Tham khảo tại Phụ lục Trước sự phát triển ngày càng lớn mạnh của các hệ thống BHTG trên thế giới và nhằm giúp các hệ thống BHTG hoạt động thống nhất theo mục tiêu và nguyên tắc chung với
Trang 1Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
-*** -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Kinh tế đối ngoại
HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM TIỀN GỬI TẠI NHẬT BẢN
VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
Họ và tên sinh viên : Lê Thu Hằng
Trang 2Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI 3
1.1 Quá trình hình thành và phát triển bảo hiểm tiền gửi trên thế giới 3
1.2 Một số vấn đề lý luận về bảo hiểm tiền gửi 5
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của Bảo hiểm tiền gửi 5
1.2.1.1 Khái niệm 5
1.2.1.2 Đặc điểm của BHTG 5
1.2.2 Vai trò và mục tiêu của Bảo hiểm tiền gửi 6
1.2.2.1 Vai trò của Bảo hiểm tiền gửi 6
1.2.2.2 Mục tiêu của Bảo hiểm tiền gửi 9
1.3 Mô hình hoạt động Bảo hiểm tiền gửi 9
1.3.1 Mô hình chuyên chi trả 9
1.3.2 Mô hình chi trả với quyền hạn mở rộng 10
1.3.3 Mô hình giảm thiểu rủi ro 10
1.4 Các yếu tố điều chỉnh hoạt động BHTG 11
1.4.1 Cơ sở pháp lý của hoạt động bảo hiểm tiền gửi 11
1.4.2 Các bên tham gia hoạt động bảo hiểm tiền gửi 13
1.4.3 Đối tượng được bảo hiểm 15
1.4.4 Hạn mức chi trả 16
1.4.5 Phí Bảo hiểm tiền gửi 17
1.4.6 Cơ chế xử lý các tổ chức tài chính bị đổ vỡ 19
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM TIỀN GỬI TẠI NHẬT BẢN 21
2.1 Khái quát chung 21
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển bảo hiểm tiền gửi tại Nhật Bản 21
2.1.2 Mô hình hoạt động của bảo hiểm tiền gửi tại Nhật Bản 23
2.2 Phân tích hoạt động bảo hiểm tiền gửi tại Nhật Bản 24
2.2.1 Cơ sở pháp lý của hoạt động bảo hiểm tiền gửi tại Nhật Bản 24
2.2.1.1 Luật Bảo hiểm tiền gửi 24
2.2.2.2 Các văn bản dưới luật 25
2.2.2 Đối tượng tham gia bảo hiểm tiền gửi 25
Trang 3Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
2.2.3.1 Đối tượng được bảo hiểm: 26
2.2.3.2 Đối tượng không được bảo hiểm: 27
2.2.4 Hạn mức chi trả 27
2.2.5 Phí bảo hiểm tiền gửi 28
2.2.5.1 Tỷ lệ phí bảo hiểm 28
2.2.5.2 Tổng phí bảo hiểm tiền gửi 30
2.2.6 Chi trả tiền gửi bảo hiểm 31
2.2 ệ thống gi m s t và kiểm t hoạt động ảo hiểm tiền gửi 32
2.2.8 Quy trình xử lý các tổ chức tài chính bị đổ bể 34
2.3 Đánh giá hoạt động bảo hiểm tiền gửi tại Nhật Bản 38
2.3.1 Thành công của hoạt động bảo hiểm tiền gửi tại Nhật Bản 38
2.3.2 Hạn chế trong hoạt đông Bảo hiểm tiền gửi của Nhật Bản 42
CHƯƠNG 3: BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM TIỀN GỬI TẠI VIỆT NAM 44
3.1 Khái quát chung 44
3.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam 44
3.1.2 Tổ chức Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam 46
3.1.2.1 Hình thức sở hữu của tổ chức BHTGVN 46
3.1.2.2 Cơ cấu tổ chức BHTGVN 46
3.1.3 Mô hình hoạt động của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam 48
3.2 Phân tích hoạt động bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam 49
3.2.1 Cơ sở pháp lý của hoạt động bảo hiểm tiền gửi 49
3.2.1.1 Luật Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam 49
3.2.1.2 Các văn bản dưới Luật 51
3.2.2 Đối tượng tham gia bảo hiểm tiền gửi 51
3.2.3 Đối tượng được bảo hiểm và không được bảo hiểm 53
3.2.3.1 Đối tượng được bảo hiểm 53
3.2.3.2 Đối tượng không được bảo hiểm: 54
3.2.4 Hạn mức chi trả 54
3.2.5 Phí bảo hiểm tiền gửi 56
Trang 4Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
3.2.5.2 Tổng phí bảo hiểm tiền gửi 57
3.2.6 Chi trả tiền gửi bảo hiểm 58
3.2.7 Hệ thống giám sát và kiểm tra hoạt động bảo hiểm tiền gửi 59
3.2.7.1 Công tác giám sát từ xa 59
3.2.7.2 Công tác kiểm tra tại chỗ 60
3.2.8 Quy trình xử lý các tổ chức tài chính bị đổ bể 61
3.3 Đánh giá hoạt động bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam 64
3.3.1 Thành công của hoạt động bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam 64
3.3.2 Hạn chế của hoạt động bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam 65
3.4 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam từ hoạt động bảo hiểm tiền gửi tại Nhật Bản 68
3.4.1 Về cơ sở pháp lý 68
3.4.2 Về hạn mức chi trả bảo hiểm tiền gửi 69
3.4.3 Về hoạt động gi m s t và đ nh gi ủi ro 70
3.4.4 Về cơ chế xử lý đổ vỡ và giảm thiểu các rủi ro xảy ra trong hệ thống ngân hàng 71
3.4.5 Phát triển nguồn nhân lực 73
KẾT LUẬN 74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
PHỤ LỤC 81
Trang 5Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
2
BHTGVN Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam
8 DICJ Tổng công ty bảo hiểm tiền gửi Nhật Bản
Trang 6Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Mối quan hệ giữa Tổ chức BHTG, Người gửi tiền và Tổ chức tham gia
BHTG 13
Hình 2.1: Mô hình hoạt động hỗ trợ tài chính của DICJ 35
Hình 3.1: Sơ đồ cấu trúc tổ chức của BHTGVN 47
DANH MỤC BẢNG Bảng 1.1 : So sánh 3 mô hình bảo hiểm tiền gửi 11
Bảng 2.1: Sự thay đổi hạn mức chi trả của DICJ từ khi thành lập 27
đến năm 2015 27
Bảng 2.2: Tỷ lệ phí bảo hiểm của DICJ từ khi thành lập đến năm 2015 29
Bảng 2.3: Doanh thu phí bảo hiểm tiền gửi từ năm 2011 đến 2013 (đơn vị tỷ Yên) 30 Bảng 2.4 : Tổng số tiền đã thu và chi của DICJ từ năm 2008 đến năm 2013 (đơn vị: Yên) 31
Bảng 2.5: Số lượng các tổ chức tài chính bị thanh tra 33
Bảng 2.6: Số lượng các khoản nợ xấu mà RCC thu mua được trong khoảng thời gian 2008 đến 2013 36
Bảng 3.1: Số tiền tổ chức BHTGVN thực hiện chi trả từ năm 2011 đến 2014 59
Bảng 3.2: Số tiền hỗ trợ tài chính cho các TCTD từ khi BHTGVN thành lập đến nay 62
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 3.1: Số lượng tổ chức tham gia BHTG 52
Biểu đồ 3.2: Sự suy giảm tỉ lệ hạn mức chi trả BHTG/GDP bình quân đầu người tại Việt Nam 55 Biểu đồ 3.3: Số phí BHTG thu được từ năm 2011 đến 2014 (đơn vị tính: tỷ VNĐ) 57
Trang 7Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Việt Nam với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa do Đảng khởi xướng và lãnh đạo từ năm 1986 đến nay, đã đạt được được những thành tựu kinh tế phát triển nhất định và đời sống nhân dân được cải thiện rất nhiều
