Trong quá trình ôn thi THPT quốc gia môn lịch sử lớp 12, nội dung kiến thức lịch sử thế giới đặc biệt là vấn đề các nước tư bản Mĩ, Tây Âu, Nhật Bản từ 1945 đến 2000 thuộc chương IV: Mĩ, Tây Âu, Nhật Bản (1945 2000) là một vấn đề lịch sử khá dài và khá khó để học sinh có thể tiếp thu và hiểu sâu. Đây là phần nội dung kiến thức rất quan trọng trong chương trình lịch sử thế giới vì qua đây học sinh có thể thấy được tình hình các nước tư bản sau chiến tranh thế giới thứ hai ảnh hưởng mạnh mẽ đến quan hệ quốc tế giai đoạn này như thế nào. Vì vậy trên cơ sở nội dung chính của các bài thuộc chương IV, phần lịch sử thế giới hiện đại (1945 2000), tôi xin mạnh dạn đưa ra một vài ý kiến của mình để trao đổi bàn bạc về việc giảng dạy và ôn tập cho học sinh thi THPT quốc gia môn lịch sử nội dung : sự phát triển kinh tế và chính sách đối ngoại của các nước Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản (1945 2000) nhằm góp phần giúp các em ôn tập tốt nội dung kiến thức này phục vụ thiết thực, hiệu quả cho kì thi THPTQG.
Trang 1SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI
CỦA MĨ, TÂY ÂU, NHẬT BẢN (1945 - 2000)
Đối tượng bồi dưỡng: học sinh lớp 12
Số tiết dự kiến: 03 tiết
Năm học:………….
THPT ĐC
Trang 2SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI
CỦA MĨ, TÂY ÂU, NHẬT BẢN (1945 - 2000)
Vì vậy trên cơ sở nội dung chính của các bài thuộc chương IV, phần lịch
sử thế giới hiện đại (1945 - 2000), tôi xin mạnh dạn đưa ra một vài ý kiến củamình để trao đổi bàn bạc về việc giảng dạy và ôn tập cho học sinh thi THPTquốc gia môn lịch sử nội dung : sự phát triển kinh tế và chính sách đối ngoạicủa các nước Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản (1945 - 2000) nhằm góp phần giúp các em
ôn tập tốt nội dung kiến thức này phục vụ thiết thực, hiệu quả cho kì thiTHPTQG
2 Bố cục chuyên đề
A Mục tiêu của chuyên đề
B Nội dung kiến thức trọng tâm cung cấp cho học sinh
C Hệ thống các phương pháp cơ bản, đặc trưng để trả lời các câu hỏi trongchuyên đề
D Câu hỏi, bài tập vận dụng củng cố kiến thức
E Bài tập tự giải
A MỤC TIÊU CHUYÊN ĐỀ
Trang 31 Kiến thức
- Trình bày được quá trình phát triển về kinh tế của các nước: Mĩ, Tây Âu,Nhật Bản từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến năm 2000, giải thích đượcnguyên nhân dẫn đến sự phát triển đó
- Trình bày được quá trình hình thành và phát triển của Liên minh châu Âu(EU)
- Nêu được những nét nổi bật trong chính sách đối ngoại của Mĩ, Tây Âu,Nhật Bản từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến năm 2000, đánh giá tác độngcủa chính sách đó đối với thế giới
- Phân biệt được các loại hình tổ chức quốc tế: tổ chức liên minh quân sự, tổchức liên kết chính trị – kinh tế, tổ chức đa phương mang tính đại diện toàn cầu
- Hiểu được giữa nước ta và nhiều nước tư bản chủ nghĩa có những liên hệtrong lịch sử
- Khâm phục khả năng sáng tạo và ý thức tự cường của người Nhật, từ đó ýthức trong học tập và cuộc sống
-Tự hào về thắng lợi của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu
nước, bồi dưỡng ý thức trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với công cuộc hiện đạihoá đất nước
Trang 4Năng lực chung: Năng lực tự học, năng lực phát hiện và giải quyết
vấn đề, năng lực sáng tạo
Năng lực chuyên biệt:
- Năng lực tổng hợp, liên hệ, xâu chuỗi các sự kiện lịch sử
- Năng lực phân tích, so sánh, rút ra ý nghĩa, bài học kinh nghiệm
B NỘI DUNG KIẾN THỨC TRỌNG TÂM I.Về kinh tế
1 Nước Mĩ ( 1945 - 2000)
* Giai đoạn 1945-1973: phát triển mạnh mẽ
- Trong khoảng nửa sau những năm 40, sản lượng Công nghiệp Mĩ chiếmhơn 50% sản lượng công nghiệp toàn thế giới ( Năm 1948 là hơn 56%)
- Năm 1949, sản lượng nông nghiệp Mĩ bằng 2 lần sản lượng của cácnước Anh, Pháp, Cộng hòa liên bang Đức, Italia và Nhật Bản cộng lại
- Mĩ chiếm hơn 50% tàu bè đi lại trên mặt biển, ¾ dự trữ vàng thế giới
- Nền kinh tế Mĩ chiếm gần 40% tổng sản phẩm kinh tế thế giới
-> Khoảng 20 năm sau chiến tranh, Mĩ trở thành trung tâm kinh tế - tài chínhlớn nhất thế giới
Nguyên nhân của sự phát triển kinh tế:
- Lãnh thổ Mĩ rộng lớn, tài nguyên thiên nhiên phong phú, nguồn nhânlực dồi dào, trình độ kĩ thuật cao, năng động, sáng tạo
- Mĩ tham gia chiến tranh thế giới thứ hai muộn hơn, tổn thất ít hơn so vớinhiều nước khác Mĩ lợi dụng chiến tranh để làm giàu, thu lợi nhuận từ buôn bán
vũ khí và phương tiện chiến tranh
- Mĩ áp dụng những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật hiệnđại để nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm, điều chỉnh hợp lí cơcấu sản xuất
- Các tổ hợp công nghiệp – quân sự , các công ti, tập đoàn tư bản lũngđoạn Mĩ có sức sản xuất, cạnh tranh lớn và có hiệu quả ở trong và ngoài nước
Trang 5- Các chính sách và biện pháp điều tiết của nhà nước có vai trò quan trọngthúc đẩy kinh tế Mĩ phát triển.
- Trong suốt thập kỉ 90, kinh tế Mĩ phát triển xen kẽ những đợt suy thoái
ngắn, nhưng Mĩ vẫn đứng đầu thế giới
- GDP của Mĩ năm 2000 là 9.765 tỉ USD, GDP bình quân đầu người là34.600 USD Nước Mĩ tạo ra 25% giá trị tổng sản phẩm của toàn thế giới và cóvai trò chi phối trong hầu hết các tổ chức kinh tế - tài chính quốc tế như WTO,WB…
2 Các nước Tây Âu ( 1945 - 2000)
* Từ 1945 đến 1973
- Sau chiến tranh thế giới thứ hai, các nước Tây Âu phải gánh chịu hậuquả nặng nề : Nhiều thành phố, nhà máy, bến cảng, khu công nghiệp, đườnggiao thông bị tàn phá Hàng triệu người chết, mất tích hoặc bị tàn phế.Ở Phápnăm 1945 sản xuất công nghiệp chỉ bằng 38% và nông nghiệp chỉ bằng 50% sovới năm 1938 Italia tổn thất khoảng 1/3 tài sản quốc gia…
- Với sự nỗ lực của từng nước và viện trợ của Mĩ thông qua “Kế hoạch
Mácsan” đến năm 1950, kinh tế Tây Âu cơ bản được phục hồi, đạt mức trước
chiến tranh
- Từ những năm 50 đến đầu những năm 70, kinh tế các nước Tây Âu có
sự phát triển nhanh: Tốc độ tăng trưởng bình quân của kinh tế Pháp giai đoạnnày là 5% Đến đầu thập niên 70, Pháp trở thành cường quốc công nghiệp thứ
Trang 6năm trên thế giới, đứng đầu châu Âu về sản xuất và xuất khẩu các sản phảmnông nghiệp; CHLB Đức có nền kinh tế ở vị trí thứ ba (sau Mĩ, Nhật Bản); Anh
