam giữ Tất cả các hình thức ít nghiêm trọng khác hạn chế về tự do di chuyển của cơ thể, chẳng hạn như quản chế hoặc cấm cư trú, trục xuất, lưu vong, lệnh giới nghiêm hoặc sự giám sát đối với các tù nhân được phóng thích không thuộc phạm vi của quyền tự do

Như vậy, quyền tự do cá nhân tức là quyền được bảo hộ khỏi bị bắt, giam hoặc làm tội một cách vô lý Do đó, tự do cá nhân không hướng tới lý tưởng về một xã hội không có nhà tù, trại giam mà chỉ hướng tới một sự bảo đảm về mặt thủ tục Quyền tự

do cá nhân không phủ nhận chính việc tước quyền tự do cá nhân mà chỉ phản đối việc bắt giữ và giam cầm một cách tùy tiện

Tóm lại, khái niệm quyền tự do cá nhân cần được hiểu là quyền tự do về thân thể con người, được bảo đảm khỏi việc bắt giữ một cách tùy tiện Pháp luật tố tụng

hình sự Việt Nam cũng đã thực hiện tinh thần đó trên nguyên tắc: “Không ai bị bắt, nếu

không có quyết định của Toà án, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát, trừ trường hợp phạm tội quả tang…” và “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa

có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật”

Trang 16

10

Thứ hai, về quyền “An toàn (an ninh) cá nhân”

“An toàn (an ninh)” trong tiếng Anh gọi là security và có hàm ý là mức độ an toàn (safety) cao nhất cho chủ thể Trong tất cả các văn bản pháp lý về quyền con người, định nghĩa pháp lí về quyền an toàn cá nhân chưa được ghi nhận Tại khoản 1 Điều 9 trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự chính trị năm 1966, quyền an toàn cá nhân có thể khiến cho nhiều người nghĩ rằng quyền này chỉ liên quan đến việc bị bắt và giam giữ Tuy nhiên, khi nghiên cứu các điều khoản còn lại trong Công ước này cùng với các văn bản pháp lý khác về quyền con người thì nhận thấy rằng, quyền an toàn cá nhân không chỉ thu hẹp ở giới hạn quyền được bảo vệ khỏi bắt và giam giữ tùy tiện mà nó còn được thể hiện trên những phương diện các quyền sau:

- Quyền được bảo vệ sự riêng tư

- Quyền không bị tra tấn, đối xử hay trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hay bị hạ nhục

- Quyền về xét xử công bằng bao gồm một số quyền như sau: Quyền được xét

xử công bằng và công khai bởi một Tòa án có thẩm quyền; quyền không bị xét xử hai lần về cùng một hành vi; quyền được thông báo lời buộc tội không chậm trễ, được sử dụng và hỗ trợ sử dụng ngôn ngữ thích hợp trong tố tụng; quyền có mặt khi xét xử, được bào chữa và được sự trợ giúp của luật sư ngay khi bị bắt hoặc bị giam giữ; quyền suy đoán vô tội; quyền được xét xử trong thời gian hợp lí mà không bị trì hoãn; quyền được kháng cáo; quyền được bồi thường thiệt hại trong trường hợp oan

Về mặt khoa học pháp lý, hiện nay có rất ít những nghiên cứu cụ thể đưa ra được khái niệm về quyền an toàn (an ninh) cá nhân Khi nói về tự do và an ninh cá nhân, TS

Trịnh Tiến Việt đã cho rằng: Tự do và an ninh cá nhân là quyền cơ bản của con người,

phản ánh trạng thái tồn tại của con người trong đó mỗi cá nhân được bảo đảm về mặt pháp lý cho sự bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và tự do thân thể của họ Như vậy, xét riêng về khái niệm quyền an toàn (an ninh) cá nhân, chúng

ta có thể hiểu như sau: Quyền an toàn cá nhân là quyền của một người được pháp

Trang 17

về an toàn (an ninh) thì lúc đó con người mới tự do thực sự Ngược lại, tự do thân thể, không bị bắt giữ, giam cầm, tù đầy nhưng con người lại bị tấn công, hành hung, bạo hành

thì không phải là có tự do thực sự Nói như học giả người Anh, J.E.S Fawcett: “Tự do cá

nhân theo nghĩa gốc, tức là sự tự do thể chất của con người Quyền an ninh cá nhân, mặt khác, là quyền được pháp luật bảo vệ trong việc thực hiện các quyền tự do” [45, tr.286]

Như vậy, trong khi quyền tự do cá nhân là điều kiện thiết yếu để có được tất cả các quyền

và tự do khác thì quyền an toàn (an ninh) cá nhân là yếu tố bảo đảm cho các quyền, tự do (bao gồm cả tự do cá nhân) được thực hiện

Tóm lại, khái niệm quyền tự do và an toàn (an ninh) cá nhân của con người có thể

được hiểu như sau: Tự do và an toàn (an ninh) cá nhân là quyền cơ bản của con người, phản ánh trạng thái tồn tại của con người trong bất kỳ hoàn cảnh nào đều được hệ thống pháp luật quốc gia cũng như pháp luật quốc tế bảo hộ nhằm chống lại sự xâm phạm/đe dọa xâm phạm về tự do, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm một cách thiếu căn cứ, sai trình tự luật định

1.1.2 Khái niệm quyền tự do và an toàn cá nhân trong pháp luật tố tụng hình sự

Tố tụng hình sự là cách thức, trình tự tiến hành các hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, của các cơ quan Nhà nước khác và các tổ chức xã hội để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Hay nói cách khác, tố tụng hình sự là hoạt động khởi tố, điều tra vụ án hình sự của Cơ quan điều tra, hoạt động truy tố người phạm tội ra trước tòa án của Viện kiểm

Trang 18

12

sát, hoạt động xét xử vụ án hình sự của Tòa án và hoạt động thi hành bản án, quyết định bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án [48, tr.786] Hoạt động tố tụng hình sự là hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng như Cơ quan điều tra và Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên, Tòa án và Thẩm phán, Thư

ký, Hội thẩm; nhưng tham gia vào quá trình tố tụng hình sự còn những người tham gia

tố tụng khác mà quyền và lợi ích của họ có liên quan đến vụ án hoặc đến quá trình tố tụng như người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng v.v…

Cần phải khẳng định lại rằng quyền con người là những gì bẩm sinh, vốn có của con người, được áp dụng bình đẳng cho tất cả các thành viên trong gia đình nhân loại, không có sự phân biệt đối xử vì bất kì lí do gì Quyền con người trong Tố tụng hình sự

là quyền dễ bị xâm phạm, dễ bị tổn thương nhất và hậu quả để lại cho cũng nghiêm trọng nhất khi nó động chạm đến quyền được sống, quyền tự do và sinh mệnh của một cá nhân Bởi lẽ, Tố tụng hình sự với tư cách là một quá trình Nhà nước đưa một người ra xử lí trước pháp luật khi họ bi coi là tội phạm luôn thể hiện tính quyền lực với sức mạnh cưỡng chế nhà nước, với sự yếu thế luôn thuộc về người bị buộc tội Chính vì vậy, hoạt động

Tố tụng hình sự, trong bất kì Nhà nước nào đều được xếp vào nhóm “nguy cơ cao” khi người ta nói đến vấn đề bảo vệ quyền con người [42, tr.8]

Ở bình diện khái quát nhất, quyền con người trong tố tụng hình sự được thể hiện ở

hai khía cạnh: Thứ nhất, trừng trị người phạm tội gây ra những thiệt hại cho các quyền và

lợi ích hợp pháp của con người, của các cơ quan tiến hành tố tụng, góp phần bảo vệ quyền

con người; Thứ hai, khi tiến hành tố tụng giải quyết vụ án, các cơ quan tiến hành tố tụng

có trách nhiệm tôn trọng và bảo đảm quyền con người của người bị tình nghi phạm tội, bị can, bị cáo Các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng không được lợi dụng quyền tiến hành giải quyết vụ án xâm phạm đến quyền của những người nêu trên [19, tr.75] Tuy nhiên, phạm vi quyền con người trong tố tụng hình sự hẹp hơn, không bao gồm

