CƠ SỞ THỰC TIỄN...4 CHƯƠNG II: CÁC BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH NHẬN BIẾT VÀ VẬN DỤNG TỐT CÁC PHÉP TU TỪ SO SÁNH...6 Biện pháp 1: Nghiên cứu cấu trúc, nội dung chương trình sách giáo khoa, ph
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU 1
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 2
III PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 2
IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2
V PHẠM VI VÀ KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU 2
PHẦN NỘI DUNG 3
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 3
1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 3
2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 4
CHƯƠNG II: CÁC BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH NHẬN BIẾT VÀ VẬN DỤNG TỐT CÁC PHÉP TU TỪ SO SÁNH 6
Biện pháp 1: Nghiên cứu cấu trúc, nội dung chương trình sách giáo khoa, phân nhóm các dạng bài tập so sánh 6
Biện pháp 2: Tìm hiểu khái niệm, cấu trúc của phép tu từ so sánh 7
Biện pháp 3: Giúp học sinh nhận biết các dạng bài tập về so sánh 10
Biện pháp 4: Giúp học sinh củng cố kiến thức về biện pháp so sánh qua hệ thống bài tập mở rộng 19 Biện pháp 5: Giúp học sinh nhận biết biện pháp so sánh thông qua các câu đố dân gian 23 CHƯƠNG III: KẾT QUẢ 25
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 28
1 KẾT LUẬN 28
2 ĐỀ XUẤT VÀ KHUYẾN NGHỊ: 28
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Đối với học sinh Lớp 3, So sánh là mảng kiến thức mới song cũng phù hợp
với đặc điểm tâm sinh lý của học sinh Tiểu học: giàu trí tưởng tượng, giàu cảmxúc, cách suy nghĩ hồn nhiên, trong sáng…Biện pháp so sánh có khả năng khắchọa hình ảnh và gây ấn tượng mạnh mẽ làm nên một hình thức miêu tả sinh động,mặt khác so sánh còn có tác dụng làm cho lời nói rõ ràng, cụ thể sinh động, diễnđạt được mọi sắc thái biểu cảm So sánh tu từ còn là phương thức bộc lộ tâm tưtình cảm một cách kín đáo và tế nhị Như vậy so sánh trong văn học mang chức
năng nhận thức và biểu cảm Học tốt biện pháp So sánh sẽ giúp các em hiểu và
cảm nhận được cái hay, cái đẹp trong những câu văn, những bài văn, bài thơ Qua
đó góp phần mở mang tri thức, làm phong phú tâm hồn để giúp các em viết đượcnhững câu văn hay, gợi tả, gợi cảm và những bài văn giàu cảm xúc Không chỉ cóvậy, nó còn giúp cho các em học tốt thể loại văn miêu tả ở Lớp 4 và Lớp 5, thểloại văn nghệ thuật sử dụng lời văn có hình ảnh và cảm xúc làm cho người nghe,người đọc hình dung rõ nét, cụ thể, sinh động về các sự vật hiện tượng…
Hơn thế nữa, biện pháp So sánh còn giữ vai trò quan trọng trong việc diễnđạt tư tưởng, tình cảm thích hợp với việc biểu đạt các đặc điểm, thuộc tính riêngvốn có của các sự vật, hiện tượng… tạo nên những bức tranh sinh động với gammàu ấn tượng bằng ngôn từ
Chính vì vậy, dạy So sánh được rất nhiều giáo viên quan tâm, nhất là giáo
viên dạy lớp 3 Vấn đề được đặt ra là dạy như thế nào cho hợp lý nhất, học sinhnắm bài tốt nhất để từ đó các em biết cách vận dụng vào những bài văn một cáchchính xác và đạt hiệu quả cao
Qua thực tế ở trường mình dạy và trao đổi với các bạn bè đồng nghiệp ởtrường bạn, tôi thấy các giáo viên đều hiểu rõ tầm quan trọng của phân mônLuyện từ và câu cũng như cái hay cái mới của phân môn này Do có những nétmới trong phân môn này nên khi dạy về biện pháp tu từ so sánh, nhiều giáo viên
đã biến giờ học Luyện từ và câu thành một giờ “giảng văn” nhằm lột tả cái hay,cái đẹp trong mỗi hình ảnh so sánh Điều đó hoàn toàn sai phương pháp đặc trưngcủa phân môn, dẫn đến học sinh không không nắm được kiến thức trọng tâm củabài, chính vì vậy mà các em không mấy hứng thú trong học tập dẫn đến hiệu quảhọc tập không cao Là một giáo viên dạy lớp 3 lâu năm, có kinh nghiệm, việcnghiên cứu về nội dung và phương pháp dạy học không chỉ là trách nhiệm mà còn
là niềm say mê, sự yêu nghề của tôi
Nhận rõ tầm quan trọng của việc dạy biện pháp tu từ so sánh cho học sinh đểcác em biết vận dụng vào nói và viết văn, ngay từ đầu năm học tôi đã đi sâu
nghiên cứu và tìm ra Một số biện pháp giúp học sinh nhận biết và vận dụng tốt phép so sánh tu từ trong phân môn Luyện từ và câu ở lớp 3