có nền công nghiệp đứng thứ tư trong thế giới tư bản
- Quá trình liên kết khu vực ở Tây Âu diễn ra mạnh mẽ với sự hình thànhCộng đồng kinh tế châu Âu (EEC) năm 1957 và Cộng đồng châu Âu (EC) năm1967
-> Từ đầu thập kỉ 70-XX trở đi, Tây Âu là một trong ba trung tâm kinh tế
- tài chính lớn của thế giới (cùng với Mĩ và Nhật Bản)
Nguyên nhân của sự phát triển:
- Các nước này đã áp dụng những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học
kĩ thuật hiện đại để tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng, hạ giá thànhsản phẩm
- Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong quản lí, điều tiết nền kinh tế
- Các nước tư bản Tây Âu biết tận dụng các cơ hội từ bên ngoài để pháttriển như nguồn viện trợ của Mĩ, tranh thủ được giá nguyên liệu rẻ từ các nướcthuộc thế giới thứ ba, hợp tác có hiệu quả trong khuôn khổ cộng đồng châuÂu…
* Từ 1973 đến 2000
- Do tác động của cuộc khủng hoảng năng lượng thế giới, từ năm 1973,nhiều nước tư bản Tây Âu lâm vào suy thoái, khủng hoảng, hoặc phát triểnkhông ổn định kéo dài đến đầu thập kỉ 90 Ở Pháp: từ năm 1973-1992, tốc độtăng trưởng kinh tế trung bình hằng năm giảm còn 2,4 đến 2,2% Kinh tế Anhtăng trưởng âm năm 1991, số người thất nghiệp ở Đức khoảng 3 triệu người…
- Tuy vẫn là một trong ba trung tâm kinh tế - tài chính lớn của thế giới,nhưng kinh tế Tây Âu gặp không ít khó khăn: suy thoái, khủng hoảng, lạm phát
và thất nghiệp Quá trình liên hợp hóa trong khuôn khổ Cộng đồng châu Âu(EU) vẫn còn nhiều khó khăn trở ngại
Trang 7- Đầu thập kỉ 90, nền kinh tế Tây Âu đã trải qua một đợt suy thoái ngắn.Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Anh năm 1991 là -1,8%; của Italia là -0,9% vàCHLB Đức là -1,6%.
- Từ năm 1994, kinh tế phục hồi và phát triển trở lại, Tây Âu vẫn là mộttrong ba trung tâm kinh tế - tài chính của thế giới Đến giữa thập kỉ 90 chỉ riêng
15 nước thành viên EU đã có số dân tổng cộng là 375 triệu người, GDP hơn
7000 tỉ USD, chiếm khoảng 1/3 tổng sản phẩm công nghiệp của thế giới
*Liên minh châu Âu (EU)
- Muốn hạn chế ảnh hưởng của Mĩ với Tây Âu
+ Quá trình hình thành và phát triển:
- Ngày 18/ 4/1951, sáu nước Tây Âu (Pháp, Cộng hòa liên bang Đức, Bỉ,Italia, Hà Lan, Lúcxămbua ) đã thành lập “Cộng đồng than - thép châu Âu”.Ngày 25/3/1957, sáu nước này kí hiệp ước Rôma, thành lập “Cộng đồng nănglượng nguyên tử châu Âu” và “Cộng đồng kinh tế châu Âu”(EEC) Ngày 1/7/1967, ba tổ chức trên hợp lại thành “Cộng đồng châu Âu” (EC)
- Ngày 7-12-1991, các nước thành viên EC kí Hiệp ước Maxtrích có hiệulực từ ngày 1/1/1993, đổi tên thành Liên minh châu Âu (EU) với 15 nước thànhviên
- Tháng 6-1979, diễn ra cuộc bầu cử Nghị viện Châu Âu đầu tiên
- Tháng 3-1995: bảy nước EU huỷ bỏ sự kiểm soát đi lại của công dân cácnước này qua biên giới của nhau
- Ngày 1-1-1999 đồng tiền chung châu Âu với tên gọi là đồng EUROđược ban hành và ngày 1-1-2002, chính thức được sử dụng ở nhiều nước EU
Trang 8- Từ 6 nước thành viên, đến năm 2007, EU đã nâng số nước thành viênlên đến 27 nước.