Tuy nhiên, cùng với các thành công trong nhiều lĩnh vực, nền kinh tế thị trường tại Việt Nam vẫn c n tồn tại những mặt trái, gây ra ảnh hưởng xấu tới sự phát triển bền vững Đặc biệt là trong lĩnh vực dịch vụ như hệ thống tài chính- ngân hàng Khi đời sống phát triển đến một mức độ nhất đinh, người dân s c những hoản tiết iệm ri ng và xu hướng gửi số tiền tiết iệm đ để tạo them lợi nhuân Vì thế, để củng cố niềm tin và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, vào năm 2000, bảo hiểm tiền gửi Việt Nam đã chính thức ra đời
Sau 14 năm hoạt động và phát triển, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam đã từng bước khẳng định được vai trò của mình đối với người gửi tiền, tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi Tuy nhiên, hệ thống bảo hiểm tiền gửi vẫn còn nhiều hạn chế và thiếu sót,việc nhìn nhận các điểm mạnh điểm yếu để từ đ c những giải pháp thích hợp cho quá trình hoạt động của hệ thống thực sự hiệu quả là một vấn đề vô cùng cần thiết và quan tr ng
Khi bước vào sân chơi rộng lớn hơn ở tầm khu vực và thế giới, việc phát triển các ngành dịch vụ trong nước đặc biệt là dịch vụ ngân hàng càng tăng cao Do đ , việc đảm bảo về chất lượng và sự phong phú hơn của các loại hình dịch vụ là một điều tất yếu Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam c ng h ng ngoại lệ Với tư thế là người
đi sau, Việt Nam có thể h c hỏi các bài h c kinh nghiệm từ Nhật Bản – quốc gia
có hệ thống bảo hiểm tiền gửi phát triển trong khu vực Đ ng Nam Á
Với các lý do trên, em lựa ch n đề tài: “Hoạt động bảo hiểm tiền gửi tại Nhật Bản và bài h c kinh nghiệm cho Việt Nam” cho h a luận của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Th ng qua các nghi n cứu đánh giá về thực trạng bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam ết hợp với những thành c ng đã đạt được tại Nhật Bản, từ đ đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hoạt động bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam trong thời gian tới
Trang 8Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
3 Phương pháp nghiên cứu
Trong bài viết này, em đã sử dụng các phương pháp nghi n cứu như: phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích, so sánh kết hợp với hệ thống lý thuyết và tư duy logic nhằm đem lại những đánh giá và phân tích chính xác nhất các vần đề đang được nghiên cứu
4 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam
5 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là hoạt động bảo hiêm tiền gửi tại Nhật Bản và Việt Nam trong khoảng thời gian từ năm 2011-2014
6 Bố cục
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và tài liệu tham khảo, đề tài được kết cấu thành
3 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan về bảo hiểm tiền gửi
Chương 2: Hoạt động bảo hiểm tiền gửi tại Nhật Bản
Chương 3: Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam và một số giải pháp nhằm phát
triển hoạt động bảo hiểm tiền gửi
Trang 9Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI
1.1 Quá trình hình thành và phát triển bảo hiểm tiền gửi trên thế giới
Khái niệm Bảo hiểm tiền gửi là một khái niệm phổ biến, được hình thành từ rất lâu trên thế giới Hoạt động tài chính, ngân hàng luôn gắn liền với những rủi ro tiềm ẩn, h lường trước Do đ , các quốc gia luôn tìm m i biện pháp để duy trì và củng cố niềm tin của người gửi tiền trong bất kỳ trường hợp nào Khi người dân gửi tiền, số tiền đ vẫn được đảm bảo dưới hình thức “ngầm”, hay Chính phủ s đứng
ra chi trả khi các ngân hàng bị đổ bể, mặc dù h ng c ng hai Tuy nhi n, điều đ không mang lại l ng tin cho người gửi tiền c ng như lợi ích cho Chính phủ
Hệ thống bảo hiểm tiền gửi được hình thành từ việc bảo hiểm “ngầm” sang bảo hiểm c ng hai Người gửi tiền s được chi trả một phần hoặc toàn bộ số tiền nếu ngân hàng bị đổ bể theo hợp đồng hoặc các cam kết công khai Hoạt động này lần đầu ti n được ra mắt công khai tại New York, Mỹ năm 1829 với tên g i “ Chương trình bảo hiểm trách nhiệm ngân hàng” (A ban obligation insurance program), mục đích của chương trình là bảo hiểm trách nhiệm với các khoản tiền gửi ngân hàng và cấp chứng chỉ huy động tiền gửi Sau đ , các bang Vermont, Indiana, Michigan, Ohia và Iowa tại Mỹ đã thành lập tổ chức Bảo hiểm tiền gửi trong giai đoạn 1831-1858 Tuy nhiên, do một số chính sách về ngân hàng được ban hành trong những năm sau (1886) đã làm cho các tổ chức này phải đ ng cửa Hoạt động Bảo hiểm tiền gửi tiếp tục diễn ra ở Mỹ vào những năm 1908-1930 Giai đoạn 1908-1917, Mỹ có tám bang thành lập hệ thống bảo hiểm tiền gửi Đến năm 1930,
cả tám hệ thống này phải đ ng cửa do những ảnh hưởng bất lợi của nền kinh tế dẫn đến nhiều ngân hàng đ ng cửa và các tổ chức Bảo hiểm tiền gửi bị mất khả năng thanh khoản
Trong giai đoạn 1930 – 1933, mỗi năm c hơn 1.000 ngân hàng ngừng hoạt động, đỉnh cao là năm 1933 c 4.000 ngân hàng thương mại phải ngừng hoạt động cùng 1700 tổ chức tín dụng phá sản, gây thiệt hại nặng nề cho người gửi tiền Trong hoàn cảnh đ , y u cầu cấp thiết là xây dựng một tổ chức tài chính riêng biệt, có tính chất ổn định, vững vàng để ngoài việc bảo vệ và duy trì lòng tin của người gửi tiền
mà còn góp phần đảm bảo ổn định cho hệ thống tài chính, ngân hàng Dưới sức ép
đ , Quốc hội Mỹ đã ban hành Luật Bảo hiểm tiền gửi Mỹ vào ngày 16/6/1933 và
Trang 10Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
vào ngày 1/1/1934, Tổng công ty bảo hiểm tiền gửi Mỹ (Federal Deposit Insurance Corporation – FDIC) được thành lập, và đây c ng là m hình mẫu đầu tiên về Bảo hiểm tiền gửi Trong hai thập kỷ 1960 -1970, hệ thống Bảo hiểm tiền gửi đã được thành lập và phát triển ở một loạt các quốc gia như Na Uy (1961), Ấn Độ (1963), Philippines (1963), Đức (1966), Canada (1967), Phần Lan (1979), Nhật Bản (1971)
