1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Học thuyết hệ sinh thái doanh nghiệp (Theory of organizational ecology)

24 79 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 493,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thuyết hệ sinh thái (Theory of Organizational Ecology) đặt trọng tâm nghiên cứu về tính đa dạng của doanh nghiệp trong bối cảnh phụ thuộc các điều kiện xã hội tác động đến: (i) tỉ lệ hình thành các loại hình doanh nghiệp mới và thành lập mới doanh nghiệp; (ii) tỉ lệ biến mất của các loại hình doanh nghiệp và chết hay giải thể của các doanh nghiệp, và (iii) tỉ lệ thay đổi các loại hình doanh nghiệp. Nội dung cơ bản của thuyết hệ sinh thái doanh nghiệp có thể được tóm tắt như sau: “ngay khi thành lập, doanh nghiệp chịu áp lực quán tính (inertial) mạnh mẽ; những biến đổi về dân số hay số lượng của tổ chức phụ thuộc lớn vào các quy trình nhân khẩu học: thành lập (sinh) và giải thể (tử vong) của doanh nghiệp” (Singh và Lumsden, 1990, trang 162). Mở đầu từ nghiên cứu của Hannan và Freeman (1977) phân chia hệ sinh thái doanh nghiệp thành ba mức phân tích khác nhau: doanh nghiệp, dân cư và cộng đồng (organizational level, population level, and community level); ba mức độ này có các đặc điểm khác nhau trong phát triển, chọn lọc và tiến hóa vĩ mô.

Trang 1

THUYẾT HỆ SINH THÁI DOANH NGHIỆP

Thuyết hệ sinh thái (Theory of Organizational Ecology) đặt trọng tâm nghiên cứu về tính đa dạng của doanh nghiệp trong bối cảnh phụ thuộc các điều kiện xã hội tác động đến: (i)

tỉ lệ hình thành các loại hình doanh nghiệp mới và thành lập mới doanh nghiệp; (ii) tỉ lệ biến mất của các loại hình doanh nghiệp và chết hay giải thể của các doanh nghiệp, và (iii) tỉ lệ thay đổi các loại hình doanh nghiệp Nội dung cơ bản của thuyết hệ sinh thái doanh nghiệp có

thể được tóm tắt như sau: “ngay khi thành lập, doanh nghiệp chịu áp lực quán tính (inertial)

mạnh mẽ; những biến đổi về dân số hay số lượng của tổ chức phụ thuộc lớn vào các quy trình nhân khẩu học: thành lập (sinh) và giải thể (tử vong) của doanh nghiệp” (Singh và Lumsden,

1990, trang 162)66

Mở đầu từ nghiên cứu của Hannan và Freeman (1977) phân chia hệ sinh thái doanh nghiệp thành ba mức phân tích khác nhau: doanh nghiệp, dân cư và cộng đồng (organizational level, population level, and community level); ba mức độ này có các đặc điểm khác nhau trong phát triển, chọn lọc và tiến hóa vĩ mô Chương này tập trung vào mức độ doanh nghiệp

để đi sâu giới thiệu tổng quan học thuyết trong phần 1 Phần 2 sẽ trình bày về các loại hình doanh nghiệp; tiếp theo về doanh nghiệp và các đặc điểm của nó với thay đổi và tồn vong lần lượt trong phần 3 và 4 của chương

1 TỔNG QUAN VỀ HỌC THUYẾT

Thuật ngữ “hệ sinh thái - ecology” gồm có hai phần: (1) “Eco” là cuộc sống, môi trường sống hoặc môi trường; (2) “ology” là nghiên cứu về một chuyên ngành Do đó, hệ sinh thái doanh nghiệp đề cập đến quá trình nghiên cứu về “cuộc sống” trong môi trường sống của doanh nghiệp

Sinh thái học dân số (Population ecology) là một thuyết về “lựa chọn Darwin” trong

quần thể doanh nghiệp (Carroll và Hannan, 1995), chuyên nghiên cứu về những thay đổi năng

động trong một tập hợp các tổ chức nhất định Lấy dân số làm đơn vị phân tích, các nhà

nghiên cứu kiểm tra thống kê sự ra đời và tử vong cũng như các loại hình tổ chức của doanh nghiệp trong quần thể

66 “once founded, organizations are subject to strong inertial pressures, and alterations in organizational populations are largely due to demographic processes of organizational foundings (births) and dissolutions (deaths)”

123

Trang 2

Sự phát triển thuyết hệ sinh thái doanh nghiệp bắt nguồn từ các nghiên cứu về nguyên nhân gây ra các sự kiện quan trọng (thành lập, giải tán, tính lưu động) của doanh nghiệp, cũng như mối liên hệ có cấu trúc giữa thuyết doanh nghiệp và lịch sử xã hội Theo như Hannan và Freeman (1989), lịch sử luôn đóng vai trò quan trọng trong các nghiên cứu về mức độ quần

thể; các nghiên cứu động học dân số (biến động số lượng ­ population dynamics) thường phải

thực hiện trong một khoảng thời gian dài Ngoài ra, lịch sử còn cung cấp thông tin về bối cảnh thể chế của các quần thể doanh nghiệp (Hannan và Freeman, 1989)

Một quần thể doanh nghiệp bao gồm một nhóm các doanh nghiệp cùng nhau đối diện

với những bất ổn tương đồng của môi trường (similar environmental vulnerabilities) và chia

sẻ một hình thái nội bộ chung (kỹ thuật cốt lõi ­ technical core) “Hình thái nội bộ” (internal form) được chia sẻ chung này được ví như bản thiết kế chung đối với các hành vi và hoạt