Trang 19

13

cả hai khuynh hướng trên mà chỉ là sự ghi nhận và bảo đảm quyền của những người dễ bị tổn thương bao gồm: Người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị tình nghi phạm tội (bị can, bị cáo) hoặc người bị kết án tránh sự lạm dụng của người tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án

Theo ThS.Đinh Thế Hưng: “quyền con người trong tố tụng hình sự là những giá

trị thiêng liêng chỉ giành cho con người khi họ tham gia quan hệ pháp luật tố tụng hình

sự mà Nhà nước có nghĩa vụ phải ghi nhận trong Hiến pháp, pháp luật và đảm bảo thực hiện trên thực tế”[39, tr.3] Ngoài ra, trên tạp chí nghề luật số 5/2006, TS.Tường Duy

Kiên cho rằng quyền con người trong tố tụng hình sự là “ quyền pháp lý của cá nhân,

công dân hay nói chính xác hơn là quyền của bị can, bị cáo, do đang ở vào tình thế bất lợi vì có hành vi vi phạm pháp luật hình sự hoặc đang bị tình nghi phạm tội, nên thông qua pháp luật, Nhà nước trao cho họ những quyền pháp lý nhất định, những quyền pháp

lý, thường được quy định trong Hiến pháp và luật để giúp họ có công cụ tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, tránh các nguy cơ xâm phạm không đúng pháp luật từ phía các cơ quan hoặc cá nhân đang thực thi pháp luật” Theo

đó, quyền con người trong tố tụng hình sự là tổng hợp các quyền thuộc nhóm quyền dân sự, chính trị nhằm mục đích khẳng định việc bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tôn trọng danh dự nhân phẩm của con người trong mọi hoàn cảnh cũng như bảo đảm việc xét xử công bằng bởi một tòa án độc lập khách quan đối với những người yếu thế (người bị tạm giữ,

bị can, bị cáo, người bị kết án và những người tham gia tố tụng khác) khỏi sự tùy tiện và sự lạm quyền của các cơ quan và nhân viên nhà nước trong các hoạt động tố tụng hình sự

Liên quan đến quyền tự do và an toàn cá nhân trong tố tụng hình sự, có thể hiểu

rằng: Quyền tự do và an toàn cá nhân trong tố tụng hình sự là một trong những quyền dân sự, chính trị quan trọng Nó là sự bảo đảm của Nhà nước cho người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị tình nghi phạm tội (bị can, bị cáo) hoặc người bị kết án … nhằm tránh sự lạm quyền dẫn đến việc xâm phạm/đe dọa xâm phạm sức khỏe, tính mạng,

Trang 20

14

danh dự, nhân phẩm của của họ khi giải quyết vụ án hình sự

1.1.3 Khái niệm, đặc điểm của bảo đảm quyền tự do và an toàn cá nhân bằng pháp luật tố tụng hình sự

GS.TSKH Lê Cảm đã từng nêu: bảo đảm các quyền con người bằng pháp luật tố

tụng hình sự là “Sự điều chỉnh đầy đủ về mặt lập pháp, sự thực thi chính xác về mặt hành

pháp và sự đảm bảo tối đa về mặt tư pháp các quy định của pháp luật tố tụng hình sự để làm cho các quy định đó phù hợp với các nguyên tắc và các quy phạm tương ứng của pháp luật quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự, được tuân thủ, chấp hành và áp dụng một cách nghiêm chỉnh, thống nhất và triệt để bởi các cơ quan bảo vệ pháp luật và Tòa

án, cũng như những người có chức vụ của các cơ quan này trong thực tiễn điều tra, truy

tố, xét xử và thi hành án hình sự, đồng thời góp phần tạo nên lòng tin của công dân vào

sự nghiêm minh của pháp chế, tính minh bạch và sự bình đẳng của pháp luật, sức mạnh

và uy tín của bộ máy công quyền, tính nhân đạo và dân chủ của xã hội dân sự và Nhà nước pháp quyền nói chung” [17, tr.392] Theo đó, bảo đảm quyền con người trong tố

tụng hình sự là sự vận hành của các yếu tố khách quan nhằm mục đích ghi nhận về mặt pháp lý các quyền con người trong tố tụng hình sự và bảo vệ cũng như thực thi các quyền đó trong quá trình giải quyết vụ án hình sự

Có thể nói, quyền con người nói chung và quyền an toàn cá nhân nói riêng ngày càng được cộng đồng các quốc gia trên thế giới chú trọng phát triển và bảo vệ thể hiện bằng việc ghi nhận những quyền này vào pháp luật mỗi quốc gia và pháp luật quốc tế Tuy nhiên, việc ghi nhận các quyền con người trong pháp luật là điều kiện cần nhưng chưa đủ Điều kiện đủ là phải có các biện pháp để bảo vệ các quyền khỏi bị vi phạm và thúc đẩy sự tôn trọng và thực hiện các quyền trên thực tế [23, tr37] Nếu như pháp luật hình sự bảo vệ quyền tự do và an toàn cá nhân của con người thông qua việc ghi nhận các hành vi nguy hiểm cho xã hội là tội phạm về hình phạt cho các tội phạm đó, thì pháp luật tố tụng hình sự lại thực hiện việc bảo vệ các quyền này với những quy định cụ thể

Trang 21

15

về trình tự, thủ tục, thẩm quyền, căn cứ áp dụng các biện pháp hạn chế tự do cá nhân của con người, tạo ra hành lang pháp lý an toàn và vững chắc để chống lại sự tùy tiện trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn và những biện pháp cưỡng chế của nhân viên công quyền, của người có chức vụ, quyền hạn thực thi nhiệm vụ trước tự do và an toàn cá nhân của mỗi con người

Như vậy, liên quan đến việc bảo đảm quyền tự do và an toàn cá nhân bằng pháp

luật tố tụng hình sự có thể hiểu như sau: Bảo đảm quyền tự do và an toàn cá nhân bằng pháp luật tố tụng hình sự là những bảo đảm của pháp luật tố tụng hình sự thông qua các cơ chế như: nguyên tắc cơ bản, biện pháp ngăn chặn, quyền – nghĩa vụ của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng…nhằm hướng tới mục tiêu bảo đảm về tự do, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị tình nghi phạm tội (bị can, bị cáo), người bị kết án hoặc người tham gia tố tụng khác trong suốt quá trình tố tụng hình sự

Từ khái niệm được đưa ra trên, và qua nghiên cứu tìm hiểu, có thể nhận thấy, việc bảo đảm quyền tự do và an toàn cá nhân bằng pháp luật tố tụng hình sự có những đặc

điểm cơ bản dưới đây:

Thứ nhất về đối tượng hướng tới bảo đảm quyền tự do và an toàn cá nhân bằng

pháp luật tố tụng hình sự: là nhóm người dễ bị tổn thương gồm: Người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người phải chấp hành hình phạt và quyền của những người tham gia tố tụng hình sự trong quá trình giải quyết vụ án, như: Người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người làm chứng, người bào chữa Những người này khi tham gia vào các hoạt động tố tụng hình sự, dù với tư cách là người bị buộc tội hay là người bị hại, người tham gia tố tụng trong các vụ án hình sự thì họ vẫn được pháp luật bảo vệ và tôn trọng những quyền cơ bản thiết thân của con người Mặc dù họ là những đối tượng bị hoặc

có khả năng bị áp dụng trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất là trách nhiệm hình sự nhưng những quyền cơ bản, thiết thân nhất như: quyền được tôn trọng về nhân phẩm,

