Tạp chí Sáng tạo tháng 12/1957 đăng bài viết “Nguyễn Du trên những nẻo đường tự do” của Nguyên Sa trong khảo luận lấy tên là Trần Bích Lan; những năm 1957 – 1958, tạp chí Đại học đăng
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
TRẦN QUỐC VIỆT
PHƯƠNG PHÁP PHÊ BÌNH VĂN HỌC TRONG SÁCH
KHẢO LUẬN “CHÂN DUNG NGUYỄN DU”
(Nhà in Nam Sơn, Sài Gòn, 1960)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM
Thái Nguyên – 2019
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
TRẦN QUỐC VIỆT
PHƯƠNG PHÁP PHÊ BÌNH VĂN HỌC TRONG SÁCH
KHẢO LUẬN “CHÂN DUNG NGUYỄN DU”
(Nhà in Nam Sơn, Sài Gòn, 1960)
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 8220121
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS TRẦN NHO THÌN
Thái Nguyên – 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trích dẫn đều có nguồn gốc rõ ràng Các kết quả nghiên cứu trong luận văn đều trung thực và chưa từng được công bố ở bất kỳ công trình nào khác
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2019
Tác giả luận văn
Trần Quốc Việt
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn thạc sĩ này, tác giả xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Khoa Sau đại học, Khoa Báo chí – Truyền thông và Văn học Trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên và các Thầy, Cô giáo đã trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ trong suốt quá trình học tập
Đặc biệt, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giảng viên
hướng dẫn GS TS Trần Nho Thìn đã luôn tận tình hướng dẫn, chỉ bảo trong
suốt thời gian tác giả nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân, bạn bè và đã giúp đỡ, động viên, tạo điều kiện để tác giả hoàn thành luận văn
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2019
Tác giả luận văn
Trần Quốc Việt
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.1 Từ những chuyển biến của quá trình tiếp nhận Truyện Kiều đến tuyển tập Chân dung Nguyễn Du 1
1.2 Những cơ sở định hướng 5
2 Đối tượng nghiên cứu và mục tiêu nghiên cứu 8
3 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu 8
4 Phạm vi nghiên cứu 11
5 Cấu trúc của luận văn 11
6 Đóng góp của luận văn 11
NỘI DUNG 13
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 13
1.1 Nhìn qua lịch sử nghiên cứu phê bình Truyện Kiều trước 1954 13
1.2 Phê bình Truyện Kiều trong bối cảnh lịch sử, văn hóa, văn học ở hai miền giai đoạn từ 1954 đến 1975 19
1.2.1 Phê bình Truyện Kiều ở miền Bắc giai đoạn 1954 - 1975 19
1.2.2 Phê bình Truyện Kiều ở miền Nam giai đoạn 1954 - 1975 23
TIỂU KẾT CHƯƠNG I 31
CHƯƠNG 2: PHÊ BÌNH TRUYỆN KIỀU TỪ LÝ THUYẾT CHỦ NGHĨA HIỆN SINH VÀ CHỦ NGHĨA CẤU TRÚC TRONG KHẢO LUẬN CHÂN DUNG NGUYỄN DU 32
2.1 Khái quát lý thuyết chủ nghĩa hiện sinh và chủ nghĩa cấu trúc 32
2.1.1 Chủ nghĩa hiện sinh 32
Trang 62.1.2 Chủ nghĩa cấu trúc 34
2.2 Vận dụng lý thuyết chủ nghĩa hiện sinh và chủ nghĩa cấu trúc vào phê bình Truyện Kiều 35
2.2.1 Kết hợp các nền tảng lý thuyết vào phê bình Truyện Kiều 35
2.2.2 Vận dụng lý thuyết chủ nghĩa hiện sinh vào phê bình Truyện Kiều 44
2.2.3 Vận dụng lý thuyết chủ nghĩa cấu trúc vào phê bình Truyện Kiều 51
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 55
CHƯƠNG 3: PHÊ BÌNH TRUYỆN KIỀU TỪ LÝ THUYẾT PHÂN TÂM HỌC VÀ NGÔN NGỮ VĂN CHƯƠNG TRONG CHÂN DUNG NGUYỄN DU 57
3.1 Khái quát lý thuyết phân tâm học và ngôn ngữ văn chương trong phê bình văn học ở miền Nam thời kỳ 1954 - 1975 57
3.1.1 Phân tâm học qua cái nhìn tổng quan đến cách tiếp cận của một số nhà phê bình tiêu biểu ở miền Nam trước 1975 57
3.1.2 Những vấn đề ngôn ngữ văn chương trong phê bình văn học 61
3.2 Vận dụng lý thuyết phân tâm học vào phê bình Truyện Kiều 63
3.3 Vận dụng một số vấn đề của ngôn ngữ văn chương vào phê bình Truyện Kiều 69
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 73
KẾT LUẬN 75
PHỤ LỤC 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Từ những chuyển biến của quá trình tiếp nhận Truyện Kiều đến tuyển tập Chân dung Nguyễn Du
Nhu cầu thưởng thức, tìm kiếm những giá trị tinh thần để đời sống tâm hồn ngày càng phong phú và sâu sắc hơn là nhu cầu tự thân trong cuộc sống, góp phần thúc đẩy tiến bộ xã hội Và trong đời sống văn học cũng vậy, nhà thơ Chế Lan Viên từng bày tỏ:
Trong câu Kiều xưa, ta tìm ra Nguyễn Du mà tìm cả chính mình
(Đọc Kiều, một ngày kia – Di cảo thơ II)
Sức sống của một tác phẩm nghệ thuật được nuôi dưỡng trong quá trình tiếp nhận của con người ở những môi trường lịch sử - xã hội – văn hóa khác
nhau Truyện Kiều từ lâu đã được coi là kiệt tác của văn học dân tộc do thi
hào Nguyễn Du sáng tạo nên Tác phẩm đã đi sâu vào đời sống văn hóa, tinh thần dân tộc, trong tâm thức của con người Việt Nam Truyện là tác phẩm đỉnh cao của truyện thơ Nôm, đạt tới trình độ nghệ thuật mẫu mực và sự đa dạng trong cách thể hiện về con người, về thời đại Tác phẩm kể về cuộc đời
một người con gái tài sắc vẹn toàn nhưng lại mang số kiếp hồng nhan đa
truân Ngay từ khi ra đời, Truyện Kiều của Nguyễn Du đã khẳng định được vị
thế của mình trong tâm hồn dân tộc Việt Nam, tạo thành dòng chảy nghiên
cứu phê bình sôi động trong đời sống văn học dân tộc Truyện Kiều từ trước
tới nay đã được nghiên cứu trên rất nhiều phương diện: khảo đính, chú giải, đi tìm điểm độc đáo của giá trị nội dung và nghệ thuật, dịch và giới thiệu ra nước ngoài Nhà nghiên cứu Trần Nho Thìn cho rằng: “Lịch sử tiếp nhận Truyện Kiều cho thấy mỗi thời đại, mỗi thế hệ lại tìm thấy ở tác phẩm này một vấn đề nổi bật, phù hợp với thời đại mình”[38] Dưới góc nhìn của tầng
Trang 8lớp nho sĩ, phê bình Truyện Kiều tập trung chủ yếu ở quan niệm đạo đức,
nghiêng về phê bình đạo lý, việc đọc và lý giải tác phẩm dựa theo ý nghĩ chủ quan chứ không chú trọng vào cấu trúc nội tại của văn bản nghệ thuật Sự thể hiện cách nhìn, đánh giá không xuất phát từ những nghiên cứu chuyên sâu về tác phẩm Dựa vào tiêu chí đạo đức, vua Minh Mạng khen Kiều đã sẵn sàng gạt đi cái riêng, hy sinh mối tình đẹp bán mình cứu cha và em, khẳng định và giữ gìn phẩm giá ngay cả khi bị lâm vào tình cảnh ô nhục chốn lầu xanh Cụ Nguyễn Công Trứ có thái độ đối lập, không đồng tình với cách ứng xử của
Kiều, coi là “đáng kiếp tà dâm!” Dưới góc nhìn của tầng lớp trí thức Tây học
và thế hệ các nhà nghiên cứu hình thành từ đầu thế kỷ XX, bức tranh phê bình
Truyện Kiều trở nên sinh động hơn Các phương pháp phê bình ngày càng
hoàn thiện, và từ đây có nhiều vấn đề được soi chiếu lại, nhìn nhận lại sâu sắc hơn và khoa học hơn Từ sau 1930, rất nhiều trào lưu văn học, trường phái phê bình phương Tây hiện đại du nhập vào Việt Nam như: phê bình ấn tượng chủ nghĩa, phê bình văn hóa – lịch sử, phê bình tiểu sử học, phê bình xã hội học mác xít, phê bình phân tâm học, phê bình cấu trúc luận và hiện sinh, phê
bình tự sự học… Sau thời kỳ Đổi mới, các lý thuyết phê bình từ nước ngoài
tiếp tục được đào sâu và ngày càng trở nên đa dạng hơn Nhiều vấn đề văn
học từng bước vượt qua những rào cản, được gạn đục khơi trong Trong bối
cảnh đó, phê bình văn học đã có những thành tựu đáng ghi nhận, đặc biệt là những bài viết theo hướng văn hóa học và thi pháp học Nhìn lại quy luật vận động của lịch sử xã hội trong mối tương quan với đời sống văn học, chúng ta cần quan tâm nhiều hơn tới mảng phê bình văn học đô thị miền Nam từ 1955 đến 1975 Từ đó, có thể hình dung được toàn diện bức tranh phê bình của nước ta qua mỗi giai đoạn khác nhau Nhiều nhà phê bình miền Nam tích cực vận dụng các lý thuyết của văn học phương Tây
vào phê bình Truyện Kiều, quá trình này đã thúc đẩy việc phê bình tác phẩm
Trang 9văn học ở miền Nam trở nên năng động và hiện đại hơn Vào năm 1960, nhà
in Nam Sơn ở Sài Gòn đã xuất bản cuốn khảo luận, tuyển tập các bài phê bình
kiệt tác của cụ Nguyễn Tiên Điền có tên là Chân dung Nguyễn Du, cuốn sách
khẳng định những nỗ lực đổi mới phương pháp phê bình văn học, tạo nên hai bức tranh phê bình khác nhau của hai miền Nam – Bắc
Sách tuyển tập gồm 13 bài của 13 tác giả được tổ chức, trình bày một cách khoa học trên cơ sở kết hợp các quan điểm phê bình mới Cuốn sách bao gồm những bài viết lần đầu xuất hiện trong đời sống lý luận phê bình và các bài viết đã từng được đăng trên một số tạp chí ở miền Nam trước khi nó ra
đời Tạp chí Sáng tạo tháng 12/1957 đăng bài viết “Nguyễn Du trên những
nẻo đường tự do” của Nguyên Sa (trong khảo luận lấy tên là Trần Bích Lan);
những năm 1957 – 1958, tạp chí Đại học đăng bài viết mang tính tổng kết các
vấn đề về phê bình Truyện Kiều của nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Trung (Đặt
lại vấn đề Truyện Kiều hay phê bình phê bình văn học)… Sự ra đời cuốn sách
bước đầu thể hiện diễn biến vận động trong phương thức thẩm bình tác phẩm văn học
Về kết cấu và quan điểm tiếp cận: Bắt đầu là các sự kiện lịch sử thời Nguyễn Du, bối cảnh chính trị - nghệ thuật nửa cuối thế kỷ XVIII và nửa đầu XIX Sau đó là bài viết khái quát về thân thế và thời đại Nguyễn Du, tình hình văn học trong thời đại ấy Kế tiếp gồm bài tựa của Hội Khai Trí Tiến Đức, các
bài thơ đề vịnh liên quan đến Truyện Kiều cùng tâm tình Nguyễn Du Những
tác phẩm thi ca đề vịnh được lựa chọn trong di sản văn chương của các nhà thơ nổi tiếng như: Phạm Quý Thích, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến, Tản
Đà – Nguyễn Khắc Hiếu, Vũ Hoàng Chương Tổng hợp các lời bình Kiều đặc sắc của Phong Tuyết, Mộng liên đường chủ nhân, Kiều Oánh Mậu, Đặng Nguyên Cần, Ngô Đức Kế, Phạm Thượng Chi Phần nổi bật nhất, đặc sắc nhất