động của doanh nghiệp “Những bất ổn môi trường cùng chia sẻ” đề cập đến các mối quan hệ

bên ngoài cũng như sự phụ thuộc của doanh nghiệp vào môi trường Sau cùng, dân số được tính giới hạn trong một hệ thống chung, cho dù đó là ranh giới địa lý (vùng), chính trị (quốc gia) hay kinh tế (thị trường)

Theo Hannan và Freeman (1989), lựa chọn chứ không phải thích nghi gây ra những thay đổi dài hạn về độ đa dạng các loại hình doanh nghiệp trong một quần thể Hầu hết các doanh nghiệp mà cấu trúc có sức ỳ cao đều gặp khó khăn trong thích nghi với những biến động của môi trường Các doanh nghiệp không tương thích hay không phù hợp với môi trường này sẽ bị thay thế qua cạnh tranh bởi các doanh nghiệp mới phù hợp hơn với các điều kiện môi trường

Phép phân tích trong sinh thái học dân số bao gồm ba mức độ:

 Giải thích tỷ lệ sinh và tử trong một quần thể

 Giải thích sự tương tác về tỷ lệ sống sót giữa các quần thể

 Nghiên cứu về khả năng chia sẻ các môi trường sống tương tự nhau của “cộng đồng dân cư ­ communities of populations”

Mức đầu tiên, liên quan đến nhân khẩu học ­ demography, xem xét quá trình biến đổi về

tỷ lệ sống còn trong các quần thể doanh nghiệp theo cả không gian và thời gian (gồm: tỷ lệ thành lập, tỷ lệ sáp nhập và tỷ lệ giải tán), đồng thời hướng đến xác định các quy chuẩn cơ bản dựa trên những tỷ lệ như vậy Ngoài ra, mức đầu tiên này cũng đề cập tới các biến đổi về

tỷ lệ mô hình trong sự thay đổi của môi trường

Mức thứ hai, liên quan đến sinh thái học dân số ­ population ecology, thể hiện tính liên

kết các tỷ lệ sống còn giữa các quần thể Mô hình sinh thái học dân số tập trung mô tả cách thức tạo ra tỷ lệ hình thành và tỷ lệ tử vong của một quần thể bất kỳ thông qua mật độ và sự

Trang 3

có mặt của các quần thể doanh nghiệp khác Nói cách khác, môi trường của mỗi doanh nghiệp không phải là các ngoại sinh thuần túy mà là sự kết hợp của các quần thể Theo đó, sinh thái học dân số sẽ đề cập đến đặc điểm tương tác của những thay đổi trong doanh nghiệp

Mức thứ ba, liên quan đến sinh thái học cộng đồng ­ community ecology Cộng đồng

doanh nghiệp là một tập hợp các quần thể có sự tương tác lẫn nhau, như lĩnh vực ngành nghề hoặc ngành xã hội Một cộng đồng doanh nghiệp điển hình trong các cơ sở công nghiệp bao gồm: quần thể doanh nghiệp, quần thể công đoàn lao động và quần thể cơ quan quản lý Sinh thái học cộng đồng điều tra sự tiến triển của mô hình cấu trúc cộng đồng (thường được thể hiện dưới dạng liên kết giữa các quần thể cấu thành) Nghĩa là, sinh thái học cộng đồng sẽ tiến hành nghiên cứu tác động của mối liên hệ giữa các quần thể đến sự tồn tại của toàn thể cộng đồng

Nhìn chung, các nhà sinh thái học dân số đều cho rằng luôn tồn tại một thuyết tiến hóa liên quan đến sự thay đổi của doanh nghiệp Các doanh nghiệp đang tồn tại hoặc đã có từ trước kia, cùng với sự thay đổi trong mức độ dân số của các loại hình doanh nghiệp thường chậm và liên tục Không giống như sự tiến hóa của động vật, lựa chọn tự nhiên trong các doanh nghiệp không nhất thiết phải dẫn tới một sự tối ưu hóa Sự thay đổi tối ưu thường phụ

thuộc vào “sự kết hợp ­ coupling” giữa ý định và kết quả

2 LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP

2.1 Định nghĩa và phân loại các loại hình doanh nghiệp

Loại hình doanh nghiệp (organizational forms) thể hiện các đặc điểm mang tính thống nhất cho một quần thể doanh nghiệp Thông qua một số tài liệu về sinh thái học dân số, ý nghĩa của quan niệm này đã được trình bày, cụ thể như sau:

Thứ nhất, phương pháp “di truyền học của tổ chức ­ organizational genetics” xem xét

một cách trừu tượng, cơ chế di truyền sản sinh ra các loài sinh vật có thể được coi như những

bản kế hoạch chi tiết của Monod (1971): “cấu trúc của các phân tử DNA chứa một tập hợp

các quy trình xây dựng cấu trúc sinh học”67 Theo đó, có thể định nghĩa các loại hình doanh nghiệp giống như quy trình xây dựng cũng như thực hiện các hoạt động tập thể của doanh nghiệp Ở đây, hình ảnh tượng trưng của bản kế hoạch đề cập đến các mô hình định tính ­ một

bộ kế hoạch chi tiết với các quy trình riêng lẻ, cho phép sự biến đổi về cấu trúc được tạo ra từ một bản kế hoạch tương tự nhau Trước Hannan và Freeman (1977), cũng đã có những đề xuất về bản kế hoạch được suy ra từ cấu trúc chính thức, mô hình hoạt động và các hình thức thẩm quyền Tuy nhiên, những đặc điểm quan sát được của quần thể này thường trùng lặp đáng kể, như trong các loại hình cốt lõi và ngoại vi đã từng được thảo luận

67

“The structure of DNA molecules contains a set of instructions for building biotic structures”

