Luận văn là tài liệu tham khảo quan trọng cho việc hệ thống hóa các quy định của pháp luật về thừa kế và thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, phân tích hiệu quả điều chỉnh các quy định đ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHAN THU TRANG
THáA THUËN PH¢N CHIA DI S¶N THõA KÕ
THEO PH¸P LUËT VIÖT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHAN THU TRANG
THáA THUËN PH¢N CHIA DI S¶N THõA KÕ
THEO PH¸P LUËT VIÖT NAM
Chuyên ngành : Luật dân sự và tố tụng dân sự
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Văn Phương
HÀ NỘI - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét
để cho tôi có thể bảo vệ luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn
NGƯỜI CAM ĐOAN
Phan Thu Trang
Trang 4Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỎA
THUẬN PHÂN CHIA DI SẢN THỪA KẾ
7
1.1 Khái niệm "thỏa thuận phân chia di sản thừa kế" 7
1.2 Điều kiện có hiệu lực của thỏa thuận phân chia di sản thừa kế 10 1.2.1 Chủ thể thỏa thuận phân chia di sản thừa kế 10 1.2.2 Mục đích, nội dung của thỏa thuận phân chia di sản thừa kế 28 1.2.3 Hình thức thỏa thuận phân chia di sản thừa kế 30 1.2.4 Hậu quả pháp lý trong trường hợp vi phạm các điều kiện có
hiệu lực của thỏa thuận phân chia di sản thừa kế
31
1.3.1 Đối tượng của thỏa thuận phân chia di sản thừa kế 32
1.3.3 Giá trị pháp lý của thỏa thuận phân chia di sản thừa kế 45
Chương 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ THỎA
THUẬN PHÂN CHIA DI SẢN THỪA KẾ HIỆN NAY
48
2.1 Người thừa kế đang ở nước ngoài vào thời điểm thỏa thuận
phân chia di sản thừa kế (người Việt Nam và/hoặc người
nước ngoài đang ở nước ngoài)
52
2.2 Người thừa kế vắng mặt tại thời điểm thỏa thuận phân chia 56
Trang 52.3 Đại diện cho người thừa kế là người chưa thành niên, người
bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người mất năng lực hành
vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi
57
2.4 Thực hiện nghĩa vụ tài sản để lại của người chết, quyền của chủ
nợ liên quan đến di sản thừa kế và chủ nợ của người thừa kế
2.7 Điều kiện "phải thành thai trước khi người để lại di sản chết" 64
Chương 3: MỘT SỐ ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN
PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ THỎA THUẬN PHÂN CHIA DI SẢN THỪA KẾ
66
3.1 Về công nhận quyền sử dụng đất tại Việt Nam của người
nước ngoài
66
3.2 Về đại diện trong thỏa thuận phân chia di sản thừa kế 67
3.3 Về thứ tự ưu tiên thanh toán các nghĩa vụ tài sản của người
chết để lại
69
3.4 Về thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho chủ nợ của người để lại di
sản thừa kế, chủ nợ của người thừa kế
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLDS : Bộ luật Dân sự HN&GĐ : Hôn nhân và gia đình UBND : Ủy ban nhân dân VPCC : Văn phòng công chứng
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thừa kế là một trong những chế định quan trọng của pháp luật dân sự Việt Nam và luôn được pháp luật quan tâm, bảo hộ Chế định này điều chỉnh mối quan hệ xã hội phổ biến và gần gũi đối với nhân dân Nhận thức được vai trò đặc biệt đó của thừa kế, từ những ngày đầu dựng nước, pháp luật về thừa
kế đã được ghi nhận trong nhiều quy định như trong chương "Điền sản" của
Bộ Quốc triều Hình luật dưới triều vua Lê Thái Tổ Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, trải qua nhiều biến cố lịch sử, các quy định về thừa kế đã được ghi nhận, mở rộng và phát triển qua các văn bản pháp luật, như: Hiến
pháp năm 1959 (Điều 19: "Nhà nước chiếu theo pháp luật bảo vệ quyền thừa
kế tài sản tư hữu của công dân"), Hiến pháp năm 1980 (Điều 27: "Nhà nước bảo hộ quyền thừa kế tài sản của công dân"), Hiến pháp năm 1992 (Điều 58:
"Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân"),
Hiến pháp năm 2013 (Điều 32: "Quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế được
pháp luật bảo hộ"); Pháp lệnh thừa kế năm 1990 Và sự ra đời của Bộ luật
Dân sự (BLDS) qua các năm 1995, năm 2005 và năm 2015 đã đánh dấu những bước tiến lớn của pháp luật Việt Nam về thừa kế
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và thực hiện theo cơ chế thị trường, con người được lao động trong những điều kiện làm việc tốt hơn, vì thế khối tài sản mà họ tích lũy được nhờ sức lao động của mình ngày một lớn Về mặt tâm lý, bất kỳ ai cũng luôn mong muốn có quyền sở hữu đối với tài sản của mình khi còn sống, kể cả trước khi chết, họ vẫn muốn chi phối chúng Tài sản mà một người sở hữu khi còn sống sẽ trở thành di sản khi người đó chết và được phân chia cho những người thừa kế Nhìn chung, pháp luật của các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam, việc phân chia di sản này
Trang 9có thể được thực hiện theo ý chí của người chết (theo di chúc) hoặc theo quy
định của pháp luật
Hiện nay, các tranh chấp về thừa kế có xu hướng gia tăng và ngày càng phức tạp Các tranh chấp đó phần lớn là giữa những thành viên trong gia đình với nhau, bởi vậy ảnh hưởng không nhỏ tới truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc ta Cách tối ưu nhất để giảm thiểu tình trạng trên đó là những người thừa kế tự thỏa thuận được về việc phân chia di sản Việc thỏa thuận phân chia di sản thừa kế không chỉ tiết kiệm được thời gian, chi phí mà còn duy trì được truyền thống văn hóa của người Việt Nam
Pháp luật dân sự nước ta luôn tôn trọng sự thỏa thuận của các bên, song việc thỏa thuận này phải nằm trong khuôn khổ của pháp luật Đối với thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, nội dung và hình thức của nó cần phải bảo đảm chặt chẽ, đầy đủ, phù hợp với quy định của pháp luật
Hiện nay, pháp luật đã có những quy định tương đối chi tiết và tiến bộ hơn liên quan đến thỏa thuận phân chia di sản thừa kế so với trước đây, nhưng
do tính chất phức tạp của quan hệ thừa kế mà thực tiễn áp dụng pháp luật vẫn còn những hạn chế, chưa dự trù hết được những tình huống phát sinh trên thực tế nên việc thỏa thuận phân chia di sản không tránh khỏi bất cập, hạn chế
Do vậy, việc nghiên cứu các quy định pháp luật về thừa kế nói chung
và thỏa thuận phân chia di sản thừa kế nói riêng, để phát hiện những bất cập trong việc áp dụng và đưa ra những đề xuất, kiến nghị góp phần hoàn thiện, nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định pháp luật về thừa kế là rất cần thiết
Vì những lẽ trên, tác giả lựa chọn đề tài "Thỏa thuận phân chia di sản thừa
kế theo pháp luật Việt Nam" làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Thừa kế là chế định pháp luật phức tạp, có lịch sử hình thành và phát triển lâu dài, thu hút sự chú ý của rất nhiều nhà khoa học pháp lý
Trang 10Liên quan đến thừa kế và thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, có một
số sách chuyên khảo nổi tiếng, có thể kể đến như: "Bình luận khoa học về
thừa kế trong luật dân sự" của Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Điện; "Luật thừa kế Việt Nam - Bản án và bình luận bản án" của Tiến sĩ Đỗ Văn Đại; "Hỏi đáp về pháp luật thừa kế" của Luật sư Trần Hữu Bền và Tiến sĩ Đinh Văn Thành;
"Luật Dân sự Việt Nam - Bình giải và áp dụng Luật Thừa kế" của Tiến sĩ
Phùng Trung Tập; "Pháp luật thừa kế của Việt Nam - Những vấn đề lý luận
và thực tiễn" của tác giả Nguyễn Minh Tuấn
Vấn đề thừa kế còn được nghiên cứu trong các luận án tiến sĩ, luận
văn thạc sĩ, tiêu biểu là: đề tài "Thừa kế theo pháp luật của công dân Việt
Nam từ năm 1945 đến nay" của Phùng Trung Tập; đề tài "Thừa kế theo di chúc theo quy định của Bộ luật dân sự Việt Nam" của Phạm Ánh Tuyết; đề tài