Trang 22

16

quyền không bị tra tấn, đánh đập khi bị giam giữ, bị chấp hành án phạt tù… và những quyền tư pháp để được xét xử công bằng, để được điều tra khách quan trong quá trình tố tụng… Tuy nhiên, so với những người khác thì quyền của nhóm người này bị hạn chế do họ bị tình nghi phạm tội, bị kết án hoặc họ buộc phải tham gia tố tụng do có quyền, lợi ích

liên quan đến sự việc phạm tội

Thứ hai về nội dung bảo đảm quyền tự do và an toàn cá nhân bằng pháp luật tố

tụng hình sự: là sự đảm bảo về tự do thân thể, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của những người tham gia tố tụng (người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị hại, người

làm chứng…) khỏi bị bắt, giam giữ tùy tiện, không bị bức cung, dùng nhục hình trái pháp

luật của các cơ quan công quyền, được bảo vệ bởi pháp luật, được thông tin nhanh chóng, kịp thời và được xét xử công bằng bởi một tòa án độc lập, khách quan Để thực hiện được điều này, các nhà làm luật cần có sự điều chỉnh đầy đủ về mặt lập pháp, các cán bộ công quyền cần có sự thực thi chính xác về mặt hành pháp và sự đảm bảo tối đa về mặt

tư pháp trong quá trình giải quyết vụ án Cụ thể, quyền lập pháp là quyền làm luật, xây dựng luật và ban hành những văn bản luật được áp dụng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Quyền hành pháp là quyền hoạch định, đệ trình chính sách pháp luật và thực thi chính sách pháp luật Quyền tư pháp là quyền bảo vệ luật pháp, đảm bảo cho pháp luật được thực hiện và chống lại các hành vi vi phạm pháp luật Chỉ khi nào có sự thực hiện, phối hợp đồng bộ, hiệu quả giữa cả 3 nhánh quyền lực Nhà nước thì khi đó, quyền con người nói chung và quyền tự do, an toàn cá nhân trong lĩnh vực tố tụng hình sự nói riêng mới được bảo đảm một cách triệt để

Thứ ba, việc bảo đảm quyền tự do và an toàn cá nhân bằng pháp luật tố tụng hình

sự được thực hiện thông qua các biện pháp khác nhau, nhưng tập trung ở biện pháp xây dựng và hoàn thiện các quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự, cũng như thực hiện nghiêm chỉnh, thống nhất, triệt để các quy định đó bởi các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự và thi hành bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án Phải nói rằng, tuyệt đại đa số các quy định

Trang 23

17

của Bộ Luật tố tụng hình sự ở mức độ này hay mức độ khác đều đã thể hiện quan điểm bảo đảm quyền con người của Nhà nước ta trong hoạt động tố tụng hình sự Tuy nhiên, quan điểm bảo đảm quyền con người được thể hiện tập trung, đầy đủ trong các chế định

tố tụng sau đây: Chế định nhiệm vụ của Bộ Luật tố tụng hình sự; Chế định về những nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự; Chế định về cơ quan và người tiến hành tố tụng, chế định người tham gia tố tụng; Chế định về các biện pháp ngăn chặn; Các quy định về các biện pháp tố tụng, các thủ tục tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án; Chế định về khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự; Quy định về chế tài tố tụng đối với việc vi phạm tố tụng liên quan đến việc bảo đảm quyền con người

Thứ tư, bảo vệ quyền tự do và an toàn cá nhân bằng pháp luật tố tụng hình sự

phải đảm bảo phù hợp với các nguyên tắc và các quy phạm tương ứng của pháp luật quốc

tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự nói chung và lĩnh vực tố tụng hình sự nói riêng Cụ thể

vấn đề này, sách trắng về thành tựu quyền con người của Việt Nam khẳng định: “…việc

bảo đảm và thúc đẩy quyền con người trước hết là trách nhiệm và quyền hạn của mối quốc gia Các quốc gia có trách nhiệm xây dựng hệ thống pháp luật trong nước phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, đặc biệt là Hiến chương liên hợp quốc có tính đến hoàn cảnh của mỗi nước để đảm bảo cho người dân được hưởng thụ quyền con người một cách tốt nhất” hay trong Báo cáo quốc gia kiểm điểm định kì việc thực

hiện quyền con người ở Việt Nam, Chính phủ Việt Nam đã xác định, việc “…kết hợp

hài hòa giữa các giá trị phổ quát của các quyền con người và hoàn cảnh đặc thù riêng của mỗi quốc gia, tăng cường hợp tác quốc tế và mở rộng đối thoại trong lĩnh vực quyền con người” [8, đoạn 89] là một trong những bài học thành công của Việt Nam trong việc

bảo vệ và thúc đẩy quyền con người

1.1.4 Ý nghĩa của bảo đảm quyền tự do và an toàn cá nhân bằng pháp luật

tố tụng hình sư

Nhà nước với tư cách là một tổ chức quyền lực chính trị công cộng đặc biệt với bộ máy thực hiện cưỡng chế và quản lý xã hội [13, tr.83], Nhà nước chiếm vị trí trung tâm

Trang 24

18

của hệ thống bảo vệ tự do và an toàn cá nhân của con người Nhà nước sử dụng pháp luật

là một công cụ hiệu quả trong việc bảo vệ quyền này Trong đó, pháp luật tố tụng hình sự đã và đang phát huy vai trò tích cực của mình thông quá các nguyên tắc cơ bản của hoạt động tố tụng hình sự như: nguyên tắc suy đoán vô tội, nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật, nguyên tắc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể…Đồng thời là những quy định cụ thể khác đặt ra yêu cầu với các cơ quan tiến hành tố tụng phải có trách nhiệm tôn trọng và đảm bảo các quyền con người nói chung, quyền tự do và an toàn cá nhân nói riêng của người bị tạm giữ, tạm giam, bị can, bị cáo… trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự

Việc bảo đảm quyền tự do và an toàn cá nhân bằng pháp luật tố tụng hình sư có ý nghĩa rất quan trọng, giúp cho quyền con người được đảm bảo và thực thi trên thực tế, đảm bảo tự do, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của những người tham gia tố

tụng (người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị hại, người làm chứng…) khỏi bị bắt, giam

giữ tùy tiện, bức cung, dùng nhục hình trái pháp luật của các cơ quan công quyền Trong

hoạt động tố tụng hình sự luôn luôn tồn tại những đối tượng yếu thế, nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội, đó là: (a) Người bị tình nghi phạm tội đang trong quá trình giải quyết vụ án, đang bị các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng biện pháp cưỡng chế của tố tụng hình sự nhằm xác định sự thật khách quan vụ án Những người này có thể là người

bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và theo quy định của pháp luật họ chưa bị coi là người phạm tội mà mới chỉ là người bị tình nghi phạm tội; (b) Người phạm tội bị kết án

và phải chấp hành hình phạt do Tòa án tuyên Khác với người tình nghi phạm tội, đây là người đã được các cơ quan tiến hành tố tụng chứng minh và phán quyết là có tội, bị tuyên

áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của họ phù hợp với quy định của pháp luật và được phán quyết bởi thủ tục tố tụng hình sự công bằng, khách quan; (c) Nhóm người tham gia tố tụng do có quyền và lợi ích liên quan đến vụ án: Người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người bào chữa… Những người này ngoài việc tham gia tố tụng để bảo vệ quyền lợi cho mình, họ

Trang 25

19

còn góp phần làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án và góp phần bảo đảm cho sự công bằng trong quá trình giải quyết vụ án Do đó việc đảm bảo quyền tự do và an toàn cá nhân của những đối tượng này rất được nhà nước quan tâm Việc xây dựng các quy phạm pháp luật

tố tụng hình sự nhằm tạo cơ sở pháp lý cao hạn chế sự lạm quyền, chống các hành vi xâm

phạm/đe dọa xâm phạm đến tự do, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của những

người yếu thế khi tham gia quan hệ pháp luật tố tụng hình sự (người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị hại, người làm chứng…) qua đó hướng đến nhiệm vụ bảo vệ tự do và an ninh

cá nhân của mỗi cá nhân dù cho một trong những nhóm người này ít nhiều đã gây nguy hại cho xã hội hoặc bị tình nghi có hành vi gây nguy hại cho xã hội và hạn chế tự do nhưng quyền của họ vẫn được ghi nhận và bảo đảm thi hành bằng biện pháp pháp luật