Trang 4

Thứ hai, phương pháp “phân loại dựa trên di truyền học của tổ chức ­ taxonomy based

on organizational genetics” phân tích vấn đề phân loại các hình thức tổ chức tương tự như

việc phân loại các loài sinh vật và cố gắng tìm ra nét tương đồng giữa các gien cá biệt Trước tiên, xét về những thói quen phối hợp sản xuất cơ bản trong các doanh nghiệp tương tự như các gien điều tiết trong sinh học Ngay cả khi năng lực của mỗi cá nhân đều được chuẩn hóa qua các doanh nghiệp, theo từng ngành nghề và nghề nghiệp nhất định, các hoạt động phối hợp vẫn có xu hướng rất cụ thể đối với các loại hình doanh nghiệp cũng như doanh nghiệp riêng biệt (Nelson và Winter, 1982) Chẳng hạn, sẽ rất khó để phân biệt sự khác nhau giữa trường đại học (công lập và tư thục) nếu chỉ ghi lại một cách đơn giản danh sách năng lực của các thành viên

Tiếp theo, xét về quá trình truyền đạt thông tin trong cấu trúc Đối với sinh học, hầu như tất cả các cơ cấu quản lý thông tin đều được chuyển từ cha mẹ sang con trong một trường hợp sinh sản duy nhất Sự di truyền của một cá thể về cơ bản là liên tục và trong suốt cuộc đời trừ những đột biến trong sinh sản tế bào Đối với doanh nghiệp, tồn tại 2 sự khác biệt quan trọng

đó là: (1) sự truyền đạt không phải là duy nhất, (2) thông tin đến từ nguồn khác nhau Bên cạnh đó, thông tin xây dựng cấu trúc của một doanh nghiệp không bao giờ chấm dứt bởi vì luôn xuất hiện các thành viên đến và đi liên tục trong suốt cuộc đời của nó Những điều này làm phức tạp thêm triển vọng xây dựng hệ thống phân loại tiến hóa của các doanh nghiệp

Thứ ba, phương pháp “tính thích nghi và loại hình song hành ­ duality of niche and

form” tiếp cận khác nhằm xác định các loại hình dưới dạng cấu trúc thích hợp (Niche) của

quần thể68 Một quần thể phù hợp bao gồm sự kết hợp giữa nguồn tài nguyên phong phú và

sự ràng buộc có thể phát sinh và tồn tại đối với các thành viên Tính nhân đôi xuất hiện cơ bản ở đây: sự thích nghi xác định các loại hình và các loại hình xác định sự thích nghi Cấu trúc thích nghi (niche) có thể được tóm tắt bởi một chức năng thích hợp, đó là một quy tắc liên kết giữa cấp độ điều kiện môi trường với tốc độ tăng trưởng của dân số Theo đó, có thể

sử dụng ước tính thực nghiệm của các chức năng thích hợp để quyết định xem một sự phân biệt được yêu cầu giữa một cặp quần thể tương tự có thể phản ánh một vài sự khác biệt cơ bản về loại hình hay không Tuy nhiên, các chức năng này lại không thể quan sát trực tiếp

và dự toán cũng rất tốn kém; nên nhiều nghiên cứu được yêu cầu chỉ để xác định các loại hình theo cách này

Thứ tư, phương pháp “cấu trúc tương đương ­ structural equivalence” (White, 1963;

Lorrain và White, 1971), đã trở nên phổ biến trong cấu trúc chính thức và các quy trình hoạt động của mô hình khối (blockmodeling) ­ tập hợp các mối quan hệ giữa một số quần thể của

các tác nhân DiMaggio (1986) cho rằng quan niệm về các loại hình “phụ thuộc bền vững trên

68

(one's niche) A comfortable or suitable position in life or employment

Trang 5

tính logic của cấu trúc tương đương”69 “Khả năng của quan điểm sinh thái học dân số, trong

một số trường hợp, có thể được nâng cao thông qua định nghĩa hoạt động thích nghi và loại hình được xác định bởi các mô hình quan hệ có thể quan sát thấy giữa các tác nhân” (trang

360)70 Ý tưởng chính nhằm thu thập số liệu dồn về các nguồn lực giữa các doanh nghiệp và

sử dụng quy trình mô hình khối để xác định các doanh nghiệp có cấu trúc tương đương Các doanh nghiệp như vậy sau đó sẽ được coi như các quần thể với cùng một loại hình doanh nghiệp và chiếm cùng một vị trí phù hợp (niche) Đề xuất này có lợi thế là hướng sự chú ý đến các mô hình phụ thuộc vào môi trường sống bao gồm cả các quần thể doanh nghiệp khác Nhưng, thực tế, những thay đổi nhỏ trong mối quan hệ của một hệ thống, (có thể từ sự sụp đổ của một trong các doanh nghiệp trước đó) đều có thể dẫn tới quá trình phân cụm số lượng và mang lại các cấu trúc khối tương đối khác nhau Như vậy, cách tiếp cận này sẽ gặp khó khăn khi thực hiện xác định các cơ sở bền vững trong đặc điểm tổ chức của quần thể

Thứ năm, theo phương pháp “tập trung vào ranh giới ­ focus on boundaries”, để tạo sự

thống nhất trong phạm vi quần thể, các phương pháp tiếp cận nhấn mạnh đến nội dung và mối quan hệ theo từng cặp cần bổ sung thêm những yếu tố liên quan tới động lực học của các ranh giới trong không gian doanh nghiệp Bước đầu tiên để xác định cấu trúc và động lực học của

sự thích nghi là định vị, duy trì các ranh giới trong quá trình phân chia các loại hình doanh nghiệp Khi xem xét các ranh giới xung quanh các loại hình, những vấn đề chủ yếu được đề cập đều có liên quan đến quá trình tách biệt và quá trình phối hợp Tính liên tục của mọi doanh nghiệp phụ thuộc vào sức bền tương đối của các quy trình đối nghịch và, trong một số trường hợp, là các điều kiện ban đầu Nếu quá trình tách biệt chiếm ưu thế, đặc điểm phân biệt giữa các loại hình sẽ cho thấy sự khác nhau thực tế về chất lượng Nếu quá trình phối hợp chiếm ưu thế, đặc điểm phân biệt giữa các loại hình thức có thể thay đổi tùy ý hơn