Trang 10là các bài phê bình, nghiên cứu Truyện Kiều được soi chiếu, áp dụng từ lý
thuyết văn học Phương Tây
Về việc xác định, phân chia đối tượng nghiên cứu, có nhiều cách thức khác nhau Theo quan điểm của chúng tôi, các bài viết chủ yếu được tập trung vào các phương diện sau: phê bình chủ đề, tư tưởng (Triết lý đoạn trường, Nguyễn Du trên những nẻo đường tự do, Tình quê hương của Thúy Kiều, Nguyễn Du và tình yêu, Cửa vào đoạn trường tân thanh,…); phê bình ngôn
ngữ Truyện Kiều (Góp phần hiểu biết, tiếng khóc Tố Như); khái quát lịch sử nghiên cứu, phê bình Truyện Kiều (Đặt lại vấn đề Truyện Kiều hay phê bình
phê bình văn học
Nhìn vào cách thức tổ chức bài viết cùng với phần lập luận của các tác
giả trong tuyển tập Chân dung Nguyễn Du, chúng tôi thấy rằng các tác giả của
miền Nam đang nỗ lực vận dụng những phương pháp, những thành tựu của văn học phương Tây vào phê bình tác phẩm văn học theo nhiều khuynh hướng: khuynh hướng lịch sử - phát sinh, khuynh hướng lịch sử - chức năng, khuynh hướng cấu trúc – hệ thống Các khuynh hướng gắn liền với các phương pháp hiện đại như: thuyết phân tâm học, chủ nghĩa hiện đại (tập trung chủ yếu thuyết trực giác và triết học hiện sinh), chủ nghĩa cấu trúc Cuốn khảo
luận khẳng định tinh thần nghiên cứu Truyện Kiều trong môi trường văn hóa,
lịch sử xã hội, đời sống văn học thời đại tác phẩm ra đời Đó là những yếu tố
về mặt sử liệu cùng với kết quả khảo đính và hiệu đính văn bản góp phần hỗ
trợ việc nghiên cứu, phê bình Truyện Kiều có tính hệ thống, chuẩn xác hơn
Các nhà phê bình miền Nam trước 1975 cố gắng giải quyết thực trạng thiếu
sử liệu về chủ đích sáng tác của tác giả, bởi vì tình hình lưu giữ văn bản ở nước ta hay bị phân tán, thất lạc Hơn nữa, trong phê bình văn học, “nếu thiếu những sử liệu liên quan đến những đòi hỏi trên thì không thể phê bình nghiêm chỉnh được” [55,13] Dù là vận dụng đơn lẻ hay vận dụng tổng hợp các
Trang 11phương pháp phê bình, cuốn sách Chân dung Nguyễn Du đã khẳng định tinh
thần nghiên cứu khoa học, ý thức tự giác xây dựng một nền học thuật hiện đại
và vững chắc của nhiều nhà phê bình văn học miền Nam
Trong lịch sử nghiên cứu, phê bình Truyện Kiều, thế hệ giáo viên chúng
tôi chủ yếu biết đến những thành tựu nghiên cứu của các học giả miền Bắc mà rất ít biết đến những nghiên cứu phê bình của học giả miền Nam Vì vậy, chúng tôi hy vọng rằng, kết quả nghiên cứu trong luận văn này góp phần bổ
sung và hoàn thiện hơn hướng tiếp cận Truyện Kiều nói riêng và tác phẩm văn
học nói chung
1.2 Những cơ sở định hướng
Ở miền Nam, giai đoạn 1954-1975, tồn tại một nền chính trị khác, một nền văn học khác, trong đó có nghiên cứu phê bình văn học Gần đây, sau mấy thập niên im lặng, giới nghiên cứu bắt đầu đề cập đến mảng văn học của miền Nam giai đoạn này Trong xu thế đổi mới sâu rộng và sự phát triển của mạng thông tin toàn cầu ngày nay, các giá trị chìm khuất một thời đã được nhận thức lại, mở ra toàn diện di sản nền lý luận phê bình của hai miền Nam Bắc Nhiều nhà nghiên cứu, nhà xuất bản uy tín đã nỗ lực xác lập các hệ vấn
đề liên quan đến văn học miền Nam Ví dụ, gần nhất là đề tài nghiên cứu khoa học do nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Thanh Xuân làm chủ nhiệm đề tài,
được Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia (Nafosted) tài trợ: “Sự
du nhập các lý thuyết văn học phương Tây vào miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954-1975” (2016) Ngoài ra, còn có một số bài nghiên cứu chuyên sâu, hệ
thống về văn học miền Nam Việt Nam như: Bàn luận về Nguyễn Du trên một
số tạp chí miền Nam giai đoạn 1954-1975 (Lê Thụy Tường Vy, Bình luận văn
học - niên san 2015); Dấu ấn phê bình văn học phương Tây trong văn học sử
miền Nam giai đoạn 1954 – 1975 (Lý Hoài Thu – Hoàng Cẩm Giang); Lý luận, phê bình văn học miền Nam trước 1975 (chương XII, Lịch sử lý luận
Trang 12phê bình văn học Việt Nam, 2016), Văn học miền Nam từ 1954 đến 1975 (Thụy Khuê), Nguyễn Du và Truyện Kiều trong tiếp nhận của phê bình văn
học ở miền Nam trước 1975 (Trần Hoài Anh, Đi tìm ẩn ngữ văn chương,
2017)…
Bối cảnh đổi mới và hội nhập tạo điều kiện cho một số tác phẩm cùng với tư liệu trước năm 1975 được in lại, sự phục hồi đang dần dần được thực hiện Nhiều tác giả, tác phẩm được sàng lọc theo tiêu chí học thuật và nghệ thuật trở thành bộ phận gắn bó thống nhất của văn học Việt Nam Nhiều tác giả trở thành hiện tượng độc đáo, ảnh hưởng tích cực đến đời sống tinh thần con người đương đại như nghiên cứu phê bình của Nguyễn Văn Trung, thơ của Nguyên Sa, văn xuôi Nguyễn Thị Thụy Vũ… Tên tuổi, tác phẩm, bài viết của những tác giả nổi tiếng ở trong Nam xuất hiện khá nhiều trên các trang thông tin điện tử như: Nguyễn Văn Trung, Huỳnh Phan Anh, Nguyên Sa Trần Bích Lan, Bình Nguyên Lộc, Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Dương Nghiễm Mậu… Tuy vậy, các tác phẩm và bài viết của văn học miền Nam mới chỉ được phổ biến ở quy mô nhỏ hẹp hoặc còn nhiều rào cản chưa thể tháo gỡ
Từ khi cuốn khảo luận ra đời cho đến nay, nhiều công trình nghiên cứu hay tác phẩm phê bình đã tiếp nhận, vận dụng quan điểm của các nhà phê
bình trong Chân dung Nguyễn Du để làm cơ sở lý giải nhiều vấn đề văn học
liên quan Tuy nhiên, phần lớn các đề tài chỉ đề cập sơ qua hoặc chỉ liên hệ tới những bài viết từng được đăng trên các tạp chí trước 1960 Sau này, nhiều nhà nghiên cứu chỉ giới thiệu tên cuốn khảo luận đi kèm vài tác giả tiêu biểu, chưa
có một đề tài nào đi sâu vào phân tích, lý giải quan điểm phê bình trong Chân
dung Nguyễn Du Lê Thụy Tường Vy trong bài “Bàn luận về Nguyễn Du trên một số tạp chí miền Nam giai đoạn 1954-1975” (2015) dẫn ra ba bài biết của
ba tác giả là Nguyễn Văn Trung, Nguyên Sa, Nguyễn Sỹ Tế; không nêu các tác giả còn lại trong cuốn khảo luận Bàn về tình hình nghiên cứu, lý luận, phê
Trang 13bình văn học ở miền Nam Việt Nam của nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Thanh
Xuân, chuyên khảo nghiên cứu “sự du nhập lý thuyết văn học phương Tây
vào miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975” (2016) Trong bài viết Nguyễn Du và Truyện Kiều trong tiếp nhận của phê bình văn học ở miền Nam trước 1975 không nhắc tới sách Chân dung Nguyễn Du mà chỉ nêu ra những
cá nhân tác giả liên quan đến giai đoạn đã nêu Nhân dịp kỷ niệm 250 năm sinh Nguyễn Du tại Thành phố Hồ Chí Minh, tác giả Trần Hoài Anh đặt ra lối nhìn tổng quát về quá trình vận động các xu hướng phê bình Truyện Kiều ở miền Nam, từ lối nhìn giao thoa các tư tưởng Nho – Phật – Lão đến lối nhìn mới từ triết học và văn học phương Tây Tuy nhiên, việc đánh giá phương
pháp phê bình của nhóm tác giả trong khảo luận Chân dung Nguyễn Du chưa
được nghiên cứu toàn diện, thường chỉ nhắc tới bài viết của Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Sỹ Tế, Trần Bích Lan từ tạp chí được đăng tải, các tác giả còn lại chưa được chú ý nhiều
Khoa nghiên cứu văn học của miền Bắc Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975 chủ yếu tiếp nhận lý luận macxit từ Liên Xô, Trung Quốc trong nghiên cứu và phê bình văn học Hai công trình tiêu biểu thể hiện cách thức tiếp nhận trên là
Quyền sống của con người trong Truyện Kiều (Hoài Thanh), Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du (Lê Đình Kỵ) Một vấn đề đặt ra là việc
tiếp nhận lý thuyết phương Tây ở miền Nam có đem lại khác biệt nào cho nghiên cứu văn học nói chung, nghiên cứu Truyện Kiều nói riêng? Những yếu
tố mang tính bổ sung cùng tính khác biệt chúng tôi sẽ đề cập ở các nội dung tiếp theo của luận văn
Các vấn đề trình bày ở trên là lý do chính thôi thúc chúng tôi đến với đề
tài: Phương pháp phê bình văn học trong sách khảo luận Chân dung
Nguyễn Du Tính chất của vấn đề đã được các nhà nghiên cứu quan tâm ở các
mức độ khác nhau Chúng tôi nhận thấy rằng, việc định ra các đặc trưng trong
Trang 14vận dụng lý thuyết văn học, triết học Phương Tây vào phê bình Truyện Kiều ở
miền Nam vẫn còn tản mạn Với đề tài này, chúng tôi cố gắng xác định đặc trưng khuynh hướng phê bình văn học ở miền Nam, từng bước góp phần hoàn thiện hơn những đóng góp và hạn chế của các bài viết phê bình Truyện Kiều trong Chân dung Nguyễn Du, bước đầu định hướng cái nhìn bao quát về cách
thức tiếp nhận Truyện Kiều trong dòng chảy đời sống văn học
2 Đối tượng nghiên cứu và mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở tìm hiểu cách tổ chức và cách tiếp cận các vấn đề về Truyện
Kiều, chúng tôi tập trung vào tính đa dạng, phong phú trong hướng tiếp cận và
phê bình Truyện Kiều ở miền Nam, thời kỳ 1954 – 1975 Qua đó ta cũng thấy
được ý nghĩa vô cùng to lớn của phương pháp được áp dụng từ các lý thuyết phê bình phương Tây trong suốt thế kỷ XX, những đóng góp ban đầu về mặt khoa học trong nghiên cứu Nguyễn Du của các nhà phê bình miền Nam
Chúng tôi cố gắng làm rõ các đặc trưng trong việc sử dụng các phương pháp phê bình văn học vận dụng từ lý thuyết của văn học phương Tây như: phân tâm học, chủ nghĩa hiện sinh và hiện tượng học, chủ nghĩa cấu trúc, thi pháp học và văn hóa học,… Đồng thời cũng chỉ ra nội dung và làm sáng tỏ những đặc điểm khác biệt của công trình nghiên cứu, phê bình này về Truyện Kiều so với các nghiên cứu phê bình của miền Bắc cùng giai đoạn (lấy một
số bài viết trên Văn - Sử - Địa và cuốn kỷ yếu Kỷ niệm 200 năm năm sinh Nguyễn Du làm đối chứng