"Cơ sở lý luận và thực tiễn của những quy định chung về thừa kế trong Bộ luật dân sự" của Nguyễn Minh Tuấn; đề tài "Thừa kế theo pháp luật của cháu, chắt theo quy định của pháp luật Việt Nam" của Lê Đức Bền; đề tài "Thừa kế theo pháp luật trong Bộ luật dân sự Việt Nam" của Nguyễn Thị Vĩnh;
Ngoài ra, còn có nhiều bài viết liên quan được đăng trên các tạp chí như: Tạp chí Dân chủ và pháp luật, Tạp chí Tòa án nhân dân, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Tạp chí Luật học, …
Các công trình nghiên cứu kể trên có giá trị rất lớn trong cả khoa học
lý luận và thực tiễn Tuy nhiên, vấn đề "thỏa thuận phân chia di sản thừa kế" chỉ được nêu ra ở mức độ khái quát, chưa được phân tích một cách toàn diện
và đầy đủ Vậy nên, việc nghiên cứu để có định hướng đề xuất cho các quy định của pháp luật về vấn đề này là hết sức cần thiết
3 Mục đích và phạm vi nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là nhằm làm rõ các nội dung, cơ sở
lý luận và thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về thừa kế và thỏa thuận phân chia di sản thừa kế Trên cơ sở phân tích các quy định và thực
Trang 11tiễn áp dụng, tác giả chỉ ra những bất cập, tồn tại để từ đó đưa ra những đề xuất, kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật về thỏa thuận phân chia di sản thừa kế
Trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ, tác giả tập trung nghiên cứu các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến thừa kế và thỏa thuận phân chia di sản thừa kế như: BLDS năm 2015, Luật Công chứng 2014, Luật Hôn nhân và gia đình (HN&GĐ) năm 2014; Luật Đất Đai năm 2013, …và một số văn bản hướng dẫn thi hành luật Nội dung luận văn giới hạn trong vấn đề lý luận về thỏa thuận phân chia di sản thừa kế được pháp luật Việt Nam quy định
4 Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Để đạt được mục đích đặt ra khi nghiên cứu đề tài, luận văn tập trung
nghiên cứu các vấn đề sau:
Thứ nhất, những vấn đề lý luận liên quan đến quy định về thỏa thuận
phân chia di sản thừa kế, bao gồm: khái niệm thỏa thuận phân chia di sản thừa kế; điều kiện có hiệu lực của thỏa thuận phân chia di sản thừa kế và các vấn
đề pháp lý khác có liên quan
Thứ hai, nêu và phân tích thực trạng thi hành pháp luật Việt Nam về
thỏa thuận phân chia di sản thừa kế hiện nay
Thứ ba, đưa ra một số kiến nghị, đề xuất để thực hiện hiệu quả quy
định của pháp luật về thỏa thuận phân chia di sản thừa kế
5 Phương pháp nghiên cứu
Nhằm đạt được các mục tiêu nghiên cứu, trong quá trình nghiên cứu,
tác giả đã vận dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:
Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam Theo đó, tác giả đặt các vấn đề về thỏa thuận phân chia di sản thừa kế trong mối liên hệ mật thiết với nhau, không phân tích riêng lẻ
Trang 12Phương pháp phân tích, diễn giải: Những phương pháp này được sử dụng trong luận văn để làm rõ các quy định của pháp luật về thừa kế nói
chung và thỏa thuận phân chia di sản thừa kế nói riêng
Phương pháp đánh giá, so sánh: Những phương pháp này được tác giả vận dụng để đưa ra ý kiến nhận xét về tính hợp lý của các quy định của pháp luật hiện hành, từ đó so sánh với các quy định đã hết hiệu lực
Phương pháp quy nạp, diễn dịch: Những phương pháp này được áp dụng để triển khai có hiệu quả các vấn đề liên quan đến thỏa thuận phân chia
di sản thừa kế, đặc biệt là trong phần các đề xuất, kiến nghị Ví dụ, khi nêu ra những kiến nghị mang tính khái quát, tác giả dùng phương pháp diễn dịch để
làm rõ lý do tại sao đưa ra kiến nghị đó…
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Việc nghiên cứu đề tài này giúp làm sáng tỏ các vấn đề lý luận có liên quan đến thừa kế và thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, từ đó góp phần vào việc hoàn thiện hơn ngành khoa học luật trong lĩnh vực dân sự nói chung và trong lĩnh vực thừa kế nói riêng
Luận văn là tài liệu tham khảo quan trọng cho việc hệ thống hóa các quy định của pháp luật về thừa kế và thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, phân tích hiệu quả điều chỉnh các quy định đó trong thực tiễn, phát hiện những bất cập, tồn tại và đưa ra các kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về thừa kế ở Việt Nam
Ngoài ra, tác giả cũng mong muốn luận văn sẽ trở thành một tài liệu tham khảo hữu ích đối với các bạn sinh viên hay học viên đang nghiên cứu về chế định thừa kế Bên cạnh đó, những kiến nghị hoàn thiện pháp luật mà tác
giả nêu trong luận văn hi vọng sẽ là cơ sở quan trọng để các cơ quan chức
năng trong phạm vi, thẩm quyền của mình xem xét, nghiên cứu để sửa đổi, bổ
sung, hoàn thiện pháp luật về thừa kế
Trang 137 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về thỏa thuận phân chia di sản
thừa kế
Chương 2: Thực trạng áp dụng pháp luật về thỏa thuận phân chia di
sản thừa kế hiện nay
Chương 3: Một số đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định
pháp luật Việt Nam về thỏa thuận phân chia di sản thừa kế
Trang 14Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
VỀ THỎA THUẬN PHÂN CHIA DI SẢN THỪA KẾ
1.1 Khái niệm "thỏa thuận phân chia di sản thừa kế"
* Khái niệm "di sản thừa kế":
Có nhiều cách hiểu về di sản thừa kế Nhưng đến nay, vẫn chưa có một văn bản pháp luật nào đưa ra khái niệm cụ thể về di sản thừa kế
Theo Từ điển Giải thích thuật ngữ Luật học, di sản thừa kế là tài sản của người chết để lại cho người còn sống kể từ thời điểm mở thừa kế [32, tr 50]
Theo tác giả Phan Văn Nghĩa, di sản thừa kế là "toàn bộ tài sản có giá trị vật chất hoặc giá trị tinh thần cùng với các nghĩa vụ về tài sản được lưu truyền nối tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác" [14, tr 7] Vậy, theo quan điểm này, di sản thừa kế không chỉ bao gồm các tài sản có giá trị vật chất hoặc tinh thần mà còn bao gồm các nghĩa vụ tài sản mà người chết để lại
Dưới góc độ pháp lý, di sản thừa kế cũng được cụ thể hóa tại Điều 612 BLDS năm 2015: "Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác" [24, Điều 612] Theo tinh thần của BLDS năm 2015, khi một cá nhân chết đi có di sản để lại và có các nghĩa vụ chưa được thực hiện thì phần di sản của người chết để lại sẽ được sử dụng để thanh toán các nghĩa vụ đó trước, phần còn lại mới chia cho những người thừa kế
Tựu chung lại, di sản thừa kế có thể hiểu là toàn bộ tài sản thuộc
quyền sở hữu của người chết được chuyển dịch cho những người thừa kế hợp pháp của họ sau khi đã thanh toán các nghĩa vụ về tài sản (nếu có) mà người chết chưa thực hiện được
* Khái niệm "phân chia di sản thừa kế":
Theo nghĩa kỹ thuật, phân chia là tập hợp các hoạt động nhằm chấm dứt tình trạng có quyền chung của nhiều người trên một hoặc nhiều tài sản
Trang 15Trong quan hệ thừa kế, việc phân chia di sản chỉ đặt ra khi có ít nhất
từ hai người thừa kế trở lên đối với di sản mà người chết để lại Bởi nếu chỉ
có một người thừa kế, người này có quyền thừa kế toàn bộ số di sản thừa kế
mà không phải phân chia số di sản đó với ai khác
Việc phân chia di sản có thể do những người thừa kế cùng thỏa thuận hoặc do Tòa án thực hiện khi xảy ra tranh chấp về di sản thừa kế giữa các đương sự Mục đích của việc phân chia di sản thừa kế là để chấm dứt tình trạng sở hữu chung theo phần giữa những người thừa kế đối với di sản đó
Như vậy, phân chia di sản thừa kế có thể hiểu là tập hợp các hoạt
động nhằm xác lập quyền sở hữu của mỗi người thừa kế đối với phần di sản