Và xu hướng này vẫn tiếp tục tăng cao, đặc biệt là tại Châu Á, khu vực có nền kinh tế đang phát triển ngày một mạnh m và năng động hơn Điều này thể hiện rõ qua thời gian các nước trong khu vực Châu Á thành lập hệ thống Bảo hiểm tiền gửi: Hàn Quốc (1996), Đài Loan (1985), Việt Nam (2000), Malaysia (2005) và Indonesia (2005) Trong số đ , c rất nhiều hệ thống Bảo hiểm tiền gửi đã phát triển, mở rộng hơn nhằm hướng tới mô hình hoạt động theo hệ thống Bảo hiểm tiền gửi giảm thiểu rủi ro như Nhật Bản hay Philippines Đối với các quốc có nền kinh tế chuyển đổi ở khu vực Châu Âu, nơi đang áp dụng những khuyến nghị về các thông
lệ quốc tế tốt nhất để trở thành thành viên của EU, c ng đã thành lập tổ chức Bảo hiểm tiền gửi, ví dụ như Hungary (1993), Cộng hòa Séc (1994) Rumani (1996), Cộng hòa Latvia (1998), Nga (2003)
Tính đến cuối năm 2013, đã c 112 quốc gia thành lập hệ thống Bảo hiểm tiền gửi công khai từ việc nghiên cứu 189 quốc gia trên thế giới Đây là một sự gia tăng mạnh m về việc thành lập hệ thống BHTG (Tham khảo tại Phụ lục)
Trước sự phát triển ngày càng lớn mạnh của các hệ thống BHTG trên thế giới và nhằm giúp các hệ thống BHTG hoạt động thống nhất theo mục tiêu và nguyên tắc chung với vai trò bảo vệ sự ổn định của nền kinh tế tài chính thế giới, ngày 6/5/2002 Hiệp hội bảo hiểm tiền gửi quốc tế (International Association of Deposit Insurers – IADI) được thành lập, có trụ sở tại Thụy Sĩ Với sự tham gia của các hệ thống BHTG trên thế giới, IADI đã đánh dấu sự quan tâm chung của nhiều nước về hoạt động BHTG và hứa hẹn là một động lưc phát triển trên phạm vi toàn cầu
IADI là một tổ chức phi lợi nhuận và được thành lập theo luật Thụy Sĩ, quyền hành xử lý các vấn đề của Hiệp hội thuộc về Đại hội các thành viên Hiệp hội được điều hành bởi hội đồng điều hành gồm 21 cá nhân xuất sắc đại diện cho các hệ thống BHTG trên thế giới Qua 13 năm hoạt động, đến nay IADI đã chứng tỏ được vai tr c ng với nhiệm vụ gắn kết các hệ thống BHTG trên thế giới nhằm xây dựng
Trang 11Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
một nền tài chính ổn định mang tính chất toàn cầu Cho đến nay số lượng các thành
vi n IADI đã tăng l n 79 thành vi n, 7 tổ chức liên kết và 13 cổ đ ng
1.2 Một số vấn đề lý luận về bảo hiểm tiền gửi
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của Bảo hiểm tiền gửi
1.2.1.1 Khái niệm
Bảo hiểm tiền gửi là cam kết công khai của tổ chức BHTG đối với tổ chức tham gia BHTG và người gửi tiền về việc tổ chức BHTG s thanh toán số tiền gửi được bảo hiểm (đ i hi bao gồm cả tiền lãi) cho người gửi tiền khi tổ chức tham gia BHTG bị chấm dứt hoạt động hoặc mất khả năng thanh toán cho người gửi tiền Theo chương 1 điều 4 khoản 1 của luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2012, hái niệm Bảo hiểm tiền gửi được định nghĩa như sau: “ Bảo hiểm tiền gửi là sự bảo đảm hoàn trả tiền gửi cho người được Bảo hiểm tiền gửi trong hạn mức trả tiền bảo hiểm khi tổ chức tham gia Bảo hiểm tiền gửi lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả tiền gửi cho người gửi tiền hoặc bị phá sản”
Một vài định nghĩa hác nhau về khái niệm này như: John Blac đã định nghĩa trong từ điển kinh tế Oxford, phát hành năm 1997: “ Bảo hiểm tiền gửi là dịch vụ bảo hiểm rủi ro các ngân hàng hoặc các trung gian tài chính bị phá sản cho người có tiền gửi tại các ngân hàng hoặc các trung gian tài chính đ ” Hay Bảo hiểm tiền gửi
là một dạng bảo hiểm trách nhiệm dân sự của tổ chức huy động tiền gửi đối với người gửi tiền
Bảo hiểm tiền gửi thuộc loại bảo hiểm trách nhiệm, với các loại bảo hiểm trách nhiệm, tổ chức BHTG không thể lường trước được những rủi ro có thể xảy ra với xác suất gần đúng Tuy nhi n, tổ chức Bảo hiểm tiền gửi có thể dự đoán được những rủi ro này thông qua số dư tiền gửi có kỳ hạn Khi mới thành lập, các tổ chức tín dụng, ngân hàng có thể tham gia BHTG một cách tự nguyện, nhưng sau hi hoạt động của tổ chức Bảo hiểm tiền gửi đi vào quỹ đạo ổn định thì Nhà nước quy định việc tham gia Bảo hiểm tiền gửi là bắt buộc hoạt động dựa trên nguyên tắc lấy số
đ ng bù số ít nhằm phân tán rủi ro
Người gửi tiền thuộc đối tượng được bảo hiểm không cần làm các thủ tục mua bảo hiểm tiền gửi Các khoản tiền gửi s tự động được bảo hiểm ngay lập tức trong
Trang 12Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
giới hạn và phạm vi bảo hiểm khi các ngân hàng tham gia Bảo hiểm tiền gửi Khác với các loại hình bảo hiểm ia, người được bảo hiểm có thể tăng mức đền bù bằng cách đ ng th m phí hoặc thông qua việc thỏa thuận với các tổ chức bảo hiểm Tuy nhiên, số tiền gửi được bảo hiểm s được quy định bằng văn bản pháp luật do phạm
vi bảo hiểm và giới hạn bảo hiểm áp đặt Ngoài ra đối với các khoản tiền ngoài giới hạn bảo hiểm s được xử lý như một khoản nợ khác nếu các tổ chức tín dụng bị đổ
Ngoài ra, Bảo hiểm tiền gửi còn là một hàng hóa công cộng không thuần túy, một loại dịch vụ mang tính xã hội Hoạt động này nhằm đáp ứng nhu cầu chung của toàn xã hội hay chính là việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bất kỳ cá nhân
có tiền gửi Việc sử dụng loại dịch vụ của người này không ảnh hưởng đến việc sử dụng của người ia Hơn nữa một đối tượng sử dụng dịch vụ Bảo hiểm tiền gửi thì các đối tượng hác c ng c thể hưởng lợi một cách gián tiếp Người gửi tiền có niềm tin vào hệ thống tài chính- ngân hàng, s làm bớt rủi ro cho các tổ chức tín dụng c ng như các đối tượng khác s có thêm các nguồn vốn vay để mở các kênh đầu tư và sử dụng nguồn vốn đ một cách hiệu quả và hợp lý
1.2.2 Vai trò và mục tiêu của Bảo hiểm tiền gửi
1.2.2.1 Vai trò của Bảo hiểm tiền gửi
Từ những cuộc khủng hoảng của hệ thống tài chính – ngân hàng trên thế giới, việc ra đời và thành lập các tổ chức Bảo hiểm tiền gửi là điều tất nhiên và cần thiết cho bất kỳ thị trường tài chính nào Hoạt động Bảo hiểm tiền gửi đ ng vai tr quan
tr ng trong việc thúc đẩy hoạt động thu hút vốn nhàn rồi ngoài thị trường của các tổ
Trang 13Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
chức tín dụng và góp phần bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền Với ý nghĩa đ , vai trò của hoạt động Bảo hiểm tiền gửi ngày càng được khẳng định
Bảo hiểm tiền gửi góp phần củng cố niềm tin củ người gửi tiền đối với hệ thống tài chính – ngân hàng