3 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu
3.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
Mọi ngả đường phê bình là tìm ra giá trị và những đóng góp của người nghệ sĩ Nhà nghiên cứu M Kharapchenkô cho rằng "sáng tạo ra các giá trị nghệ thuật và cảm thụ các giá trị ấy là những quá trình không đồng nhất" Mỗi
Trang 15tác phẩm phê bình hòa quyện giữa tư duy khoa học và tư duy nghệ thuật; phụ thuộc vào vốn tri thức, vốn văn hóa, quan niệm thẩm bình văn chương mà giá trị được nổi bật ở các phương diện khác nhau Bởi vậy, cần phải hiểu sự khám phá của người đọc như là sự sáng tạo ra hiệu quả của văn bản Từ đây mà nhiều nhà nghiên cứu xem tác phẩm như một "đề án tiếp nhận", một "cấu trúc mời gọi", một "chương trình nhận thức"; nó phải thực sự có ý nghĩa đối với đời sống, con người và xã hội nên không thể bàn bạc một cách tùy tiện, cảm tính Tác phẩm không thể là những câu chữ trống rỗng, hàm hồ mà người đọc
có thể gán ghép cho nó bất cứ ý nghĩa nào Tự thân tác phẩm, cùng với các yếu tố như nội dung thời đại, đời sống nhà văn, những tác phẩm có liên
quan đã tạo ra biên độ cho sự tiếp nhận Không thể hiểu Truyện Kiều nếu
tách rời nó với thời đại Nguyễn Du, với số phận của nhà thơ và với thơ chữ Hán của ông
Trong thực tế, ý nghĩa và giá trị của tác phẩm không ngừng biến đổi trong những giai đoạn lịch sử khác nhau, những không gian văn hóa khác nhau Chảy qua mỗi thời đại, thế giới quan ẩn trong tác phẩm sẽ chuyên chở những gì đôi bờ lịch sử gởi vào Nhưng một sự cảm thụ đúng đắn không bao giờ cho phép vượt ra khỏi dữ liệu hiện thực của văn bản
Nhưng có một thực tế của quá trình phê bình là ý nghĩa khách quan của tác phẩm không phải bao giờ cũng đồng nhất với tư tưởng chủ quan mà tác giả gởi gấm vào đó Qua lăng kính của chủ thể tiếp nhận, nói như nhà nghiên cứu Trần Đình Sử, có khi là một sự "tiếp nhận sai" hay "phản tiếp nhận" mà ở
đó, người đọc sáng tạo ra một tư tưởng mới mà nguyên tác không có Nguyễn
Du đã không thể đi theo hành trình của Truyện Kiều để chứng kiến Kiều ngã
theo và bị đại phong kiến lừa gạt như thế nào hay để "điều trị" căn bệnh "ẩn uất" cho nàng Tác phẩm, nhất là những tác phẩm lớn thường có một nội dung nghệ thuật phong phú, đa dạng, có nhiều chức năng, được xây dựng
Trang 16bằng những ký hiệu hình ảnh, bằng một ngôn ngữ gián tiếp, có một hàm nghĩa rộng hơn cái nó biểu thị Nói như Gorki: "Chính là từ chỗ hòa hợp, trùng hợp giữa kinh nghiệm của nhà văn với kinh nghiệm của người đọc mà ta có được
sự thật nghệ thuật - cái sức thuyết phục đặc biệt của văn học vốn là cội nguồn của sức ảnh hưởng của nó với con người"
Từ những cơ sở trên, chúng tôi xác định nhiệm vụ của đề tài là tìm ra
phương thức, đặc điểm phương pháp phê bình trong khảo luận Chân dung
Nguyễn Du góp phần định hình một số phương diện trong cách thức cảm thụ,
thẩm bình tác phẩm văn học: đời sống lịch sử, xã hội và văn hóa liên qua đến tác phẩm; thái độ nghệ thuật trong lĩnh hội tác phẩm và cá tính của nhà phê bình; tư duy nghệ thuật và tư duy khoa học trong cảm thụ,… Từ những vấn đề
lý luận liên quan đến các phương pháp phê bình văn học du nhập từ phương Tây, luận văn xác định và lý giải những thành công qua việc vận dụng nghiên
cứu phê bình Truyện Kiều của các nhà phê bình miền Nam những năm 1960
Qua đó cũng chỉ ra một số phương diện tiêu biểu trong đời sống lý luận phê bình miền Nam thời kỳ 1955 - 1965
3.2 Phương pháp nghiên cứu
Xuất phát từ đặc điểm của đối tượng nghiên cứu và mục đích của luận
án, chúng tôi thực hiện đề tài theo những phương pháp sau: phương pháp lịch
sử (đặt đối tượng nghiên cứu vào bối cảnh lịch sử cụ thể, ở đây là bối cảnh văn hóa –chính trị của miền Nam); phương pháp nghiên cứu liên ngành, phương pháp phân tích – tổng hợp (phân tích nội dung và hình thức của các bài nghiên cứu phê bình Truyện Kiều ở khảo luận Chân dung Nguyễn Du; tổng hợp các đặc trưng, đóng góp và hạn chế); phương pháp so sánh (so sánh với một số nghiên cứu, phê bình Truyện Kiều ở miền Bắc giai đoạn cùng thời)
Trang 174 Phạm vi nghiên cứu
Bên cạnh bài viết tổng quan về cuộc đời, bối cảnh xã hội và văn học thời
đại Nguyễn Du, cuốn khảo luận Chân dung Nguyễn Du tập hợp 11 bài viết về
Truyện Kiều và 1 bài viết về Văn chiêu hồn Ở đề tài này, chúng tôi chỉ đi sâu
vào các bài viết liên quan đến Truyện Kiều
5 Cấu trúc của luận văn
Chúng tôi định hướng trình bày nội dung đề tài với các chương, các
phần chính sau:
Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Trong chương này chúng tôi làm rõ bối cảnh xuất hiện của cuốn sách
Chân dung Nguyễn Du trong đời sống nghiên cứu phê bình Nguyễn Du và Truyện Kiều, những năm trước 1954, đặc biệt là thời kỳ 1954 - 1975
Chương 2: Phê bình Truyện Kiều từ lý thuyết chủ nghĩa cấu trúc và chủ nghĩa hiện sinh trong khảo luận Chân dung Nguyễn Du
Trong chương này chúng tôi làm sáng tỏ sự vận dụng lý thuyết tiếp nhận
Truyện Kiều và những đóng góp của nhóm tác giả qua các nền tảng lý thuyết
chủ nghĩa cấu trúc và chủ nghĩa hiện sinh
Chương 3: Phê bình Truyện Kiều từ lý thuyết phân tâm học và ngôn ngữ văn chương trong khảo luận Chân dung Nguyễn Du
Trong chương này chúng tôi làm sáng tỏ sự vận dụng lý thuyết tiếp nhận
Truyện Kiều và những đóng góp của nhóm tác giả qua các nền tảng lý thuyết
phân tâm học và ngôn ngữ văn chương
6 Đóng góp của luận văn
Nghiên cứu phê bình tác phẩm văn học nói chung và Truyện Kiều nói
riêng cần được nhìn nhận trong góc nhìn tổng quan như một thành tố của văn
Trang 18học sử Thông qua lịch sử tiếp nhận tác phẩm để từ đó không chỉ hiểu đúng tác phẩm mà còn định hướng tư duy, phương pháp giảng dạy văn học trong nhà trường phổ thông
Hệ thống và phân tích đặc điểm của các hình thức tiếp nhận Truyện
Kiều Qua đó góp phần khẳng định giá trị đặc biệt của tác phẩm từ góc độ
nghiên cứu tiếp nhận
Bước đầu khái quát mối quan hệ giữa sự tiếp nhận của người đọc và sự vận động của ý nghĩa tác phẩm Từ đó rút ra kết luận có tính qui luật về tiếp nhận tác phẩm
Nhìn lại Nguyễn Du cũng là dịp chúng ta ngày nay duyệt xét lại cách quan niệm lâu nay của chúng ta về những đóng góp của Nguyễn Du trong
các sáng tác, đặc biệt là Truyện Kiều Xem xét các giá trị trên nhiều phương
diện, nhiều mối quan hệ thực sự có ý nghĩa cấp bách để nhìn nhận đúng đắn hơn những cống hiến của Nguyễn Du đối với văn học và văn hóa dân tộc
Đó là một hệ thống bao gồm những yếu tố như ngôn ngữ, lối sống, phong
tục tập quán, luật pháp, tôn giáo tín ngưỡng, nghệ thuật biểu diễn , trong đó
có văn học
Trang 19NỘI DUNG CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Nhìn qua lịch sử nghiên cứu phê bình Truyện Kiều trước 1954
1.1.1 Tiếp nhận Truyện Kiều trong thế kỷ XIX diễn ra trong môi trường văn
hóa - tư tưởng phương Đông, phê bình chủ quan dựa vào quan niệm đạo đức; được thực hiện chủ yếu bởi tầng lớp Nho sĩ với các dòng tư tưởng Nho – Phật – Lão để đưa ra quan điểm và lý giải riêng Các dòng tư tưởng trên được tiếp nhận từ Trung Hoa, thường được gọi chung là quan niệm triết học phương Đông, quan niệm thẩm mỹ của nhà Nho
Nhiều nhà nghiên cứu về lịch sử phê bình Truyện Kiều phần lớn đều xác định việc đọc Truyện Kiều thế kỷ XIX của các nhà Nho là theo quan điểm đạo
đức, quan điểm luân lý Họ thể hiện ấn tượng về tác phẩm dựa trên sự kích thích của cảm hứng nghệ thuật chứ không chú trọng vào tư duy khoa học Những cảm tưởng, bình giá của các nhà Nho thường được biểu hiện theo cách thức đề vịnh bằng thơ ca, bài đề tựa hay lời bạt phản ánh xúc cảm riêng tư của người viết Tuy nhiên, quan điểm tiếp cận vừa nêu lại phân hóa thành nhiều xướng có tính đối lập nhau Bản chất của sự phân hóa chưa được lý giải cụ thể
ở một số bài viết Từ những kết quả nghiên cứu về văn hóa học, chúng tôi xin
đề xuất một số yếu tố là cơ sở hình thành thái độ đánh giá Truyện Kiều của
nhà nghiên cứu Trần Nho Thìn đã xác định trong bối cảnh hoài nghi đức trị
và tinh thần phê phán xã hội[41,78] của văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ
XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX, sự thể hiện tính hoài nghi ấy trong thơ chữ Hán
Nguyễn Du cũng như trong Truyện Kiều là sự “vắng bóng những phạm trù
văn hóa chính trị quen thuộc của các thế kỷ trước”[41,80](đức, nhân, nghĩa, thuyền, nước, dân - dân là nước, chở thuyền và lật thuyền là dân) “Trong khi
Trang 20đó lại xuất hiện những khái niệm khác loại như cõi người ta, những điều trông thấy, địa ngục ở miền trần gian, cõi trần, cõi hồng trần, bụi hồng, kiếp phong trần, bể trần (đều có chữ trần – bụi bặm), vũng lầy… Nguyễn Du không còn
hy vọng, ảo tưởng vào khả năng đức trị có thể đem lại xã hội thái bình, thịnh trị” [41,80] Nhìn vào cách ứng xử của con người đối với thực tại xã hội, sự khủng hoảng của bối cảnh xã hội kéo theo mối hoài nghi đức trị khiến con người phải nhận thức lại bản thân và đời sống, hướng tới những gì là bản thể con người, muốn bứt phá khỏi mọi ràng buộc khắt khe: ý thức giá trị và quyền sống cá nhân, tự do tình yêu và hôn nhân, quan niệm phóng khoáng về các mặt đạo đức Các yếu tố đó dẫn đến tình trạng tồn tại những đối cực về cách đánh giá tác phẩm trong bối cảnh ảnh hưởng của văn hóa và tư tưởng phương Đông, dẫn đến việc người khen, người chê; người đồng cảm, người phê phán Nhà thơ Nguyễn Công Trứ cho rằng Kiều sống trong chốn lầu xanh thì không
thể nào cảm thông về mặt đạo đức (Đố đem chữ “hiếu” mà nhầm được ai!)
