Lí do chọn đề tài: Cùng với các môn học khác ở bậc Tiểu học, môn Toán có vai trò vô cùng quan trọng, nó giúp học sinh nhận biết được số lượng và hình dạng không gian của thế giới hiện th
Trang 1PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGA SƠN
TRƯỜNG TIỂU HỌC NGA TÂN
=======================
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 3 GIẢI
TOÁN CÓ LỜI VĂN
Người thực hiện : Trịnh Thị Hương
Chức vụ: Giáo viên Đơn vị công tác: Trường tiểu học Nga Tân SKKN thuộc môn : Toán
NGA SƠN NĂM 2019
Trang 3M C L CỤC LỤC ỤC LỤC
Trang
2 Nội dung của sáng kiến kinh nghiệm 3
2.2 Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 3
2.3.1: Họp phụ huynh – Thống nhất biện pháp giáo dục. 5 2.3.2 Nâng cao, tích cực hóa vốn ngôn ngữ, giao tiếp cho học sinh,
2.3.3 Giúp học sinh hình thành kĩ năng phân tích bài toán và biết
2.3.5 Khích lệ học sinh tạo hứng thú khi học tập 10
1 Mở đầu 1.1 Lí do chọn đề tài:
Cùng với các môn học khác ở bậc Tiểu học, môn Toán có vai trò vô cùng quan trọng, nó giúp học sinh nhận biết được số lượng và hình dạng không gian của thế giới hiện thực, nhờ đó mà học sinh có những phương pháp, kĩ năng nhận
Trang 4thức một số mặt của thế giới xung quanh Môn toán nói chung, toán có lời văn còn góp phần rèn luyện phương pháp suy luận, suy nghĩ đặt vấn đề và giải quyết vấn đề; góp phần phát triển óc thông minh, suy nghĩ độc lập, linh động, sáng tạo cho học sinh; trang bị cho học sinh một số kiến thức kĩ năng cơ bản đặt nền tảng cho việc theo học ở các lớp trên và ứng dụng trong đời sống thực tế
Trong chương trình Toán tiểu học, toán có lời văn học sinh được làm quen từ lớp 1, lớp 2, đến lớp 3 được nâng cao lên một bước, cả về độ khó, số
phép tính ( bài toán 2 phép tính) … một bộ phận khá lớn học sinh không khỏi
khó khăn lúng túng Đòi hỏi giáo viên phải có sưc hướng dẫn giúp đỡ phù hợp với đối tượng giảng dạy, vùng miền, địa bàn có sự phát triển kinh tế xã hội khác nhau
Để thực hiện có hiệu quả chúng tôi luôn luôn trao đổi, thảo luận trong những buổi sinh hoạt chuyên môn, tích luỹ nghiệp vụ do nhà trường tổ chức Làm thế nào để học sinh hiểu được đề toán, viết được tóm tắt, nêu được câu lời giải hay, phép tính đúng Điều đó đòi hỏi rất nhiều công sức và sự nỗ lực không biết mệt mỏi của người giáo viên đứng lớp
1.2 Mục đích nghiên cứu:
Mục đích của sáng kiến kinh nghiệm : “ Một số biện pháp giúp học sinh
lớp 3 giải toán có lời văn” là giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong việc
dạy giải toán có lời văn lớp 3, rèn cho học sinh ý thức, thói quen và kĩ năng cần thiết, nhằm nâng cao chất lượng dạy giải toán có lời văn lớp 3 trong lớp và trong trong khối 3 trường TH Nga Tân
1.3.Đối tượng nghiên cứu.