mà họ có quyền hưởng trong khối di sản chung sau khi đã thanh toán các nghĩa vụ về tài sản (nếu có), chấm dứt tình trạng nhiều chủ thể cùng có quyền
sở hữu di sản do người chết để lại
* Khái niệm "thỏa thuận phân chia di sản thừa kế":
Thỏa thuận là việc các bên chủ thể đồng ý với nhau về điều gì đó liên quan đến họ sau khi đã bàn bạc, trao đổi [31, tr 1220]
Về bản chất, thỏa thuận phân chia di sản thừa kế là một giao dịch dân
sự - hợp đồng dân sự giữa các chủ thể là những người thừa kế của người để lại di sản
Từ đó, có thể rút ra, thỏa thuận phân chia di sản thừa kế là một hợp
đồng dân sự giữa những người thừa kế về việc chấm dứt tình trạng sở hữu chung đối với di sản thừa kế sau khi thanh toán các nghĩa vụ về tài sản (nếu có) từ phần di sản do người chết để lại
* Ý nghĩa của sự thỏa thuận:
Trên thực tế, việc phân chia di sản thừa kế thông thường được thực hiện thông qua sự thỏa thuận giữa những người thừa kế Chỉ trong trường hợp những người thừa kế không tự thỏa thuận được với nhau thì họ mới yêu cầu phân chia di sản tại Tòa án và đó thường là những tranh chấp có tính chất
Trang 16phức tạp Việc phân chia di sản thừa kế tại Tòa án có thể có những hệ lụy và nhược điểm sau đây:
- Việc phân chia di sản thừa kế tại Tòa án ảnh hưởng đến tình cảm của các thành viên trong gia đình, đặc biệt là người dân ở các nước Á Đông như Việt Nam
- Danh dự của cả gia đình có thể bị ảnh hưởng Ví dụ bố hoặc mẹ mới chết mà anh, chị, em đã tranh chấp tài sản được bố, mẹ để lại tại Tòa án sẽ khiến hàng xóm láng giềng dị nghị, đàm tiếu
- Việc giải quyết tranh chấp di sản thừa kế tại Tòa án kéo dài, phát sinh nhiều chi phí và tốn nhiều công sức hơn so với việc tự thỏa thuận Một
vụ án có thể kéo dài đến nhiều tháng, năm, đặc biệt là những vụ việc phức tạp
có thể được giải quyết qua nhiều cấp khác nhau
- Chi phí để giải quyết một vụ án về thừa kế bao gồm: án phí, chi phí thuê luật sư, chi phí đi lại, chi phí đi xác minh, thu thập chứng cứ… trong đó,
án phí được xác định theo % giá trị tài sản tranh chấp, tài sản có giá trị càng lớn thì án phí cho vụ án đó càng cao
- Việc phân chia di sản thừa kế tại Tòa án sẽ phải thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục cụ thể mà pháp luật quy định Trình tự, thủ tục này khá rườm
rà, gây phiền hà cho các bên tranh chấp mà các bên không thể tự thỏa thuận cắt giảm hoặc bỏ qua
Rõ ràng, việc những người thừa kế tự thỏa thuận với nhau về việc phân chia di sản có nhiều ưu điểm hơn so với biện pháp giải quyết việc phân chia di sản thừa kế tại Tòa án, thể hiện ở các điểm sau đây:
- Giữ được tình cảm đoàn kết, yêu thương, gắn bó giữa các thành viên trong gia đình
- Thỏa thuận phân chia trên cơ sở tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau Những người thừa kế có hoàn cảnh kinh tế khá hơn có thể tặng cho một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà mình được hưởng cho người thừa kế còn lại
Trang 17- Nếu những người thừa kế thỏa thuận được việc phân chia di sản thì
sẽ mất ít thời gian hơn với việc giải quyết tại Tòa án Bởi họ chỉ cần thống nhất nội dung phân chia, sau đó nếu có nhu cầu thì những người thừa kế yêu cầu cơ quan có thẩm quyền công chứng/chứng thực văn bản đó
- Chi phí phát sinh trong trường hợp thỏa thuận phân chia di sản thừa
kế ít hơn so với việc phân chia di sản tại Tòa án
- Thủ tục công chứng/chứng thực văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế nhanh chóng và ít phức tạp hơn so với thủ tục phân chia di sản thừa
kế tại Tòa án
Từ những ưu điểm trên, có thể thấy, phương án tối ưu nhất đối với việc phân chia di sản là thỏa thuận phân chia di sản giữa những người thừa kế
1.2 Điều kiện có hiệu lực của thỏa thuận phân chia di sản thừa kế
Về bản chất, thỏa thuận phân chia di sản thừa kế là một giao dịch dân
sự giữa những người thừa kế với nhau Vì thế, để thỏa thuận phân chia di sản thừa kế có hiệu lực thì phải đáp ứng các điểu kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự được quy định tại Điều 117 BLDS năm 2015, bao gồm các điều kiện
về chủ thể, mục đích, nội dung và hình thức của thỏa thuận
1.2.1 Chủ thể thỏa thuận phân chia di sản thừa kế
Kể từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế có các quyền và nghĩa vụ tài sản do người chết để lại, trong đó có quyền thỏa thuận phân chia
di sản thừa kế
* Tư cách chủ thể của người thừa kế:
Theo nguyên lý chung, khi tham gia vào các giao dịch dân sự, các chủ thể phải có đủ tư cách chủ thể, bao gồm năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự Tuy nhiên, pháp luật thừa kế không đặt ra điều kiện về tư cách chủ thể đối với người thừa kế vì các lý do sau:
- Di sản mà người thừa kế thực chất được hưởng là số tài sản còn lại sau khi thanh toán các nghĩa vụ về tài sản mà người chết để lại (nếu có)
Trang 18Người thừa kế có trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ này nhưng không vượt quá phần tài sản mà họ nhận được Nếu người thừa kế không có hoặc chưa có
đủ năng lực hành vi dân sự thì người đại diện theo pháp luật của họ (cha, mẹ hoặc người giám hộ) sẽ đại diện cho họ dùng phần tài sản đó để thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại (nếu có) Vậy nên, không yêu cầu về mặt năng lực chủ thể đối với người thừa kế
- Người chưa thành niên hay người mất năng lực hành vi dân sự có thể thỏa thuận phân chia di sản thừa kế thông qua người đại diện theo pháp luật Việc quản lý tài sản của những đối tượng này cũng do người đại diện theo pháp luật của họ thực hiện và có sự giám sát chặt chẽ theo quy định của pháp luật để đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của họ
- Người có quyền thừa kế vắng mặt tại nơi cư trú hoặc bị Tòa án tuyên
bố là mất tích thì việc quản lý tài sản của những người này sẽ được thực hiện theo quy định tại Điều 65 và Điều 69 BLDS năm 2015
Nếu như người đại diện theo pháp luật của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi có quyền đại diện cho họ thỏa thuận về việc phân chia di sản thừa kế, thì theo quy định pháp luật hiện hành, người quản lý tài sản của người vắng mặt hoặc mất tích không chắc có quyền đại diện cho những người này trong việc thỏa thuận phân chia di sản mà họ được hưởng
- Tương tự như quyền sở hữu, quyền thừa kế là một quyền tuyệt đối Trong quyền sở hữu, người có tài sản một cách hợp pháp thì dù có năng lực hành vi hay không, người đó vẫn là chủ sở hữu tài sản Trong quan hệ thừa kế cũng vậy, người được hưởng di thừa kế di sản do người chết để lại thì bất luận
có hay không năng lực hành vi thì họ vẫn có quyền hưởng thừa kế
Tóm lại, người thừa kế nói chung khi đáp ứng được các điều kiện mà pháp luật quy định thì họ sẽ có quyền hưởng di sản mà không bắt buộc phải
có năng lực chủ thể
Trang 19* Chủ thể thỏa thuận phân chia di sản thừa kế hoàn toàn tự nguyện:
Đây là nguyên tắc quan trọng được quy định tại Điều 3 BLDS năm 2015: Tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận Bản chất của thỏa thuận là sự thống nhất ý chí giữa các bên tham gia thỏa thuận trên cơ sở tự nguyện Vì vậy, bất kỳ giao dịch dân sự nào thiếu sự tự nguyện của các bên sẽ không làm phát sinh hậu quả pháp lí
1.2.1.1 Người thừa kế theo di chúc
Di chúc là "sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết" [24, Điều 624] Di chúc thể hiện ý chí đơn phương của người lập di chúc, là hành vi pháp lý đơn phương Ý chí đơn phương của người lập di chúc được thể hiện ở việc người lập di chúc có toàn quyền định đoạt tài sản thuộc sở hữu của mình cho bất kỳ ai và có quyền cho