Trang 4II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Đặc điểm của dạy Luyện từ và câu lớp 3 chính là giúp học sinh tiếp cậnkịp thời với sách giáo khoa đồng thời giúp giáo viên có được phương pháp rènluyện học sinh kỹ năng sử dụng biện pháp tu từ so sánh Từ đó vận dụng linhhoạt vào hướng dẫn rèn kỹ năng làm các bài tập Luyện từ và câu một cáchhiệu quả nhất
Góp phần giúp học sinh củng cố lý thuyết về cách dùng từ so sánh, từ đóhọc sinh biết phân biệt, biết cách so sánh tu từ
III PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Tôi chọn học sinh lớp 3A3 do tôi chủ nhiệm năm học 2018 - 2019 làmđối tượng nghiên cứu, sĩ số học sinh là 45 em
IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện được mục đích của đề tài đặt ra, tôi mạnh dạn nghiên cứu,học hỏi, tìm tòi, áp dụng những phương pháp sau:
1 Phương pháp nghiên cứu lý luận (đọc tài liệu)
2 Phương pháp điều tra giáo dục
3 Phương pháp phân tích tổng hợp
4 Phương pháp tổng kết, rút kinh nghiệm (thông qua các chuyên đề ở tổ khối, dự giờrút kinh nghiệm của đồng nghiệp, rút kinh nghiệm qua thực tế giảng dạy của mình,khảo sát đối tượng học sinh.)
5 Phương pháp quan sát, đàm thoại, trò chuyện với giáo viên và học sinh lớp 3
V PHẠM VI VÀ KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU
Phạm vi nghiên cứu: Học sinh lớp 3A3
Kế hoạch nghiên cứu: Từ tháng 9 năm 2018 đến tháng 4 năm 2019
Trang 5PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
Trong hệ thống giáo dục, bậc Tiểu học có một vị trí rất quan trọng, vì nó
là bậc học nền móng cho các bậc học tiếp theo
Giáo dục Tiểu học là cơ sở ban đầu hết sức quan trọng góp phần đào tạo
ra lớp người mới phát triển một cách toàn diện để có thể gánh trên vai sứ mệnhlịch sử của ngành giáo dục Ở Việt Nam, những năm gần đây giáo dục tiểu họcđược quan tâm đặc biệt Những năm qua đã có biết bao công trình nghiên cứu,bao sáng kiến cải cách nội dung, đổi mới phương pháp dạy học cho phù hợpvới sự phát triển của xã hội
Chương trình tiểu học mới đòi hỏi người thầy ở khắp mọi miền Tổ quốcphải nỗ lực phấn đấu, khắc phục khó khăn, tích cực đổi mới phương pháp dạyhọc để đạt được mục tiêu giáo dục đề ra
Trong chương trình Tiểu học, Tiếng Việt là môn học có chức năng “kép”(vừa là môn khoa học, vừa là môn công cụ) và là môn học chiếm nhiều thờilượng nhất Môn Tiếng Việt cung cấp một khối lượng kiến thức cơ bản chomỗi học sinh trước khi bước vào đời Đồng thời, nó giúp học sinh rèn luyện,nâng cao trình độ sử dụng một phương tiện học tập và lĩnh hội tri thức khoahọc, nâng cao kỹ năng sử dụng Tiếng Việt
Học Tiếng Việt không chỉ dừng lại ở những hiểu biết về nó, mà điều quantrọng là sử dụng nó ngày một thành thạo hơn, tốt hơn vào các hoạt động giaotiếp đa dạng trong xã hội
Để đạt được mục tiêu trên, phân môn Luyện từ và câu đã góp phần khôngnhỏ, ngoài việc củng cố về các mẫu câu và mở rộng vốn từ cho học sinh thìphân môn Luyện từ và câu còn giúp các em làm quen với các biện pháp tu từ,trong đó có biện pháp tu từ so sánh Đây là mảng kiến thức rất mới đối với họcsinh lớp 3 Qua các bài học, các em sẽ nhận biết được các hình ảnh so sánh,các sự vật được so sánh với nhau trong mỗi khổ thơ, mỗi đoạn văn, các em cầnphân biệt được kiểu so sánh của mỗi hình ảnh so sánh ấy; thấy được ý nghĩa,tác dụng của biện pháp so sánh trong biểu đạt ngôn ngữ làm cho sự vật hiệnlên sinh động và gần gũi hơn Để viết được những câu văn hay, những bài văngiàu hình ảnh và cảm xúc, các nhà thơ nhà văn phải có sự quan sát tinh tế vàkết hợp với các biện pháp nghệ thuật để tạo nên sự thành công của tác phẩm Nhờ những hình ảnh bóng bảy, dùng cái này để đối chiếu cái kia nhằmdiễn tả những ngụ ý nghệ thuật mà so sánh tu từ được sử dụng phổ biến trongthơ ca, đặc biệt là thơ viết cho thiếu nhi
Trang 6Việc giúp các em tìm hiểu cái hay, cái đẹp trong tác phẩm để qua đó dạycác em biết cách sử dụng các biện pháp tu từ vào trong những bài học củamình Vậy, vấn đề đặt ra là: Giáo viên cần có những hình thức tổ chức,phương pháp dạy học như thế nào để các em tích cực tham gia vào hoạt độnghọc tập và giờ dạy đạt hiệu quả cao.