Tổ chức Bảo hiểm tiền gửi ra đời không chỉ nhằm mỗi mục đích chi trả khoản tiền gửi được bảo hiểm cho người gửi tiền khi tổ chức tín dụng mất khả năng thanh toán hoặc c nguy cơ bị phá sản, mà còn tập trung vào các hoạt động như: cung cấp cho c ng chúng các th ng tin chính xác và đẩy đủ về ngân hàng và các tổ chức tín dụng trong một giới hạn nhất định để người gửi tiền có thể bảo vệ chính quyền lợi, lợi ích của bản thân hi đem gửi tiền Khi người dân mang số tiền tiết kiệm đi gửi, người dân lu n đặt ra những câu hỏi về mức độ tin cậy tại ngân hàng đ c ng như
số tiền gửi s được đảm bảo dù cho hoạt động ngân hàng ra sao
Tổ chức Bảo hiểm tiền gửi còn tham gia vào quá trình thanh lý tài sản để bảo
vệ quyền lợi của những cá nhân chưa được thanh toán đầy đủ số tiền gửi tại ngân hàng Có thể đối với các ngân hàng đứng trên bờ vực phá sản thì việc duy trì lòng tin của khách hàng lúc này không cần thiết Nhưng điều đ lại c ý nghĩa quan
tr ng đối với uy tín của các ngân hàng đang hoạt động tốt, rộng hơn là hệ thống ngân hàng quốc gia
Bảo hiểm tiền gửi tạo điều kiện thuận lợi cho hệ thống ngân hàng quốc gia phát triển
Hoạt động Bảo hiểm tiền gửi tạo điều kiện thuận lợi cho các ngân hàng mới ra đời hoặc quy mô hoạt động hạn chế Người dân c xu hướng đem gửi số tiền tiết kiệm của mình tại các ngân hàng lớn, uy tín hoặc các ngân hàng thông qua các hoạt động quảng cáo đã được người dân biết đến nhiều Điều này s gây h hăn cho các ngân hàng thương mại khác Tuy nhiên, khi tất cả các tổ chức tín dụng đều phải tham gia hoạt động Bảo hiểm tiền gửi, vô hình chung, s tạo được tâm lý an toàn và tin tưởng hơn từ phía người gửi tiền Hơn nữa, hệ thống các ngân hàng s được hoạt động trong một m i trường có tính cạnh tranh cao và lành mạnh
Cùng với hoạt động giám sát và hỗ trợ, khi các ngân hàng có dấu hiệu bất ổn hoặc gặp h hăn làm cho lợi nhuận bị sụt giảm, thậm chí dẫn đến việc mất khả năng thanh toán tài chính, tổ chức Bảo hiểm tiền gửi s hỗ trợ và dùng các biện
Trang 14Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
pháp để giúp các ngân hàng có thể bình ổn hoạt động trở lại, hoặc rút khỏi thị trường một cách trật tự và không ảnh hưởng l n các ngân hàng hác do lĩnh vực tài chính- ngân hàng có tính nhạy cảm và lan truyền rất cao Khi một ngân hàng sụp đổ,
nó s dẫn đến hệ lụy các ngân hàng hác c ng bị ảnh hưởng, theo kiểu dây chuyền Tại các quốc gia khác nhau, tổ chức Bảo hiểm có thể hỗ trợ cho các ngân hàng đang trong tình trạng h hăn bằng chính nguồn lực của mình Tuy nhiên, tại một
số quốc gia khác, khi một ngân hàng thành viên bị phá sản, thì các ngân hàng còn lại s được yêu cầu đ ng một khoản phí theo một tỷ lệ căn cứ vào mức độ thiệt hại của ngân hàng bị phá sản Việc này yêu cầu các ngân hàng s tự động giám sát và
hỗ trợ lẫn nhau trong hoạt động nhằm tránh tình trạng đ ng g p cho những ngân hàng có mức độ rủi ro cao Ngoài ra, đ c ng là một biện pháp tránh tình trạng các ngân hàng hoạt động một cách thiếu tổ chức và dựa vào tổ chức Bảo hiểm tiền gửi
Bảo hiểm tiền gửi góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế thông qua hoạt động huy động tiền gửi tại c c Ngân hàng thương mại
Để nền kinh tế được phát triển bền vững, chúng ta cần xây dựng được hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật tốt và hiện đại Muốn vậy, quốc gia đ cần có một nguồn vốn đầu tư h ng hề nhỏ phục vụ cho quá trình xây dựng Có thể huy động vốn qua các nh hác nhau như: vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, các nguồn viện trợ từ nước ngoài, từ tổ chức phi Chính phủ Nhưng c điều, các kênh vốn này không thực sự lâu dài và khi nhận được viện trợ từ nước ngoài, việc đ c thể gồm
cả những điều kiện về chính trị Do đ , Nhà nước cần tìm ra một nguồn vốn có tính chất ổn định và lâu dài, được huy động từ chính nội lực của quốc gia: đ là nguồn vốn tiết kiệm trong dân cư Khi ngân hàng phát triển ổn định, mạnh m cùng với các chính sách trả lãi thích hợp, việc huy động tiền gửi từ phía người dân là điều có thể
Như đã phân tích, hoạt động Bảo hiểm đ ng một vai trò quan tr ng trong việc củng cố niềm tin của công chúng vào hệ thống ngân hàng, đồng thời c ng tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy sự phát triển của hệ thống ngân hàng, góp phần trực tiếp
và gián tiếp giúp các ngân hàng huy động được tối đa nguồn tiết kiệm trong dân cư
và đ c ng chính là g p phần thúc đẩy huy động tiền gửi cho đầu tư phát triển dài hạn
Trang 15Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Từ việc phân tích vai trò của hoạt động Bảo hiểm tiền gửi, mục tiêu của Bảo hiểm tiền gửi là:
- Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền: đây là mục ti u hàng đầu của tổ chức Bảo hiểm tiền gửi Những rủi ro và thiệt hại của người gửi tiền không xuất phát từ chính bản thân h , mà xuất phát từ chính những hoạt động của hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng N n người gửi tiền không có khả năng tự bảo vệ Do đ cần có một tổ chức đứng ra thực hiện nhiệm vụ đ Từ đ tạo niềm tin và tâm lý an toàn cho người dân đối với các tổ chức huy động tiền gửi, khuyến hích người dân gửi tiền tiết kiệm, qua đ thúc đẩy tăng trưởng huy động nguồn vốn
- Tạo ra một cơ chế BHTG chính thức trong việc xử lý đổ vỡ ngân hàng Có hơn 100 quốc gia thành lập tổ chức Bảo hiểm tiền gửi, và còn rất nhiều quốc gia không thành lập Với những quốc gia này, Chính phủ s xem xét có bảo hiểm tiền gửi cho người gửi tiền hay h ng Điều đ phụ thuộc vào ý chí và khả năng của Chính phủ Đây là m hình “Bảo hiểm tiền gửi ngầm” và tồn tại chủ yếu ở các nước c trình độ phát triển kém
- Giảm gánh nặng tài chính cho Chính phủ, tạo sự công bằng và động lực cạnh tranh cho các tổ chức tham gia BHTG Ngân hàng nào hoạt động an toàn, có uy tín càng cao thì mức phí bảo hiểm phải nộp càng thấp, và ngược lại, ngân hàng nào có
uy tín thấp, độ rủi ro cho người gửi tiền càng cao thì mức phí bảo hiểm phải nộp càng lớn Từ đ , tạo ra sự công bằng c ng như động lực cho sự cạnh tranh trong hoạt động của các tổ chức tham gia BHTG
1.3 Mô hình hoạt động Bảo hiểm tiền gửi
1.3.1 Mô hình chuyên chi trả