ai bao nhiêu phần trong số tài sản thuộc sở hữu của mình mà không phụ thuộc vào việc người được hưởng thừa kế có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng hoặc thân thích với người lập di chúc hay không
Người thừa kế theo di chúc có thể là cá nhân (người trong hàng thừa kế/ngoài hàng thừa kế) hoặc không phải là cá nhân (cơ quan/tổ chức)
* Người thừa kế theo di chúc là cá nhân:
Điều 613 BLDS năm 2015 quy định: "Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm
mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết" [24, Điều 613]
Theo quy định của điều luật trên, cá nhân chỉ có thể trở thành người thừa kế khi người đó thuộc một trong hai trường hợp sau:
Thứ nhất, phải là người "còn sống vào thời điểm mở thừa kế"
Đặc trưng cơ bản của chế định thừa kế chính là sự tiếp nối quyền sở hữu tài sản từ người đã chết sang người còn sống nên người tiếp nhận quyền
sở hữu tài sản đương nhiên phải là người "còn sống" vào "thời điểm mở thừa kế" Có một số trường hợp tuy là một người đã chết trên thực tế nhưng họ lại còn sống vào thời điểm mở thừa kế
Trang 20Mặt khác, cũng có trường hợp, người thừa kế không hiện diện vào thời điểm mở thừa kế do mất tích nhưng người đó chưa được Tòa án tuyên bố
là đã chết nhưng ngày được coi là đã chết của họ được xác định sau ngày mở thừa kế thì họ vẫn được coi là còn sống vào thời điểm mở thừa kế và có quyền hưởng di sản Nếu người thừa kế bị tuyên bố đã chết trước thời điểm mở thừa
kế mà sau này họ còn sống và quay trở về trước khi di sản được phân chia thì người này được coi là còn sống và có quyền hưởng di sản nhưng họ phải yêu cầu Tòa án hủy quyết định tuyên bố chết đối với mình
Thứ hai, phải được "sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế
nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết"
Pháp luật dân sự bảo hộ quyền thừa kế của thai nhi nhưng thai nhi phải thành thai trước khi người để lại di sản chết và còn sống sau khi được sinh ra Một cá nhân chưa được sinh ra thì chưa phải là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự, nhưng pháp luật lại quy định bảo lưu quyền thừa kế của thai nhi với hai điều kiện trên Quy định này nhằm bảo vệ quyền của người con đã thành thai trước khi người cha/mẹ chết và còn sống sau khi chào đời
Hiểu thế nào là "sinh ra và còn sống" là một vấn đề tương đối nhạy cảm Vì việc xác định ranh giới giữa "sinh ra và còn sống" với "sinh ra và chết" đôi khi chỉ là một khoảnh khắc nhất định Hai tình trạng này lại dẫn tới hai hậu quả pháp lý hoàn toàn khác nhau
Để xác định tình trạng "còn sống" hay "đã chết" của một đứa trẻ sinh
ra rồi chết cần căn cứ vào các quy định của pháp luật Trước đây, Nghị định 83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 của Chính phủ về đăng ký hộ tịch quy định:
- Trẻ em sinh ra sống được 24 giờ trở lên rồi mới chết, thì cũng phải đăng ký khai sinh theo quy định của Nghị định này, nếu chết trước khi sinh (chết lưu) hoặc sinh ra mà sống chưa được 24 giờ, thì không phải đăng ký khai sinh [7, Điều 20]
- Trẻ em sinh ra mà còn sống được 24 giờ trở lên rồi mới chết thì vừa phải đăng ký khai sinh, vừa phải đăng ký khai tử [7, Điều 29]
Trang 21Về quyền được khai sinh, khai tử của cá nhân, khoản 3 Điều 30 BLDS năm 2015 quy định: Trẻ em sinh ra mà sống được từ hai mươi bốn giờ trở lên mới chết thì phải được khai sinh và khai tử; nếu sinh ra mà sống dưới hai mươi bốn giờ thì không phải khai sinh và khai tử, trừ trường hợp cha đẻ, mẹ
đẻ có yêu cầu [24, khoản 3 Điều 30]
Như vậy, theo tinh thần của pháp luật hiện hành, một đứa trẻ sau khi sinh ra mà còn sống được từ hai mươi bốn giờ trở lên rồi mới chết thì được coi là "sinh ra và còn sống" và đứa trẻ trở thành người thừa kế, có quyền hưởng di sản mà người cha/mẹ để lại Tuy nhiên, khi đứa trẻ sinh ra đã chết thì phần di sản đó sẽ được chia cho những người thừa kế của chúng Với đứa trẻ sinh ra mà chết ngay hoặc chỉ sống được dưới hai mươi bốn giờ thì không được nhận di sản thừa kế
Vấn đề là phải "thành thai trước khi người để lại di sản chết" nhằm xác định mối quan hệ giữa người để lại di sản và người được hưởng di sản
Khoản 1 Điều 88 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định:
- Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng
- Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân
- Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng [22, khoản 1 Điều 88]
Nguyên tắc suy đoán pháp lý được áp dụng khi xác định cha, mẹ, con Nghĩa là, khi người vợ mang thai hoặc sinh con trong thời kỳ hôn nhân, người
vợ không cần phải chứng minh chồng mình có phải là cha đứa trẻ hay không
mà pháp luật mặc nhiên thừa nhận đứa trẻ là con chung của vợ chồng Trên thực tế, có nhiều trường hợp người vợ có thai hoặc sinh con trong thời kỳ hôn nhân nhưng chưa chắc con đã có cùng huyết thống với người chồng Vậy nên,
tư cách cha, mẹ, con có thể được xem xét lại
Trang 22Trường hợp hai vợ chồng thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì việc xác định cha, mẹ, con vẫn được thực hiện theo quy định đã nêu ở trên
Trường hợp người phụ nữ độc thân sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì người này là mẹ của đứa trẻ ngay cả khi đứa trẻ đó không mang huyết thống với họ
Việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản không làm phát sinh quan
hệ cha, mẹ, con giữa người cho tinh trùng, cho noãn, cho phôi với đứa trẻ được sinh ra mặc dù có cùng mã gen
Với trường hợp con được sinh ra do mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, thì là con chung của vợ, chồng nhờ mang thai hộ kể từ thời điểm con được sinh ra
Có thể thấy, nếu như trước đây, quan hệ huyết thống là căn cứ vững chắc nhất để xác định cha, mẹ, con thì trong xu thế phát triển hiện đại của xã hội, huyết thống không còn là cơ sở để xác định cha, mẹ, con trong mọi trường hợp Vì thế, không nhất thiết phải có quan hệ huyết thống thì người con mới được thừa hưởng di sản thừa kế của cha, mẹ
* Người thừa kế theo di chúc không là cá nhân:
Những chủ thể không là cá nhân (cơ quan/tổ chức) cũng có quyền hưởng di sản thừa kế theo di chúc nhưng phải "tồn tại vào thời điểm mở thừa kế" Trường hợp người thừa kế là pháp nhân, khi xác định tình trạng tồn tại hay không tồn tại thì cần xét đến các trường hợp khác nhau Theo quy định tại Điều 96 BLDS năm 2015, pháp nhân chấm dứt tồn tại trong các trường hợp: hợp nhất, sáp nhập, chia, chuyển đổi hình thức, giải thể, phá sản pháp nhân
Nếu vào thời điểm mở thừa kế, pháp nhân đã bị giải thể hoặc phá sản thì được coi là chấm dứt hoàn toàn sự tồn tại và không thể trở thành người thừa kế Phần di sản đáng lẽ pháp nhân đó được hưởng theo di chúc sẽ được chia cho những người thừa kế theo pháp luật của người để lại di sản
Trang 23Trong trường hợp pháp nhân chấm dứt tồn tại do hợp nhất, sáp nhập, chia, chuyển đổi hình thức thì có hai quan điểm đối lập nhau về tình trạng
"tồn tại" theo quy định của pháp luật về thừa kế, cụ thể như sau:
Quan điểm thứ nhất, việc pháp nhân hợp nhất, sáp nhập, chia, chuyển
đổi hình thức chỉ là các hình thức cải tổ pháp nhân, là thay đổi sự tồn tại của pháp nhân từ phương thức này sang phương thức khác Theo quy định tại các Điều 88, 89, 90, 92 BLDS năm 2015 thì quyền và nghĩa vụ của pháp nhân cũ
sẽ được chuyển giao cho pháp nhân mới, trong đó bao gồm cả quyền thừa kế
Quan điểm thứ hai, các trường hợp trên là những căn cứ để chấm dứt