2.2 Biến động về loại hình doanh nghiệp

Quá trình chọn lọc điều chỉnh theo luận điểm tiến hóa của Darwin Theo đó, những thay đổi dài hạn của doanh nghiệp phản ánh lên kết quả được tích lũy trong sự khác biệt ngắn hạn

về thực trạng tỷ lệ giải tán của các quần thể khi phải đối mặt với môi trường nguồn lực hạn hẹp Chuyển từ sinh thái học dân số sang thuyết tiến hóa của doanh nghiệp cần phải bổ sung thêm một bước để liên kết các mô hình thay đổi dài hạn với các mức biến độ ngắn hạn hoặc thậm chí với các mô hình tiêu biểu hiện tại Nói cách khác, điều này liên quan đến việc xác định sự kết hợp giữa các quá trình ngắn hạn nhằm tạo ra sự thay đổi về đặc điểm doanh nghiệp trong một thời gian dài

Trang 6

Thuật ngữ “tiến hóa ­ evolution” trong ngành sinh vật học được định nghĩa theo 2 cách tiêu biểu sau:

Định nghĩa 1: “[Tiến hóa] không được sử dụng để chỉ ra tất cả các dạng thay đổi Tồn

tại sự thay đổi không ngừng trên bề mặt đại dương, nhưng đó lại không phải là quá trình tiến hóa Sự tiến hóa luôn liên quan đến một số phạm vi tư tưởng đối lập với sự tồn tại Đó chính là quá trình biến đổi tích luỹ” (Wright, 1968)71 Như vậy, sự tiến hoá (mang nghĩa hẹp) là sự biến đổi tích luỹ làm nảy sinh những vấn đề đang tồn tại bên trong các ứng dụng doanh nghiệp

Định nghĩa 2 (mang hàm ý rộng hơn): tiến hóa “có nghĩa là chúng ta quan tâm đến sự

thay đổi trạng thái của vũ trụ nào đó theo thời gian Dù chúng ta có nhìn vào sự tiến hóa của

xã hội, ngôn ngữ, giống loài, đặc điểm địa lý hay những vì sao, luôn tồn tại một đại diện chính thức phổ biến chung cho tất cả” (Lewontin, 1974)72 Trong đó, đại diện chính thức bao gồm các quy luật chuyển đổi từ nhận biết trạng thái trước sang dự đoán trạng thái sau của một

hệ thống; đồng thời loại trừ khả năng thay đổi chu kỳ cũng như các chuyển động mang tính ngẫu nhiên trong phạm vi thay đổi của sự tiến hóa

Từ đây, thuyết tiến hóa cũng được hình thành trong nội dung của học thuyết Đắc­uyn,

với ba quan niệm cơ bản Thứ nhất, những người sáng lập của Modern Synthesis (thuyết tiến

hóa Darwin và di truyền học dân số Mendelian) cho rằng những lập luận về thực tế tiến hóa cũng như lời giải thích cho quá trình chọn lọc tự nhiên của Darwin là hết sức thuyết phục Trong đó, tiến hóa đề cập đến một tập hợp các cơ sở thực nghiệm xung quanh những mô hình lịch sử trong sự thay đổi của thế giới sinh học Quá trình chọn lọc tự nhiên cung cấp một bộ quy tắc liên kết các phân loại trước và sau đó Theo quan niệm này, thuyết tiến hóa là học thuyết chuyên sử dụng để giải thích những sự kiện thực nghiệm như vậy

Thứ hai, tác phẩm của Darwin cũng nói đến tính liên tục của các quá trình cơ bản

Dobzhansky (1951) tóm tắt luận điểm của Darwin thành 3 ý chính, gồm: “(1) Sự sống ngày

nay được bắt nguồn từ những sự sống đã từng tồn tại trong quá khứ; (2) các biến đổi gián đoạn được quan sát tại thời điểm hiện tại đang dần phát sinh (3) tất cả những thay đổi này xuất phát từ các hoạt động đang diễn ra và theo đó, có thể được nghiên cứu thực nghiệm” 73 Bằng cách này, chương trình sinh học tiến hóa sẽ kết hợp cơ sở thực tế về nguồn

71

“[Evolution] is not used to indicate all kinds of change There is ceaseless change on the surface of the ocean, but this is not an evolutionary process Evolution always involves to some extent the opposite idea of persistence It always refers, in short, to processes of cumulative change.”

72

“mean[s] that we are interested in the change of state of some universe in time Whether we look at the evolution of societies, languages, species, geological features or stars, there is a formal representation that is common to all.”

73

“(1) the beings now living have descended from different beings which have lived in the past; (2) the discontinuous variations observed at the present time have arisen gradually (3) all these changes have arisen from causes which now continue to be in operation and which therefore can be studied experimentally.”