+ Vai trò :
Như vậy đến cuối thập kỉ 90, liên minh châu Âu (EU) đã trở thành tổchức liên kết chính trị - kinh tế lớn nhất hành tinh, chiếm hơn ¼ DGP của thếgiới
+ Năm 1990, quan hệ EU – Việt Nam chính thức được thiết lập, mở ra một thời
kì phát triển mới trên cơ sở hợp tác toàn diện giữa hai bên
3 Nhật Bản (1945 - 2000)
* Từ 1945 đến 1952
- Nước Nhật bại trận trong chiến tranh thế giới thứ hai, phải gánh chịunhiều hậu quả nặng nề do chiến tranh để lại: khoảng 3 triệu người chết và mấttích, 40% đô thị, 80% tàu bè, 34% máy móc công nghiệp bị phá huỷ, 13 triệungười bị thất nghiệp, thảm hoạ đói rét đe doạ toàn nước Nhật,…
- Bộ chỉ huy tối cao lực lượng đồng minh (SCAP) tiến hành ba cuộc cảicách lớn: một là, thủ tiêu chế độ tập trung kinh tế, trước hết là giải tán các
“Daibatxư”; hai là tiến hành cải cách ruộng đất; ba là dân chủ hoá lao động( thông qua việc thực hiện các đạo luật về lao động)
-> Dựa vào nỗ lực của bản thân và viện trợ của Mĩ, đến khoảng năm 1950
– 1951, kinh tế Nhật Bản đã được phục hồi và đạt mức trước chiến tranh
* Từ 1952 đến 1973
- Từ năm 1952-1960 kinh tế Nhật Bản phát triển nhanh chóng
Trang 9- Từ năm 1960-1973, kinh tế Nhật bản bước vào giai đoạn phát triển
“thần kì”: từ 1960-1969 tốc độ trưởng bình quân hàng năm là 10,8%; năm 1968,
kinh tế Nhật Bản đã vượt Anh, Pháp, Cộng hoà liên bang Đức, vươn lên đứng thứhai (sau Mĩ) trong thế giới tư bản Từ năm 1970-1973, tuy có giảm đi nhưng vẫnđạt bình quân 7,8%
=> Đầu những năm 70 trở đi, Nhật trở thành một trong ba trung tâm kinh tế
- tài chính lớn của thế giới( cùng với Mĩ và Tây Âu)
+ Nguyên nhân phát triển:
- Con người được coi là vốn quý nhất, là nhân tố phát triển hàng đầu
- Vai trò quản lí, lãnh đạo có hiệu quả của nhà nước
- Các công ti Nhật Bản năng động, có tầm nhìn xa, quản lí tốt nên có tiềmlực và sức cạnh tranh cao
- Áp dụng thành tựu khoa học kĩ thuật hiện đại để nâng cao năng suất,chất lượng, hạ giá thành sản phẩm
- Chi phí cho quốc phòng thấp (không vượt quá 1% GDP) nên có điềukiện tập trung vốn cho nền kinh tế
- Biết tận dụng tốt các yếu tố từ bên ngoài để phát triển như: tranh thủnguồn viện trợ của Mĩ, lợi dụng các cuộc chiến tranh ở Triều Tiên(1950-1953),Việt Nam(1954- 1975) để làm giàu
+ Hạn chế của kinh tế Nhật:
- Lãnh thổ Nhật Bản không rộng, tài nguyên khoáng sản nghèo nàn,thường xảy ra thiên tai ( động đất, sóng thần, ), nền công nghiệp hầu như phụthuộc vào các nguồn nguyên liệu và nhiên liệu nhập khẩu
- Cơ cấu vùng kinh tế của Nhật Bản thiếu cân đối, tập trung chủ yếu vào
ba trung tâm lớn là Tô-ki-ô, Ô-xa-ca và Na-gôi-a với số dân trên 60 triệu người,trong khi các vùng khác được đầu tư phát triển rất ít, giữa công nghiệp và nôngnghiệp có sự mất cân đối