Đồng thời, pháp luật tố tụng hình sự hạn chế sự xâm hại tự do và an toàn cá nhân

của chính nhà nước và các cơ quan công quyền Hành vi bức cung, dùng nhục hình, bắt,

giam giữ người trái pháp luật là những hành vi xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của các cơ quan tư pháp cũng như tự do và an toàn cá nhân của con người Nhà nước ban hành ra pháp luật và trao quyền thực thi, kiểm sát tính đúng đắn của các quy phạm pháp luật đó cho các cơ quan công quyền, tuy nhiên, trên thực tế, không phải lúc nào, hoạt động của các cơ quan này là đúng đắn và có hiệu quả, mà trong một vài trường hợp nhất định, vì những nguyên nhân khác nhau mà các cơ quan này đã xâm phạm đến tự

do và an ninh cá nhân một cách trái phép Đồng thời, thực tế cũng chỉ ra rằng, trong tố tụng hình sự, hoạt động tố tụng của các cơ quan, người tiến hành tố tụng là những hoạt động dễ xâm phạm đến quyền con người nhất bởi các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là những chủ thể đại diện cho Nhà nước, được Nhà nước trao quyền,

nó thể hiện tính độc lập, chủ động của những người tiến hành tố tụng, do đó khả năng xảy ra các oan sai là điều khó có thể tránh khỏi Vì vậy, nhà nước ban hành các quy định nhằm hạn chế quyền lực của các cơ quan này, đó là không được bức cung, dung nhục hình, bắt, giam giữ người mà không có căn cứ pháp luật Việc quy định như vậy có ý nghĩa rất lớn trong việc bảo vệ quyền con người, quyền tự do và an toàn cá nhân của con người, hạn

Trang 26

20

chế sự xâm phạm từ phía nhà nước và các cơ quan công quyền cũng như bảo vệ tính đúng đắn, nghiêm minh của pháp luật tố tụng hình sự Đồng thời, bảo đảm quyền tự do và an toàn cá nhân bằng pháp luật tố tụng hình sự cũng góp phần bảo đảm cho sự hoạt động, vận hành bình thường của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng - bảo đảm hoạt động điều tra, truy tố xét xử vụ án hình sự khách quan đúng pháp luật, mọi tình tiết của vụ

án phải được làm rõ, các chứng cứ buộc tội hay gỡ tội phải được thu thập và xem xét…

Thêm vào đó, việc bảo đảm quyền tự do và an toàn cá nhân bằng pháp luật tố tụng hình sự còn có ý nghĩa rất lớn trong việc hạn chế những vụ án oan, sai Trong quá trình điều tra hình sự, địa vị giữa cơ quan điều tra hình sự đại diện quyền lực nhà nước với địa

vị của nghi phạm có một khoảng cách tương đối lớn Vậy trên con đường xây dựng nhà nước chính hiến, chúng ta phải dựa vào luật pháp hạn chế quyền lực nhà nước, bảo đảm đầy đủ quyền lợi công dân mới có thể giảm thiểu được các vụ án xâm phạm nhân quyền xuất hiện trong quá trình lập pháp và hành pháp, từ đó có thể tránh được những vụ án oan, sai [36, tr.66]

Ngoài ra, việc xây dựng các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự nhằm bảo vệ quyền tự do và an toàn cá nhân của con người góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ chung

của Bộ luật Hình sự, đó là: “…bảo vệ các lợi ích của con người, của xã hội và của nhà

nước, đồng thời góp phần bảo vệ hòa bình và an ninh của nhân loại khỏi sự xâm hại của tội phạm” [29, tr.158]

1.2 Pháp luật quốc tế về bảo đảm quyền tự do và an toàn cá nhân bằng pháp luật tố tụng hình sự

1.2.1 Một số văn bản pháp lý quốc tế về bảo đảm quyền tự do và an toàn cá nhân bằng pháp luật tố tụng hình sự

Trong hệ thống các quy phạm pháp luật nhân quyền quốc tế, liên quan đến quyền tự do và an toàn cá nhân, quan trọng nhất phải kể đến hai văn bản pháp lý quốc tế quan trọng là Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người (UDHR, 1948); và Công ước quốc

Trang 27

21

tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR, 1966)

Liên quan tới quyền tự do và an toàn cá nhân, Điều 3 UDHR quy định: “Mọi người

đều có quyền sống, quyền tự do và an ninh cá nhân”, có nghĩa là: Mọi người đều có quyền

sống và được tự do Một người vô tội không thể bị cầm tù Tất cả mọi người đều có thể cảm thấy an toàn trong cuộc sống của chính họ và không ai có quyền đặt bạn vào tình

trạng bạo lực hoặc những đe dọa khác Đồng thời, Điều 9 UDHR cũng quy định: “Không

ai bị bắt, giam giữ hay lưu đày một cách tùy tiện” Theo đó, một nguyên tắc mà pháp luật

quốc tế đặt ra đó là: mọi hoạt động bắt, giam giữ một người phải dựa trên căn cứ pháp luật

Cụ thể hơn, Điều 9 ICCPR cũng quy định về quyền tự do và an toàn cá nhân, bao gồm 5 khoản, quy định như sau:

1 Mọi người đều có quyền hưởng tự do và an toàn cá nhân Không ai bị bắt hoặc

bị giam giữ vô cớ Không ai bị tước quyền tự do trừ trường hợp việc tước quyền đó là

có lý do và theo đúng những thủ tục mà luật pháp đã quy định

2 Bất cứ người nào bị bắt giữ đều phải được thông báo, vào lúc bị bắt, về những

lý do người đó bị bắt và phải được thông báo không chậm trễ về bất kỳ sự buộc tội nào đối với người đó

3 Bất cứ người nào bị bắt hoặc bị giam giữ vì một tội hình sự phải được sớm đưa

ra Tòa án hoặc một cơ quan tài phán có thẩm quyền thực hiện chức năng tư pháp và phải được xét xử trong thời hạn hợp lý hoặc được trả tự do Việc tạm giam một người trong thời gian chờ xét xử không được đưa thành nguyên tắc chung, nhưng việc trả tự do cho họ có thể kèm theo những điều kiện để bảo đảm họ sẽ có mặt tại Tòa án để xét xử vào bất cứ khi nào và để thi hành án nếu bị kết tội

4 Bất cứ người nào do bị bắt hoặc giam giữ mà bị tước tự do đều có quyền yêu cầu được xét xử trước Tòa án, nhằm mục đích để Tòa án đó có thể quyết định không chậm trễ về tính hợp pháp của việc giam giữ và ra lệnh trả lại tự do cho họ, nếu việc

Trang 28

22

giam giữ là bất hợp pháp

5 Bất cứ người nào trở thành nạn nhân của việc bị bắt hoặc bị giam giữ bất hợp pháp đều có quyền được yêu cầu bồi thường

Điều 9 ICCPR không coi quyền tự do là quyền tuyệt đối bảo vệ các cá nhân khỏi

bị bắt hoặc giam giữ trong mọi trường hợp Khoản 1 Điều 9 là một bảo đảm về nội dung đòi hỏi việc bắt và giam giữ không được tùy tiện hoặc bất hợp pháp và chỉ khi có căn cứ cũng như yêu cầu đảm bảo theo đúng trình tự luật định Từ khoản 2 đến 5 của Điều 9 là các yêu cầu nhằm bảo đảm cho cá nhân được hưởng quyền tự do và an toàn

cá nhân nêu tại khoản 1 Điều 9 Bên cạnh những quy định trên, trong Bình luận chung

số 8 thông qua tại phiên họp lần thứ 16 năm 1982, đã giải thích thêm một số khía cạnh

có liên quan tới quyền được bảo vệ để khỏi bị bắt, giam giữ tùy tiện Theo đó, quyền này được áp dụng đối với tất cả những người bị tước quyền tự do; trong trường hợp sử dụng tạm giam, tạm giữ như là một biện pháp ngăn chặn thì không được tiến hành một cách tùy tiện mà phải dựa trên các trình tự, thủ tục được luật pháp quy định, đồng thời phải đảm bảo quyền được thông tin của bị can; thời hạn tạm giam, tạm giữ phụ thuộc vào pháp luật của từng quốc gia, tuy nhiên, theo Ủy ban, thời hạn tạm giữ không nên quá vài ngày, còn thời gian tạm giam cần phù hợp với hai nguyên tắc: bị can, bị cáo phải được xét xử trong thời gian hợp lý hoặc được trả tự di; việc tạm giam, tạm giam chỉ được coi

là ngoại lệ và thời gian càng ngắn càng tốt

Liên quan đến quyền an toàn cá nhân, tại Điều 5 UDHR nêu rằng: không ai bị tra tấn hay bị đối xử tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm Điều 7 ICCPR cụ thể hóa quyền này với quy định nêu rõ: không ai có thể bị tra tấn, đôi xử hoặc trừng phạt tàn ác,

vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm; không ai có thể bị sử dụng làm thí nghiệm y học hoặc khoa học mà không có sự đồng ý tự nguyện của người đó Liên quan tới quy định này, trong Bình luận chung số 7 (thông qua tại kỳ họp lần thứ 16 năm 1982 của Ủy ban) và sau đó được sửa đổi và bổ sung trong Bình luận chung số 20 (thông qua tại kỳ họp