Phạm Quý Thích, Đào Nguyên Phổ bày tỏ sự đồng cảm với nhân vật Thúy Kiều Riêng cụ Hoàng giáp Đào Nguyên Phổ thể hiện ấn tượng cả về vẻ đẹp nghệ thuật cùng với nét đặc sắc của chủ đề phản ánh: “tả cảnh thì bày hết thú
vị tuyết nguyệt phong hoa, mà cảnh tự vướng tình… thật là một khúc Nam âm tuyệt xướng, một điệu tình phổ bực đầu vậy” [27,163] Vì Nho giáo là học
thuyết chính trị đạo đức nên nhà nho thường tìm từ Truyện Kiều những nguồn
cảm hứng bình luận chính trị, đạo đức, nhân đó bộc lộ con người chính trị đạo đức của mình Những chuyện mổ xẻ, phân tích tác phẩm để tìm nguyên nhân
của sức hấp dẫn, thành công của tác phẩm nằm ngoài tầm quan tâm
1.1.2 Từ đầu thế kỷ XX đến năm 1945, phê bình Truyện Kiều diễn ra phong
phú, sinh động hơn, phân chia hai xu hướng chính là ý thức đấu tranh chính trị và bước đầu vận dụng lý thuyết văn học phương Tây Đây là thời kỳ giao thoa văn hóa và văn học Đông Tây, đời sống văn học chuyển mình tiếp cận
Trang 21với thành tựu của văn học Phương Tây, đặc biệt là văn học Pháp Báo chí, in
ấn và xuất bản hình thành, kích thích những nhu cầu thẩm mỹ mới Vào những năm đầu thế kỷ, cách thức phê bình nhìn từ quan điểm tầng lớp Nho sĩ vẫn còn nhưng tính đối thoại, tranh luận trở nên đa dạng hơn Nhìn bề ngoài, nhiều người nghĩ rằng các nhà Nho yêu nước có tinh thần cách mạng vẫn bàn
về Truyện Kiều theo quan điểm luân lý, thực chất quan điểm của các cụ nhằm
thể hiện ý thức đấu tranh chính trị Trong sách Lược khảo văn học, tập 3,
Nguyễn Văn Trung đã chỉ ra định hướng “muốn tìm hiểu chủ đích của sinh hoạt văn học, nghệ thuật thời Pháp thuộc chẳng hạn, thiết tưởng không thể tách văn chương ra khỏi chính trị, nhất là đối với những tác giả có hoạt động chính trị hoặc ở phía chống đối như Phan Bội Châu, Ngô Đức Kế, Tản Đà, Nhất Linh; hoặc ở phía cộng tác, làm tay sai như Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn
Vĩnh,…”[55,86] Vào năm 1924, Phạm Quỳnh viết rằng: “Truyện Kiều còn,
tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn, có gì mà lo, có gì mà sợ, có điều chi nữa mà ngờ” [40] Hơn nữa, “bàn về vai trò của Truyện Kiều đối với tiếng Việt thì trước và sau Phạm Quỳnh đã có nhiều người nói” [40] Ý kiến của Phạm Quỳnh đã vấp phải nhiều lời chỉ trích, phê phán của các nhà nho yêu nước đương thời Có lẽ, môi trường chính trị đã chi phối đến cách nhìn nhận của các cụ, và vì Phạm Quỳnh (nhiều nhà nho quy kết là tay sai cho Pháp)
đã ca ngợi Truyện Kiều dẫn đến việc các cụ phê phán kiệt tác của Nguyễn
Du để minh chứng tác phẩm không thể được xếp vào đại diện cho nền quốc
học Do vậy mà có những nhận định gay gắt, thậm chí là bất công khi định
giá tác phẩm
Bước giao thời của lịch sử xã hội và văn hóa đã hình thành cách thưởng thức, cách tiếp nhận mới, từng bước xác lập nền phê bình chuyên nghiệp, nhà phê bình và người sáng tác tách rời nhau Nguyễn Văn Hoàn đã khái lược về các trường phái phê bình văn học Pháp (trường phái phê bình của Saint
Trang 22Beuve, cho đến các trường phái thực chứng, ấn tượng, cấu trúc…) từ đó chỉ ra
xu hướng mới có ý nghĩa khoa học trong công tác nghiên cứu văn học Đào
Duy Anh trong công trình Khảo luận về Kim Vân Kiều truyện (1943) chịu
ảnh hưởng khá rõ phương pháp nghiên cứu phê bình của Lanson[40] Tạp chí
Nam phong số 68 (1923) có đăng bài viết bàn về nhân vật Truyện Kiều của
Vũ Đình Long, bài viết được nhìn nhận có nhiều điểm mới lạ, độc đáo bởi bài viết là lần đầu tiên áp dụng lý thuyết văn học phương Tây vào phê bình văn học Vũ Đình Long đi từ cấu trúc tổng thể của tác phẩm tới các yếu tố nội tại của tác phẩm, khai thác cấc vấn đề về bút pháp đặc biệt là nghệ thuật miêu tả
để tìm ra quan niệm, triết lý của Nguyễn Du trong Truyện Kiều Cách thức
phê bình của Vũ Đình Long phản ánh cụ thể về tư duy hệ thống, đặt ra yêu cầu tiếp nhận tác phẩm văn chương bằng tinh thần khoa học Bài viết của Vũ Đình Long ra đời trong bối cảnh các lý thuyết phê bình hiện đại như phê bình bác ngữ học, cấu trúc luận… đang chuẩn bị hình thành hoặc chưa xuất hiện
Vì vậy, ngôn ngữ phê bình của ông tạo nên sắc thái hiện đại, giàu chất trí tuệ:
“Tả cảnh là dùng lời văn mà vẽ ra cảnh, khiến cho độc giả không trông thấy cảnh mà có thể hình dung ra được”[27,231] Ngoài ra, ông còn quan tâm tới thế giới quan của người nghệ sĩ trong sáng tác, tư tưởng của tác phẩm Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Hoàn đã nhận xét: “Cần ghi nhận đây là một mục tiêu, một ý đồ hết sức quan trọng, có ý nghĩa đánh dấu một cái mốc trong lịch
sử phát triển của phê bình văn học ở nước ta”
Tại Sài Gòn, năm 1929 có diễn ra cuộc thảo luận về nhân vật Thúy Kiều
trên báo Phụ nữ tân văn Cuộc thảo luận xoay quanh chủ đề: “Kiều nên khen
hay nên chê?” Đây là cuộc thảo luận mang tính chất phê bình văn chương ở
Nam Bộ mặc dù quy mô chưa phải là lớn nhưng cũng đã tạo nên sức thu hút
đối với nhiều nhà phê bình
Trang 23Vào những năm 40 của thế kỷ XX, Nguyễn Bách Khoa (Trương Tửu) là người tích cực nhất trong việc vận dụng các lý thuyết mới vào nghiên cứu
Truyện Kiều Trong nhóm các lý thuyết được vận dụng, khuynh hướng phê bình trước 1945 của Nguyễn Bách Khoa thiên về phân tâm học Nguyễn Bách
Khoa là người tiên phong áp dụng lý thuyết phân tâm học của Sigmund Freud vào trong phê bình văn học của mình Dựa vào sự thúc đẩy của ẩn ức tình dục, sự chuyển hóa bản năng dục vọng xuống tiềm thức Nguyễn Bách Khoa
phê phán Nguyễn Du xây dựng nhân vật bằng lương tâm bịa đặt, tác giả để
cho Kiều từ chối tình yêu sắc dục của Kim Trọng trong cái đêm mà cả nhà đi
ăn tiệc bên ngoại chưa về Đi xa hơn, Nguyễn Bách Khoa cho rằng Nguyễn
Du có “cơ thể ốm yếu và thần kinh hốt hoảng”, đa sầu, đa cảm, thần kinh rối loạn Vì thế, giữa ý thức hệ và tiềm thức luôn xung đột nhau và làm nên "tấn
bi kịch của tâm hồn" tức cũng là tâm sự sầu thảm của Nguyễn Du Quan niệm phê bình theo thuyết phân tâm học của Nguyễn Bách Khoa phản ánh sự vận dụng còn nhiều máy móc, cực đoan Tuy vậy, nó đánh dấu bước chuyển ý thức được phải từ bỏ việc tiếp nhận Truyện Kiều theo lối mòn trước đó của các nhà nho, góp phần bổ sung hướng tiếp cận khác đối với văn bản đó là hướng tới tính khách quan trong phê bình văn học
1.1.3 Thời kỳ từ 1946 – 1954 có sự chuyển đổi hệ hình về phê bình Truyện
Kiều với nền tảng lý thuyết xã hội học Marxist từng bước chiếm ưu thế Cuộc
kháng chiến chống Pháp diễn ra trên toàn quốc cùng với đường lối văn nghệ của Đảng đã tác động sâu sắc đến quan niệm sáng tác và phê bình ở nhiều tác giả Việc nghiên cứu, lý luận phê bình văn học chủ yếu đặt tác phẩm trong quan hệ với hiện thực, thể chế xã hội, đó là phê bình xã hội học Marxist Tác phẩm được khám phá trên cơ sở thế giới quan của người nghệ sĩ nắm bắt và phản ảnh hiện thực xã hội “Phê bình xã hội học là một phương pháp ngoại quan lấy cái xã hội như là một nguyên nhân để giải thích văn học như là một
Trang 24kết quả, bởi vậy phương pháp này chú mục vào những liên hệ xã hội và những hiện tượng xã hội của những thời đại nhất định” [48,142] Phương pháp này đề cao việc tìm hiểu ý nghĩa xã hội của tác phẩm cũng như các
thành tố khác của một tác phẩm văn học trên nền tảng tính hiện thực, tính
nhân dân, tính giai cấp và các phương diện về tư tưởng (coi trọng tinh thần
nhân đạo của tác phẩm) Phê bình xã hội học marxist bắt đầu phát huy tầm ảnh hưởng từ cuộc tranh luận “nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh”, phương pháp này được áp dụng từ những năm 1935 trở đi và đến năm 1954 nó tồn tại như một phương pháp cơ bản, thậm chí được đề cao đến mức là duy nhất, đúng nhất Hai tác phẩm phê bình nổi bật trong giai đoạn
này là Văn học khái luận của Đặng Thai Mai (1944), Quyền sống của con
người trong Truyện Kiều của Hoài Thanh (1949) Đặng Thai Mai đi theo con
đường phản ánh luận trong tư tưởng triết học marxist làm rõ “tinh thần tả
thực”, “bút pháp tả thực” của Nguyễn Du, điều này được ông nhấn mạnh
trong cuốn sách Văn học khái luận xuất bản năm 1944: "nghệ thuật đã phát
triển trên nền sinh hoạt xã hội thì ta có thể đứng về phương diện sinh hoạt mà