2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
Để nắm rõ nguyên nhân và tìm ra những biện pháp hữu hiệu nhất choviệc dạy và học biện pháp tu từ so sánh, tôi đã tìm hiểu kĩ thực trạng việc dạy
và học biện pháp này ở giáo viên và học sinh
Nhìn chung, nhiều giáo viên đã nắm được mục đích của việc dạy phép
tu từ so sánh, biết sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học mới nhằm pháthuy tính tích cực, chủ động của học sinh Một số giáo viên biết sử dụng linhhoạt các phương tiện dạy học, giúp các em tiếp cận với phép so sánh một cách
dễ dàng hơn
Tuy nhiên, giáo viên và học sinh vẫn còn gặp một số khó khăn và hạnchế khi dạy và học phép tu từ so sánh như sau:
2.1.Về phía giáo viên:
Qua thực tế giảng dạy và trao đổi với bạn bè đồng nghiệp cho thấy:
Khi dạy về biện pháp tu từ so sánh một số giáo viên còn rất lúng túng trong việc nắmvững mức độ nội dung của từng bài cụ thể dẫn đến việc dạy quá cao hoặc quá thấp sovới chương trình
Giáo viên mới chỉ chú tâm vào việc dạy cho học sinh nhận biết phép tu từ
so sánh mà chưa quan tâm nhiều tới việc dạy học sinh cách cảm nhận và vậndụng các kiến thức về so sánh vào việc nói và viết
Phần lớn giáo viên chỉ tổ chức cho học sinh luyện tập những bài tập trongsách giáo khoa, rất ít giáo viên sáng tạo ra các bài tập mới, các tình huống mớihay tạo ra hoàn cảnh sử dụng từ của học sinh
Vốn kiến thức của một số giáo viên còn hạn chế Tài liệu tham khảo, mởrộng vốn hiểu biết cho giáo viên và học sinh chưa nhiều
Một số bộ phận nhỏ giáo viên vẫn chưa chú trọng quan tâm đến việc lồngghép trong quá trình dạy học giữa các phân môn của môn Tiếng Việt với nhau,
để khơi dậy sự hứng thú học tập và sự tò mò của phân môn này với phân mônkhác trong môn Tiếng Việt
2.2 Về phía học sinh
Khả năng tư duy của học sinh còn dừng lại ở mức độ tư duy đơn giản,trực quan, vốn kiến thức văn học của học sinh rất ít ỏi nên việc cảm thụ nghệthuật tu từ so sánh còn hạn chế
Qua thực tế giảng dạy ở lớp mình phụ trách và tìm hiểu thêm về họcsinh lớp khác qua các đồng nghiệp, tôi thấy các em còn mắc những lỗi sau:
Học sinh nhầm lẫn giữa so sánh logic và so sánh tu từ
Trang 7Ví dụ câu “ Trăng đêm nay sáng quá, trăng mai còn sáng hơn” là một
phép so sánh tu từ bậc hơn kém nhưng thực tế nó là phép so sánh logic
Nhận diện sai các yếu tố so sánh
Ví dụ câu: “ Những hạt sương sớm đọng trên lá long lanh như những
bóng đèn pha lê.” học sinh xác định các sự vật được so sánh với nhau là “ hạt sương” so sánh với “ lá” như vậy là sai Đáp án ở đây phải là “ hạt sương sớm” được so sánh với “ bóng đèn pha lê”.
Hay trong các câu thơ sau:
Mùa đông Trời là cái tủ ướp lạnh Mùa hè
Trời là cái bếp lò nung.