pháp nhân Khi một pháp nhân đã bị hợp nhất, sáp nhập, chia, chuyển đổi hình thức thì được coi là không còn tồn tại nữa Pháp nhân chấm dứt tồn tại trước thời điểm mở thừa kế không có quyền hưởng thừa kế theo di chúc
* Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc:
Pháp luật dân sự Việt Nam trao quyền tự định đoạt cho cá nhân trong việc lập di chúc để lại tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bất kỳ ai được hưởng sau khi người đó chết Một người được tự do lập di chúc cho người khác hưởng tài sản của mình nhưng cũng có quyền truất quyền hưởng di sản của người thừa kế theo pháp luật Tuy nhiên, sự "tự do" định đoạt đó của cá nhân để lại di sản vẫn phải nằm trong khuôn khổ quy định của pháp luật
Điều 644 BLDS năm 2015 quy định về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc như sau:
1 Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:
a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
b) Con thành niên mà không có khả năng lao động
Trang 242 Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này [24, Điều 644]
Để được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc, người thừa kế quy định tại Điều 644 nêu trên phải đáp ứng các điều kiện sau:
Thứ nhất, những người này phải là những người mà người lập di chúc
không cho họ hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật (hai phần ba một suất theo pháp luật được xác định bằng cách giả định toàn bộ di sản chia theo pháp luật)
Thứ hai, không thuộc trường hợp những người từ chối nhận di sản
theo quy định tại Điều 620 BLDS năm 2015
Thứ ba, không thuộc trường hợp những người không có quyền hưởng
di sản theo quy định tại Điều 621 BLDS năm 2015
Về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc mà là con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động thì việc thỏa thuận phân chia di sản thừa kế sẽ thông qua vai trò của người đại diện hợp pháp Lưu ý là người đại diện hợp pháp của những người này không được phép tặng cho phần di sản của người mà mình đại diện được hưởng
* Người được di tặng:
Tài sản dùng để di tặng là phần tài sản trong khối tài sản mà người chết để lại, được chỉ định trong di chúc là dành phần di sản đó tặng cho người nhất định
Người được di tặng cũng phải đáp ứng các điều kiện chung về người thừa kế Người được di tặng có thể là cá nhân hoặc không phải là cá nhân
Người được di tặng có quyền thỏa thuận phân chia di sản, họ có thể tặng cho người khác phần di sản mà họ được nhận hoặc nhận phần di sản mà người khác tặng cho
Trang 251.2.1.2 Người thừa kế theo pháp luật
Khác với hình thức thừa kế theo di chúc là sự thể hiện ý chí của người lập di chúc, có thể định đoạt di sản cho bất kỳ ai, thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định
* Diện thừa kế:
Đến nay, chưa có khái niệm cụ thể nào về "diện thừa kế" được ghi nhận trong các văn bản quy phạm pháp luật nên có nhiều cách hiểu khác nhau Theo Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam tập 1, Trường Đại học Luật Hà Nội: "Diện những người thừa kế là phạm vi những người có quyền hưởng di sản thừa kế của người chết theo quy định của pháp luật" [33, tr 327] Khái niệm diện thừa kế còn có thể hiểu là "phạm vi những người có thể được hưởng di sản do người chết để lại được xác định theo một trong ba quan hệ (quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng) với người để lại di sản" [13, tr 278] Theo đó, cách hiểu thứ hai hợp lý và cụ thể hơn
Diện thừa kế theo pháp luật bao gồm những cá nhân còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết, có quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng với người để lại di sản
• Quan hệ hôn nhân:
Trước năm 1945, ở nước ta, tư tưởng trọng nam khinh nữ đã ảnh hưởng sâu sắc tới chế định thừa kế Địa vị của người phụ nữ trong xã hội và trong gia đình luôn ở thế yếu, mọi quyết định đều phụ thuộc vào người chồng
Vì thế, trong quan hệ thừa kế thời kỳ bấy giờ, người vợ không thuộc diện thừa
kế theo pháp luật của người chồng Hay nói cách khác, quan hệ hôn nhân không được ghi nhận là cơ sở để xác định diện thừa kế
Sau năm 1945, pháp luật thừa kế ở nước ta đã có sự tiến bộ vượt trội khi quyền bình đẳng giữa nam và nữ đã được ghi nhận trong Hiến pháp năm
1946 - Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa: "Đàn bà
Trang 26ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện" [16, Điều 9] Đây là cơ sở pháp lý vững chắc để xóa bỏ sự bất bình đẳng, những quan điểm cổ hủ mà trước nay đã tồn tại ở nước ta một thời gian dài dưới chế độ phong kiến, thực dân, từ đó xây dựng một xã hội mới dân chủ và tiến bộ Sắc lệnh số 97/SL ngày 22/5/1950 ra đời đã chính thức ghi nhận mối quan hệ hôn nhân là một trong những căn cứ để xác định diện thừa kế, trong đó khẳng định vợ và chồng thuộc diện thừa kế theo pháp luật của nhau [6, Điều 11] Đến nay, nguyên tắc này vẫn tiếp tục được kế thừa và cụ thể hóa tại các văn bản quy phạm pháp luật như: Luật HN&GĐ năm 1959, Thông tư số 81 ngày 24/7/1981 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn giải quyết các tranh chấp
về thừa kế, Luật HN&GĐ năm 1986, Pháp lệnh thừa kế năm 1990, Luật HN&GĐ năm 2000, BLDS năm 2005, Luật HN&GĐ năm 2014 và BLDS năm 2015
Đánh giá cao tầm quan trọng của quan hệ hôn nhân và xuất phát từ mối quan hệ tình cảm gắn bó cùng vun đắp gia đình giữa vợ và chồng, pháp luật thừa kế đã ghi nhận vợ và chồng thuộc diện thừa kế theo pháp luật của nhau
• Quan hệ huyết thống:
Quan hệ huyết thống là quan hệ giữa những người có cùng dòng máu
về trực hệ hoặc bàng hệ được xác định thông qua sự kiện sinh đẻ
Theo giải nghĩa của Từ điển Tiếng Việt, "trực hệ" là quan hệ họ hàng theo dòng máu trong đó người này sinh ra người kia kế tiếp nhau, bao gồm ông, cha, con, cháu, … [31, tr 1354]
Phân biệt với trực hệ, "bàng hệ" được giải thích như sau: Bàng hệ là quan
hệ họ hàng theo dòng bên, tức là không theo dòng trực tiếp, không phải theo quan
hệ người này sinh ra người kia, gồm anh, chị, em, chú, bác, cô, … [31, tr 45]
Từ xưa đến nay, phong tục tập quán của nước ta luôn đề cao quan hệ giữa các thành viên trong gia đình Trong các mối quan hệ đó, quan hệ huyết thống được coi trọng nhất Từ xã hội phong kiến đến thời kỳ thực dân, quan
Trang 27hệ huyết thống vẫn giữ vị trí hàng đầu Việc xét diện thừa kế cũng dựa chủ yếu vào quan hệ này
Đến thời kỳ đất nước độc lập, trong những năm đầu của chế độ mới, diện thừa kế đã được xem xét trên quan hệ huyết thống Tuy vậy, đối tượng thuộc diện thừa kế theo quan hệ huyết thống được xét đến trong phạm vi khá hẹp Sắc lệnh số 97/SL quy định diện thừa kế theo huyết thống chỉ bao gồm con, cháu của người chết [6, Điều 10] Theo quy định của Thông tư số 1742/BNC ngày 18/5/1956 của Bộ Tư pháp, người thuộc diện thừa kế theo huyết thống gồm: con, cháu, chắt, cha, mẹ của người để lại di sản [5] Tiếp
đó, Thông tư số 594/NCPL ngày 27/8/1968 và Thông tư số 81/TANDTC ngày 24/7/1981 của Tòa án nhân dân tối cao quy định diện thừa kế theo huyết thống tiếp tục được mở rộng, gồm: con, cha, mẹ, ông, bà, anh, chị, em của người để lại di sản Kể từ khi Pháp lệnh thừa kế năm 1990 ra đời, diện thừa kế theo pháp luật không chỉ có tất cả những người được xác định theo Thông tư
số 81/TANDTC mà còn bao gồm những người thuộc quan hệ huyết thống trực hệ và bàng hệ khác, đó là: cụ nội, cụ ngoại, chú, bác, cô, dì, cậu ruột của người để lại di sản và những người mà người để lại di sản là cô, dì, chú, bác, cậu ruột [12] Sau đó là các BLDS ban hành các năm 1995, 2005 và 2015, diện thừa kế theo pháp luật trên cơ sở quan hệ huyết thống lúc này đã mở rộng