bình phẩm, mà nghiên cứu, mà sáng tác" Bàn về tính hiện thực trong tác
phẩm Truyện Kiều, Hoài Thanh dựa trên môi trường xã hội, chỉ ra bản chất xã hội làm cơ sở lý giải thân phận con người Theo Hoài Thanh, nguyên nhân đau khổ của con người là chế độ phong kiến thối nát Mọi lập luận đều hướng đến mục tiêu phục vụ cho cuộc cách mạng phản đế phản phong lúc này chứ không phải là để thấy cái thiên tài, cái phong cách nghệ thuật của Nguyễn Du Cách đọc tác phẩm từ góc nhìn đấu tranh giai cấp đã chi phối rất lớn đến quan niệm phê bình thời kỳ sau 1945, nhất là thời kỳ 1954 – 1975 ở miền Bắc Phê bình xã hội học đã mang lại một cơ sở khoa học, khách quan cho việc nghiên cứu văn chương nói chung và quy luật vận động văn học sử nói riêng Việc xuất hiện và áp dụng là một bổ sung rất cần thiết cho phương pháp
Trang 25bình văn học trung đại và kiểu phê bình ấn tượng chủ nghĩa Tuy nhiên, nếu đẩy nó lên thành tuyệt đối, nếu mải chạy theo cái xã hội được phản ánh trong tác phẩm, thậm chí đánh đồng nó với các mặt tồn tại của xã hội, thì việc nghiên cứu văn học chỉ là “cái cớ”, là “tài liệu” để tìm hiểu xã hội, là sự chứng minh cho những định đề sẵn có Các yếu tố vừa nêu sẽ dẫn tới xu hướng cực đoan, cảm tính trong việc nêu cao quan điểm giai cấp, lấy thành phần giai cấp nhằm lý giải nội dung văn học
1.2 Phê bình Truyện Kiều trong bối cảnh lịch sử, văn hóa, văn học ở hai
miền giai đoạn từ 1954 đến 1975
1.2.1 Phê bình Truyện Kiều ở miền Bắc giai đoạn 1954 - 1975
Sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc vào năm 1954, một trang
sử mới của dân tộc được mở ra Việt Nam cũng như toàn bộ Đông Dương được cam kết tôn trọng độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, lấy vỹ tuyến 17 là giới tuyến quân sự tạm thời Việt Nam, Lào và Campuchia sẽ tổ chức tổng tuyển cử tự do sau khi Pháp rút toàn bộ quân khỏi Đông Dương Thế nhưng việc tổ chức tuyển cử thống nhất dân tộc bị cản trở bởi sự can thiệp, âm mưu xâm lược của Mỹ Đất nước bị chia cắt làm hai miền, thể chế cộng hòa được thành lập ở miền Nam miền Bắc tập trung xây dựng chủ nghĩa xã hội Nền văn học ở miền Bắc vận động theo khuynh hướng hiện thực xã hội chủ nghĩa, xu hướng sáng tác và lý luận phê bình lấy nền tảng lý luận Marxist (du nhập từ Liên Xô, Trung Quốc) làm chủ đạo, hạn chế sự du nhập giao lưu các lý thuyết phê bình hiện đại Thực tế vừa nêu dẫn tời cách nhìn nhận còn nhiều khiên cưỡng, cực đoan
Vào những năm 1955 – 1956, tập san Đại học Sư phạm, tập san nghiên cứu Văn – Sử - Địa có đăng tải nhiều bài viết nghiên cứu phê bình Truyện Kiều của các các tác giả như: Trương Tửu, Trần Đức Thảo, Minh Tranh, Đặng Thai Mai Các bài viết trên tập san Đại học Sư phạm, tập san nghiên
Trang 26cứu Văn – Sử - Địa tập trung chủ yếu vào nội dung xã hội của Truyện Kiều, đi
tìm bản chất của hiện thực và giá trị nhân đạo Đặng Thai Mai coi những yếu
tố vừa nêu là tiền đề tạo nên đặc sắc cho Truyện Kiều nói riêng và văn học cổ điển Việt Nam nói chung Trong tập san số 3 năm 1955, Trương Tửu có bài
viết chuyên sâu về lịch sử nghiên cứu Truyện Kiều Mặc dù còn nhiều điểm
chưa hợp lý những có thể ghi nhận rằng đây là bài viết công phu tổng hợp lại
các vấn đề trong phê bình Truyện Kiều từ khi tác phẩm ra đời, vấn đề Truyện
Kiều được nhìn nhận từ sự vận động của lịch sử văn học cùng với quá trình tiếp nhận qua mỗi thời kỳ: “có khuynh hướng đi từ chủ quan đến khách quan,
từ siêu hình đến duy vật, từ hình thức chủ nghĩa đến sự chú trọng vào nội dung ý thức của tác phẩm… Tóm lại, sự nghiên cứu phê bình tranh luận về
Truyện Kiều tiến dần dần đến khoa học tính và nhân dân tính.” [56,37]
Những điều mà nhà phê bình Trương Tửu nêu ra bước đầu làm cơ sở cho các nhà nghiên cứu phê bình thế hệ sau kế thừa và từng bước hoàn thiện bức tranh phê bình kiệt tác của Nguyễn Du
Nghiên cứu từ phương diện phản ánh xã hội, phản ánh hiện thực trong
Đoạn trường tân thanh được thể hiện qua các tập san nghiên cứu sau 1954 ở
miền Bắc, các nhà phê bình có nhiều điểm chung trong cách tiếp cận, lý giải chủ đề tác phẩm là làm rõ số phận con người, tinh thần chống phong kiến, tính giai cấp và tính nhân dân Việc nêu luận đề hoặc đưa ra những khẳng định được nhà phê bình trích dẫn quan niệm của các nhà phê bình xã hội học trên thế giới, lấy đó làm cơ sở cho quá trình khám phá và lý giải kiệt tác của
thi hào Nguyễn Du Trong bài viết Nội dung xã hội của Truyện Kiều, Trần Đức Thảo chỉ ra những mặt tác hại của đồng tiền trong chế độ phong kiến suy
đồi Ông lấy học thuyết kinh tế chính trị của tư tưởng Marxist để chỉ ra sự chi
phối của kinh tế hàng hóa trong xã hội phong kiến Những lý giải mà Trần Đức Thảo nêu ra không chỉ thiếu tính khách quan mà còn dẫn đến cái nhìn sai
Trang 27lạc bản chất về môi trường xã hội – văn hóa của Truyện Kiều vốn chỉ mang
đặc trưng của phương thức sản xuất châu Á, ông thẳng thắn nhấn mạnh đặc
trưng xã hội Truyện Kiều đã mang yếu tố tiền tư bản chủ nghĩa: “Nguyễn Du,
nói chung, không thấy phần tích cực của kinh tế hàng hóa, và chỉ chú trọng lên án lòng tham vô đáy của bọn sai nha, của những phường bán thịt buôn người… Thực tế thì Nguyễn Du đã coi giai cấp thương nhân với tất cả những thành kiến và lòng khinh miệt của con người phong kiến, và tuy có kết án cái tập quán hối lộ của bọn quan lại nhưng vẫn coi trọng giai cấp phong kiến, vẫn bảo vệ lý tưởng phong kiến”[24,48] Từ cách vận dụng máy móc một số vấn
đề học thuyết tư tưởng Marxist, các nhà phê bình đã đưa ra những quan điểm thiếu tính khách quan dựa trên yếu tố:
Nghiên cứu từ phương diện tư tưởng, tinh thần nhân đạo cùng với bút
pháp miêu tả trong Đoạn trường tân thanh, các nhà phê bình thời kỳ này ở
miền Bắc phần lớn đều thống nhất ở tính chất đấu tranh xã hội, đặt nhân vật trong đặc điểm giai cấp, quan tâm tới tinh thần đấu tranh chống thế lực tàn bạo của xã hội phong kiến Họ khai thác thái độ, cách nhìn nhận của Nguyễn
Du về khát vọng sống, quyền sống con người trong tình trạng bị oan ức, bị chà đạp Giá trị con người thông qua hình tượng Thúy Kiều được khai thác ở
ba mặt: Tài, mệnh và tình Trong bài viết Tính chất và mức độ chống phong
kiến của Truyện Kiều, Trương Tửu khẳng định: “Giá trị nhân đạo chủ nghĩa
của Truyện Kiều là đã đề cao tài tình, đề cao sức chiến đấu của tài tình chống
lại chế độ phong kiến áp bức bóc lột Truyện Kiều là một bài thơ ca tụng
những con người đã dám kháng cự lại chế độ xã hội đè nén con người Mâu thuẫn giữa tài và mệnh, trong Truyện Kiều, chỉ là mâu thuẫn giữa con người khao khát tự do, công lý hạnh phúc và chế độ phong kiến”[57,27] Ngoài hướng tập trung vào tầng nội dung của Truyện Kiều thông qua tinh thần phản ánh hiện thực xã hội và tinh thần nhân đạo, cũng có bài viết quan tâm tới hình
Trang 28thức nhưng không phải là hình thức mang tính cấu trúc nghệ thuật như là sự sáng tạo trong cách thức biểu hiện nội dung Đặng Thai Mai cho rằng: “hình thức cũng là một thể hiện nhân dân tính vào trong nghệ thuật” [24]
Năm 1965, Đảng và Nhà nước tổ chức kỷ niệm 200 năm năm sinh Nguyễn Du, đây là dịp chúng ta nhìn lại những giá trị và đóng góp của Nguyễn Du và kiệt tác Truyện Kiều đối với văn học dân tộc, sức ảnh hưởng của tác phẩm đối với hai miền trong sự nghiệp thống nhất đất nước Quan điểm macxit, phê bình xã hội học lúc này tiếp tục giữ vai trò chi phối mạnh
mẽ Những vấn đề về giai cấp, chống phong kiến, lập trường tư tưởng Nguyễn
Du tiếp tục được đề cập hầu hết trong các bài phê bình Về tư tưởng, các nhà nghiên cứu cho rằng Nguyễn Du bị hạn chế trong ý thức giai cấp và thời đại nên không tìm được hướng giải quyết mâu thuẫn giai cấp nên đi tìm giải pháp trong triết học duy tâm thần bí như đề cập mệnh trời, tu tâm, coi đó là “thái độ tiêu cực thỏa hiệp trước trật tự phong kiến” [27,21] Trần Văn Giàu khẳng định tư tưởng định mệnh là nhược điểm của Nguyễn Du, đó cũng là hạn chế chung của thời đại, làm hạn chế tinh thần đấu tranh tự giải phóng, hơn nữa tư tưởng định mệnh còn bị bọn thống trị, bọn bồi bút lợi dụng nhằm đánh lạc
hướng tinh thần đấu tranh của nhân dân Trong bài Nguyễn Du – một trái tim