Các em thường xác định sai là
mùa đông so sánh với tủ ướp lạnh mùa hè so sánh với bếp lò nung
Tạo hình ảnh so sánh chưa hợp lý
Học sinh đặt câu có hình ảnh so sánh “Con đường thẳng tắp như một
chiếc thước kẻ.” Hầu hết các em chỉ biết tạo ra hình ảnh so sánh mà thiếu đi
tính thẩm mĩ của nghệ thuật so sánh.
Chưa cảm nhận được giá trị của phép so sánh
Chẳng hạn với những câu hỏi như : Trong các hình ảnh so sánh có ởtrong bài, em thích hình ảnh nào? Vì sao? Các em chỉ nêu được hình ảnh sosánh mình thích chứ không giải thích được vì sao thích
Để kiểm tra khả năng nắm bài cũng như theo dõi sự tiến bộ của họcsinh, tôi đã tiến hành khảo sát học sinh trước khi áp dụng biện pháp mới Saukhi học xong tiết về so sánh ở tuần 1 và tuần 3, tôi đã chọn bài tập trong tiếtLuyện từ và câu của tuần 5 làm bài tập khảo sát
Kết quả thu được như sau:
Băn khoăn trước kết quả còn thấp của học sinh lớp mình, tôi đã tìm hiểu
ra những nguyên nhân nêu trên và mạnh dạn đưa ra các biện pháp giúp họcsinh nhận biết và vận dụng tốt hơn phép tu từ so sánh
Trang 8CHƯƠNG II: CÁC BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH NHẬN BIẾT VÀ
VẬN DỤNG TỐT CÁC PHÉP TU TỪ SO SÁNH
Biện pháp 1: Nghiên cứu cấu trúc, nội dung chương trình sách giáo khoa, phân nhóm các dạng bài tập so sánh
1 Nội dung chương trình sách giáo khoa:
Muốn giảng dạy tốt từng bộ môn, phân môn thì việc đầu tiên người giáoviên phải nghiên cứu kỹ nội dung, chương trình sách giáo khoa để có phươngpháp và kế hoạch dạy học đạt hiệu quả cao Chính vì vậy, ngay từ đầu năm học,khi được nhà trường phân công giảng dạy lớp 3 tôi đã bắt tay ngay vào việcnghiên cứu kỹ chương trình để có định hướng dạy tốt phân môn Luyện từ vàcâu, nhất là mảng kiến thức về phép tu từ So sánh
Phân môn Luyện từ và câu lớp 3 được dạy 1tiết/1 tuần trong đó có 7 tiết
dạy về So sánh (trong học kỳ I) Mục đích yêu cầu về nội dung, kiến thức mỗi
tiết cũng nâng dần mức độ từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, giúp họcsinh từng bước nắm bắt, ghi nhớ và luyện tập có hiệu quả
2.
Yêu cầu và mức độ của mỗi tiết dạy được tôi cụ thể hóa trong bảng sau:
Tiết 1 (Tuần 1) Học sinh bước đầu làm quen với biện pháp tu từ So sánh
Học sinh biết cách tìm những hình ảnh so sánh trong các
Tiết 2 (Tuần 3) câu thơ, câu văn và nhận biết các từ chỉ sự so sánh trong các
câu văn đóHọc sinh nắm bắt được kiểu so sánh: So sánh hơn kém, so
Tiết 3 (Tuần 5) sánh ngang bằng Biết cách thêm các từ so sánh vào những
câu văn chưa có từ so sánh
Tiết 4 (Tuần 7) Học sinh tìm hiểu thêm một cách so sánh: so sánh sự vật với
con người, con người với sự vật
Tiết5 (Tuần10) Học sinh nắm bắt thêm cách so sánh: So sánh âm thanh với
âm thanh
Tiết 6 (Tuần 12) Học sinh biết cách so sánh hoạt động với hoạt động
Tiết 7 (Tuần 15) Học sinh đặt được câu văn có hình ảnh so sánh
Toàn bộ chương trình Tiếng Việt 3 - Tập 1 dạy về So sánh gồm 7 tiết vớicác mô hình sau:
Trang 9Mô hình 1: So sánh Sự vật - Sự vật
Mô hình 2: So sánh Sự vật - Con người
Mô hình 3: So sánh Hoạt động - Hoạt động
Mô hình 4: So sánh Âm thanh - Âm thanh
Đặc trưng của phân môn Luyện từ và câu có những điểm mới so với sáchgiáo khoa cũ là học sinh tự rút ra kiến thức qua việc thực hành làm các bài tập
Vì vậy, dựa vào nội dung, chương trình như trên tôi đã khái quát lại chươngtrình thành các dạng bài tập về biện pháp so sánh như sau:
2 Các dạng bài tập về biện pháp so sánh:
Nhận biết những sự vật so sánh, những hình ảnh so sánh, những đặc điểm
so sánh và những từ so sánh trong câu: Tiết 1, 2, 3, 4, 5, 6
Cảm nhận và nêu tác dụng của so sánh, tập đặt câu có sử dụng phép so sánh: Tiết 7
Như vậy, mỗi tiết học về so sánh có yêu cầu khác nhau Tiết học sau đòihỏi kiến thức cao hơn tiết học trước, mỗi tiết học cung cấp một mảng kiếnthức, một dạng bài tập Vì thế tôi tìm hiểu kỹ nội dung, mức độ kiến thức cầntruyền đạt của từng tiết để tạo thành mạch kiến thức có liên kết một cách chặtchẽ logic
* Một số yêu cầu cơ bản khi dạy so sánh
Học sinh Tiểu học với nhận thức từ trực quan sinh động đến tư duy trừutượng nên việc hướng dẫn các em tìm hiểu những biện pháp tu từ không phải
là dễ Bởi vậy, khi dạy phép so sánh trong phân môn luyện từ và câu cho họcsinh, tôi đã chú ý đến những yêu cầu cơ bản sau:
Sử dụng đồ dùng trực quan và thông qua các ví dụ cụ thể để dẫn dắt họcsinh dần dần hiểu, nắm bắt, vận dụng biện pháp tu từ so sánh theo mức độ từ
dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp để từ đó nâng dần khả năng tư duy, ócsáng tạo cho học sinh
Thông qua các bài tập nhận biết, học sinh được luyện tập và vận dụngbiện pháp tu từ so sánh trong khi nói và viết Bên cạnh đó, học sinh còn cầnđược tiếp xúc với ngôn ngữ nghệ thuật để biết cách cảm thụ cái hay, cái đẹpcủa thơ văn
Biện pháp 2: Tìm hiểu khái niệm, cấu trúc của phép tu từ so sánh
Để dạy tốt kiến thức về so sánh thì người giáo viên phải nắm vững kiếnthức về phong cách học nói chung và phép so sánh tu từ nói riêng Có như vậygiáo viên mới chủ động trong bài giảng cũng xử lý tốt các tình huống
1 Khái niệm: So sánh tu từ là biện pháp tu từ trong đó người ta đối chiếu các
sự vật với nhau miễn là giữa các sự vật có một nét tương đồng nào đó để gợi
ra hình ảnh cụ thể,những cảm xúc thẩm mĩ trong nhận thức của người đọc và người nghe.
Khi so sánh phải có ít nhất hai sự vật trở lên Trong đó có sự vật so sánh(A) và sự vật được so sánh (B) Hai sự vật này phải có ít nhất một nét tương
Trang 10đồng Hiệu quả của phép tu từ so sánh là gợi ra những hình ảnh cụ thể, nhữngcảm xúc thẩm mĩ.
2 Phân biệt sự khác nhau giữa so sánh tu từ và so sánh logic:
So sánh logic là một biện pháp nhận thức trong tư duy của con người, là
việc đặt hai hay nhiều sự vật, hiện tượng vào các mối quan hệ nhất định nhằm tìm
ra sự giống nhau và khác biệt giữa chúng
Ví dụ:
Cái lưng còng của ông cụ sao giống lưng ông nội thế.
Cơ sở của phép so sánh logic dựa trên tính đồng nhất, đồng loại của các sựvật hiện tượng và mục đích của sự so sánh là xác lập sự tương đương giữa hai đốitượng
Nếu như giá trị của so sánh logic là xác lập được sự tương đương giữa haiđối tượng thì giá trị của so sánh tu từ là ở sự liên tưởng, sự phát hiện và gợi cảmxúc thẩm mĩ ở người đọc, người nghe
Như vậy, so sánh tu từ học và so sánh logic khác nhau ở 3 yếu tố:
- Yếu tố (2) là cơ sở so sánh, đây là yếu tố chỉ tính chất sự vật hay trạng thái
của hành động được nhìn nhận theo một cách nào đó có vai trò nêu rõ phương diện
so sánh
Trang 11- Yếu tố (3) là mức độ so sánh thường được diễn ra ở mức độ ngang bằng
nhau Ngoài từ “ như” còn có các từ “ tựa”, “ tựa như”, “ giống như”, “ là”,
“như là”, “ như thể”…; so sánh hơn kém như từ “ hơn”, “ chẳng bằng”…
- Yếu tố (4) là cái được so sánh, tức là cái đưa ra để làm chuẩn so sánh.