và đầy đủ nhất, góp phần thắt chặt tình cảm các thành viên trong gia đình giữa các thế hệ và phù hợp với tâm tư, nguyện vọng của cá nhân sau khi chết
• Quan hệ nuôi dưỡng:
Quan hệ nuôi dưỡng là sự thể hiện nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau giữa những người thân thuộc trong gia đình theo quy định của pháp luật [27, tr 92] Bên cạnh nghĩa vụ nuôi dưỡng của những người có cùng huyết thống với nhau thì pháp luật còn quy định cụ thể về nghĩa vụ nuôi dưỡng trong quan hệ giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi và ngược lại, cùng với đó là quan hệ giữa cha dượng, mẹ kế và con riêng
Trang 28Trong quan hệ nuôi dưỡng, con nuôi có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ như con đẻ và được coi là người thừa kế ở hàng thứ nhất của cha, mẹ nuôi Việc nuôi con nuôi phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp được pháp luật quy định là con nuôi thực tế
Ngoài ra, quan hệ nuôi dưỡng còn được xét đến trong trường hợp con riêng và cha dượng, mẹ kế Theo Điều 654 BLDS năm 2015: "Con riêng và
bố dượng, mẹ kế nếu có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con thì được thừa kế di sản của nhau và còn được thừa kế di sản theo quy định tại Điều 652 và Điều 653 của Bộ luật này" [24, Điều 654] Việc quy định như vậy là hoàn toàn phù hợp với đạo đức xã hội và truyền thống tình cảm của dân tộc ta
Tựu chung, ngoài quan hệ hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng, pháp luật thừa kế không dựa trên mối quan hệ nào khác giữa người thừa kế và người để lại di sản để xác định diện thừa kế theo pháp luật
* Hàng thừa kế:
Có thể hiểu, hàng thừa kế là nhóm những người có quan hệ cùng tính chất gần gũi, thân thích với người để lại di sản, không phân biệt giới tính, độ tuổi, địa vị xã hội, không phụ thuộc vào mức độ năng lực hành vi dân sự
Tại Điều 651 BLDS năm 2015 quy định những người thừa kế theo pháp luật theo thứ tự sau đây:
- Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
- Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết
là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
- Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết
mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại [24, Điều 651]
Trang 29Nguyên tắc chia di sản thừa kế theo pháp luật: Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước
do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản
Khi chia thừa kế theo pháp luật, những người thừa kế trong cùng một hàng thừa kế sẽ được hưởng những phần di sản bằng nhau Trên thực tế, vì lý
do hàng thừa kế thứ ba cơ cấu nhiều thế hệ và bậc trên dưới khác nhau, cả bên nội và bên ngoại của người để lại di sản, nên rất ít trường hợp những người ở hàng thừa kế này được hưởng di sản và việc lập hồ sơ đối với họ cũng gặp nhiều khó khăn hơn, rất dễ xảy ra trường hợp bỏ sót người thừa kế
* Thừa kế thế vị:
Theo định nghĩa của Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, thừa kế thế vị là "thừa kế bằng việc thay thế vị trí để hưởng thừa kế" [32, tr 125]
Có thể hiểu, thừa kế thế vị là việc một người thừa kế được hưởng di sản với tư cách thay vị trí của một người đã chết để nhận phần di sản mà người đó được hưởng nếu còn sống
Điều 652 BLDS năm 2015 quy định:
Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại
di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống [24, Điều 652]
Theo quy định của pháp luật dân sự nước ta, thừa kế thế vị phải tuân theo bốn nguyên tắc cơ bản sau đây:
Thứ nhất, thừa kế thế vị không phát sinh trên cơ sở thừa kế theo di chúc
Nguyên tắc này được hiểu ngắn gọn là thừa kế thế vị chỉ đặt ra đối với phần di sản chia theo pháp luật mà không phát sinh đối với quan hệ thừa kế
Trang 30theo di chúc Nói khác đi, con cháu của người chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di chúc không được thế vị cha, mẹ mình để hưởng di sản thừa kế theo di chúc Điều này hoàn toàn hợp lý, phù hợp với nguyên tắc chung của pháp luật thừa kế là tôn trọng ý chí của người để lại di sản
Thứ hai, người thừa kế phải là con cháu trực hệ của người chết trước
hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản
Đây là một nguyên tắc quan trọng bởi chỉ khi xác định được chính xác chủ thể thế vị thì mới đảm bảo được việc chia thừa kế thế vị chính xác và bảo đảm được đúng bản chất của thừa kế thế vị Mối quan hệ thừa kế thế vị trong pháp luật dân sự Việt Nam được xác định dựa trên quan hệ huyết thống, quan
hệ nuôi dưỡng Khái niệm "con" ở đây bao gồm cả con đẻ, con nuôi, con riêng, con trong giá thú và con ngoài giá thú… Cách hiểu khái niệm "cháu" cũng tương tự như vậy
Thứ ba, người thừa kế thế vị phải là người còn sống vào thời điểm mở
thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết
Đây là nguyên tắc cơ bản bởi như đã phân tích ở trên, thừa kế là sự dịch chuyển tài sản của người chết sang cho người còn sống Nếu người thừa
kế không còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết thì sẽ làm mất đi tính chất và ý nghĩa của việc thừa kế
Thứ tư, người thừa kế thế vị chỉ được hưởng phần di sản mà bố, mẹ họ
hoặc ông, bà họ được hưởng nếu còn sống
Người thừa kế thế vị chỉ được hưởng phần mà người được thế vị được hưởng nếu còn sống Việc phân chia di sản trong trường hợp có nhiều người thừa kế thế vị, được thực hiện theo chi chứ không phải theo đầu người [11]
Như vậy, pháp luật dân sự Việt Nam quy định về vấn đề thừa kế thế vị nhằm bảo vệ trực tiếp quyền lợi của các cháu, chắt của người để lại di sản,
Trang 31tránh tình trạng di sản của ông, bà, các cụ mà cháu, chắt không được hưởng lại để cho người khác Mặt khác, quy định này giúp bảo tồn truyền thống và đạo lí trong quan hệ giữa những người thân thuộc nhất của người để lại di sản
1.2.1.3 Chủ thể không có quyền thỏa thuận phân chia di sản thừa kế
* Người không được quyền hưởng di sản:
Hưởng di sản thừa kế là quyền của công dân được pháp luật bảo hộ Bên cạnh việc bảo vệ quyền lợi đó của công dân trong việc hưởng di sản thừa
kế, BLDS năm 2015 đã quy định chế tài nghiêm khắc đối với những người đáng lẽ được hưởng di sản nhưng họ lại có hành vi trái pháp luật, vi phạm đạo đức xã hội nên bị pháp luật tước đi quyền hưởng di sản Những người không
có quyền hưởng di sản đương nhiên cũng không có quyền thỏa thuận phân chia di sản
Khoản 1 Điều 621 BLDS năm 2015 quy định những người sau đây không được quyền hưởng di sản:
- Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc
về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó
- Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản
- Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế
khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng
- Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di
sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản
Những hành vi nói trên nếu do người thừa kế thực hiện nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản thì người thừa kế đó không có quyền hưởng di sản do người chết để lại
Trang 32Mặc dù những người thừa kế không có quyền hưởng di sản khi thực hiện những hành vi vi phạm đạo đức và pháp luật như vậy Tuy nhiên, nếu người để lại di sản đã biết hành vi của họ nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo
di chúc thì những người này vẫn được hưởng di sản [24, khoản 2, Điều 621]