Trang 10- Là một trong những trung tâm kinh tế - tài chính thế giới, Nhật Bản luôngặp sự cạnh tranh quyết liệt của Mĩ, Tây Âu, các nước công nghiệp mới (NICs),Trung Quốc,
- Cũng như kinh tế Mĩ, Nhật Bản không thể giải quyết được những mâuthuẫn cơ bản nằm ngay trong bản thân nền kinh tế tư bản chủ nghĩa
- Trong thập niên 90, mặc dù nền kinh tế suy thoái nhưng Nhật vẫn là một
trong 3 trung tâm kinh tế-tài chính lớn nhất thế giới Tỉ trọng của Nhật bản trongnền sản xuất thế giới là 1/10 GDP của Nhật năm 2000 là 4746 tỉ USD, thu nhậpbình quân đầu người là 37 408 USD
II Chính sách đối ngoại :
1 Nước Mĩ (1945- 2000)
a Thời kì 1945 – 1991
- Do có tiềm lực kinh tế và quân sự to lớn, từ sau chiến tranh thế giới thứ
2, Mĩ triển khai “chiến lược toàn cầu” với tham vọng làm bá chủ thế giới.
Chiến lược toàn cầu được tuyên bố công khai trong diễn văn của Tổng thống H.Truman đọc trước Quốc hội Mĩ (3-1947), coi chủ nghĩa cộng sản là một nguy cơ
và Mĩ có “sứ mệnh lãnh đạo thế giới tự do” chống lại nguy cơ đó
- Chiến lược toàn cầu được triển khai qua nhiều chiến lược cụ thể, dướitên gọi các học thuyết khác nhau như: Học thuyết Tru-man và chiến lược Ngănchặn, Học thuyết Ai-xen-hao và chiến lược Trả đũa ồ ạt, Học thuyết Ken-nơ-đi
và chiến lược Phản ứng linh hoạt, Học thuyết Ních-xơn và chiến lược Ngăn đethực tế, nhưng đều nhằm 3 mục tiêu chủ yếu:
+ Ngăn chặn, đẩy lùi và tiến tới xóa bỏ CNXH trên phạm vi toàn thế giới
Trang 11+ Đàn áp phong trào giải phóng dân tộc, phong trào cộng sản và côngnhân quốc tế, phong trào chống chiến tranh vì hoà bình, dân chủ thế giới.
+ Khống chế, chi phối các nước tư bản đồng minh phụ thuộc vào Mĩ
- Để thực hiện các mục tiêu trên, chính sách cơ bản của Mĩ là dựa vào sức
mạnh quân sự và kinh tế: Mĩ đã khởi xướng chiến tranh lạnh, trực tiếp gây rahoặc tiếp tay cho nhiều cuộc chiến tranh và bạo loạn, lật đổ ở nhiều nơi trên thếgiới, tiêu biểu là việc tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam( 1954 - 1975),dính líu vào các cuộc chiến tranh ở Trung Đông, thiết lập các căn cứ quân sự ởnhiều nơi trên thế giới…
- Năm 1972, Mĩ hòa hoãn với Liên Xô và quan hệ hoà dịu với TrungQuốc Năm 1979, Mĩ thiết lập quan hệ ngoại giao với Trung Quốc Mĩ thực hiệnsách lược hoà hoã với hai nước lớn này để chống lại phong trào đấu tranh cáchmạng của các dân tộc
- Sau khi thất bại ở Việt Nam ( 1975 ), các chính quyền Mĩ vẫn tiếp tụckhai triển chiến lược toàn cầu và theo đuổi chiến tranh lạnh Đặc biệt với họcthuyết Ri-gân và chiến lược đối đầu trực tiếp, Mĩ tăng cường chạy đua vũ trang,can thiệp vào các công việc quốc tế ở hầu hết các địa bàn chiến lược và điểm