- Nghiên cứu nội dung chương trình, SGK ;
- Tìm hiểu thực trạng giảng dạy “ Toán có lời văn lớp 3” ở trong lớp, trong trường: học sinh thường vấp phải những khó khăn nào, nguyên nhân dẫn đến những sai lầm của học sinh ? Từ đó rút ra những ưu điểm và những điểm chưa phù hợp trong cách dậy với đối tượng học sinh trong lớp 3c, trong khối lớp Trên cơ sở đó đưa ra những biện pháp, giải pháp hữu ích nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy giải toán có lời văn
1.4 Phương pháp nghiên cứu :
- Nghiên cứu tài liệu;
- Phương pháp điều tra khảo sát
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp trò chuyện
2 Nội dung của sáng kiến kinh nghiệm
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
Trang 5Giải toán có lời văn thực chất là những bài toán thực tế, nội dung bài toán được thông qua những câu văn nói về những quan hệ, tương quan và phụ thuộc,
có liên quan tới cuộc sống thường xảy ra hàng ngày
Với khả năng tư duy còn hạn chế của lứa tuổi, nhất là những vùng nông thôn điều kiện kinh tế xã hội còn khó khăn vốn kinh nghiệm xã hội, mức độ phát triển tư duy hạn chế hơn, học sinh vấp phải những khó khăn nhất định, trong đó chủ yếu là:
Một là, hiểu nội dung bài toán: Cái khó của bài toán có lời văn chính là ở
chỗ làm thế nào để lược bỏ được những yếu tố về lời văn đã che đậy bản chất toán học của bài toán Hay nói một cách khác là làm sao phải chỉ ra được các mối quan hệ giữa các yếu tố toán học chứa đựng trong bài toán và tìm được những câu lời giải phép tính thích hợp để từ đó tìm được đáp số của bài toán
Hai là, khó khăn trong việc viết câu lời giải: Như chúng ta đã biết, trước
cải cách giáo dục thì đến lớp 4, các em mới phải viết câu lời giải, còn những năm đầu cải cách giáo dục thì đến học kì 2 của lớp 3 mới phải viết câu lời giải… Còn hiện nay ngay từ lớp 1 học sinh đã được yêu cầu viết câu lời giải, với những học sinh nông thôn khó khăn điều kiện tiếp xúc xã hội, vốn kinh nghiệm
xã hội, vốn ngôn ngữ hạn chế đây là một khó khăn không nhỏ
Ba là với những bài toán có 2 phép tính: Lần lượt, thứ tự thực hiện như
thế nào ?
2.2 Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 2.2.1 Thực trạng về kĩ năng giải toán có lời văn của học sinh lớp 3.
a Thực trạng chung của nhà trường.
* Thuận lợi:
Nhà trường được sự quan tâm của chính quyền địa phương, của hội phụ huynh học sinh Ban giám hiệu nhà trường năng nổ nhiệt tình, sáng tạo luôn chỉ đạo sát sao việc dạy học của giáo viên và học sinh
- Đội ngũ giáo viên trong trường luôn nhiệt tình giảng dạy, yêu nghề mến trẻ
- Về học sinh: nhìn chung các em đều ngoan, có ý thức vươn lên trong học tập
- Bên cạnh những thuận lợi trên nhà trường còn gặp phải không ít khó khăn
* Khó khăn:
- Là một xã dân cư chủ yếu sống bằng nghề nông, đời sống kinh tế còn nhiều khó khăn chính điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc học tập cũng như chất lượng học tập của các em
- Nhiều gia đình đi làm ăn xa gửi con cho ông bà chăm sóc do ông bà đã già yếu nên không quán xuyến được việc học hành của các cháu
- Do tâm lý chung của học sinh tiểu học còn ham chơi nên việc học hành của các em nếu không có sự giám sát chặt chẽ của gia đình thì khó có hiệu quả cao
- Về cơ sở vật chất của nhà trường: Tuy nhà trường đã có đủ phòng học nhưng thiết bị nhà trường còn có nhiều hạn chế
Trang 6- Về đội ngũ giáo viên: Nhà trường có đội ngũ giáo viên nhiệt tình giảng dạy song còn gặp nhiều khó khăn do trình độ giáo viên còn chưa đồng đều
b Thực trạng của lớp.
Năm học 2018 - 2019 tôi được phân công giảng dạy lớp 3C trường tiểu học Nga Tân
Lớp 3C do tôi chủ nhiệm và giảng dạy có 23 học sinh Trong đó:
Con cán bộ công chức: 0 em
Con gia đình nông nghiệp: 23 em
Nam: 10 em; nữ: 13 em
Các em ở rải rác khắp các thôn trong xã, có nhiều học sinh ở xa trường nên việc đi lại của các em gặp rất nhiều khó khăn điều đó cũng ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng học tập của các em
- Qua thực tế giảng dạy và thảo luận cùng đồng nghiệp, tôi nhận thấy:
+ Việc tóm tắt, tìm hiểu đề đang còn nhiều khó khăn đối với một số học sinh trung bình và yếu của lớp 3 Vì kĩ năng hiểu của các em chưa cao, nên các
em đọc được đề toán và hiểu đề còn thụ động, chậm chạp…
+ Thực tế trong một tiết dạy 35 phút, thời gian dạy kiến thức mới mất nhiều – phần bài tập hầu hết là ở cuối bài nên thời gian để luyện nêu đề, nêu câu
trả lời không được nhiều mà học sinh chỉ thành thạo việc đọc đề toán.