Trang 29

23

lần thứ 44 năm 1992 của Ủy ban) với nội dung: việc cấm tra tấn, cấm áp dụng các hình thức đối xử, trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo và hạ nhục phải được duy trì trong mọi tình huống, không chấp nhận lý do nào kể cả tình trạng khẩn cấp của quốc gia và mệnh lệnh cấp trên đưa ra để biệ minh cho các hành động tra tấn, đối xử, trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo và hạ nhục (đoạn 3) Bên cạnh những quy định tại hai văn kiện quan trọng trên

về chống tra tấn thì vấn đề này còn được đề cập trong một số điều ước quốc tế khác về quyền con người, đặc biệt là Công ước về chống tra tấn và các hình thức đối xử, trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm (CAT, 1984) Có một điều cần lưu ý đó là chống tra tấn, dối xử hay trừng trị tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục được coi là một quy phạm tập quán quốc tế về quyền con người, bởi vậy tất cả các quốc gia trên thế giới đều có nghĩa vụ tuân thủ, bất kể quốc gia đó có là thành viên của ICCPR, CAT hay của bất cứ điều ước quốc tế nào hay không CAT cũng bao gồm những quy định về các biện pháp các quốc gia thành viên cần áp dụng để ngăn chặn và trừng trị các hành động tra tấn, đối xử, trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo, đồng thời đề cập tới một số khía cạnh mới như bảo vệ nhân chứng (Điều 13), yêu cầu bồi thường cho nạn nhân (Điều 14)…

Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc một lần nữa đã khẳng

định lại tuyên ngôn của UDHR, rằng: “Mọi người sinh ra đều tự do và bình đẳng về nhân phẩm

và các quyền, và rằng tất cả mọi người đều được hưởng tất cả các quyền và tự do trong Tuyên ngôn, mà không có bất kì sự phân biệt nào, cụ thể như chủng tộc, màu da hoặc nguồn gốc dân

tộc” [49, tr.59] Đồng thời cũng tuyên bố rằng, tất cả mọi người đều được hưởng: “b)

Quyền an toàn cá nhân và được nhà nước bảo vệ chống lại những hành vi bạo lực hoặc gây xâm hại đến thân thể do các nhân viên nhà nước gây ra hoặc do bất cứ cá nhân, nhóm

người hoặc cơ quan nào gây ra” [49, tr.64] Điều 2 và 3 của ICCPR tiếp tục ghi nhận và

cụ thể hóa nội dung quyền không bị phân biệt đối xử như sau: Các quốc gia thành viên cam kết tôn trọng và bảo đảm cho mọi người trong phạm vi lãnh thổ và thẩm quyền tài phán của mình các quyền đã được công nhận trong Công ước này, không có bất kỳ sự phân biệt nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị

Trang 30

24

hoặc quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hoặc địa vị khác (khoản 1) Trong Bình luận chung số 18 (HRC) thông qua tại phiên họp lần thứ 37 năm 1989, HRC cũng khẳng định không phân biệt đối xử, bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng đóng vai trò là cơ sở và nguyên tắc chung trong việc bảo vệ tất cả các quyền con người Các quốc gia thành viên có trách nhiệm bảo đảm quyền này cho mọi người có mặt trên lãnh thổ nước mình, bất kể người đó là công dân nước mình, người không quốc tịch hay người nước ngoài, bất kể các yếu

tố dân tộc, chủng tộc, quốc tịch, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị, thành phần xã hội, tài sản hay bất kỳ yếu tố nào khác (đoạn 1) Đồng thời, HRC khẳng định quyền không bị phân biệt đối xử, bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng là những quyền tuyệt đối, được áp dụng trong mọi tình huống, kể cả trong tình trạng khẩn cấp của quốc gia được quy định ở Điều 4 ICCPR (đoạn 2) Các quốc gia thành viên có quyền tự quyết định các biện pháp thích hợp để thực hiện quyền này

Có thể thấy rằng cộng đồng quốc tế ghi nhận và tôn trọng sự bình đẳng về quyền con người giữa các màu da, các dân tộc trên thế giới; và để đảm bảo cho tự do và an toàn

cá nhân của con người được bảo vệ, thì pháp luật quốc tế ngăn cấm mọi hành vi xâm phạm đến tự do và an toàn cá nhân của con người từ bất kì chủ thể nào (cá nhân hoặc pháp nhân), nếu như sự xâm hại đó không xuất phát từ việc thực thi luật pháp

Tóm lại, pháp luật quốc tế công nhận việc bảo vệ tự do và an toàn cá nhân của con người là việc bảo vệ con người tránh khỏi những hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và bảo vệ con người khỏi bị bắt, giam giữ và các hành vi

hạ thấp danh dự, nhân phẩm một cách tùy tiện bởi bất kỳ cá nhân, tổ chức nào, đảm bảo mọi người đều bình đằng Những chuẩn mực quốc tế và cơ chế bảo vệ (quyền) tự do và

an toàn cá nhân nêu trên là cơ sở pháp lý quan trong để các quốc gia cụ thể hóa các quyền này trong Hiến pháp và các đạo luật chuyên ngành, góp phần bảo vệ tối đa và đầy đủ nhất các quyền đó trước sự xâm hại của tội phạm và vi phạm pháp luật

Trang 31

25

1.2.2 Pháp luật tố tụng hình sự của một số nước trên thế giới về bảo đảm quyền tự do và an toàn cá nhân

a Pháp luật tố tụng hình sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa

Hiện nay, trong sự phát triển của cộng đồng quốc tế, vấn đề nhân quyền ngày càng được mọi người quan tâm Tại Hiến pháp Trung Quốc cũng đã xác nhận, bảo vệ các quyền cơ bản của con người được cộng đồng quốc tế thừa nhận trong Tuyên ngôn nhân quyền thế giới năm 1948, Công ước quốc tế về quyền kinh tế, văn hóa, xã hội năm 1966 và Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị năm 1966 trong đó có quyền tự do và an toàn cá nhân Năm 1997 và 1998, Chính phủ Trung Quốc đã lần lượt

kí các văn bản như: Công ước quốc tế về quyền kinh tế, văn hóa-xã hội, Công ước quốc

tế về quyền dân sự và chính trị Công ước quốc tế về quyền kinh tế, văn hóa -xã hội được Ủy ban thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc phê chuẩn và có hiệu lực

từ ngày 28/2/2001 Điều này đã thể hiện rõ Trung Quốc sẽ hội nhập vào sự phát trỉển sự nghiệp nhân quyền quốc tế

Ngày 13/4/2009, Văn phòng thông tin Quốc vụ viện nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã công bố “Kế hoạch hành động nhân quyền quốc gia năm 2009 - 2010”, trong đó có đề cập quyền của người bị giam giữ như: hoàn thiện pháp luật về quản lí và giám sát, áp dụng biện pháp hữu hiệu, bảo đảm quyền lợi cho người bị tạm giam và đãi ngộ nhân đạo hướng tới mục đích không một cá nhân nào bị tước tự do, bị giam giữ một cách tùy tiện, thiếu căn cứ pháp luật và không bị đối xử tàn bạo, vô nhân đạo dù cho họ đang là đối tượng bị tình nghi