lớn, một nghệ sĩ lớn, Hoài Thanh nhấn mạnh Truyện Kiều chính là lời phát
biểu của Nguyễn Du trước vấn đề của thời đại, đó chính là “một tiếng kêu thương não nùng, đau đớn luôn văng vẳng bên tai” [27,149] Trên phương
diện nghệ thuật Truyện Kiều, nhìn chung trong kỷ yếu có nhiều bài đề cập đến đặc sắc về nghệ thuật của Truyện Kiều, Nguyễn Đình Thi khẳng định thành
công trong sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt, sức sáng tạo mạnh mẽ của tác giả như miêu tả nhân vật, vận mệnh con người trong khung cảnh xã hội, thời đại
và cho rằng : “Có thể nói trong Truyện Kiều đã có đủ những nhân tố, những
phương pháp của tiểu thuyết hiện đại” [27,65] Hoài Thanh đánh giá thành
Trang 29công trong sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn Du chính xác, tinh vi, trong trẻo truyền đúng được cái thần của sự việc và “tái tạo lại cuộc sống đương thời và sáng tạo ra một thế giới có thật” [27,157] Nhìn từ nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ, một số tác giả như Đào Thản, Nguyễn Lộc… chú ý vào chất liệu từ ngữ được sử dụng, xây dựng ngôn ngữ nhân vật, thể thơ đậm tính dân tộc Nhìn chung, những đánh giá về nghệ còn ở mức độ khái quát, chưa làm rõ được vẻ đẹp của ngôn ngữ văn chương vì lập trường đấu tranh giai cấp, đấu tranh tư tưởng còn ảnh hưởng sâu sắc
Nhìn lại đặc điểm phê bình Truyện Kiều của các tác giả mà chúng tôi vừa trình bày ở phần trên đây, chúng ta có thể xác nhận rằng quan niệm của các nhà phê bình Truyện Kiều ở miền Bắc thời kỳ này đều thống nhất trên nền tảng lý luận Marx – Lenin: tác phẩm văn học hình thành và phản ánh một cơ sở hiện thực nhất định nào đó, hình tượng trong văn bản nghệ thuật là cấu trúc quan hệ xã hội, tính hiện thực và tính giai cấp là thuộc tính tất yếu của văn học, cả hai yếu tố gắn chặt với tính khuynh hướng tư tưởng của người nghệ sĩ; tính giai cấp không tách rời tính Đảng, tính Nhân dân Vì vậy, văn học phải là phương tiện chính trị, vũ khí phục vụ sự nghiệp cách mạng và văn hóa tư tưởng Trong quá trình áp dụng, nhiều bài viết có tính chất suy diễn thậm chí cực đoan, bên cạnh đó cũng có nhiều nhận định mang tính đóng góp, cách nhìn sâu sắc về Truyện Kiều
1.2.2 Phê bình Truyện Kiều ở miền Nam giai đoạn 1954 – 1975
Từ sau 1954, đất nước bị chia cắt làm 2 miền Ở miền Nam, dưới sự ủng
hộ của Mỹ, chính phủ Ngô Đình Diệm được thành lập, thể chế cộng hòa từng bước được củng cố Bối cảnh chính trị ở nền đệ nhất cộng hòa vừa diễn ra phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân, vừa diễn ra những cải tổ và tiến hành kế hoạch xây dựng đời sống ở tất cả các lĩnh vực Diễn biến lịch sử
- xã hội ở miền Nam giai đoạn 1954 – 1975 phản ánh quá trình can thiệp của
Mỹ từ gián tiếp đến trực tiếp Bắt đầu là đứng sau bảo trợ cho chính quyền
Trang 30Ngô Đình Diệm (nền Đệ nhất Cộng hòa), các cuộc đảo chính cho đến sự ra đời của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu (nền Đệ nhị Cộng hòa) Bối cảnh văn hóa ở miền Nam Việt Nam có những đặc sắc và mạch ngầm các giá trị phong phú, vừa thống nhất trong mạch chảy của văn hóa dân tộc, vừa có xu hướng chuyển mình theo diễn biến biến lịch sử những năm đất nước bị chia cắt Đó là quá trình ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa, thêm vào
đó là văn hóa châu Âu và văn hóa Mỹ Về cơ bản, nền tảng tư tưởng tác động đến các lĩnh vực chủ yếu được du nhập từ phương Tây, đặc biệt là Pháp
Quá trình vận động của văn học gắn bó mật thiết cùng hoạt động báo chí, xuất bản Giao lưu văn hóa phương Tây trở nên sâu rộng nhờ sức mạnh hỗ trợ của lĩnh vực in ấn, báo chí và xuất bản Từ đó kích thích năng lực sáng tác của người nghệ sĩ nhằm thu hút các thành phần độc giả, văn học làm tăng sức hấp dẫn cho hoạt động báo chí và đa dạng hóa các hình thức tiếp nhận Đời sống báo chí và sáng tác văn học thể hiện ở mục tiêu hoạt động: phản ánh chủ trương, chính sách về các lĩnh vực đời sống của chính quyền Việt Nam Cộng
hòa (Tự do, Ngôn luận, Sáng tạo, Sáng dội miền Nam, Văn nghệ tiền
phong,…); bộc lộ quan điểm chính trị trên cơ sở lập trường dân tộc, phê phán
chế độ thực dân mới và ủng hộ kháng chiến (Lập trường, Hành trình, Trình
bầy, Văn mới, Đại dân tộc,…); phổ biến các tri thức khoa học chuyên ngành,
tôn giáo hoặc hoạt động theo đường lối trung lập (Độc lập, Tia sáng, Bách
khoa, Văn đàn, Đại học, Tư tưởng, Tri thức,…)
Đời sống văn học miền Nam chịu ảnh hưởng bởi các biến cố của biến động chính trị, hoạt động tôn giáo; của phong trào đấu tranh thống nhất đất nước và bảo vệ văn hóa dân tộc Sau khi thành lập, chính quyền Ngô Đình Diệm củng cố các cơ sở hành chính, tập trung xây dựng và phát triển kinh tế, giáo dục Vào thời kỳ này, ngoài việc cho xây dựng các trường tiểu học cấp
xã và trường trung học cấp quận, giáo dục đại học còn được chú trọng Nhiều
Trang 31trường đại học thành lập ở Sài Gòn, Đà Lạt, Cần Thơ, Huế Những thay đổi quan trọng về giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học cùng với hoạt động sôi nổi của báo chí - xuất bản đã từng bước hình thành lớp nghệ sỹ, những nhà phê bình văn học mang diện mạo mới, sức sống mới Đội ngũ các nhà phê bình khá đa dạng bao gồm người bản địa và người di cư: “Sau 1954, có hàng triệu đồng bào miền Bắc di cư vào miền Nam… Riêng trong phạm vi văn học nghệ thuật, vai trò của khối văn nghệ sĩ di cư thật quan trọng Sự hoạt động hăng hái của họ đã tạo không khí sôi nổi trong hoạt động văn nghệ Trong số những người di cư đó có những người về sau trở thành những nhà văn nổi tiếng như Doãn Quốc Sỹ, Nguyễn Sỹ Tế, Thanh Tâm Tuyền, Lê Tất Điều, Viên Linh, Duyên Anh, Trần Dạ Từ, Hà Thúc Sinh ”[63] Những người đi đầu tích cực trong việc tiếp thu, phổ biến các lý thuyết văn học phương Tây vào miền Nam tập trung phần đông là trí thức được đi du học ở châu Âu, chủ yếu du học ở Pháp Thời kỳ này có nhiều cây bút và tác phẩm lý luận phê
bình nổi bật, gây sự chú ý như: Nguyễn Văn Trung (Xây dựng tác phẩm tiểu
thuyết – 1962, Lược khảo văn học – 3 tập, 1963 - 1968), Thanh Lãng (Bảng lược đồ văn học Việt Nam, 1967), Đỗ Long Vân (Nguồn nước ẩn của Hồ Xuân Hương, Vô Kỵ giữa chúng ta hay là hiện tượng Kim Dung), Nguyên Sa
(Một bông hồng cho văn nghệ, Quan điểm văn học và triết học), Võ Phiến (Tiểu thuyết hiện đại – 1963; chúng ta, qua cách viết - 1972), Nhất Linh (Viết
và đọc tiểu thuyết, 1965), Nguyễn Hiến Lê (Hương sắc trong vườn văn – 2 quyển, 1962), Bùi Giáng (Thi ca tư tưởng, tư tưởng hiện đại), Đặng Tiến (Vũ trụ thơ), Huỳnh Phan Anh (Văn chương và kinh nghiệm hư vô, Đi tìm tác phẩm văn chương), Vũ Đình Lưu (Phân tâm học áp dụng vào việc nghiên cứu các ngành học vấn, 1969) …
Nền văn học muốn phát triển ngoài việc đầu tư cho yếu tố con người, tinh thần dân chủ còn phải chú trọng đến môi trường giáo dục Hệ thống các
Trang 32trường đại học, nhất là các đại học ở đô thị miền Nam là môi trường tiếp nhận, phổ biến và vận dụng thành tựu văn học thế giới trong nghiên cứu và giảng dạy: những trào lưu sáng tác, những trường phái triết học, mỹ học, nghiên cứu và phê bình văn học được giới thiệu rất phong phú và cập nhật Tính sinh động của đời sống báo chí cùng với sự cởi mở trong việc tiếp nhận và truyền bá các vấn đề tư tưởng học thuật đã hình thành nên một quá trình kép: kế thừa những quan niệm phê bình có ý nghĩa thực tiễn, ổn định trong quá khứ; đồng thời tích cực vận dụng nhiều phương pháp phê bình mới
từ lý thuyết của văn học phương Tây Theo suốt quá trình ấy, Truyện Kiều
tiếp tục trải qua dòng chảy tiếp nhận với những lối nhìn phong phú, đa dạng của các nhà phê bình miền Nam thời kỳ 1954 – 1975 Những nhà phê bình trực cảm (Nguyễn Văn Trung gọi là phê bình chủ quan) khám phá tác phẩm bằng cách “lấy hồn tôi để hiểu hồn người” (Hoài Thanh), thẩm định tác phẩm dựa vào mối giao cảm, đồng cảm giữa bản thân nhà phê bình với Nguyễn Du,
với Truyện Kiều Tác giả Đông Hồ, Thiên Thụ bàn về tình yêu của nhân vật
Thúy Kiều cho rằng trong ba mối tình của đời Kiều chỉ có mối tình với Kim Trọng là lý tưởng, còn lại mối tình với Thúc Sinh và Từ Hải là tình yêu chiếm