2.2.2 Kết quả khảo sát thực trạng học sinh
Tôi đã khảo sát kĩ năng giải toán của 23 học sinh lớp 3C và thu được kết quả như sau:
Sĩ số Giải thành thạo Kĩ năng giải chậm Chưa nắm được cách giải
23 em 7 em = 30,4 % 8 em = 34,7 % 8 em = 34,7%
Từ thực trạng trên, để công việc đạt hiệu quả tốt hơn, giúp các em học sinh
có hứng thú trong học tập, nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường, tôi đã mạnh dạn cải tiến nội dung, phương pháp trong giảng dạy như sau:
2.3 Các sáng giải pháp sử dụng để giải quyết vấn đề
2.3.1: Họp phụ huynh – Thống nhất biện pháp giáo dục.
Chúng ta đều biết học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 3 nói riêngý thức tự giác, sự hào hứng, thích học hay không phụ thuộc rất nhiều vào sự quan
Trang 7tâm của thầy cô và đặc biệt là sự quan tâm, động viên, định hướng của cha mẹ ảnh hưởng rất lớn đến kết quả học tập các cháu
Thực tế, trong một lớp học, lực học của các em không đồng đều, có em còn ngại học, quá mải chơi để khắp phục tôi trao đổi với phụ huynh cùng tìm ra và thống nhất cách thức động viên, kèm cặp để các cháu ham học hơn, mong muốn học tốt để nhận được lời khen của cô, của mẹ và để bố mẹ vui lòng
Trong nội dung trao đổ với phụ phunh tôi cũng làm rõ:
Về những yêu cầu cần thiết giúp các em học tập, sách vở, đồ dùng cần mua sắm:
Về biết cách giúp đỡ com học tập, khi cần như: Hiểu dược các ký hiệu, các lệnh trong Sách giáo khoa mới; hiểu được cần động viên các cháu phân bố thời gian học tập và vui chơi hợp lý tránh đe nẹt, áp lực dễ là các cháu chán học,
sợ học đưa đến kết quả không tốt trong học tập và sự phát triển lâu dài
2.3.2 Nâng cao, tích cực hóa vốn ngôn ngữ, giao tiếp cho học sinh, chuẩn bị cho việc giải toán có lời văn:
Để làm được bài toán có lời văn, trước hết học sinh phải hiểu được trong bài toán đang nói đến cái gì, để làm được điều này, yêu cầu: Học sinh cần có
vốn ngôn ngữ nhất định được sử dụng tích cực trong giao tiếp ( hiểu được và biết sử dụng trong nói năng, trao đổi ), nói nên được điều mình hiểu về bài toán
có dẫu rằng thể đúng có thể sai, nghe và biết bạn nói gì Từ đó mới có thể tiếp
nhận được sự nhận xét ( trao đổi, giúp đỡ) từ bạn trong tổ, lớp để hoàn thành
nhiệm vụ giải toán của mình Vì vậy, cần là luyện kĩ năng nghe, nói và hiểu từ cho học sinh trong các môn học khác và trong giời học toán
Biện pháp:Tôi tập trung giúp đỡ, luôn gần gũi nhất là học sinh trung
bình – yếu còn thụ động, rụt rè trong giao tiếp, tìm ra cách khuyến khích các em giao tiếp; tổ chức các trò chơi học tập, được trao đổi, đối thoại với bạn Khuyến khích sự mạnh dạn nó lên ý kiến của mình không sợ sai, nghe bạn nói và phản biện lại khi cần Qua đó học sinh nhận ra ý kiến nào đúng, hiểu đúng đề toán, kĩ năng đọc hiểu đề toán được nâng cào, từ đó dần hoàn thiện cách kĩ năng giải toán có lời văn
2.3.3 Giúp học sinh hình thành kĩ năng phân tích bài toán và biết cách trinh bày bài giải:
a) Hiểu được những thiếu sót của học sinh tôi thường dành thời gian hơn
( thời lượng tùy theo đối tượng học sinh cụ thể) để hướng dẫn học sinh biết cách
phân tích tìm hiểu đề bài toán:
Ví dụ1: Sau khi đọc đề toán ở trang 50 SGK Toán 3.
“ Thùng thứ nhất đựng 18 l dầu, thùng thứ hai đựng nhiều hơn thùng thứ nhất 6l dầu Hỏi cả hai thùng đựng bao nhiêu lít dầu?”.