Trang 7

gốc và sự thay đổi trong loại hình sinh học với những khẳng định lý thuyết về bản chất của quá trình Như vậy, quan niệm thứ hai của thuyết tiến hóa chính là một chương trình nghiên cứu có sự kết hợp giữa lời tuyên bố thực sự và tầm nhìn cụ thể về bản chất của sự thay đổi

Quan niệm thứ ba của thuyết tiến hóa liên quan đến sự thay đổi, phụ thuộc vào mức độ

tối đa của tỷ lệ (fitness) theo một số cơ chế truyền dẫn đặc biệt, chẳng hạn như sự kế thừa Mendelian Fitness là tỷ lệ tạo ra bản sao của sự di truyền qua các thế hệ Do tính đơn giản của cơ chế truyền dẫn trong sinh vật học, nên tỷ lệ dân số bất kỳ được xác định dưới dạng các kiểu hình đều có thể được định nghĩa như tỷ lệ tử vong ròng = tỷ lệ sinh / tỷ lệ tử

Theo sinh thái học dân cư, sự xuất hiện tại mọi thời điểm của các loại hình doanh nghiệp mới nhằm đương đầu với những nhu cầu thiết thực đang diễn ra ở môi trường sống Trong đó, mức độ biến đổi của doanh nghiệp là do “đột biến ­ mutation” (những ý tưởng mới ngẫu nhiên), “tái kết hợp ­ recombination” (hòa lẫn và phối chọn các ý tưởng cũ với nhau) và

“lai chéo ­ cross­over” của các loại hình Trường hợp lai chéo ở các doanh nghiệp xảy ra khi thực hiện đưa ý tưởng từ lĩnh vực này vào một lĩnh vực khác ­ ví dụ như mô hình tiến hóa về sinh học được áp dụng và mở rộng trong các định nghĩa về doanh nghiệp

Hiện nay, có một số loại hình doanh nghiệp vẫn tiếp tục tồn tại và ngày càng phù hợp với môi trường hơn so với những loại hình khác Những loại hình này được tạo ra bởi quá

trình chọn lọc tự nhiên (đáng tin cậy ­ reliable và có trách nhiệm ­ accountable) Nhà sinh

thái học dân cư thường đánh giá quá trình chọn lọc tương tự như tỷ lệ tái tạo của một loại hình doanh nghiệp Đặc biệt, mức độ biến đổi và chọn lọc của doanh nghiệp không nhất thiết phải

là tối ưu (ví dụ như đột biến tốt nhất) hay Lamarckian ­ học thuyết Lamac (những đặc điểm

truyền từ các doanh nghiệp tiền thân được phép áp dụng) Như vậy, loại hình doanh nghiệp được chọn sẽ tiếp tục tồn tại và trở nên phổ biến nếu nó thực sự phù hợp (trong số những loại hình có thể hoạt động được) và khởi sắc Đa số những loại hình doanh nghiệp được lựa chọn, tái tạo và thể chế hóa là tương đối lâu dài (ví dụ: Chính phủ, trường học, nhượng quyền thương mại, ), giống như trong sinh vật học, những loài có tỷ lệ thích nghi và sinh sản cao đều có xu hướng tăng trên toàn thế giới ­ như vịt Mallard, chim sáo đá xanh,

Các nhà sinh thái học doanh nghiệp xác định khả năng duy trì bằng cách tập trung vào

tỷ lệ thành lập và tử vong của doanh nghiệp Ví dụ, như ngành bán lẻ ở Hoa Kỳ, trong những năm 1940 và 1950, các cửa hàng như Woolworth đều phổ biến khắp cả nước Nhưng đến những năm 1980, doanh nghiệp này đã phải nhường chỗ cho một doanh nghiệp bán lẻ khác (Walmart) Ngày nay, qua 100 năm biến động, môi trường sống vẫn tiếp tục thay đổi, và đưa một nhà bán lẻ mới (Amazon.com) lên nắm giữ thị trường

Tóm lại, trong mỗi giai đoạn, luôn tồn tại những vị trí phù hợp (niche) cho các doanh nghiệp Tuy nhiên, khi số lượng các doanh nghiệp ngày càng nhiều sẽ dẫn đến sự cạnh tranh

Trang 8

lẫn nhau, và thông qua quá trình chọn lọc, doanh nghiệp nào có các điều kiện phù hợp hơn sẽ được giữ lại, tiếp tục phát triển, còn lại một số lượng lớn các doanh nghiệp bị loại bỏ

3 DOANH NGHIỆP VÀ THAY ĐỔI

3.1 Mật độ và biến động số lượng

Các học thuyết hệ sinh thái tập trung chủ yếu vào quá trình phân tách và phối hợp có liên quan trực tiếp đến tính đa dạng của doanh nghiệp Khi quá trình phân tách chiếm ưu thế, một số loại hình doanh nghiệp sẽ không thể tồn tại trong những thiếu sót cấu trúc xã hội do bị ảnh hưởng của các yếu tố ràng buộc; dẫn đến hạn chế tính đa dạng của doanh nghiệp Do đó, cần thiết phải loại bỏ các ranh giới nhằm gia tăng tính đa dạng của các loại hình Stinchcombe (1965) giải thích về tầm quan trọng của các yếu tố ràng buộc đối với quá trình hình thành các loại hình doanh nghiệp mới Kết luận chính của ông củng cố và làm rõ quan điểm về cấu trúc

xã hội cũ, với những ràng buộc về thể chế/tổ chức và cơ sở hạ tầng, phải bị phá vỡ vì sự đa dạng doanh nghiệp

Tuy nhiên, mối quan hệ giữa các quá trình phân tách và sự đa dạng lại phức tạp hơn nhiều so với những gì đã được lưu ý trước đây Đó là, những thiếu sót trong cấu trúc xã hội vẫn có khả năng làm tăng thêm tính đa dạng của doanh nghiệp Xem xét quá trình loại trừ tính cạnh tranh đối với một quần thể có khuynh hướng loại bỏ tất cả những quần thể cùng chung một bộ tài nguyên Theo đó, sự tồn tại bền vững của các ranh giới có thể làm hạn chế (khoanh vùng) những cuộc cạnh tranh (tức là, quá trình cạnh tranh hoạt động mạnh mẽ chủ yếu trong vùng được giới hạn) Mặc dù sự loại trừ tính cạnh tranh có thể xảy ra trong phạm vi một vài hoặc tất cả các lĩnh vực được giới hạn, nhưng không chắc rằng, một loại hình doanh nghiệp đơn lẻ có thể vượt ra khỏi các loại hình đối nghịch nhau về nhiều lĩnh vực; cộng thêm sự giảm bớt của một ràng buộc tạo ra ranh giới thường dẫn đến một cuộc cạnh tranh giữa các quần thể

mà trước đây chưa từng có hoặc rất yếu ớt

Ví dụ như trường hợp xoá bỏ các ràng buộc về pháp luật và thể chế có thể làm giảm tính