Luật Tố tụng hình sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được thông qua tại Kỳ họp thứ hai Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc lần thứ 5 ngày 01 tháng 7 năm 1979, và được sửa đổi theo Quyết định sửa đổi Luật Tố tụng hình sự của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa thông qua tại Kỳ họp thứ tư Đại biểu Nhân dân Toàn quốc lần thứ 8 ngày 17 tháng 3 năm 1996 Tại đây, pháp luật tố tụng hình sự của Trung Quốc đã có nhiều ghi

Trang 32

26

nhận quan trọng thể hiện tinh thần đảm bảo quyền tự do và an toàn cá nhân trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Cụ thể:

Điều 3, Chương 1 – Mục đích và những nguyên tắc cơ bản của Luật này có quy

định: Cơ quan công an chịu trách nhiệm thực hiện việc điều tra, bắt, giam và điều tra

ban đầu trong các vụ án hình sự Viện kiểm sát có trách nhiệm thực hành công tác kiểm sát, phê chuẩn lệnh bắt, tiến hành điều tra, truy tố các vụ án do Viện kiểm sát trực tiếp thụ lý Toà án nhân dân đảm nhiệm việc xét xử Trừ khi luật có quy định khác, không cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân nào khác có những quyền hạn nêu trên Khi tiến hành tố tụng hình sự, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và cơ quan công an phải thực hiện nghiêm chỉnh mọi quy định của Bộ luật này và các luật khác có liên quan Theo đó,

các nhà lập pháp của Trung Quốc đã phân định rõ quyền hạn, chức năng của các cơ quan công an, viện kiểm sát, và tòa án Khi tiến hành tố tụng, các cơ quan này phải thực hiện nguyên tắc chấp hành nghiêm chỉnh mọi quy định của Luật này cũng như các luật khác có liên quan Như vậy, có thể gián tiếp hiểu rằng, việc bắt, giam nghi phạm không được thực hiện một cách tùy tiện, nó phải được thực hiện bởi một cơ quan có thẩm quyền và trên cơ sở các quy định của pháp luật Hay nói cách khác, không ai có thể bị tước tự do trừ trường hợp việc tước quyền đó là có lý do và theo đúng những thủ tục mà luật pháp

đã quy định Nội dung này đã được nhà làm luật tái khẳng định tại Điều 59: Việc bắt giữ

nghị can, bị cáo phải được Viện kiểm sát nhân dân phê chuẩn hoặc phải có quyết định của Toà án nhân dân và được Cơ quan công an thi hành

Thêm vào đó, Điều 14, Chương 1 của Luật này còn quy định: Toà án nhân dân,

Viện kiểm sát nhân dân và cơ quan công an phải bảo đảm cho những người tham gia tố tụng được hưởng quyền tố tụng theo đúng pháp luật Trong các vụ án có người chưa thành niên dưới 18 tuổi phạm tội, có thể báo cho nghi can và người đại diện của bị cáo

có mặt vào thời điểm thẩm vấn và xét xử Người tham gia tố tụng có quyền tố cáo thẩm phán, kiểm sát viên và điều tra viên có hành vi xâm phạm quyền tố tụng của công dân

Trang 33

27

hoặc xúc phạm danh dự của họ Trên cơ sở quy định này, có thể thấy, Luật tố tụng hình

sự của Trung Quốc đã nhấn mạnh việc những người tham gia tố tụng phải được hưởng quyền tố tụng theo đúng pháp luật như: quyền không bị bắt, giam một cách tùy tiện (Điều 3); quyền bào chữa (Điều 11); quyền được thông báo nguyên nhân tạm giữ và nơi giam giữ cho gia đình hoặc cơ quan nơi làm việc của người bị tạm giữ biết (Điều 64); quyền được trả tự do ngay sau 24 giờ tạm giữ và khi xét thấy không cần tạm giữ (Điều 65); quyền được trả tự do sau 24 giờ bắt người, và khi thấy không cần phải bắt (Điều 72)

Đồng thời, điều luật trên còn quy định người tham gia tố tụng có quyền tố cáo thẩm phán,

kiểm sát viên và điều tra viên có hành vi xâm phạm quyền tố tụng của công dân hoặc xúc phạm danh dự của họ Tức là, thẩm phán, kiểm sát viên và điều tra viên có trách nhiệm tôn trọng danh dự, nhân phẩm của người tham gia tố tụng, nếu họ có hành vi vi phạm thì người tham gia tố tụng có quyền tố cáo

Ngoài ra, các quy định khác tại Luật này về khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử vụ

án hình sự cũng rất cụ thể, rõ ràng, nhất quán tư tưởng bảo đảm các quyền con người nói chung, quyền tự do và an toàn cá nhân nói riêng Đây là những cơ sở pháp lý quan trọng góp phần ghi nhận và thực thi quyền này trong thực tế, từ đó hạn chế sự lạm quyền của các cơ quan công quyền trong quá trình giải quyết vụ án, hạn chế án oan, sai

Tuy nhiên, trên quan điểm cá nhân, người viết cho rằng, tại Luật Tố tụng hình sự của Trung Quốc có một số quy định còn tồn tại hạn chế gây ảnh hưởng tới việc bảo đảm các quyền con người nói chung, quyền tự do và an toàn cá nhân nói riêng cần được cân

nhắc, xem xét Ví dụ như: Điều 93 quy định: “… nghi phạm phải trả lời trung thực các

câu hỏi của nhân viên điều tra Nhưng đối với các vấn đề không liên quan đến vụ án thì

có quyền từ chối không trả lời” Thực chất quy định này đã tước đi quyền được im lặng

của nghi phạm, tức là quyền tự do tường thuật lại sự việc một cách tự nguyện bị tước bỏ Trường hợp khi bị nhân viên điều tra bức cung, nghi phạm càng không có quyền không trả lời câu hỏi

Trang 34

28

b Pháp luật tố tụng hình sự Nhật Bản

Lịch sử phát triển tố tụng hình sự Nhật bản cho thấy trước khi kết thúc chiến tranh thế giới lần thứ hai, luật pháp Nhật Bản thuộc hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa nhưng kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai thì pháp luật Nhật Bản đã du nhập nhiều chế định

về quyền và nghĩa vụ của công dân, pháp luật về tố tụng và cách thức tổ chức Tòa á n trong pháp luật của Hoa Kỳ Từ năm 1945, chiến tranh thế giới thứ II, Nhật chuyển sang chính thể quân chủ nghị viện và chịu ảnh hưởng lớn của Hoa Kỳ Với sự can thiệp của Hoa Kỳ, một loạt cải cách xã hội được tiến hành, trong đó quan trọng nhất là việc b an hành Hiến pháp mới với những quy định tiến bộ về bảo đảm quyền cơ bản của công dân trong tố tụng hình sự: Khi bắt giữ, khám xét, thu giữ phải có lệnh; bị can, bị cáo có quyền được mời luật sư, quyền giữ im lặng không khai báo Hiến pháp mới dẫn đến sự ra đời

của Bộ Luật Tố tụng Hình sự mới (Luật số 131 ngày 10/7/1948, có hiệu lực từ năm

1949) và được áp dụng cho đến nay Năm 2004 ban hành Luật sửa đổi phần 1 Luật tố

tụng hình sự và hiện nay đang tiếp tục nghiên cứu sửa đổi Bộ Luật Tố tụng Hình sự với mục đích hoàn thiện các thủ tục tố tụng trước phiên tòa và kiện toàn việc công khai chứng cứ tại phiên tòa trên cơ sở quan điểm cải cách tư pháp và giải quyết các yêu cầu thực tiễn [55]

Liên quan đến việc bảo đảm quyền tự do và an toàn cá nhân, Điều 1 Bộ luật Tố

tụng Hình sự Nhật Bản quy định: “mục đích của Bộ luật là làm sáng tỏ những tình tiết

của vụ án cũng như áp dụng và thực thi việc trừng trị một cách nhanh chóng đối với vụ