- Yêu cầu học sinh tập nêu bằng lời để tóm tắt bài toán:
Thùng 1 có : 18l Thùng 2 có: nhiều hơn 6l
Hỏi cả hai thùng: ? lít dầu.
- Sau khi học sinh nêu được bằng lời để tóm tắt bài toán, tôi hướng dẫn
học sinh tập tóm tắt bài toán bằng sơ đồ đoạn thẳng:
18l
Trang 8Thùng 1
Thùng 2
-Tiếp theo, tiếp tục hướng dẫn để học sinh biết cách phân tích, tự tìm ra cách giải, chẳng hạn:
+ Nhìn vào sơ đồ ta thấy muốn tìm số lít dầu ở cả hai thùng trước hết ta phải tính gì?
Học sinh cần nêu: Tính số dầu ở thùng thứ hai
Học sinh nêu miệng lời giải: Thùng thứ hai đựng được số lít dầu là:
Học sinh nêu miệng phép tính: 18 + 6 = 24 (lít)
Yêu cầu học sinh nêu miệng tiếp lời giải và phép tính thứ hai:
Cả hai thùng đựng được số lít dầu là:
18 + 24 = 42 (lít)
Tuy nhiên ở phép tính thứ hai, tôi thấy có một số hs có kĩ năng chưa tốt thực hiện tìm số dầu cả hai thùng bằng cách lấy 24 + 6 = 30 (lít).
Trường hợp này hướng dẫn học sinh kiểm tra lại: thùng thứ nhất đựng ? ( 18 l), thùng thứ 2 đựng ?( 24l )để học sinh sửa lại ( 18 + 24)
Ví dụ 2: Bài tập 3 (trang 50 - SGK toán 3)
Bao gạo
Bao ngô
Tôi cho học sinh đọc thầm, đọc miệng tóm tắt rồi nêu đề toán bằng lời theo
yêu cầu Học sinh: Bao gạo nặng 27 kg Bao ngô nặng hơn bao gạo 5kg Hỏi cả
hai bao gạo và ngô nặng tất cả bao nhiêu ki - lô - gam?
b) Giúp học sinh biết cách trinh bày bài giải:
-Ví dụ 2 ( tiếp):
Tiếp theo, cho các em luyện cách trả lời miệng:
Bao ngô nặng số kg là: 27 + 5 = 32 (kg)
Cả hai bao nặng số kg là: 32 + 27 = 59 (kg)
Rồi tự trình bày bài giải:
Bài giải
Bao ngô nặng số ki – lô - gam là:
27 + 5 = 32 (kg)
Cả hai bao nặng số ki – lô - gam là:
32 + 27 = 59 (kg)
Đáp số: 59 ki lô gam.
-Cách 2 : Qua thự tế, tôi thấy cách này rất hiệu quả dể tập cho học sinh biết
cách trình bày theo trình tự, nhất là đối với học sinh mức độ khá toán trở xuống:
Muốn tính cả hai bao nặng bao nhiêu ki – lô - gam ta phải tính gì trước ?
5kg ?kg
27kg
Trang 9HS ghi lại ra vở nháp: Bao ngô nặng số là:
Tiếp theo: Cả hai bao nặng là :
Rồi hs chèn phép tính vào
Tiếp theo học sinh bổ xung hoàn chỉnh lời giải ( nếu cần) và trình bày vào
vở
2.3.4 Áp dụng qua các tiết dạy
Khác với lớp 3 chương trình cải cách giáo dục , chương trình Toán lớp 3 mới thường được cho dưới các dạng sau:
+ Một cửa hàng buổi sáng bán được 432l dầu, buổi chiều bán được gấp đôi
buổi sáng Hỏi cả hai buổi cửa hàng bán được bao nhiêu lít dầu? (Bài tập 4 tr 103).
+ Một đội trồng cây đã trồng được 948 cây, sau đó trồng thêm được bằng 3
1
số cây đã trồng Hỏi đội đó đã trồng được tất cả bao nhiêu cây? (Bài tập 3 tr 106)
Nhưng dù ở hình thức nào, dạng nào tôi cũng tập trung luyện cho học sinh
các kĩ năng: Tìm hiểu nội dung bài toán, tìm cách giải bài toán và kĩ năng trình bày bài giải, được tiến hành cụ thể qua các bước sau:
Bước 1: Tìm hiểu nội dung bài toán.