- Từ giữa những năm 80 (thế kỉ XX), trong xu thế đối thoại và hoà hoãn,
Mĩ và Liên Xô chính thức tuyên bố chấm dứt Chiến tranh lạnh (12/1989) mở rathời kì mới trên chiến trường quốc tế
và điểm nóng trên thế giới; góp phần làm khủng hoảng và sụp đổ chế độ XHCN
Trang 12ở Liên Xô và Đông Âu(1989- 1991); giành chiến thắng trong cuộc chiến tranhvùng Vịnh chống Irắc ( 1990-1991)…
+ Thất bại: thất bại trong chiến tranh ở nhiều nơi: chiến tranh xâm lượcViệt Nam(1954- 1975); không đạt được mục tiêu tiêu diệt hoàn toàn chủ nghĩa
xã hội trên phạm vi toàn thế giới; không ngăn chặn được sự phát triển mạnh mẽ
và thắng lợi của phong trào giải phóng dân tộc
- Tác động của chính sách đối ngoại của Mĩ đối với quan hệ quốc tế thời kì
này:
+ Làm cho quan hệ đồng minh của Mĩ và Liên Xô trong chiến tranhchống phát xít bị phá vỡ, , từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nửa đầu nhữngnăm 70, Mĩ và Liên Xô chuyển sang thế đối đầu căng thẳng
+ Dẫn đến tình trạng chiến tranh lạnh giữa hai siêu cường Xô- Mĩ, sự đốiđầu Đông Tây…
b Thời kì sau Chiến tranh lạnh (1991 – 2000)
- Trong thập niên 90, chính quyền B Clintơn chuyển sang chiến lược
“cam kết và mở rộng” với 3 mục tiêu chính là:
+ Bảo đảm an ninh với lực lượng quân sự mạnh và sẵn sàng chiến đấu + Tăng cường khôi phục và phát triển tính năng động, sức mạnh của nềnkinh tế Mĩ
+ Sử dụng khẩu hiệu “dân chủ” như một công cụ can thiệp vào công việcnội bộ của các nước khác : Mĩ vẫn lãnh đạo và chi phối khôi quân sự NATO;cùng Liên hợp quốc và các cường quốc khác bảo trợ cho tiến trình hòa bình ởTrung Đông nhưng vẫn có sự thiên vị đối với I-xra-en; Mĩ ủng hộ việc kí kếthiệp ddonhj hòa bình Pa-ri về Cam- pu- chia(1991)
- Mĩ tìm cách chi phối và lãnh đạo thế giới, muốn thiết lập trật tự thế giới
“đơn cực” do Mĩ cầm đầu Nhưng trong tương quan lực lượng giữa các cường
quốc, Mĩ không dễ gì thực hiện được tham vọng đó
Trang 13- Vụ khủng bố 11/9/2001 cho thấy, chủ nghĩa khủng bố là yếu tố khiến
Mĩ phải thay đổi chính sách đối ngoại khi bước vào thế kỉ XXI
- Bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam ngày 11 - 7 - 1995
2 Tây Âu (1945- 2000):
a Từ 1945 đến 1991
- Sau chiến tranh thế giới thứ hai các nước Tây Âu liên minh chặt chẽ với
Mĩ, đồng thời tìm cách trở lại các thuộc địa cũ của mình: Pháp xâm lược ĐôngDương, Hà Lan trở lại Inđônêxia,…
- Nhiều nước Tây Âu gia nhập khối NATO do Mĩ đứng đầu, ủng hộ Mĩthành lập nước Cộng hòa Liên bang Đức Sự tồn tại hai Nhà nước Đức và sựchia đôi Béclin làm cho nước Đức trở thành tâm điểm đối đầu ở Châu Âu giữahai cực Xô-Mĩ
-> Như vậy, từ năm 1945 đến 1950, với sự viện trợ của Mĩ, các nước tư bản Tây