án hình sự trong khi vẫn xem xét đầy đủ đến việc duy trì phúc lợi công và đảm bảo nhân quyền đối với từng cá nhân” Như vậy, mục tiêu tố tụng hình sự Nhật Bản yêu cầu xác

định sự thật khách quan, bảo đảm công lý đồng thời bảo đảm quyền con người, trong đó

có quyền tự do và an toàn cá nhân Quy định này sẽ là kim chỉ nam quan trọng cho việc triển khai các quy định cụ thể trong Bộ luật nhằm hướng tới mục đích nêu trên

Trang 35

29

Tố tụng hình sự Nhật Bản quy định về quyền bào chữa, quyền được giúp đỡ về pháp lý là quyền cơ bản của người bị tình nghi, bị can, bị cáo Bị cáo, người bị tình nghi

và người đại diện của họ có thể lựa chọn luật sư bào chữa bất cứ lúc nào (Điều 30) Người

bào chữa có thể là luật sư hoặc bất kỳ người nào có chuyên môn pháp lý, công tâm, không trái ý bị cáo, được bị cáo nhờ hoặc Công tố viên, Tòa án chỉ định Đại diện pháp

lý, người giám hộ, vợ hoặc chồng, họ hàng trực hệ, anh chị em của bị can, bị cáo có thể độc lập chỉ định người bào chữa hoặc giúp đỡ cho bị cáo vào bất kì thời điểm nào và phải nộp đơn tại mỗi cấp xét xử Tòa án bắt buộc phải chỉ định người bào chữa cho b ị

cáo trong các trường hợp: Bị cáo là người chưa thành niên (người dưới 20 tuổi); bị cáo

từ đủ 70 tuổi trở lên; bị cáo là người câm, người điếc hoặc khi nghi ngờ bị cáo bị bệnh tâm thần hoặc không có khả năng nhận thức và trường hợp cần thiết khác mà bị cá o yêu cầu nhà nước chỉ định người bào chữa, về nguyên tắc trường hợp bị cáo bị truy tố về tội có mức hình phạt tử hình, tù khổ sai, chung thân hoặc tù có thời hạn tối đa từ ba năm trở lên đều phải có luật sư bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa, nếu bị cáo kh ông có khả năng thuê luật sư thì Công tố viên hoặc Thẩm phán phải chỉ định luật sư cho họ Bị cáo có quyền đề nghị thay đổi luật sư nếu có lý do chính đáng Nhưng nếu lý do bị cáo đưa ra không có căn cứ thì Tòa án vẫn tiếp tục xét xử nhằm tránh việc hạn chế quyền bào chữa của bị cáo nhưng đồng thời cũng ngăn ngừa việc bị cáo lợi dụng quy định được thay đổi luật sư để trì hoãn việc xét xử

Bên cạnh đó, tương đồng như pháp luật tố tụng hình sự Trung Quốc, các nhà làm luật của Nhật Bản cũng đã xây dựng khung pháp lý chi tiết, rõ ràng về tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự… nhằm bảo đảm các quyền con người nói chung, quyền tự do và an toàn cá nhân nói riêng như: Không được tạm giam bị cáo trừ khi và cho đến khi tòa án đã thông báo cho bị cáo về vụ án và lắng nghe tuyên bố của người này…(Điều 61); việc triệu tập, tạm giữ hoặc tạm giam bị cáo phải được ban hành dưới hình thức lệnh triệu tập, lệnh tạm giữ hoặc tạm giam của tòa án (Điều 62);…

Trang 36

30

Có thể nói pháp luật tố tụng hình sự Nhật Bản đương đại là sự kết hơp khôn khéo trong việc học hỏi kinh nghiệm nước ngoài để xây dựng hệ thống pháp luật nước mình Trong xu thế hội nhập và phát triển chung của thế giới, pháp luật tố tụng hình sự Nhật Bản đang tỏ ra là một hệ thống tồn tại không tách biệt hoàn toàn với các hệ thống pháp luật khác cũng như các chuẩn mực quốc tế trong lĩnh vực bảo đảm quyền con người nói chung, quyền tự do và an toàn cá nhân nói riêng

Liên hệ với Việt Nam, việc nghiên cứu các quy định của pháp luật quốc tế về đảm bảo quyền tự do và an toàn cá nhân bằng pháp luật tố tụng hình sự góp phần hoàn thiện

Bộ Luật tố tụng Hình sự cũng như kĩ thuật lập pháp của nước ta, từng bước tạo ra những

cơ sở pháp lý quan trọng góp phần ghi nhận và thực thi quyền tự do và an toàn cá nhân trong thực tế giải quyết vụ án hình sự, hạn chế án oan, sai

Trang 37

1776, vào thời khắc quan trọng của lịch sử nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bản Tuyên ngôn độc lập đã long trọng tuyên bố trước thế giới về nền độc lập và quyền tự do của dân tộc Việt Nam [41, tr.30] Bản Tuyên ngôn độc lập không những đã kế thừa tinh hoa trong tư tưởng về quyền con người trên thế giới mà còn phát triển những tư tưởng ấy lên một tầm cao mới Bằng việc nhắc lại những luận điểm bất hủ trong bản Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ và Tuyên ngôn Dân quyền và nhân quyền của Pháp, Người khẳng định về quyền dân tộc tự quyết:

“Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống,

quyền sung sướng và quyền tự do” Đây là một đóng góp vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí

Minh không chỉ với dân tộc Việt Nam mà còn với nhân dân thế giới, đặc biệt là các nước thuộc địa Từ đó đến nay, toàn bộ hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật

tố tụng hình sự Việt Nam nói riêng cũng như cơ chế hoạt động của bộ máy Nhà nước ngày càng phát triển và hoàn thiện hơn nữa trong việc ghi nhận và bảo vệ các quyền con người, trong đó có quyền tự do và an toàn cá nhân

Sau khi Cách mạng tháng 8/1945 thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, nhiệm vụ cấp thiết lúc này là phải xóa bỏ hệ thống pháp luật cũ của thực

Trang 38

32

dân, phong kiến và nhanh chóng xây dựng hệ thống pháp luật mới cùng với việc kiện toàn của cơ quan tư pháp Song việc này cũng không thể thực hiện trong một sớm một chiều Trước tình hình đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kí Sắc lệnh số 4 7/SL ngày 10/10/1945 cho phép tạm thời áp dụng những quy định pháp luật của chế độ cũ, miễn là nội dung không trái với nguyên tắc độc lập và chính thể cộng hòa Đồng thời, người rất quan tâm đến việc xây dựng và ban hành Hiến pháp làm cơ sở để xây dựng hệ thống pháp luật mới

Hiến pháp năm 1946 - Bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, dù được soạn thảo trong bối cảnh đất nước còn nhiều khó khăn nhưng đã dành sự quan tâm đặc biệt cho vấn đề quyền con người, trong 70 điều, có 18 điều quy đ ịnh tập trung tại chương II (từ điều thứ 4 đến điều thứ 21) về nghĩa vụ và quyền lợi của công

dân Điều thứ 11 Hiến pháp năm 1946 qui định: “Tư pháp chưa quyết định thì không

được bắt bớ và giam cầm người công dân Việt Nam; Nhà ở và thư tín của công dân Vi ệt Nam không ai được xâm phạm một cách trái pháp luật” Có thể nói, điều luật đã bước

đầu ghi nhận quyền tự do và an toàn cá nhân thông qua hai khía cạnh đặc trưng đó là: người công dân Việt Nam được bảo vệ khỏi bắt, giam giữ tùy tiện và họ được bảo vệ sự riêng tư, nghiêm cấm những hành vi xâm phạm bất hợp pháp