đa dạng của doanh nghiệp trong khu vực tài chính, như một hình thức để chi phối các hoạt động phân chia ngân hàng và môi giới chứng khoán trước đây Khi đó, các loại hình doanh nghiệp có thể được sao chép lại, tình trạng thiếu các rào cản về thể chế sẽ cho phép một loại hình đơn lẻ chi phối trên nhiều lĩnh vực; nhưng nếu tồn tại ranh giới mạnh mẽ, sự mô phỏng

sẽ được khoanh vùng; tức là nó sẽ xảy ra chủ yếu trong phạm vi ranh giới Như vậy, sự giảm bớt của các ranh giới có thể hạn chế sự đa dạng trong những hoàn cảnh như vậy

Hai luận điểm trên đây cho thấy, vấn đề loại bỏ các ranh giới cùng với những ràng buộc giúp duy trì chúng, có thể làm giảm bớt tính đa dạng, là những minh chứng cho một nhận định

tổng quát: Tương tự như các nguyên tắc trong hệ sinh thái nói chung, sự đa dạng của các loại

Trang 9

hình doanh nghiệp tỷ luôn tỷ lệ thuận với tính đa dạng cuả các tài nguyên cũng như các yếu tố ràng buộc (Hannan và Freeman, 1977) Như vậy, mối quan chính trong việc khám phá những ảnh hưởng mang tính chất không liên tục về sự đa dạng trong doanh nghiệp là việc tạo ra hoặc loại bỏ ranh giới làm tăng hoặc giảm số lượng của các tài nguyên và ràng buộc riêng biệt Theo Delacroix và Carroll (1983), các mô hình thành lập doanh nghiệp có tính chất chu

kỳ qua thời gian thường được giải thích dựa trên những ảnh hưởng của quá trình thành lập và thất bại trước đó lên các tài nguyên có sẵn Do vậy, doanh nghiệp giải thể ở hiện tại có thể sẽ

tạo ra các nguồn tài nguyên freefloating và tập hợp lại thành các doanh nghiệp mới Tuy

nhiên, một số lượng lớn doanh nghiệp bị tan rã có thể sẽ gây nguy hiểm, ngăn cản sự thành lập của các nhà doanh nghiệp tiềm năng, nên luôn tồn tại giới hạn nhất định trong những ảnh

hưởng này, dẫn đến mối quan hệ “curvilinear ­ phi tuyến tính” giữa quá trình thành lập hiện

tại và thất bại trước đây của các doanh nghiệp Tương tự như vậy, các doanh nghiệp tiền thân

cũng chịu ảnh hưởng phi tuyến tính Ban đầu, các doanh nghiệp tiền thân khuyến khích sự

hình thành của các doanh nhân tiềm năng bằng cách báo hiệu một vị trí thuận lợi có khả năng phát triển Nhưng, khi số lượng doanh nghiệp tham gia quá lớn, làm gia tăng tính cạnh tranh

về nguồn tài nguyên, họ sẽ thực hiện can ngăn sự thành lập của các doanh nghiệp mới

Ngoài ra, sự tổng hợp các ý tưởng về doanh nghiệp và hệ sinh thái của Hannan (1986)

cũng đề cập đến mật độ (density dependence) trong tỷ lệ thành lập doanh nghiệp Thuyết về mật

độ được cho là phổ biến nhất (Hannan và Freeman, 1989) trong một loạt những lý thuyết­phụ

được phát sinh từ hệ sinh thái doanh nghiệp nhằm giải thích các nguyên nhân dẫn đến sự hình

thành và giải thể của một doanh nghiệp bất kỳ Học thuyết bàn tới một chức năng phi tuyến ­

curvilinear, thể hiện quá trình hợp thức hóa xã hội tạo ra các doanh nghiệp cùng sự cạnh tranh

có chọn lọc về số lượng của chúng Phạm vi ban đầu của mật độ tự hợp pháp hoá các loại hình doanh nghiệp và hỗ trợ gia tăng tỷ lệ sáng lập Nhưng khi mật độ trở nên nhiều hơn, quá trình hợp pháp bắt đầu bị chi phối bởi quá trình cạnh tranh, dẫn đến làm giảm tỷ lệ sáng lập Tương

tự như tầm ảnh hưởng lên tỷ lệ tử vong, mật độ cũng có tác động không monotonic đối với tỷ lệ thành lập, ngoại trừ những tác động từ tích cực đến cấm đoán Và mô hình này có thể được mở rộng trong sự cạnh tranh giữa quần thể của các loại hình doanh nghiệp, bằng cách mô hình hóa những ảnh hưởng về mật độ dân số chéo (Hannan và Freeman, 1989)

Theo đó, những bằng chứng ủng hộ cho mô hình giả thuyết không monotonic về sự phụ thuộc của mật độ trọng sự thành lập là rất mạnh mẽ, đặc biệt từ những nghiên cứu thiết kế cụ thể để phân tích mô hình (Hannan và Freeman, 1987) Trong đó, quan trọng phải mô phỏng cùng một lúc các lý luận về mật độ và biến động số lượng, bởi vì những biến động số lượng này có liên quan đến biến động mật độ và sự thay đổi trong các cấp mật Các biến động số lượng có thể yếu hơn những ảnh hưởng của mật độ khi cả hai được mô phỏng cùng nhau Điều này sẽ rất hữu ích trong quá trình nghiên cứu tính tổng quát của các kết quả thu được và tìm hiểu các nguyên nhân gây ra sự khác biệt về dân số (nếu được quan sát)