Quy định về những người không có quyền hưởng di sản không chỉ là phương thức đảm bảo ý chí của người để lại di sản trước khi chết mà còn là cách để bảo vệ quyền lợi của những người thừa kế khác
* Người từ chối nhận di sản
Một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật thừa kế là phải tôn trọng ý chí của các chủ thể tham gia quan hệ thừa kế, trong đó có ý chí của người thừa kế Khi người thừa kế từ chối nhận di sản thừa kế, họ đã tự từ bỏ quyền thừa kế của mình Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp người thừa
kế từ chối nhận di sản đều được pháp luật công nhận
Tại Điều 620 BLDS năm 2015 quy định về từ chối nhận di sản như sau:
- Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác
- Việc từ chối nhận di sản phải được lập thành văn bản và gửi đến người quản lý di sản, những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản để biết
- Việc từ chối nhận di sản phải được thể hiện trước thời điểm phân chia di sản
Theo đó, cá nhân có thể từ chối nhận di sản do người khác để lại Tuy nhiên, nếu vì trốn tránh thực hiện nghĩa vụ tài sản như: nghĩa vụ trả nợ, nghĩa
vụ bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ nộp thuế, nghĩa vụ cấp dưỡng… thì cá nhân
đó không được phép từ chối
Quy định của BLDS năm 2015 về từ chối nhận thừa kế có hai điểm khác biệt so với quy định của BLDS năm 2005, như sau:
Trang 33Thứ nhất, về việc thông báo việc từ chối nhận di sản cho những người
khác có liên quan
Theo quy định tại BLDS năm 2005, người từ chối nhận di sản có trách nhiệm thông báo cho những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản, cơ quan công chứng hoặc UBND xã, phường, thị trấn nơi có địa điểm mở thừa kế về việc từ chối nhận di sản [17, khoản 2, Điều 642], nhưng lại không quy định về hình thức thông báo Người từ chối có thể thông báo bằng văn bản hoặc chỉ bằng miệng Mà hình thức thông báo bằng miệng
sẽ không có giá trị pháp lý bằng văn bản Người từ chối nhận di sản hoàn toàn
có thể phủ nhận việc mình đã từ chối nhận di sản trước đó
Khắc phục tình trạng trên, BLDS năm 2015 đã quy định cụ thể hình thức thông báo từ chối nhận di sản Việc từ chối nhận di sản phải được lập thành văn bản và gửi đến người quản lý di sản, những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản để biết
Thứ hai, về thời hạn từ chối nhận di sản
Theo tinh thần của Điều 620 BLDS năm 2015, việc từ chối nhận di sản được coi là một quyền năng của người được hưởng thừa kế Tuy nhiên, quyền năng này phải được người thừa kế thực hiện trước thời điểm phân chia di sản
Trước đây, việc người thừa kế thực hiện quyền năng trên chỉ được pháp luật chấp nhận trong sáu tháng kể từ ngày mở thừa kế [17, khoản 3, Điều 642]; nếu quá thời hạn đó, người được hưởng di sản mới bày tỏ ý kiến về việc từ chối nhận di sản thì việc từ chối không được pháp luật chấp nhận và người đó buộc phải chấp nhận quyền hưởng thừa kế di sản
Thực tiễn giải quyết tranh chấp về thừa kế, rất ít trường hợp người thừa kế từ chối nhận di sản trong thời hạn sáu tháng kể từ ngày mở thừa kế Người Việt Nam thường có tâm lý ngại, e dè khi nhắc đến việc phân chia di sản khi có người trong gia đình chết Do đó, không ít các trường hợp, sau khi người để lại di sản chết vài năm, việc phân chia di sản mới được đặt ra Khi
Trang 34đó, tranh chấp về thừa kế mới nảy sinh, các bên đương sự yêu cầu Tòa án giải quyết Nhiều người trong số các đương sự này vì không muốn tham gia vào
vụ việc tranh chấp hoặc vì các lý do khác đã không muốn nhận di sản thừa kế
và lúc này họ mới có ý định từ chối nhận di sản Những người này làm đơn xin Tòa án trình bày nguyện vọng từ chối nhận di sản Trường hợp Tòa án chấp nhận thì sẽ vi phạm quy định về thời hạn từ chối di sản quy định tại Điều 642 BLDS năm 2005 Nếu Tòa án không cho họ thực hiện quyền năng này, rõ ràng ý chí định đoạt quyền năng của họ đã không được đảm bảo
Về bản chất, quyền thừa kế đối với một khối di sản nhất định là một quyền tài sản Người có quyền năng này cũng chính là chủ sở hữu của khối tài sản đó Theo quy định tại Điều 194 BLDS năm 2015 thì chủ sở hữu có toàn quyền định đoạt số phận pháp lý của tài sản thuộc sở hữu của mình, tức
là có quyền chuyển nhượng, tặng cho hoặc thậm chí từ bỏ quyền sở hữu của mình [24, Điều 194] Người thừa kế khi từ chối nhận di sản cũng là lúc họ từ
bỏ quyền năng thừa kế của mình, nên đương nhiên họ không được tham gia vào việc thỏa thuận phân chia di sản thừa kế
Khi nghiên cứu về thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, các quy định của pháp luật được phân tích nêu trên là những căn cứ pháp lý giúp chúng ta khoanh vùng phạm vi những người có quyền thỏa thuận và những người không có quyền thỏa thuận phân chia di sản thừa kế Từ đó, việc thỏa thuận phân chia di sản sẽ được thực hiện một cách có hiệu quả, quyền và lợi ích hợp pháp của những người thừa kế được bảo hộ
1.2.1.4 Trường hợp phát sinh người thừa kế mới
Người thừa kế mới được hiểu là người thừa kế của người để lại di sản xuất hiện sau khi di sản đã được phân chia, bao gồm:
- Con của người để lại di sản sinh ra và còn sống sau thời điểm di sản thừa kế được phân chia (trường hợp sinh đôi, sinh ba nhưng thời điểm phân chia di sản chỉ xác định thai một)
Trang 35- Người được Tòa án xác nhận là con hoặc cha, mẹ của người để lại di
sản nhưng quyết định hoặc bản án của Tòa án có hiệu lực sau thời điểm phân chia di sản
- Con hoặc cha, mẹ của người để lại di sản đã bị Tòa án tuyên bố là đã chết trước thời điểm người để lại chết nhưng có tin tức xác thực là còn sống hoặc đã trở về sau thời điểm phân chia di sản
Nếu di sản được chia cho hàng thừa kế thứ hai hoặc thứ ba, thì người thừa kế mới ở các hàng thừa kế này cũng được xác định tương tự như trên
Khoản 1 Điều 662 BLDS năm 2015 quy định về phân chia di sản trong trường hợp có người thừa kế mới như sau:
Trường hợp đã phân chia di sản mà xuất hiện người thừa kế mới thì không thực hiện việc phân chia lại di sản bằng hiện vật, nhưng những người thừa kế đã nhận di sản phải thanh toán cho người thừa kế mới một khoản tiền tương ứng với phần di sản của người đó tại thời điểm chia thừa kế theo tỷ lệ tương ứng với phần di sản đã nhận, trừ trường hợp có thỏa thuận khác [24, khoản 1, Điều 662] Quy định trên tạo thuận lợi cho việc phân chia di sản thừa kế trong trường hợp xuất hiện người thừa kế mới sau thời điểm phân chia di sản Trên thực tế có rất nhiều trường hợp, các hiện vật đã phân chia cho người thừa kế, nếu yêu cầu chia lại sẽ rất phức tạp và khó thực hiện Việc thỏa thuận giữa người thừa kế mới và những người thừa kế khác sẽ được ghi thành văn bản theo các căn cứ và nguyên tắc luật định
1.2.2 Mục đích, nội dung của thỏa thuận phân chia di sản thừa kế
Để thỏa thuận phân chia di sản thừa kế có hiệu lực, thỏa thuận đó phải đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của một giao dịch dân sự thông thường, trong đó có điều kiện về nội dung và mục đích là: Mục đích và nội dung không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội
Trang 36- Điều cấm của luật là những quy định không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định
- Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng
1.2.2.1 Mục đích
Mục đích của giao dịch dân sự nói chung là lợi ích mà chủ thể mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch đó Lợi ích ở đây có thể là lợi ích về tinh thần hoặc lợi ích về vật chất