đoạt (Một Thúy Kiều, ba tình yêu, Nghiên cứu văn học số 9, 1971) Nhiều bài
viết quan tâm đến ảnh hưởng chi phối của ba nền tảng tư tưởng là Nho – Phật
– Lão để lý giải hành vi, số phận nhân vật, vấn đề triết lý Truyện Kiều Khi
luận giải về nỗi khổ đau trong đời Kiều, Thích Thiên Ân cho rằng Nguyễn Du không chỉ thể hiện quan niệm nhân quả nghiệp báo của Phật giáo mà còn đồng nhất với thuyết thiên mệnh, định mệnh của Nho giáo: “Tác phẩm đã vượt lên trên tất cả những quan niệm chật hẹp tầm thường của đương thời để thể hiện một tinh thần tổng hợp linh động của các nền tư tưởng Đông phương
là Phật giáo, Nho giáo và Lão giáo Ba nền triết học Phật, Lão Nho ấy đã dung hòa đẹp đẽ trong công cuộc đúc kết thành sắc thái đặc biệt và phong phú
Trang 33của nền văn hóa Việt Nam với mấy nghìn năm lịch sử Chính sắc thái này đã tạo ra truyền thống dung hòa nhưng không nô lệ, mền dẻo nhưng bất khuất của dân tộc Việt Nam trải qua bao cuộc chống xâm lăng, dành độc lập của
Ông cha chúng ta từ xưa và ngay cả thế hệ của chúng ta bây giờ nữa.” (Giá trị
triết học tôn giáo trong truyện Kiều, Đông Phương Xb, 1966) Ở một hướng
khác, Truyện Kiều được nghiên cứu, phê bình bằng các phương pháp mới mẻ, hiện đại như: phân tâm học, chủ nghĩa hiện sinh, cấu trúc luận, xã hội học Marxist… Nhiều nhà phê bình như Nguyễn Văn Trung, Nguyên Sa Trần Bích Lan, Tô Thùy Yên, Nguyễn Sỹ Tế đều khẳng định số phận bạc mệnh của Thúy Kiều không phải do nhân quả, tiền định, nghiệp chướng hay thiên mệnh (theo quan niệm của Phật giáo, Nho giáo) Tiếng than thở, tiếng nghẹn ngào khóc lóc không chỉ là bản sắc riêng của xã hội phong kiến, nó là nỗi lòng phổ quát của mọi thời đại Nguyên Sa xem xét các sự kiện của đời Kiều, chỉ ra nguyên cớ của đau khổ, bất hạnh là do chính sự lựa chọn của Kiều, đó là “tự
do lựa chọn định mệnh”: Kiều tự nhận trách nhiệm quyết định bán mình, ý thức sẵn sàng dấn thân vì người khác chứ không ai ép buộc Cùng chung tinh thần phê bình với Nguyên Sa, Tô Thùy Yên đã lý giải về sự lựa chọn của Kiều rằng: “đứng trước định mệnh thảm khốc, con người vẫn có quyền chọn lựa, vẫn có tiếng nói phê chuẩn của Con người dù sao vẫn tự do và chính Định Mệnh đã làm nổi bật tự do của con người trong những lần lựa chọn cam
go Không ai ép buộc Kiều phải bán mình chuộc cha cả Trái lại Vương Ông còn cản trở nàng Tại sao nàng chẳng bắt chước Vân, một mực làm thinh, coi đại họa kia như không hề dính dấp đến mình, mà lại phải hy sinh? Kiều đã hành động trong tự do, đã rước lấy số kiếp đoạn trường với tư cách một người tình nguyện, Cả thân thế Kiều cũng chứng tỏ nàng đã có đầy đủ tự do trong
hành động.” [3] Đặng Tiến giải quyết các vấn đề của Truyện Kiều trên
phương diện sự hiện hữu cô đơn, thực trạng phi lý và thảm kịch của kiếp người Con người tồn tại với kiếp sống lưu đày như là “kẻ tử tội cô đơn”,
Trang 34chẳng mấy ai hiểu nội tâm Kiều bị giày vò thế nào, chỉ mình Kiều đối diện với bản thân rồi giật mình bừng tỉnh Trong các phạm trù của lý thuyết hiện sinh, cô đơn là vấn đề thuộc về bản thể của con người, con người cảm thấy mong manh và lạc loài giữa biến động của thời cuộc cùng sự chao đảo các giá trị Cảm giác cô đơn phản ánh ý thức hiện hữu của chính mình
Trong phê bình hiện đại, phạm trù thời gian là một trong các phương diện cơ bản của phê bình thi pháp học, nhưng ngay từ trước những năm 60 của thế kỷ XX ở miền Nam, Lê Tuyên đã đi tìm giá trị Truyện Kiều bằng phạm trù thời gian theo thuyết trực giác kết hợp với góc nhìn hiện sinh và cái phi lý: “Đi về tương lai từ quá khứ và qua hiện hữu, nghĩa là đi về phi lý của nấm mồ Chúng ta hằng sống như vậy mà không biết, và thực sống vô ý thức đẹp đẽ kia sẽ đưa và luôn luôn đưa con người đến hủy diệt Khi con người minh định còn thanh xuân, thì đồng thời cũng đang qui định mình theo thời gian, nghĩa là đang đặt mình trong vị trí thời gian, biết mình đang ở vào một
cứ điểm nào của đường biến thiên đã được vạch ra trong tọa độ sống và tung
độ chết.” Kiếp đoạn trường của Kiều là một hành trình hiện sinh, hiện hữu trong suy tư của Nguyễn Du, thi hào diễn tả sinh động nỗi ám ảnh và những trăn trở về tương lai bằng cảm giác sợ hãi trước hiện tại Dù có sợ hãi, băn
khoăn thế nào cũng không thể lẩn trốn nên phải sẵn sàng chấp nhận rằng “Biết
duyên mình biết phận mình thế thôi” Phương hướng phê bình của Lê Tuyên
mang tới cách nhìn độc đáo, sáng tạo trong phê bình Truyện Kiều từ triết học hiện sinh, đồng thời tiếp tục mở ra cách thức tiếp cận mới trong lý luận và phê bình văn học
Từ điểm nhìn phân tâm học và cấu trúc luận, một số nhà phê bình dựa vào vận động trong tâm lý Nguyễn Du, sự vận động của vô thức (nghiên cứu của Thanh Lãng, Nguyễn Đình Giang), vận động tâm lý của nhân vật Thúy Kiều (nghiên cứu của Đàm Quang Thiện) Các tác giả phê bình kết hợp quan
Trang 35niệm của Freud với các quan niệm mới của Alfred Adler, Erich Fromm chú ý
vào biểu hiện tính tình của con người để chỉ ra tư tưởng Truyện Kiều Tâm lý,
tính cách con người trước tiên là yếu tố bẩm sinh, sau đó diễn ra chuyển biến
và hoàn thiện thông qua trải nghiệm trong cuộc đời Nguyễn Đình Giang cho rằng Nguyễn Du là con người sống hướng nội (nhạy cảm, đa sầu đa cảm), tính cách va chạm với hoàn cảnh xã hội khiến người nghệ sỹ lúc nào sống trong mâu thuẫn, dễ đồng cảm, suy tư, buồn khổ và bi quan; suy tưởng mơ hồ về số
kiếp, định mệnh (muôn sự tại trời, con tạo xoay vần, …) Trong bài viết “Thử tìm hiểu Nguyễn Du và Truyện Kiều theo một phương pháp mới” (Đại học số
8, 1959), Nguyễn Đình Giang nắm rõ được bản chất cách tiếp cận của mình nên ông xem những vấn đề lý thuyết phân tâm học mà mình vận dụng chỉ góp
phần hỗ trợ, bổ sung cho việc tìm hiểu Truyện Kiều Những vấn đề của tâm lý
học tính cách, kết quả khảo đính và hiệu đính chưa hằn là đầy đủ nên không thể giải mã trọn vẹn người nghệ sĩ nói riêng và văn chương nói chung Ở một trường hợp khác, xuất thân từ bác sĩ giống như Freud, yêu thích văn chương
Truyện Kiều, Đàm Quang Thiện đã vận dụng lý thuyết của phân tâm học tìm
hiểu vận động tâm lý của nhân vật Thúy Kiều với công trình “Ý niệm bạc mệnh trong cuộc đời Thúy Kiều” Đàm Quang Thiện xuất phát từ các yếu tố của văn bản, lý giải số phận Thúy Kiều theo nền tảng phân tâm học văn bản
Thúy Kiều luôn ám ảnh về lời dự báo số phận của của ông thầy xem tướng
ngay lúc còn thơ Ý niệm bạc mệnh chi phối Kiều từ đời thực tới chiêm bao qua cách ứng xử với những tình huống của đời sống (sáng tác bản đàn bạc mệnh, viếng mộ Đạm Tiên, tương tư Kim Trọng…) Như vậy, Kiều sống bằng niềm tin số trời, định mệnh, cố gắng tìm cách trốn thoát nỗi ám ảnh
mệnh bạc, có khi an phận, chấp nhận, và nhiều khi Kiều mang mặc cảm thân
phận Ý niệm bạc mệnh từng bước bám chắc vào trong vô thức của Kiều, các hành vi có ý thức trong đời sống hình thành từ mặc cảm trong vô thức Phương pháp phê bình của Đàm Quang Thiện vừa thể hiện tinh thần khoa
Trang 36học, vừa mang tính thẩm mỹ và sự tinh tế trong tiếp nhận tác phẩm văn học, mặc dù có chỗ khiên cưỡng nhưng không có những đánh giá vượt quá giới hạn giá trị tác phẩm văn học như cách đọc phân tâm học của Nguyễn Bách
Khoa ở miền Bắc Đặng Tiến nghiên cứu hình thức cấu trúc Truyện Kiều trong bài Nghệ thuật như một chiến thắng (Văn, số 44, 15-10-1965)… Những
kết quả tìm hiểu của Thanh Lãng là đi tìm những cấu trúc thuộc về con người,
về thế giới nhân vật đã chi phối đến hành động, tâm lý của họ như thế nào Tác giả mở rộng khám phá thế giới quan Nguyễn Du trong cac tư liệu liên qua
đến thời đại Nguyễn Du (Khâm định Việt sử, Vũ trung tùy bút, Hoàng Lê nhất
thống chí…) Thanh Lãng đặt Truyện Kiều trong hình thái cấu trúc con người
với lịch sử và cấu trúc xã hội, nhóm nhân vật và các phương thức nhìn nhận
Truyện Kiều Ông xác lập cấu trúc chung chìm ẩn để nắm bắt, nhìn nhận cuộc
đời Nguyễn Du như một hiện hữu quái gở, từ đó chi phối đến các yếu tố khác của Truyện Kiều: cái bóng về sự quái gở của cuộc đời chấm dứt cuộc sống êm