Với hình thức này, tổ chức BHTG được thành lập chỉ nhằm thực hiện duy nhất một nhiệm vụ là thanh toán số tiền gửi cho người gửi tiền khi tổ chức tham gia BHTG bị đổ bể nhằm thực hiện mục tiêu của các chính sách c ng, trong đ c hai mục tiêu quan tr ng đ là: hẳng định sự tuyên bố của Chỉnh phủ về sự đảm bảo của Nhà nước đối với số tiền gửi của công chúng tại các tổ chức tín dụng thông qua một tổ chức và cơ chế BHTG công khai, mục tiêu thứ hai là bảo vệ những người gửi tiền nhỏ th ng qua cơ chế bồi thường
Trang 16Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Mô hình này tồn tại ở các nước đang phát triển, tổ chức BHTG mới được thành lập, còn non trẻ cả về quy mô tổ chức lẫn năng lực tài chính c ng như inh nghiệm hoạt động Một vài quốc gia có tổ chức BHTG hoạt động theo mô hình này như Braxin, Cộng hòa Séc, Phần Lan
1.3.2 Mô hình chi trả với quyền hạn mở rộng
Tổ chức BHTG không chỉ thực hiện nhiệm vụ chi trả như của mô hình chi trả
mà c n được trao thêm một số quyền hạn mở rộng như: hỗ trợ tài chính cho các ngân hàng khi gặp h hăn trong việc thực hiện thanh toán; theo dõi, giám sát và đưa ra những lời khuyên nhằm phòng tránh rủi ro và sự cẩn tr ng trong hoạt động của tổ chức; tham gia xử lý nợ và thu hồi nợ các tổ chức tham gia BHTG khi bị đổ
bể Từ đ , đảm bảo mục tiêu của các chính sách c ng như hạn chế rủi ro, tránh đổ
vỡ hệ thống, gây khủng hoảng tài chính và tác động xấu đến nền kinh tế, đồng thời gia tăng niềm tin của công chúng
Một số quốc gia trên thế giới có tổ chức BHTG hoạt động theo mô hình chi trả với quyền hạn mở rộng như: Hàn Quốc, Nhât Bản, Đài Loan, Việt Nam…
1.3.3 Mô hình giảm thiểu rủi ro
Mô hình giảm thiểu rủi ro được xem là cơ chế tốt nhất trong việc thực hiện các nhiệm vụ của BHTG Theo mô hình này, tổ chức BHTG được trao thêm quyền hạn
và phạm vi hoạt động c ng lớn hơn Ngoài nhiệm vụ bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền, tổ chức BHTG cùng với cơ quan nhà nước, ngân hàng Trung ương s tham gia vào hoạt động giám sát và đánh giá rủi ro hoạt động của các ngân hàng và các định chế tài chính khác, góp phần bảo đảm sự an toàn và hoạt động bình thường của
hệ thống tài chính – tiền tệ quốc gia, mức phí bảo hiểm s được tính dựa trên mức tín nhiệm từ đ tạo động lực cạnh tranh lành mạnh, tiếp nhận xử lý nợ và thu hồi nợ đối với các tổ chức tham gia BHTG bị phá sản; được trao các nghiệp vụ kinh doanh, đầu tư nhằm bảo toàn phát triển nguồn vốn ban đầu c ng như tăng cường sức mạnh tài chính, giảm dần sự phụ thuộc vào ngân sách của Chính phủ, tránh đổ vỡ dây chuyền hoặc khủng hoảng tài chính
Hiện nay, Mỹ, Philippine là những quốc gia có tổ chức BHTG hoạt động theo mô hình này
Dưới đây là sự khác biệt của ba mô hình này:
Trang 17Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
giảm thiểu rủi ro
Mô hình chi trả với quyền hạn mở rộng
Mô hình chuyên chi trả
8 Can thiệp vào hoạt động của
1.4 Các yếu tố điều chỉnh hoạt động BHTG
1.4.1 Cơ sở pháp lý của hoạt động bảo hiểm tiền gửi
Luật Bảo hiểm tiền gửi là một bộ phận trong hệ thống luật pháp các nước, gồm các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh hoạt động bảo hiểm tiền gửi c ng như các mối quan hệ phát sinh giữa các tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động này
Cơ sở lý luận của pháp luật về hoạt động BHTG được xác định dựa trên hai yếu tố cơ bản: thứ nhất là: làm rõ bản chất, đặc điểm của hoạt động BHTG; phân biệt hoạt động BHTG và hoạt động BHTM, phân tích rủi ro trong hoạt động BHTG,
Trang 18Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
các loại hình hoạt động BHTG; thứ hai, tr n cơ sở những đặc thù của hoạt động BHTG, xác định những yêu cầu, nguyên tắc điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động BHTG và nội dung pháp luật về hoạt động BHTG
Vì vậy, Luật BHTG s có những nội dung chính sau đây: cơ chế tham gia BHTG, đối tượng được bảo hiểm, loại tiền gửi được bảo hiểm, hạn mức chi trả, phí BHTG, cơ chế quản lý vốn, nguồn quỹ BHTG, mô hình hoạt động BHTG, quy chế phối hợp giữa tổ chức BHTG và các cơ quan hác trong việc giám sát thị trường tài chính, nâng cao vai trò của tổ chức BHTG trong việc xử lý đổ vỡ ngân hàng
Để đảm bảo chất lượng của Luật BHTG, Ban soạn thảo cần tiến hành nghiên cứu đánh giá thực trạng triển hai chính sách BHTG tr n cơ sở nghiên cứu những
ưu điểm, tồn tại hạn chế của từng vấn đề, so sánh với kinh nghiệm quốc tế về nội dung đ và đưa ra iến nghị Luật BHTG cần kế thừa những ưu điểm của chính sách BHTG hiện hành và tham khảo kinh nghiệm quốc tế, xu hướng phát triển hệ thống BHTG trên thế giới, nghiên cứu đặc điểm, cấu trúc của thị trường tài chính tại quốc gia mình để xây dựng một hệ thống BHTG phù hợp
Th ng thường, trước khi thành lập tổ chức BHTG, mỗi quốc gia s đưa ra dự thảo về việc xây dựng Luật BHTG Nga và phần lớn các nước Châu Âu đều ban hành Luật bảo hiểm tiền gửi trước khi thành lập tổ chức bảo hiểm tiền gửi Bên cạnh hệ thống Luật BHTG, các quốc gia s quy định các nội dung pháp lý cụ thể sao cho phù hợp với tình hình từng nước Tại Châu Á, Hàn Quốc ban hành Luật bảo
vệ người gửi tiền làm cơ sở pháp lý cho hệ thống BHTG Nhật Bản có Luật BHTG đồng bộ với hệ thống luật pháp điều chỉnh hoạt động của các thành viên tham gia Mạng an toàn tài chính quốc gia Tuy nhiên tại Việt Nam, sau 13 đi vào hoạt động, Luật BHTG mới được ra đời Đây c ng là một trong những hạn chế làm cho hoạt động bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam chưa thực sự phát huy hết khả năng và vai trò của mình
Tóm lại, việc xây dựng và ban hành Luật bảo hiểm tiền gửi là cần thiết, đảm bảo hiệu quả hoạt động của tổ chức BHTG trong việc bảo vệ người gửi tiền và duy trì ổn định hệ thống tài chính
Trang 19Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
1.4.2 Các bên tham gia hoạt động bảo hiểm tiền gửi
Luôn có một mối quan hệ gắn bó giữa: tổ chức Bảo hiểm tiền gửi, tổ chức tham gia Bảo hiểm tiền gửi và đối tượng được bảo hiểm (hay người gửi tiền) Dưới đây là sơ đồ mối quan hệ của 3 khái niệm trên:
Hình 1.1: Mối quan hệ giữa Tổ chức BHTG, Người gửi tiền và Tổ chức tham
gia BHTG
(Nguồn: tác giả tự tổng hợp)