Trong thỏa thuận phân chia di sản, những người tham gia thỏa thuận đều hướng tới mục đích chung đó là xác lập quyền sở hữu của họ đối với di sản thừa kế mà người chết để lại Mục đích của thỏa thuận được thể hiện qua các điều khoản cụ thể của văn bản thỏa thuận hay nói cách khác được biểu hiện thông qua chính nội dung của thỏa thuận phân chia di sản thừa kế
1.2.2.2 Nội dung
Nội dung của văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế là tổng hợp những điều khoản mà những người thừa kế đưa ra và thỏa thuận với nhau Các điều khoản này xác định quyền và nghĩa vụ cụ thể của các chủ thể tham gia thỏa thuận, đồng thời xác định trách nhiệm dân sự của họ trong trường hợp các chủ thể không thực hiện hoặc thực hiện không đúng với cam kết
Nhìn chung, một văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế sẽ có những nội dung cơ bản sau đây:
Thứ nhất, thông tin về những người thỏa thuận là những người thừa kế
của người để lại di sản: họ, chữ đệm, tên; ngày, tháng, năm sinh; giấy tờ tùy thân (chứng minh nhân dân, căn cước công dân, hộ chiếu …); nơi cư trú (thường trú hoặc tạm trú)
Thứ hai, thông tin về người để lại di sản: Họ, chữ đệm, tên; ngày,
tháng, năm sinh; ngày, tháng, năm chết (căn cứ vào trích lục khai tử do cơ
Trang 37quan có thẩm quyền cấp); thông tin về nơi cư trú cuối cùng (Thường trú hoặc tạm trú)
Thứ ba, thông tin về di sản Trong trường hợp di sản là quyền sử dụng
đất hay các tài sản phải đăng ký quyền sở hữu thì phải có thông tin về giấy tờ chứng minh quyền sử dụng, quyền sở hữu của người chết đối với di sản đó
Thứ tư, thông tin về quan hệ thừa kế giữa người để lại di sản và những
người thừa kế (ghi rõ người thừa kế thuộc hàng thừa kế nào)
Thứ năm, nội dung thỏa thuận: Nội dung xoay quanh việc những
người thừa kế đồng ý nhận di sản hoặc tặng cho người thừa kế khác … trong
đó có thỏa thuận rõ về kỷ phần mà mỗi người được nhận và quyền, nghĩa vụ
cụ thể của người được hưởng di sản
Thứ sáu, cam kết của những người tham gia thỏa thuận
Thứ bảy, chữ ký hoặc điểm chỉ của những người tham gia thỏa thuận Thứ tám, lời chứng của người thực hiện chứng thực hoặc công
chứng viên
1.2.3 Hình thức thỏa thuận phân chia di sản thừa kế
Khoản 2 Điều 656 BLDS năm 2015 quy định về hình thức của mọi thỏa thuận giữa những người thừa kế nói chung: "Mọi thỏa thuận của những người thừa kế phải được lập thành văn bản" [24, khoản 2, Điều 656] Khác với các hợp đồng khác có thể được thiết lập dưới hình thức bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể [24, khoản 1, Điều 119], thỏa thuận phân chia di sản thừa kế phải được lập bằng văn bản
Pháp luật dân sự Việt Nam không quy định bắt buộc phải công chứng, chứng thực văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế Nhưng trên thực tế, đối với tài sản là quyền sử dụng đất hay các tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì việc công chứng, chứng thực văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế các tài sản này là bắt buộc để đảm bảo tính hợp pháp, có hiệu lực của văn bản thỏa thuận
Trang 381.2.4 Hậu quả pháp lý trong trường hợp vi phạm các điều kiện có hiệu lực của thỏa thuận phân chia di sản thừa kế
Thỏa thuận phân chia di sản thừa kế là hợp đồng dân sự giữa những người thừa kế với nhau, do đó, trong trường hợp vi phạm một trong các điều kiện có hiệu lực của thỏa thuận như đã phân tích ở trên thì thỏa thuận phân chia di sản thừa kế sẽ vô hiệu một phần hoặc toàn bộ, dẫn đến những hậu quả pháp lý sau:
- Thỏa thuận phân chia di sản thừa kế vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm thỏa thuận được xác lập;
- Khi thỏa thuận phân chia di sản thừa kế vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả;
- Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó;
- Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường
Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định một số trường hợp vô hiệu của giao dịch dân sự nói chung và thỏa thuận phân chia di sản thừa kế nói riêng (từ Điều 123 đến Điều 129):
- Thỏa thuận phân chia di sản thừa kế vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội;
- Thỏa thuận phân chia di sản thừa kế vô hiệu do giả tạo;
- Thỏa thuận phân chia di sản thừa kế vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện;
- Thỏa thuận phân chia di sản thừa kế vô hiệu do bị nhầm lẫn;
- Thỏa thuận phân chia di sản thừa kế vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép;
Trang 39- Thỏa thuận phân chia di sản thừa kế vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình;
- Thỏa thuận phân chia di sản thừa kế vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức
1.3 Một số vấn đề pháp lý khác
1.3.1 Đối tượng của thỏa thuận phân chia di sản thừa kế
Đối tượng của thỏa thuận phân chia di sản thừa kế chính là khối tài sản thuộc quyền sở hữu của người chết để lại Để xác định tài sản có phải di sản thừa kế hay không thì cần chứng minh quyền sở hữu của người chết đối với tài sản đó khi còn sống, thông qua các giấy tờ, tài liệu chứng minh quyền
sở hữu hoặc sử dụng hợp pháp đối với tài sản thuộc di sản thừa kế Theo đó,
di sản thừa kế có thể là tài sản riêng của người chết hoặc là tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác
1.3.1.1 Di sản thừa kế là tài sản thuộc sở hữu riêng của người chết
Thông qua quá trình lao động và sản xuất, con người đã tích lũy được cho mình một khối lượng tài sản nhất định và có quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản đó, còn được gọi là tài sản riêng của cá nhân Liên quan đến tài sản riêng của cá nhân, pháp luật điều chỉnh phổ biến nhất là xác định tài sản riêng của vợ, chồng
Tài sản riêng của vợ, chồng được xác định dựa trên những cơ sở sau đây:
Một là, tài sản riêng của vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn
Về nguyên tắc, tài sản được tạo lập trước khi kết hôn là tài sản riêng của vợ hoặc chồng Trường hợp có tranh chấp về tài sản riêng, người liên quan có nghĩa vụ chứng minh tài sản đó được tạo lập trước khi kết hôn Việc chứng minh này trở nên đơn giản nhất khi tài sản sau khi hai bên kết hôn vẫn giữ nguyên tình trạng như trước khi kết hôn Tuy nhiên, rất ít trường hợp tài
Trang 40sản vẫn giữ nguyên được tình trạng như vậy, ví dụ: anh A có tài sản riêng
trước hôn nhân là ngôi nhà X Sau khi kết hôn, anh A quyết định sửa chữa lại căn nhà Như vậy, đã có sự thay đổi tình trạng ngôi nhà trong thời kỳ hôn nhân Trường hợp này, để tránh tranh chấp về sau, cần có văn bản thỏa thuận tài sản riêng hoặc cam kết tài sản riêng của vợ hoặc chồng
Hai là, tài sản riêng của vợ, chồng là tài sản được thừa kế riêng, được
tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân
Xuất phát từ quan hệ huyết thống, hôn nhân hoặc nuôi dưỡng, vợ hoặc chồng có thể được hưởng thừa kế phần di sản của người chết là thành viên trong gia đình mình (đối với quan hệ hôn nhân, vợ hoặc chồng có thể nhận thừa kế di sản của người chồng hoặc người vợ đã chết trước đó) Khi đó, tài sản được thừa kế riêng được xác định là tài sản riêng của vợ hoặc chồng
Trường hợp được tặng cho riêng, đây là một dạng giao dịch dân sự không có đền bù nên không xét đến công sức đóng góp của vợ hoặc chồng đối với tài sản đó
Ba là, tài sản riêng của vợ hoặc chồng khi chia tài sản chung trong
thời kỳ hôn nhân
Việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân có thể do vợ chồng tự thỏa thuận bằng văn bản hoặc nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết [22, Điều 38] Việc này không làm thay đổi mối quan