Theo cấu trúc như trên, đối tượng được so sánh và đối tượng đưa ra đểlàm chuẩn so sánh có thể là sự vật, con người, âm thanh, đặc điểm, hoạtđộng…
Dựa vào cấu trúc có thể chia ra các dạng so sánh sau:
* Dạng 1: Phép so sánh đầy đủ cả 4 yếu tố:
Ví dụ:Trăng tròn như cái đĩa
* Dạng 2: Phép so sánh vắng yếu tố (2)
So sánh vắng yếu tố (2) còn gọi là so sánh chìm, tức là không có cơ sở
so sánh Khi bớt cơ sở so sánh thì phần thuyết minh miêu tả cái được so sánh
sẽ rõ ràng hơn.Nó còn tạo điều kiện cho sự liên tưởng rộng rãi, phát huy sựsáng tạo của người đọc, người nghe hơn là so sánh có đủ 4 yếu tố Dạng sosánh này kích thích thích sự làm việc của trí tuệ và tình cảm nhiều hơn để cóthể xác định được những nét giống nhau giữa 2 đối tượng ở 2 vế và từ đó nhận
ra đặc điểm của đối tượng được miêu tả
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
* Dạng 3: Phép so sánh vắng yếu tố (2) và (3)
Đây là dạng so sánh không đầy đủ, chỉ có cái so sánh và cái được sosánh.Trong trường hợp này yếu tố (2) và yếu tố (3) được thay thế bằng chỗngắt giọng, dấu gạch ngang hoặc là hình thức đối chọi
Ví dụ:
Thân dừa bạc phếch tháng năm Quả dừa - đàn lợn con nằm trên cao Đêm hè hoa nở cùng sao
Tàu dừa - chiếc lược chải vào mây xanh.
Trong đoạn thơ trên, nhà thơ đã dùng chỗ ngắt giọng (được ghi lại bằngdấu gạch ngang) và đối chọi (giữa quả dừa và tàu dừa) để tạo nên một hìnhthức so sánh có âm điệu nhịp nhàng
Trong so sánh tu từ, còn có hình thức kết hợp một vế so sánh, một đốitượng so sánh với nhiều đối tượng được so sánh
Trang 12Đây là dạng so sánh phổ biến thường dùng từ “ như”, “ là”, “tựa”, “ tựa như”… để làm từ so sánh.
Ví dụ: Giọt sương sớm long lanh như những hạt ngọc.
Vậy so sánh tu từ là biện pháp tu từ ngữ nghĩa, trong đó người ta đốichiếu hai đối tượng khác loại của thực tế khách quan không đồng nhất vớinhau hoàn toàn mà chỉ có một nét giống nhau nào đó, nhằm diễn tả bằng hìnhảnh một lối tri giác mới mẻ về đối tượng
Mặt khác, sách giáo khoa Tiếng Việt 3 không trực tiếp đưa ra khái
niệm So sánh (với tư cách là một biện pháp tu từ) cho học sinh mà thông qua
các bài tập dần dần hình thành khái niệm đơn giản về so sánh cho học sinh.
Chính vì vậy khi dạy về so sánh cho học sinh, tôi đã dựa trên các dạng bài tập
để phân loại và lựa chọn phương pháp dạy phù hợp với từng dạng bài cụ thể
Biện pháp 3: Giúp học sinh nhận biết các dạng bài tập về so sánh
1 Dạng bài tập nhận biết biện pháp tu từ so sánh
Đây là dạng bài tập giúp học sinh nhận biết những sự vật so sánh, nhữnghình ảnh so sánh, những đặc điểm so sánh và những từ so sánh trong câu Đểdạy tốt dạng bài tập này, tôi đã hướng dẫn học sinh cụ thể trong từng tiết họcnhư sau:
* Ví dụ 1: Tiết 1 - Tuần 1 (Bài tập 2/ Trang 8 - Tiếng Việt 3, Tập 1)
Tìm những sự vật được so sánh trong các câu văn, câu thơ dưới đây:
Ai vừa tung lên trời
Lương Vĩnh Phúcd) Ơ, cái dấu hỏi Trông
ngộ, ngộ ghê Như
vành tai nhỏ Hỏi rồi
lắng nghe
Trang 13Phạm Như HàĐây là dạng bài tập đầu tiên các em được làm quen với so sánh với yêucầu là nhận diện các từ chỉ sự vật được so sánh Để làm tốt bài tập này họcsinh phải nắm chắc các từ chỉ sự vật so sánh với nhau trong các câu thơ, câuvăn trên là:
+ “ Hai bàn tay em” so sánh với “hoa đầu cành”
+ “ Mặt biển so sánh với “tấm thảm khổng lồ”
+ “ Cánh diều” so sánh với dấu “á”
+ “ Dấu hỏi” so sánh với “vành tai nhỏ”