Tổ chức bảo hiểm tiền gửi là một tổ chức tài chính đặc biệt của Nhà nước,
hoạt động không vì mục đích lợi nhuận Tổ chức BHTG s nhận số tiền đ ng g p từ các tổ chức tham gia BHTG kết hợp cùng các cơ quan iểm tra, giám sát nhằm giảm thiểu rủi ro và bảo vệ đối tượng được bảo hiểm Tổ chức BHTG phải chịu trách nhiệm chi trả số tiền được bảo hiểm cho người gửi tiền khi các tổ chức tham gia BHTG không còn khả năng thanh toán hoặc bị phá sản Do đ , tổ chức BHTG
đ ng vai trò quan tr ng trong việc giữ vững niềm tin nơi người gửi tiền, thúc đẩy hoạt động thu hút nguồn vốn đang nhàn rỗi trong thị trường c ng như g p phần đảm bảo và tạo điều kiện để hệ thống tài chính – ngân hàng được phát triển lạnh mạnh và vững bền
Dựa vào hình thức sở hữu, tổ chức Bảo hiểm tiền gửi được chia thành ba loại:
tổ chức BHTG thuộc sở hữu nhà nước, tổ chức BHTG thuộc sở hữu tư nhân, tổ chức BHTG theo hình thức liên doanh giữa Nhà nước và tư
- Tổ chức BHTG thuộc sở hữu nhà nước: như đã đề cập ở trên, bản chất
của Bảo hiểm tiền gửi là dịch vụ cung cấp hàng hóa công cộng nhằm bảo vệ
Tổ chức BHTG
tham gia BHTG
CAM KẾT
Nộp phí
Gửi tiền
Trả phí
Trang 20Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
quyền lợi của người gửi tiền tại các tổ chức tín dụng Tuy nhiên, mục đích chung nhất là duy trì tính ổn định, góp phần đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng Vì vậy, hệ thống Bảo hiểm tiền gửi được xây dựng dưới hình thức một
cơ quan quản lý của Nhà nước, có sự tham gia của ngân hàng Trung ương và
Bộ Tài Chính
Vì là cơ quan của Nhà nước nên nguồn vốn thành lập và nguồn tài chính s được Nhà nước hỗ trợ và đảm bảo, từ đó tạo lòng tin với người gửi tiền đồng thời khi có hiện tượng đổ vỡ của các tổ chức tín dụng, tổ chức BHTG có khả năng thanh toán số tiền gửi thay các ngân hàng phá sản Hình thức này được
ưa chuộng và áp dụng nhiều với các nước mới thành lập hệ thống BHTG
- Tổ chức BHTG thuộc sở hữu tư nhân: hình thức này được thành lập dưới
sự quản lý và hướng dẫn hoạt động bởi Hiệp hội ngân hàng quốc gia đ Các thành vi n đ ng g p vốn là các ngân hàng và các tổ chức tín dụng trong quốc gia đ Tại các quốc gia có Hiệp hội ngân hàng phát triển mạnh và nguồn lực tài chính dồi dào thì hình thức này s được ưa chuộng hơn cả
- Tổ chức BHTG theo hình thức liên doanh giữa Nhà nước và tư nhân:
mô hình này là sự kết hợp giữa hai m hình tr n, do đ hình thức này s phát huy được những ưu điểm và hạn chế những khuyết điểm mà các mô hình
tr n chưa xử lý được Nguồn vốn huy động s là tối đa, từ phía Chính phủ kết hợp với các ngân hàng và các tổ chức tin dụng trên toàn quốc gia Tổ chức BHTG được thành lập theo hình thức liên doanh s được Nhà nước đầu
tư tài chính với một tỷ lệ nhất định và hỗ trợ khi cần thiết
Tổ chức tham gia BHTG là các ngân hàng và các tổ chức tài chính phi ngân
hàng có hoạt động huy động tiền gửi Các tổ chức này khi tham gia hoạt động BHTG s phải đ ng một khoản phí cho tổ chức BHTG và có quyền yêu cầu tổ chức BHTG thanh toán cho người gửi tiền trong trường hợp tổ chức mất khả năng thanh toán hoặc bị chấm dứt hoạt động bởi cơ quan c thẩm quyền
Tại mỗi quốc gia, cơ chế tham gia BHTG c ng hác nhau Tuy nhi n, xu hướng phổ biến trên thế giới là các tổ chức tín dụng bắt buộc phải tham gia Thông thường khi các tổ chức BHTG mới được thành lập thì cơ chế áp dụng là tự nguyện, còn hầu hết các quốc gia trên thế giới đều áp dụng cơ chế tham gia BHTG bắt buộc
Trang 21Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Tại Việt Nam, các tổ chức tham gia BHTG gồm c : ngân hàng thương mại, ngân hàng hợp tác xã, quỹ tín dụng nhân dân, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và tổ chức tài chính vi mô và bắt buộc phải tham gia hoạt động bảo hiểm tiền gửi
Đối tượng hưởng lợi bảo hiểm: là những cá nhân hoặc tổ chức (tùy theo các
chính sách của từng quốc gia) có tiền đem gửi tại các tổ chức tham gia BHTG Các
cá nhân này không cần phải ký hợp đồng với tổ chức BHTG và c ng h ng cần nộp phí bảo hiểm để được bảo hiểm số tiền của mình Tổ chức BHTG s ngay lập tức thanh toán cho người gửi tiền kể cả số tiền lãi tích l y tr n tiền gửi trong hạn mức chi trả BHTG (nếu chi trả tiền gửi c xác định hạn mức) hoặc thanh toán toàn bộ tiền gửi (nếu chi trả tiền gửi h ng xác định hạn mức)
1.4.3 Đối tượng được bảo hiểm
Đối tượng được bảo hiểm trong BHTG là các khoản tiền gửi tại các tổ chức tín dụng tham gia BHTG, các tổ chức BHTG c ng quy định rõ loại tiền được bảo hiểm,
có thể là nội tệ hoặc ngoại tệ tùy theo chính sách tiền tệ mà mỗi quốc gia theo đuổi Thông thường, tổ chức BHTG các nước s bảo hiểm các khoản tiền dưới hình thức
tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi không kỳ hạn bằng nội tệ của các cá nhân
Tuy nhi n, đối với tiền gửi của các tổ chức, các cá nhân nắm rõ hoạt động của ngân hàng hoặc hiểu rõ quy luật hoạt động của thị trường, chẳng như các hoản tiền gửi của các cơ quan chính Phủ, các nhà lãnh đạo hoặc các nhà đầu tư chuy n nghiệp, khoản tiền này s không nằm trong đối tượng được bảo hiểm Ví dụ như: hệ thống bảo hiểm tiền gửi của Pháp s không bảo hiểm các khoản tiền gửi của người làm trong ngân hàng hoặc lãnh đạo ngân hàng
BHTG c ng h ng bảo hiểm cho các khoản tiền gửi có lãi suất cao hoặc có bảo hiểm, tuy nhiêm số tiền đ s được bảo hiểm nếu đi èm với những quy định khác trong hợp đồng, chẳng hạn như phạm vi số tiền gốc với lãi suất thấp hơn Tại nhiều nước trên thế giới, tổ chức BHTG không bảo hiểm cho các khoản tiền được gửi bằng ngoại tệ, tiền gửi ở nước ngoài của các ngân hàng trong nước, tiền gửi liên ngân hàng
Khi tổ chức tham gia BHTG mất khả năng thanh toán hoặc bị buộc phải tạm dừng hoạt động thì tổ chức BHTG phải có trách nhiệm bảo hiểm cho loại tiền thuộc đối tượng được bảo hiểm
Trang 22Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
1.4.4 Hạn mức chi trả
Số tiền bảo hiểm là số tiền mà tổ chức BHTG phải trả cho người gửi tiền tại tổ chức tín dụng tham gia BHTG khi có rủi ro được bảo hiểm xảy ra đối với tiền gửi được bảo hiểm Có hai hình thức chi trả BHTG được áp dụng trên thế giới hiện nay