Trang 10

3.2 Sức ỳ về cơ cấu của doanh nghiệp trước thay đổi

Trong sinh vật học, do các doanh nghiệp cá thể tại một quần thể đã được mã hoá dựa trên vật chất di truyền mang tính ỳ, nên chúng chỉ có thể và đôi lúc làm biến đổi về cơ bản trong chiến lược và cấu trúc Còn trong doanh nghiệp, ngay cả khi tính ổn định của các loại hình và các quần thể có thể được xác định, vấn đề áp dụng các mô hình sinh thái học cho các doanh nghiệp vẫn rất phức tạp, do các doanh nghiệp cá thể hoàn toàn có thể thay đổi chiến lược và cấu trúc của họ Như vậy, nếu các doanh nghiệp có thể thực hiện những thay đổi cơ bản một cách nhanh chóng và thường xuyên, thật khó để khẳng định rằng các quần thể có đặc tính thống nhất một cách rõ ràng Theo đó, Hannan và Freeman (1977) đã chỉ ra các ràng

buộc về sự thay đổi cơ cấu tổ chức theo thuyết sinh thái học: “Đối với các tầng lớp rộng rãi

của các tổ chức, tồn tại rất nhiều áp lực có sức ỳ lớn lên cơ cấu phát sinh từ cả sự bố trí bên trong (ví dụ, chính trị nội bộ) và môi trường sống bên ngoài tổ chức (ví dụ, tính hợp pháp chung về hoạt động tổ chức).”74 ­ (Hannan và Freeman, 1977, trang 957)

Trước hết là sức ỳ về cơ cấu trước thay đổi (Inertia and Rates of Organizational

Change) bátw nguồn từ các yếu tố bên trong doanh nghiệp, bao gồm ít nhất 4 yếu tố sau: Thứ

nhất, sự đầu tư của một doanh nghiệp vào nhà xưởng, thiết bị và nhân sự chuyên môn là tài

sản không dễ chuyển nhượng cho các nhiệm vụ và chức năng khác

Thứ hai, các nhà hoạch định doanh nghiệp phải đối mặt với những ràng buộc về thông

tin mà họ nhận được Arrow (1974) khẳng định: “Sự phối hợp giữa tính bất định, bất khả

phân, và cường độ vốn có liên quan đến các kênh thông tin và cách sử dụng chúng bao hàm (a) cấu trúc và hành vi thực tế của một tổ chức có thể phụ thuộc rất nhiều vào sự kiện ngẫu nhiên (lịch sử), và (b) quá trình theo đuổi hiệu quả có thể dẫn tới tính cứng nhắc và không phản ứng nhanh nhạy trước sự thay đổi” 75 (trang 49)

Thứ ba, chính trị nội bộ cũng góp phần tạo ra sức ý trong cơ cấu tổ chức Do phải thực

hiện phân bổ lại nguồn lực giữa các đơn vị con khi thực hiện thay đổi cấu trúc từ những nguồn lực cố định, nên sẽ tồn tại một số đơn vị con có khả năng chống lại bất kỳ sự tái cấu trúc nào của doanh nghiệp Trong trường hợp sức chống cự mạnh, nó có thể ngăn chặn hoàn toàn sự thay đổi Tái cấu trúc thường được thiết kế để mang lại lợi ích chung cho toàn doanh nghiệp, và sẽ phải mất một thời gian đáng kể để được thực hiện công việc này Các nghiên

cứu trong việc đưa ra các quyết định gần đây cho thấy, “hầu hết các cá nhân đều có khuynh

Trang 11

hướng tăng tác dụng cho những tổn thất tiềm tàng hơn là cho những lợi ích tiềm năng tương đương” 76 (Kahneman, Slovic và Tversky, 1982)

Cuối cùng, lịch sử doanh nghiệp tạo ra những ràng buộc về sự thay đổi cơ bản Một khi

các quy trình chuẩn cùng với sự phân bổ các nhiệm vụ và quyền hạn trở thành đối tượng thỏa thuận có tính quy chuẩn (normative agreement), chi phí thay đổi sẽ tăng lên đáng kể Các thỏa thuận này có thể hạn chế/ ràng buộc sự thích ứng bằng cách đưa ra những dẫn chứng chính đáng (ngoại trừ lợi ích cá nhân) cho các đối tượng với mong muốn chống đối lại việc tái cơ cấu tổ chức Đồng thời, ngăn cản các nghiên cứu về nhiều phản ứng quan trọng đối với mọi thách thức và cơ hội tồn tại trong môi trường Ví dụ như một vài nghiên cứu về khả năng thích ứng khi thực hiện giảm thiểu số lượng tuyển sinh bằng cách loại bỏ yếu tố giảng dạy tại một vài trường đại học; cách thức được lựa chọn này sẽ gây ra thách thức cho các quy chuẩn thuộc tổ chức trung tâm