Nếu giáo viên hỏi ngược lại là vì sao “Hai bàn tay em” được so sánh với
“hoa đầu cành” hay vì sao nói “ Mặt biển” như “tấm thảm khổng lồ”? Lúc đógiáo viên phải hướng học sinh tìm xem các sự vật này đều có điểm nào giốngnhau, chẳng hạn:
+ Hai bàn tay của bé nhỏ xinh như một bông hoa
+ Mặt biển và tấm thảm đều phẳng, êm và đẹp
Cánh diều hình cong cong, võng xuống giống hệt như dấu á
Trên thực tế ấn tượng thính giác kết hợp với ấn tượng thị giác giúp các em dễ dàngnhận ra hiện tượng so sánh ẩn chứa trong các câu thơ, câu văn nên tôi đã cho họcsinh xem ảnh “cánh diều” và “dấu á” Còn dấu hỏi cong cong, nở rộng ở hai phía trênrồi nhỏ dần chẳng khác gì vành tai thì tôi cho học sinh nhìn vào vành tai bạn
Cuối cùng tôi đưa ra kết luận: Các tác giả quan sát rất tài tình nên đãphát hiện sự giống nhau giữa các sự vật xung quanh ta Bởi vậy, khi so sánhcần có hai sự vật đưa ra, hai sự vật đó phải có điểm giống, điểm tương đồngvới nhau Và trong hai sự vật đó (1 sự vật được so sánh, 1 sự vật đưa ra làmchuẩn để so sánh) thường được đặt trước và sau từ “như” Đây là một dấu hiệu
để nhận ra các sự vật được so sánh với nhau trong câu
* Ví dụ 2: Tiết 2 - Tuần 3 (Bài tập 1 + 2/ Trang 24 - Tiếng Việt 3, Tập 1)
- Tìm các hình ảnh so sánh trong các câu văn, câu thơ sau Nêu các từ chỉ sự so sánh
a) Mắt hiền sáng tựa vì sao
Bác nhìn đến tận Cà Mau cuối trời.
Thanh Hải b) Em yêu nhà em
Hàng xoan trước ngõ
Hoa xao xuyến nở Như
mây từng chùm.
Tô Hà c) Mùa đông
Trời là cái tủ ướp lạnh
Mùa hè
Trời là cái bếp lò nung.
Lò Ngân Sủn
Trang 14d) Những đêm trăng sáng, dòng sông là một đường trăng lung linh dát vàng
Đất nước ngàn năm
Ở bài tập này tôi cho học sinh thảo luận nhóm
Bằng kiến thức đã học ở tiết 1(Tuần 1), các em dễ dàng nhận ra các hìnhảnh so sánh trong các câu thơ, câu văn:
a) Mắt hiền sáng tựa vì sao
b) Hoa xao xuyến nở
c) Trời là cái tủ ướp lạnh
Trời là cái bếp lò nung.
d) Dòng sông là một đường trăng lung linh dát vàng
+ Trong câu a, dựa vào đâu con biết hình ảnh “mắt hiền” được so sánh với “vì sao”? (Dựa vào từ “tựa”)
Giáo viên chỉ ra: Đây là từ chỉ sự so sánh
Tương tự câu a, học sinh sẽ tìm được các từ so sánh trong các câu cònlại Sau đó tôi chốt lại kiến thức của bài bằng cách đưa ra hệ thống câu trả lờinhằm giúp học sinh nắm chắc nội dung của bài:
Từ chỉ sự vật được so sánh Từ so sánh Từ chỉ sự vật dùng để so sánh
Như vậy, yêu cầu của bài học đã nâng cao dần so với tiết 1 Học sinh khôngchỉ nêu được các sự vật so sánh, từ chỉ sự so sánh “như” mà còn nêu được các từ chỉ
sự so sánh thường dung: như, là, tựa như, tựa, …
Tôi nhấn mạnh để học sinh hiểu: Từ chỉ sự so sánh chính là dấu hiệu để nhận
biết câu văn, câu thơ có hình ảnh so sánh.
Sau tiết học, nhằm củng cố lại kiến thức cho học sinh, tôi yêu cầu học sinhlàm bài tập sau:
Tìm các sự vật được so sánh, sự vật dùng để so sánh và từ so sánh trong câusau:
Trên trời mây trắng như bông
Ở dưới cánh đồng bông trắng như mây.
Từ chỉ sự vật được so sánh Từ so sánh Từ chỉ sự vật dùng để so sánh
Trang 15Mắt hiền tựa vì sao
Như vậy, yêu cầu của bài học đã nâng cao dần so với tiết 1 Học sinh khôngchỉ nêu được các sự vật so sánh, từ chỉ sự so sánh “như” mà còn nêu được các từ chỉ
sự so sánh thường dung: như, là, tựa như, tựa, …
Tôi nhấn mạnh để học sinh hiểu: Từ chỉ sự so sánh chính là dấu hiệu để nhận
biết câu văn, câu thơ có hình ảnh so sánh.