- Chi trả không giới hạn: là hình thức thực hiện chi trả toàn bộ số tiền gửi
(gồm cả lãi) thuộc đối tượng bảo hiểm, hay còn g i là bảo hiểm toàn phần
- Chi trả có giới hạn: là hình thức thực hiện chi trả chỉ tới một giới hạn nhất
định (g i là hạn mức chi trả), hay là bảo hiểm có hạn mức Nếu số dư tiền gửi thuộc đối tượng được bảo hiểm thấp hơn hoặc bằng giới hạn đ thì người gửi tiền s được hoàn trả toàn bộ số tiền gửi (bao gồm cả lãi cộng dồn) Còn nếu số dư tiền gửi (gồm cả lãi) lớn hơn mức chi trả mà tổ chức BHTG quy định thì người gửi tiền s nhận được khoản tiền bồi thường bằng hạn mức chi trả BHTG
Từ đ rút ra rằng, hạn mức chi trả BHTG là khoản tiền tối đa mà tổ chức BHTG s thanh toán cho người gửi tiền khi có rủi ro xảy ra đối với tổ chức tham gia BHTG Rủi ro được bảo hiểm là khi các tổ chức tín dụng mất khả năng thanh toán hoặc bị buộc tạm dừng hoạt động bởi các cơ quan c thẩm quyền
Hạn mức BHTG luôn là vấn đề nhạy cảm đối với hệ thống BHTG, n được hình thành để đáp ứng mục tiêu là ổn định hệ thống tài chính và điều tiết hành vi của người gửi tiền Hạn mức BHTG phải được duy trì ở mức độ phù hợp Không quá thấp vì s gây ra sụt giảm niềm tin của người gửi tiền vào hệ thống ngân hàng, tuy nhi n c ng h ng thể quá cao, vì nó có thể dẫn tới các rủi ro đạo đức trong bảo hiểm do người gửi tiền c xu hướng ch n gửi tiền tại các ngân hàng trả lãi suất cao
C hai phương thức xác định hạn mức chi trả:
- Xác định hạn mức chi trả theo tài khoản: là việc định mức chi trả bảo hiểm tối đa cho một tài khoản tiền gửi tại một tổ chức nhận tiền gửi Một cá nhân gửi tiền vào một tổ chức tín dụng với nhiều tài khoản thì mỗi tài khoản
s được bảo hiểm tối đa ở mức bằng hạn mức chi trả cho một tài khoản
- Xác định hạn mức chi trả theo người gửi tiền: là cách xác định mức chi tiền bảo hiểm tối đa với một người gửi tiền tại một tổ chức tín dụng không căn cứ vào số lượng tài khoản hoặc số tiết kiệm mà cá nhân đ c tại một
Trang 23Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
ngân hàng Nếu người gửi tiền có nhiều tài khoản tại một ngân hàng nhưng tổng số tài khoản đ vượt mức chi trả bảo hiểm tối đa cho một người gửi tiền thì người đ c ng chỉ được nhận tiền bảo hiểm tối đa bằng hạn mức chi trả BHTG
Thay đổi và lực ch n cách tính, cách xác định hạn mức BHTG là một phần không thể thiếu trong việc xây dựng các chính sách ứng phó với những ảnh hưởng xấu và rủi ro của hệ thống tài chính
Như vậy, hạn mức BHTG là công cụ quan tr ng của Tổ chức BHTG trong việc bảo vệ và cải thiện niềm tin của người gửi tiền và góp phần ngăn ngừa hoảng loạn cho hệ thống ngân hàng, qua đ đ ng g p vào việc thực thi nhiệm vụ duy trì ổn định hệ thống tài chính
1.4.5 Phí Bảo hiểm tiền gửi
Phí BHTG là khoản đ ng góp tài chính của tổ chức tham gia BHTG cho tổ chức BHTG để được bảo hiểm cho tiền gửi tại tổ chức mình Phí bảo hiểm là một trong công cụ quan tr ng và có tính nhạy cảm với chính sách BHTG của hệ thống BHTG của từng quốc gia Mức phí bảo hiểm có thể cao hoặc thấp hơn điểm cân bằng giữa các khoản thu nhập so với tổn thất, rủi ro mà tổ chức BHTG có thể phải gánh chịu Phí bảo hiểm phụ thuộc vào mục tiêu thiết lập hệ thống BHTG là hoạt động phi lợi nhuận hay vì mục đích lợi nhuận Công thức tổng quát tính mức phí bảo hiểm đối với từng tổ chức tham gia BHTG như sau:
Pa = r.D Trong đ : Pa: là mức phí BHTG hàng năm một tổ chức tham gia BHTG đ ng r: tỷ lệ phí BHTG áp dụng đối với tổ chức tham gia BHTG
D: Số dư tiền gửi tại tổ chức tham gia BHTG
Có thể thấy, mức phí bảo hiểm phụ thuộc vào hai biến số r và D, biến số r phụ thuộc vào cách qui định của từng tổ chức BHTG, biến số D phụ thuộc vào quy mô hoạt động của mỗi tổ chức tín dụng C hai cách để tính phí BHTG:
- Hình thức tính phí bảo hiểm theo tỷ lệ phí BHTG cố định: theo hình thức này, các tổ chức tham gia BHTG phải đ ng g p tài chính cho tổ chức BHTG theo một tỷ lệ thu phí BHTG áp dụng cho tất các tổ chức tín dụng tham gia BHTG trong cùng một hệ thống BHTG của quốc gia Mức phí BHTG đ ng
Trang 24Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
g p được tính bằng một tỷ lệ phần trăm nhất định tính trên số dư tiền gửi của các loại tiền gửi được bảo hiểm tại tổ chức tham gia BHTG Cách tính phí BHTG này tương đối dễ dàng nhưng lại khiến cho các tổ chức huy động tiền gửi có mức độ rủi ro thấp phải gánh chịu chi phí cao hơn số phí của các tổ chức hoạt động với mức độ rủi ro cao Do đ , không phản ánh được mức độ rủi ro trong hoạt động của các tổ chức thành viên
- Hình thức tính phí BHTG theo mức độ rủi ro: theo đ tổ chức BHTG s tiến hành xếp hạng các tổ chức tín dụng tham gia BHTG, tổ chức nào có mức
độ rủi ro cao s phải đ ng phí BHTG cao hơn các tổ chức tín dụng khác Cách tính phí này khắc phục được hạn chế của hình thức trước, có tác dụng khuyến khích các thành viên tiến hành quản trị rủi ro chặt ch Tuy nhiên, việc xác định mức độ rủi ro của từng tổ chức tín dụng lại rất phức tạp, đ i hỏi trình độ quản lý rất cao và li n quan đến vấn đề bảo mật tin tức ngân hàng Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều áp dụng hình thức tính phí bảo hiểm này
Tổ chức tham gia BHTG có thể đ ng phí BHTG theo 2 cách:
- Các tổ chức tham gia BHTG s gánh chịu các khoản tổn thất sau khi xảy ra đổ vỡ ngân hàng, tuy nhiên hình thức này ít được áp dụng
- Thành lập quỹ bảo hiểm và yêu cầu tổ chức tham gia định kỳ nộp một khoản phí vào quỹ Đây là hình thức đ ng phí bảo hiểm trước, hình thức này được áo dụng chủ yếu
Ngoài ra có thể kết hợp hai hình thức trên với nhau Khi quỹ bảo hiểm của tổ chức BHTG phát triển, đồng nghĩa với việc gia tăng niềm tin nơi người gửi tiền
c ng như giảm dần các khoản đ ng g p phí bảo hiểm của các tổ chức tham gia
Các loại phí bảo hiểm: gồm có “Phí bảo hiểm đồng hạng” và “Phí bảo hiểm
điều chỉnh theo mức độ rủi ro”
- Phí bảo hiểm đồng hạng: là mức phí có tỷ lệ phí bảo hiểm cố định, áp
dụng cho m i tổ chức tham gia hoạt động tại một quốc gia, c n được g i là
phí cố định Với các hệ thống BHTg mới được thành lập thì đều áp dụng loại
phí này, vì nó dễ thực hiện, dễ áp dụng và chi phí vận hành hệ thống thấp