đềm và diễn cuộc bể dâu của kiếp người, lấy ngôn ngữ nhân vật – vai truyện đưa ngôn ngữ tác giả chuyển hóa lời độc thoại của tác giả thành lời độc thoại nhân vật, bản chất con người qua các nhóm nhân vật và một Nguyễn Du được phản ánh trực tiếp hoặc ngụy trang sau các nhân vật (vô tình, thất ước, kiêu hùng, ngã lòng Mở rộng đến cấu trúc văn hóa xã hội tư tưởng chi phối cách
đánh giá Truyện Kiều từ cuối thế kỷ XIX đến thế kỷ XX sau khi Nguyễn Du qua đời, nhấn mạnh vào tính sinh động và sức cuốn hút của Truyện Kiều trong tâm thức đọc của các thế hệ Vì vậy, hành trình tiếp nhận Truyện Kiều cũng là
hành trình đa truân như chính số phận nhân vật chính và tác giả Nguyễn Du
Về cơ bản, phê bình văn học miền Nam thời kỳ 1954 – 1975 vận động trong môi trường cởi mở, đối tượng người đọc có nhu cầu và thị hiếu thẩm
mỹ đa dạng nhờ đó mà có thể tồn tại, phát triển trong bối cảnh hỗn loạn, phức tạp của thời chiến
Trang 37TIỂU KẾT CHƯƠNG I
Nhìn lại quá trình tiếp nhận, phê bình Truyện Kiều, có thể nhận thấy tác
phẩm đã trải qua nhiều cách đánh giá, phán xét của tất cả các hình thức thẩm bình văn chương Sự vận động của thể chế xã hội, những biển đổi của thời
cuộc lịch sử kéo theo sự thay đổi, phát triển của lịch sử phê bình Truyện Kiều
nói riêng, lịch sử phê bình văn học nói chung Những biến chuyển trong đời
sống tư tưởng phản ánh sự thay đổi nền học thuật của nước nhà Truyện Kiều
trở thành chứng nhân cho sự chuyển mình của ý thức xã hội Khi tầm đón
nhận của công chúng có sự thay đổi, đánh giá về Truyện Kiều lập tức có sự
thay đổi, xung đột trong tầm đón nhận của công chúng tạo thành tính phức tạp, tính tranh luận trong khám phá tác phẩm
Dựa trên các phương diện đã khái quát và nhìn từ các bài viết phê bình
Truyện Kiều, có thể bước đầu xác lập một số phương pháp phê bình tiêu biểu
được các nhà nghiên cứu phê bình miền Nam Việt Nam sau 1954 vận dụng như: hiện sinh, phân tâm học, cấu trúc luận, mác – xít, nữ quyền luận Xuất phát từ phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi tập trung vào việc chỉ ra điểm cốt lõi về nguồn gốc, đặc trưng cơ bản của phương pháp phê bình làm cơ sở
quy chiếu vào các bài viết của cuốn sách Chân dung Nguyễn Du Các phương
pháp được xác lập bao gồm: chủ nghĩa hiện đại (thuyết trực giác, chủ nghĩa hiện sinh), phân tâm học và chủ nghĩa cấu trúc Riêng đối với chủ nghĩa hiện đại, do phân chia nhiều nhánh khác nhau dẫn đến tiếp nhận không đồng nhất, các tác giả của miền Nam ảnh hưởng chủ yếu hai dòng tư tưởng là thuyết trực giác và chủ nghĩa hiện sinh, trong đó nổi trội nhất là triết học hiện sinh
Trang 38CHƯƠNG 2
PHÊ BÌNH TRUYỆN KIỀU TỪ LÝ THUYẾT
CHỦ NGHĨA HIỆN SINH VÀ CHỦ NGHĨA CẤU TRÚC
TRONG KHẢO LUẬN CHÂN DUNG NGUYỄN DU
2.1 Khái quát lý thuyết chủ nghĩa hiện sinh và chủ nghĩa cấu trúc
2.1.1 Chủ nghĩa hiện sinh
Hình thành và phát triển trên nền tảng của hai cuộc chiến tranh lớn của thế giới, nhiều nhà tư tưởng suy tư về bản chất của sự sống, từ đó thúc đẩy quá trình sinh trưởng của của chủ nghĩa hiện sinh trong triết học và văn học Bắt đầu xuất hiện sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 - 1918) với hai nhà tư tưởng là M Heidegger, K Jaspers; rồi lan rộng sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, phát triển mạnh mẽ ở Pháp với các tác giả như Jean-Paul Sartre, Gabriel Marcel, Albert Camus,… Chủ nghĩa hiện sinh kế thừa thành tựu di sản tư tưởng của các nhà triết học phương Tây cổ đại (Socrate, Augustin, Pascal,…) trong nhận thức về sự tồn tại, những yếu tính của con người (lầm lỗi, lo âu, nỗi ám ảnh,…); đồng thời quan tâm đến số phận con người, nhất là những người bình thường trong thế giới đầy biến động – nền tảng từ những cuộc chiến, đi sâu vào đời sống tinh thần nhân loại, lớp người trẻ với mối hoài nghi, suy sụp về lý tưởng, đạo đức Tất cả những điều này cũng là một trong yếu tố quan trọng của quá trình sáng tạo văn học Có thể nhìn nhận rằng, chủ nghĩa hiện sinh trước tiên là triết học về con người, quan tâm giá trị con người như là thước đo cao nhất; một trào lưu triết học – trào lưu tư tưởng gắn kết chặt chẽ với văn học và nghệ thuật chi phối quan niệm sống, lối sống của con
người Gordon E Bigelow đã chỉ ra một vài đặc trưng tổng quát của trào lưu
này[10], chúng tôi chỉ nêu lại các đặc trưng và cố gắng khái lược theo cách
tiếp cận của Bigelow, đó là: Hiện sinh có trước bản chất (từ tồn tại hiện hữu
Trang 39vốn có, đi tìm các mặt bản chất để suy tưởng và nhận thức), lý trí luôn bất lực khi đề cập đến chiều sâu của đời sống con người (lý trí con người mềm yếu,
dễ thay đổi; tính “phi lý trí” của đời sống nội tâm, những khoảng tối trong đời sống tinh thần không thể nào nắm bắt, con người ẩn đầy những mâu thuẫn và căng thẳng… tính thống nhất và đấu tranh trong cái cao cả và cái thấp hèn),
sự xung khắc (các nhà hiện sinh quan tâm nhiều tới dạng thức xung khắc bao gồm xung khắc với thượng đế, với thiên nhiên, với người khác – tha nhân và với chính mình), “Run sợ” và âu lo, Tự do (Sartre coi tự do nghĩa là tự do lựa chọn, chấp nhận và gánh vác trách nhiệm đối với sự lựa chọn đó), sự biểu đạt thông qua các biểu tượng cùng sự cách tân hình thức làm nổi bật bản sắc hoặc
tư duy kinh nghiệm Chủ nghĩa hiện sinh được nhắc đến cùng dòng tư tưởng với hiện tượng luận hiện sinh, phân tâm hiện sinh… Các phạm trù trên được vận dụng để lý giải bản chất con người và cuộc sống trong sáng tác văn học, phê bình văn học
Vào thời kỳ Đệ nhất Cộng hòa, chính quyền Ngô Đình Diệm lấy thuyết nhân vị (do Emmanuel Mounier khởi xướng ở Pháp) làm hệ tư tưởng cho chế
độ Sau khi nền đệ nhất cộng hòa sụp đổ, thuyết nhân vị không còn thể chế dẫn đường, xã hội miền Nam chưa tìm được nền tảng tư tưởng mới soi đường, theo đó các chủ đề liên quan đến chủ nghĩa hiện sinh được quan tâm, đón nhận trong một thời gian dài Quá trình du nhập và lan rộng ảnh hưởng tạo thành môi trường thuận lợi cho việc vận dụng lý thuyết chủ nghĩa hiện sinh
vào phê bình văn học, trong đó có Truyện Kiều Số phận Thúy Kiều và quan
niệm thẩm mỹ của Nguyễn Du được soi chiếu từ góc nhìn hiện sinh đã cung cấp cho việc tiếp nhận tác phẩm những cái nhìn mới, nhận thức mới về giá trị
của Truyện Kiều, điều chỉnh và bổ sung cách đọc từ quan niệm triết học
phương Đông
Trang 402.1.2 Chủ nghĩa cấu trúc
Trong các công trình của các nhà nghiên cứu, lý luận, phê bình miền Nam trước 1975, chủ nghĩa cấu trúc còn được dịch và gọi bằng các tên khác như: chủ nghĩa cơ cấu, cơ cấu luận Các nhà phê bình hiện nay thường gọi là cấu trúc luận Quá trình phổ biến, áp dụng chủ nghĩa cấu trúc có ý nghĩa bổ sung, hoàn thiện, khắc phục hạn chế của các phương pháp phê bình hiện sinh, phân tâm học, mỹ học Marxist
Chủ nghĩa cấu trúc hình thành từ những thập niên 1950, ảnh hưởng mạnh mẽ từ những thập niên 1960, ra đời từ hai nền tảng cơ bản Thứ nhất là những thành tựu về lý thuyết ngôn ngữ học, bắt đầu từ nhà ngôn ngữ học người Thuỵ Sĩ Ferdinand de Saussure (1857 – 1913), sau đó bổ sung bằng các phát hiện của một số trường phái ngôn ngữ học, nổi bật nhất là Roman jakobson của nhóm ngôn ngữ học Prague: ngôn ngữ tập hợp hệ thống các ký hiệu, các đơn vị; sự liên kết của các yếu tố trong hệ thống phản ánh tư duy, tư tưởng của con người thông qua cái biểu đạt và đối tượng được biểu đạt Thứ hai là thành tựu trong nghiên cứu nhân chủng học, dân tộc học trên cơ sở ứng dụng các quy tắc về ngôn ngữ học của nhà nhân chủng học Claude Lévi-Strauss Từ đây Roland Barther đi tới nhận định mang tính dung hợp từ hai nền tảng trên: “Văn hóa, trong mọi khía cạnh, là một ngôn ngữ” Các phương diện vừa nêu định hướng cách nhìn về bản chất của cấu trúc luận, một lý thuyết có tính chất liên ngành, mang tính phương pháp luận, nhận thức luận đặc trưng Xuất phát từ đặc trưng sáng tạo của văn học là tác phẩm nghệ thuật ngôn từ có mối quan hệ tới môi trường văn hóa của cộng đồng, chủ nghĩa cấu trúc dần dần ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống phê bình văn học Nhà phê bình đi tiên phong vận dụng cấu trúc luận và phê bình văn học trên thế giới là
Roland Barthes (1915-1980) với tác phẩm phê bình Huyền thoại (1957) nổi
tiếng Phê bình cấu trúc chỉ quan tâm tới yếu tố, bề mặt cấu trúc văn bản được