Âu cơ bản đã ổn định và phục hồi về mọi mặt, trở thành lực lượng đối trọng vớikhối XHCN Đông Âu mới hình thành
- Từ năm 1950-1973, nhiều nước tư bản Tây Âu một mặt liên minh chặt
chẽ với Mĩ Mặt khác tiến hành đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại
- Chính phủ một số nước Tây Âu đã ủng hộ cuộc chiến tranh xâm lượccủa Mĩ ở Việt Nam, ủng hộ Ixraen trong các cuộc chiến tranh chống các nước ARập Cộng hoà liên bang Đức đã gia nhập khối NATO trở thành trung tâm điểmquan trọng của Mĩ trong cuộc đối đầu với Liên Xô và phe XHCN Nhiều vùnglãnh thổ và hải cảng của Mĩ trở thành các căn cứ quân sự quan trọng của Mĩ
- Pháp, Thuỵ Điển, Phần Lan lại phản đối cuộc chiến tranh xâm lược của
Mĩ ở Việt nam Năm 1966, Pháp rút khỏi khối NATO
- Trong giai đoạn này, nhiều thuộc địa của các nước Anh, Pháp, Hà Lan
đã giành được độc lập mở ra thời kỳ phi thực dân hoá trên thế giới
- Tháng 11- 1972: hai nước Đức kí hiệp định về những cơ sở của quan hệgiữa Đông Đức và Tây Đức, theo đó hai nước cam kết tôn trọng chủ quyền và
Trang 14quyền tự quyết của nhau, không đe doạ và xâm phạm lẫn nhau Năm 1990, nướcĐức tái thống nhất.
- Năm 1975 Định ước Henxinki được kí kết về an ninh hợp tác châu Âu
- Năm 1991, các nước thành viên EC kí Hiệp ước Maxtrich đánh dấubước chuyển từ Cộng đồng châu Âu sang Liên minh châu Âu
b Từ 1991 đến 2000
- Chính sách đối ngoại của các nước này có sự điều chỉnh Quá trình liênkết của các thành viên EU trở nên chặt chẽ hơn Anh tiếp tục liên minh chặt chẽvới Mĩ, còn Pháp và Đức thì trở thành đối trọng với Mĩ trong nhiều vấn đề quốc
tế quan trọng
- Các nước Tây Âu mở rộng quan hệ với các nước đang phát triển ở châu
Á, châu Phi, Mĩ latinh, Đông Âu và SNG
3 Nhật Bản (1945- 2000)
a Từ 1945 đến 1991
- Nền tảng trong chính sách đối ngoại của Nhật Bản là liên minh chặt chẽvới Mĩ: kí kết Hiệp ước hòa bình Xan Phranxixcô (8/9/1951) và Hiệp ước an
ninh Mĩ – Nhật (8/9/1951) Theo đó, Nhật chấp nhận đứng dưới “chiếc ô” bảo
hộ hạt nhân của Mĩ, để cho Mĩ chiếm đóng và xây dựng căn cứ quân sự trênlãnh thổ Nhật Bản
- Hiệp ước an ninh Mĩ - Nhật kí năm 1951 có giá trị trong 10 năm, sau đóđược kéo dài vĩnh viễn
- Năm 1956, Nhật Bản bình thường hoá quan hệ với Liên Xô và gia nhậpLiên hợp quốc
- Với sức mạnh kinh tế - tài chính ngày càng lớn, từ nửa sau những năm
70, Nhật Bản cố gắng đưa ra chính sách đối ngoại mới của mình thể hiện tronghọc thuyết Phucưđa và Kaiphu Sự ra đời của học thuyết Phucưđa (8-1977) đượccoi như là mốc đánh đấu sự “trở về” châu Á của Nhật Bản, trong khi vẫn coitrọng quan hệ Nhật - Mĩ, Nhật - Tây Âu Học thuyết Phucưđa có nội dung chính
là củng cố mối quan hệ với các nước Đông Nam Á trong các lĩnh vực kinh tế,