Tiếp theo là sức ỳ về cơ cấu trước sự thay đổi được phát sinh từ các yếu tố bên ngoài

doanh nghiệp, bao gồm ít nhất ba yếu tố Thứ nhất, rào cản pháp lý và tài chính đối với việc

thâm nhập cũng như rời bỏ thị trường Theo như các thảo luận về tổ chức công nghiệp, rào cản khi thâm nhập thị trường thường là giấy phép độc quyền Rào cản khi rời bỏ thị trường cũng có khả năng biểu hiện tính ỳ tại một số trường hợp, trong đó các quyết định chính trị và pháp luật ngăn cản các doanh nghiệp từ bỏ một số hoạt động nhất định Chẳng hạn, tiểu bang California đã bác bỏ rất nhiều yêu cầu để đường sắt Liên minh Thái Bình Dương được phép kết thúc dịch vụ hành khách và hoàn thành chuyên chở hàng hóa Tất cả những ràng buộc thâm nhập và rời bỏ như vậy đều bị giới hạn khả năng thích ứng

Thứ hai, ràng buộc bên trong song song với ràng buộc bên ngoài về tính sẵn có của

thông tin Vấn đề thu thập thông tin về môi trường sống liên quan là rất tốn kém, đặc biệt trong những tình huống bất thường Ngoài ra, các cá nhân luôn có xu hướng sử dụng các kênh

chuyên dụng, ngay cả khi các kênh khác/mới có thể cung cấp thông tin tốt hơn “Đây là một

loại chi phí ngầm (sunk cost), một sự tích lũy vốn đặc trưng của con người”77 (Arrow 1974) Tính chuyên dụng này làm hạn chế phạm vi nhận và xử lý thông tin về môi trường doanh nghiệp, do đó làm giảm khả năng thay đổi thích ứng

Thứ ba, môi trường cũng áp đặt các ràng buộc về tính hợp pháp Tính hợp pháp cấu

thành lên tài sản trong quá trình duy trì các nguồn lực từ môi trường Nếu sự thay đổi khả năng thích ứng vi phạm các yêu cầu hợp pháp, các doanh nghiệp phải chịu một mức án phí cụ thể Ví dụ như khi thực hiện loại bỏ giảng dạy đại học trong một Viện Đại học Nghiên cứu có

Trang 12

thể tạo ra những vấn đề lớn liên quan đến tính hợp pháp với cựu sinh viên, cơ sở, cơ quan lập pháp nhà nước,…

4 TUỔI, MẬT ĐỘ VÀ TỒN VONG CỦA DOANH NGHIỆP

4.1 Tuổi và tồn vong của doanh nghiệp

4.1.1 Vấn đề mới hình thành

Vấn đề mới hình thành (liability of newness) của các doanh nghiệp trẻ (mới) là một vấn

đề quan trọng trong các nghiên cứu về mức độ tử vong (giải thể) của doanh nghiệp Stinchcombe (1965) lập luận rằng: tỷ lệ thất bại của các doanh nghiệp mới luôn cao hơn so với các doanh nghiệp cũ; với nguyên nhân xuất phát từ cả môi trường bên trong và bên ngoài doanh nghiệp Các doanh nghiệp mới phải mất rất nhiều thời gian và công sức để tạo dựng lên thói quen, vai trò cũng như sự tin tưởng từ các thành viên Đồng thời, họ cũng phải cạnh tranh với các doanh nghiệp khác có cùng chung nhóm đối tượng khách hàng Sự thất bại trong quá trình lôi kéo các ngành nghề kinh doanh từ đối thủ cạnh tranh (đã tồn tại) là một trong những yếu tố chính khiến doanh nghiệp mới dễ bị loại trừ

Trong những năm gần đây, có khá nhiều dẫn chứng được đưa ra nhằm ủng hộ cho giả thuyết của Stinchcombe (1965) Điển hình là nghiên cứu phổ biến nhất của Carroll (1983);

ông đã tiến hành kiểm tra vấn đề mới hình thành của 52 nhóm doanh nghiệp thuộc các ngành

công nghiệp đa dạng như bán lẻ, in ấn, sản xuất hoá chất, công nghiệp kim loại và saloons Theo đó, Carroll (1983) ước tính mức độ suy giảm trong tỷ lệ tử vong theo độ tuổi Kết quả cho thấy, tỷ lệ này có khuynh hướng giảm mạnh khi “về già” Ông và các cộng sự tiếp tục khám phá vấn đề này bằng cách thu thập các số liệu phong phú hơn từ công ty báo chí, hiệp hội lao động và công ty sản xuất chất bán dẫn Nghiên cứu này của Freeman, Carroll và Hannan (1983), về sau được gọi là nghiên cứu FCH, đã thực hiện phân tích quá trình hoạt động (lịch sử) của 476 hiệp hội cấp quốc gia, bao gồm các thành viên đến từ AFL, CIO, và

AFL/CIO cùng với một số “hiệp hội độc lập lớn ­ major independent unions” Họ vẫn sử

dụng tới các mô hình của Gompertz và Makeham và thu về kết quả là: tỷ lệ tử vong giảm mạnh so với độ tuổi, ngay cả khi xét đến quy mô ban đầu của doanh nghiệp

Một nghiên cứu khác, Hannan và Freeman (1984) bổ sung cho vấn đề mới hình thành

Họ cho rằng, những loại hình doanh nghiệp có mức độ tin cậy cao về khả năng thực hiện và trách nhiệm giải trình thường được ưu tiên hơn thông qua các nhận định liên quan đến bản chất của quá trình chọn lọc trong xã hội hiện đại Độ tin cậy và trách nhiệm của các loại hình doanh nghiệp luôn đòi hỏi sự tái tạo ở cấp độ cao từ cơ cấu tổ chức Nhờ có quá trình tìm hiểu, phối hợp và xã hội hoá bên trong cũng như hợp thức hóa và phát triển các mạng lưới trao đổi bên ngoài của doanh nghiệp, nên khả năng tái tạo cơ cấu tổ chức đều xu hướng tăng dần theo độ tuổi Khi khả năng này tốt hơn sẽ làm tăng cường sức ỳ về cơ cấu tổ chức, dẫn

Ngày đăng: 19/05/2020, 13:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w