Sau tiết học, nhằm củng cố lại kiến thức cho học sinh, tôi yêu cầu học sinhlàm bài tập sau:
Tìm các sự vật được so sánh, sự vật dùng để so sánh và từ so sánh trong câusau:
Trên trời mây trắng như bông
Ở dưới cánh đồng bông trắng như mây.
Dựa vào các từ so sánh vừa tìm được, tôi hướng dẫn học sinh nhận diện
kiểu so sánh mới (so sánh hơn kém); từ đó phân biệt được 2 kiểu so sánh bằng
các câu hỏi:
buổi trời chiều” có gì khác nhau? Hai sự vật được so sánh với nhau trong mỗicâu là ngang bằng nhau hay hơn kém nhau?
Trả lời:
- Câu “Cháu khỏe hơn ông nhiều”, hai sự vật so sánh với nhau là “ông”
và “cháu”; hai sự vật này không ngang bằng nhau mà có sự chênh lệch hơn
kém (cháu hơn ông)
- Câu “Ông là buổi trời chiều”, hai sự vật này có sự ngang bằng nhau.
+ Sự khác nhau về cách so sánh của hai câu này do đâu tạo nên?
(Trả lời: Do từ so sánh khác nhau tạo nên Từ “hơn” chỉ sự hơn kém, từ
“là” chỉ sự ngang bằng nhau)
Sau khi học sinh nhận biết được hai kiểu so sánh, giáo viên cho học sinhxếp các hình ảnh vào hai nhóm: + So sánh ngang bằng
+ So sánh hơn kémĐặc biệt, ở bài học này, tôi đã nhấn mạnh cho học sinh: Sự khác nhau về
cách so sánh là do từ chỉ sự so sánh tạo nên:
+ Nếu từ so sánh là: tựa, như, là, giống như, như là, bằng… ->
thuộc kiểu so sánh ngang bằng
+ Nếu từ so sánh là: hơn, chẳng bằng…-> thuộc kiểu so sánh hơn kém Như
vậy, qua 3 tiết học, mặc dù đều là dạng bài tập nhận biết hình ảnh so
Trang 16sánh, từ so sánh nhưng học sinh đã nắm bắt được kiểu so sánh và được nâng dần theomức độ từ dễ đến khó Đây cũng là quan điểm chung của tất cả các môn học ở Tiểuhọc.
* Ví dụ 4: Tiết 5 - Tuần 10
Với hai bài tập nhận biết hình ảnh so sánh, học sinh tiếp tục luyện tập về
so sánh và hiểu thêm một cách so sánh mới: So sánh âm thanh với âm thanh Ởbài học này tôi hướng dẫn học sinh tìm hiểu như sau:
+ Bài tập 1 (Trang 79 - Tiếng Việt 3, Tập 1)
Đọc đoạn thơ:
Đã có ai lắng nghe Tiếng mưa trong rừng cọ Như tiếng thác dội về Như ào
ào trận gió.
- Yêu cầu học sinh làm việc theo cặp trả lời câu hỏi:
+ Tiếng mưa trong rừng cọ được so sánh với những âm thanh nào?
(Trả lời: như tiếng thác, tiếng gió)
Như vậy, không chỉ có các sự vật, con người dùng làm đối tượng so sánh mànhững âm thanh trong tự nhiên cũng được các tác giả chọn làm hình ảnh so sánh.Điều quan trọng tất cả những so sánh này đều gợi lên những cảm xúc thẩm mĩ, đều làkết quả của sự liên tưởng, sự phát hiện mà không phải ai cũng nhìn ra và nhận thấy.Sau bài tập 1, tôi giới thiệu cho học sinh kiểu so sánh: âm thanh với âm thanh
* Tiết 6 - Tuần 12
- Tiết học này, học sinh tiếp tục làm quen với phép so sánh nhưng là so sánh hoạt động với hoạt động
* Bài tập 1/Trang 98 - Tiếng Việt 3, Tập 1
Đọc khổ thơ dưới đây và trả lời câu hỏi:
Con mẹ đẹp saoNhững hòn tơ nhỏChạy như lăn trònTrên sân, trên cỏ
Phạm Hổ
a) Tìm các từ chỉ hoạt động trong khổ thơ trên
b) Hoạt động chạy của những chú gà con được miêu tả bằng cách nào?
- Với câu hỏi a, học sinh đọc thầm khổ thơ và gạch dưới các từ chỉ
hoạt động (lăn, chạy)
+ Yêu cầu học sinh đọc lại khổ thơ để tìm câu thơ có hình ảnh so sánh:
(Chạy như lăn tròn)
- Với câu hỏi b, tôi cho học sinh thảo luận nhóm 2 và nêu ý kiến