Cần cho học sinh đọc kĩ đề toán giúp học sinh hiểu chắc chắn một số từ khoá quan trọng nói lên những tình huống toán học bị che lấp dưới cái vỏ ngôn
từ thông thường như: “ gấp đôi”, “
3
1 , 4
1
”, “tất cả”…
Nếu trong bài toán có từ nào mà học sinh chưa hiểu rõ thì giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh hiểu được ý nghĩa và nội dung của từ đó ở trong bài toán đang làm, sau đó giúp học sinh tóm tắt đề toán bằng cách đăt câu hỏi đàm thoại:
“ Bài toán cho gì? Bài toán hỏi gì?” và dựa vào tóm tắt để nêu đề toán…
Đối với những học sinh kĩ năng đọc hiểu còn chậm, tôi dùng phương pháp giảng giải kèm theo các đồ vật, tranh minh hoạ để các em tìm hiểu, nhận xét nội dung, yêu cầu của đề toán Qua đó học sinh hiểu được yêu cầu của bài toán và dựa vào câu hỏi của bài, các em nêu miệng câu lời giải, phép tính, đáp số của bài toán rồi cho các em tự trình bày bài giải vào vở bài tập
Bước 2: Tìm cách giải bài toán.
a Chọn phép tính giải thích hợp:
Sau khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề toán để xác định cái đã cho và cái
phải tìm cần giúp học sinh lựa chọn phép tính thích hợp: Chọn “ phép chia” nếu bài toán yêu cầu “tìm
3
1 , 4
1
” Chọn “tính trừ” nếu “bớt” hoặc “ tìm phần còn lại” hay là “lấy ra” Chọn “phép nhân” nếu “gấp đôi, gấp 3” …
Trang 10Ví dụ 3 : Một đội công nhân phải sửa quãng đường dài 1215m, đội đã
sửa được
3
1
quãng đường Hỏi đội công nhân đó còn phải sửa bao nhiêu mét
đường nữa? (Bài tập 2 tr 119).
Để giải được bài toán này, học sinh cần phải tìm được mối liên hệ giữa cái
đã cho và cái phải tìm Hướng dẫn học sinh suy nghĩ giải toán thông qua các câu hỏi gợi ý như:
+ Bài toán cho biết gì? (phải sửa quãng đường dài 1215m.)
+ Bài toán còn cho biết gì nữa? (đã sửa được
3
1
quãng đường.) + Bài toán hỏi gì? (Đội công nhân đó còn phải sửa bao nhiêu mét đường nữa?)
+ Muốn biết đội công nhân đó còn phải sửa bao nhiêu mét đường nữa trước hết phải tìm gì trước? Nêu cách tìm? ( Tìm số mét đường đã sửa: 1215 :
3)
+ Sau khi tìm được số mét đường đã sửa ta tiếp tục tìm gì? (Tìm số mét đường còn phải sửa)
+ Nêu cách tìm? ( Lấy tổng số mét đường phải sửa trừ đi số đã sửa).
Bước 3: Đặt câu lời giải thích hợp.
Thực tế giảng dạy cho thấy việc đặt câu lời giải phù hợp là bước vô cùng quan trọng và khó khăn nhất đối với một số học sinh trung bình, yếu lớp 3 Chính vì vậy việc hướng dẫn học sinh lựa chọn và đặt câu lời giải hay cũng là một khó khăn lớn đối với người dạy Tuỳ từng đối tượng học sinh mà tôi lựa chọn các cách hướng dẫn sau:
- Cách 1: (Được áp dụng nhiều nhất và dễ hiểu nhất): Dựa vào câu hỏi của bài toán rồi bỏ bớt từ đầu “hỏi” và từ cuối “mấy” rồi thêm từ “là” để có câu lời
giải: “Vườn nhà Hoa có số cây cam là:” (Đối với bài toán đơn)
- Cách 2: Nêu miệng câu hỏi: “Muốn biết đội công nhân đó còn phải sửa bao nhiêu mét đường nữa trước hết phải tìm gì trước?” Để học sinh trả lời miệng: “Tìm số mét đường đã sửa:” rồi chèn phép tính vào để có cả bước giải
(gồm câu hỏi, câu lời giải và phép tính):
Số mét đường đã sửa là:
1215 : 3 = 405 ( m) Đáp số: 405 ( mét).
Tóm lại: Tuỳ từng đối tượng, từng trình độ học sinh mà hướng dẫn các
em cách lựa chọn, đặt câu lời giải cho phù hợp
Trong một bài toán, học sinh có thể có nhiều cách đặt khác nhau như 2 cách trên