Thành tựu mà Hiến pháp năm 1946 để lại cho những bản Hiến pháp sau này là rất lớn Những bản Hiến pháp sau đều dành hẳn một chương riêng để quy định các quyền của công dân Số điều khoản của chương này trong các bản Hiến pháp về sau đều cao hơn so với Hiến pháp trước Cụ thể, nếu như ở Hiến pháp năm 1946 chương về quyền và nghĩa vụ của công dân có 18 điều thì ở Hiến pháp năm 1959 là 21 điều; Hiến pháp năm 1980 là 29 điều; Hiến pháp năm 1992 là 34 điều và mới đây nhất, Hiến pháp năm

2013 là 36 điều (từ điều 14 đến điều 49) Ở mỗi Hiến pháp về sau các quyền công dân không phải là sự sao chép lại các quy định của Hiến pháp trước, mà là sự kế thừa và phát triển ở mức cao hơn trong điều kiện hoàn cảnh mới của đất nước [23, tr.411]

Trang 39

33

Tuy nhiên, sau khi có Hiến pháp năm 1946, do điều kiện phải tiến hành cuộc kháng chiến chống Pháp nên các quy định nhằm cụ thể hóa Hiến pháp nhằm bảo vệ quyền con người nói chung, quyền tự do và an toàn cá nhân bằng pháp luật tố tụng hình sự nói riêng chủ yếu được thực hiện dưới hình thức Sắc lệnh và Nghị định [41, tr.31]

Trong lĩnh vực tố tụng hình sự, một số khía cạnh của quyền tự do và an toàn

cá nhân đã được ghi nhận như quyền được bào chữa và được sự trợ giúp của luật sư ngay khi bị bắt hoặc bị giam giữ Để hiện thực hóa quyền này phải kể đến sự ban hành

sắc lệnh số 69/SL ngày 18/6/1949 cho phép bị can nhờ một công dân không phải luật

sư để bào chữa Quyền bào chữa tiếp tục được mở rộng trong các văn bản ban hành sau này như: sắc lệnh số 144/SL ngày 22/12/1969, thông tư số 06/TC hướng dẫn việc bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo ngày 9/9/1967 Ngày 18/12/1987, Hội đồng Nhà nước (nay là Ủy ban Thường vụ Quốc hội) đã thông qua Pháp lệnh tổ chức luật sư Có thể nói, đây là văn bản có hiệu lực cao nhất, quan trong nhất từ trước cho đến thời điểm này quy định cụ thể về tổ chức luật sư ở nước ta, đồng thời pháp lệnh cũng ghi nhận

việc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo như sau: “luật sư có quyền tham gia

tố tụng với tư cách là người bào chữa cho bị cáo hoặc đại diện cho người bị hại và các đương sự khác trong vụ án hình sự…” [11, tr.39]

Tiếp đó, tại một số sắc lệnh như: Sắc lệnh số 88/ SL ngày 02/08/1949 sửa đổi sắc lệnh số 134 ngày 20-7-1946 về định quyền hạn và thủ tục khám nhà của Ban tư pháp xã; Sắc lệnh số 002 ngày 18/6/1957 quy định những trường hợp phạm pháp quả tang,

những trường hợp khẩn cấp và những trường hợp khám người phạm pháp quả tang

cũng đã góp phần không nhỏ vào việc bảo đảm quyền tự do và an toàn cá nhân thông qua các quy định về bảo đảm quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân

Đặc biệt, vào năm 1957, Quốc hội đã ban hành Luật bảo đảm quyền tự do thân

Trang 40

34

thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân Bằng việc ban hành luật này, có thể nhận thấy pháp luật Việt Nam đã có bước tiến quan trọng trong việc bảo vệ quyền tự do và an toàn cá nhân Luật này không chỉ quy định nguyên tắc chung, việc bắt người, tạm giữ, tạm giam và khám người, đồ vật, nhà ở, thư tín, mà còn quy định các thủ tục để tiến hành các hoạt động tố tụng đó

2.1.2 Bảo đảm quyền tự do và an toàn cá nhân trong giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 đến trước khi ban hành Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Trong giai đoạn này, Hiến pháp năm 1992 - Hiến pháp của thời kì thực hiện đường lối đổi mới của Đảng đã đánh dấu bước phát triển mới về nhận thức và nội dung quyền con người trên cơ sở tư duy, nhận thức mới về chủ nghĩa xã hội Lần đầu tiên,

trong Hiến pháp khẳng định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền

con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật” (Điều 50) Hiến pháp

đã ghi nhận một số khía cạnh của quyền tự do và an toàn cá nhân của công dân như:

“Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính

mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm; không ai bị bắt, nếu không có quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân,trừ trường hợp phạm tội quả tang…Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của công dân”

(Điều 71) Bên cạnh đó, Hiến pháp năm 1992 cũng quy định thêm một số quyền mới trong đó đặc biệt ghi nhận quyền không bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của tòa án đã có hiệu lực pháp luật (Điều 72), sửa đổi một số qu yền khác cho phù hợp với điều kiện chính trị, văn hóa, xã hội trong giai đoạn này Liên quan đến bảo đảm an toàn cá nhân có thể kể đến việc sửa đổi thư tín, điện thoại, điện tín của công

dân không phải chỉ bảo đảm bí mật mà còn phải an toàn (Điều 73) [41, tr.36]

Thực hiện nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, toàn Đảng,

Ngày đăng: 19/05/2020, 15:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
9. Báo cáo số 14/BC-VKSTC-V8 về “Những nội dung cơ bản đề xuất sửa đổi, bổ sung Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003” ngày 05/02/2013 của Ban Soạn thảo Bộ luật tố tụng hình sự thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nội dung cơ bản đề xuất sửa đổi, bổ sung Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
38. PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí (2009), Một số yếu tố ảnh hưởng tới nguyên tắc “Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”, Tạp chí Nhà nướcvà Pháp luật, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
Tác giả: PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí
Năm: 2009
50. Viện ngôn ngữ học: “Đại từ điển Tiếng Việt”, NXB Văn hóa – Thông tin, H1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại từ điển Tiếng Việt
Nhà XB: NXB Văn hóa – Thông tin
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội Khác
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Hà Nội Khác
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Khác
4. Quốc hội (2013), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Hà Nội Khác
5. Quốc hội (2003), Bộ luật Tố tụng hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2003, Hà Nội Khác
6. Quốc hội (2015), Bộ luật Tố tụng hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2015, Hà Nội.Sách chuyên khảo, bài viết chuyên sâu, tài liệu khác Khác
7. Báo cáo của ngành Kiểm sát thực trạng công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam và giải pháp thực hiện, trong thời gian từ năm 2014 đến 31/7/2016 Khác
8. Báo cáo quốc gia kiểm điểm định kỳ việc thực hiện quyền con người ở Việt Nam Khác
10. Bình luận chung số 32 thông qua tại kỳ họp thứ 90 năm 2007 của Ủy ban nhân quyền Khác
11. Đỗ Thị Hường (2011), quyền con người và vấn đề bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo ở Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ luật học, Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội Khác
12. GS. TS. Nguyễn Đăng Dung, TS. Vũ Công Giao, ThS. Lã Khánh Tùng (đồng chủ biên) (2011), Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội Khác
13. GS.TS. Hoàng Thị Kim Quế (chủ biên) (2006), Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Khác
14. GS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên (2010), Quyền con người tiếp cận đa ngành, liên ngành, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội Khác
15. GS.TSKH Đào Trí Úc (2017), Nguyên tắc suy đoán vô tội – nguyên tắc hiến định quan trọng trong BLTTHS năm 2015, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, Tạp chí Kiểm sát, số 2 Khác
16. GS. TSKH Đào Trí Úc (2000), Luật hình sự Việt Nam (Quyển I - Những vấn đề chung), NXB. Khoa học Xã hội, Hà Nội Khác
17. GS. TSKH Lê Cảm (Chủ biên) (2007), Bảo vệ an ninh quốc gia, an toàn quốc tế và các quyền con người bằng pháp luật hình sự trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền, NXB Tư pháp, Hà Nội Khác
18. GS.TSKH Lê Cảm chủ trì (2013), Đề tài trọng điểm cấp Đại học Quốc gia Hà Nội, Quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự: Lý luận, thực trạng và hướng hoàn thiện pháp luật, Hà Nội Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w