Trang 25Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
- Phí bảo hiểm điều chỉnh theo mức độ rủi ro: từ việc đánh giá mức độ rủi
ro, s xác định được tỷ lệ phí bảo hiểm tương ứng trong bi n độ phí bảo hiểm
(có trần và sàn) của hệ thống BHTG Loại phí này c n được g i là phí linh
hoạt và đang được rất nhiều các quốc gia nghiên cứu, phân tích và áp dụng vì
nó thể hiện tính thị trường và sự công bằng
Tuy nhi n, để áp dụng được loại phí này, đ i hỏi cần có một cơ chế cung cấp
th ng tin c ng như các hía cạnh về công nghệ và quản trị hệ thống phải vận hành thật tốt Việc này c ng gây tốn chi phí quản lý
1.4.6 Cơ chế xử lý các tổ chức tài chính bị đổ vỡ
Hệ thống tài chính ngân hàng đ ng một vai trò quan tr ng trong việc điều tiết tiền tệ Khi một TCTD hoạt động kém và có khả năng xảy ra đổ vỡ, s gây ảnh hưởng rất lớn đến các hoạt động kinh tế và các TCTD c li n quan Do đ , việc xử
lý các ngân hàng đổ vỡ là vấn đề mà rất quốc gia quan tâm
Tổ chức tín dụng đổ vỡ được hiểu một cách tổng quát là khi một tổ chức không thể đáp ứng nghĩa vụ thanh toán của tổ chức đ đối với người gửi tiền c ng như các chủ nợ khác Theo Javier Bolzico (2009), Xử lý đổ vỡ là việc các cơ quan
có thẩm quyền thực hiện các biện pháp và quy trình để xử lý tình trạng của ngân hàng không còn khả năng tồn tại Đây là hái niệm tổng quát, trong hi đ IADI (2005) đưa ra một khái niệm có tính cụ thể hơn: Xử lý đổ vỡ là việc lập và thực hiện kế hoạch xử lý một ngân hàng đổ vỡ hoặc lâm vào tình trạng đổ vỡ, dưới sự chỉ đạo của mạng an toàn tài chính và được thiết kế nhằm hoàn trả đầy đủ hoặc bảo
vệ tiền gửi được bảo hiểm trong khi giảm thiểu tối đa chi phí cho tổ chức bảo hiểm tiền gửi
Do các đặc thù khác nhau của hệ thống tài chính nên cách thức và cơ chế xử lý
đổ vỡ c ng hác nhau Nhận thấy rằng, cơ chế xử lý đổ vỡ được chia làm ba dạng
như sau: Cơ chế xử lý đặc biệt, Cơ chế quản lý đặc biệt và Cơ chế hỗn hợp (hay còn
g i là Cơ chế phá sản th ng thường)
Cơ chế xử lý đặc biệt:
Cơ chế này cho phép cơ quan chức năng iểm soát hoạt động của các ngân hàng và nh m các c ng ty tài chính hác trước hoặc trong khi chúng mất khả năng thanh toán và cung cấp một phạm vi rộng hơn các quyền hạn xử lý hoặc làm ổn
Trang 26Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
định hệ thống sau đ Cơ chế xử lý đặc biệt toàn diện là cơ chế quản lý hành chính
và các cơ quan chức năng c quyền hạn chỉ định chuyển giao tài sản Điều này bao gồm khả năng thực hiện việc chuyển giao toàn bộ hoặc một phần tài sản và các khoản nợ của các tổ chức tài chính cho bên thứ ba hoặc cho các tổ chức bắc cầu mà không cần có sự đồng ý của cổ đ ng, các chủ nợ và đối tác của tổ chức đổ vỡ Các nước theo cơ chế này có thể kể đến: Brazil, Canada, Nhật Bản, Mexico, Singapore, Thụy Sĩ, Vương quốc Anh và Hoa Kỳ Pháp luật mới ban hành ở Đức và Tây Ban Nha gần đây c ng theo cách tiếp cận này
Cơ chế quản lý đặc biệt:
Đây là cơ chế hỗn hợp giữa cơ chế quản lý và pháp luật, trong đ các cơ quan
có thẩm quyền xử lý bổ nhiệm các quản trị vi n đặc biệt (theo các cách khác nhau như: các nhà quản trị đặc biệt, các nhà quản trị tạm thời, các nhà quản lý đặc biệt hoặc quản lý điều lệ) để thực hiện công việc Chúng được thiết kế để tạo điều kiện thuận lợi cho chuyển dịch cơ cấu và /hoặc tái cấp vốn cho tổ chức đổ vỡ Trong trường hợp tái cơ cấu không khả thi, việc thanh lý, phá sản s được áp dụng Các nước theo cơ chế này gồm có Úc, Bỉ, Pháp và Ý Hệ thống ngân hàng ở Việt Nam đang áp dụng theo cơ chế này với một số đặc điểm của cơ chế xử lý đặc biệt
Cơ chế hỗn hợp:
Các quốc gia theo cơ chế này không thiết lập đầy đủ các quyền hạn như đã n u trong hai cơ chế đầu tiên Trong một số trường hợp, quyền hạn xử lý chỉ có thể được thực hiện với sự đồng ý toàn bộ hoặc tr n đa số phiếu của cổ đ ng và / hoặc của các chủ nợ Trong một số trường hợp khác, quyền hạn xử lý phụ thuộc lớn vào thủ tục tố tụng t a án, đặc biệt trong giai đoạn thanh lý phá sản Tuy nhi n, cơ chế này vẫn có nhiều khác biệt với các thủ tục phá sản doanh nghiệp th ng thường Luxembourg là quốc gia đang áp dụng cơ chế này
Trang 27Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM TIỀN
GỬI TẠI NHẬT BẢN
2.1 Khái quát chung
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển bảo hiểm tiền gửi tại Nhật Bản
Bảo hiểm tiền gửi Nhật Bản được thành lập vào ngày 01 tháng 7 năm 1971 với
3 cổ đ ng chính là: Chính phủ, Ngân hàng Trung ương và các Ngân hàng được bảo hiểm, tên viết tắt là DICJ (Deposit Insurance Corporation of Japan) Tổng công ty Bảo hiểm tiền gửi Nhật Bản có trụ sở tại Tokyo, Nhật Bản với một văn ph ng hác
ở Osaka, Nhật Bản.Với bề dày hoạt động sau 37 năm, BHTG tại Nhật Bản đã và đang ngày càng hẳng định vị trí và vai trò của mình trong mạng an toàn tài chính Nhật Bản Mục tiêu chính của Tổng công ty Bảo hiểm tiền gửi Nhật Bản là bảo vệ người gửi tiền và đảm bảo duy trì sự ổn định tài chính của hệ thống ngân hàng thông qua nhiều công cụ nghiệp vụ trong đ c nghiệp vụ rất quan tr ng là tiếp nhận và xử lý
Vào tháng 4 năm 1971, Luật Bảo hiểm tiền gửi tại Nhật được thông qua Nguồn vốn g p ban đầu của tổng công ty BHTG là 450 triệu Yên với sự đ ng g p của Bộ Tài Chính, Ngân hàng Trung ương và các tổ chức tài chính tư nhân hác Vào thời điểm hiện tại, tổng số vốn của DICJ đạt mức 35135 triệu Yên và số nhân viên chính thức từ 15 người (năm 1995) l n đến 395 người (năm 2014)
Từ khi thành lập cho đến năm 1991, vị trí và vai trò của tổ chức BHTG không được đề cao và khá mờ nhạt trong hệ thống tài chính do Nhật Bản áp dụng chính sách “ h ng cho đổ vỡ” đối với bất kỳ tổ chức tài chính nào Tình hình kinh tế Nhật Bản nói chung và tình hình tài chính tiền tệ của Nhật Bản nói riêng khá ổn định vào thời điểm đấy, vì vậy DICJ chưa phải chi trả một lần nào cho đến thời điểm đ và không có bất kỳ hoạt động nào nổi bật DICJ hoạt động theo mô hình chi trả và chỉ được biết đến với nhiệm vụ thanh toán tiền gửi cho người dân khi có ngân hàng bị
đổ vỡ Hơn nữa, do h ng đủ nguồn nhân lực c ng như quyền hạn nên sự độc lập của tổ chức BHTG Nhật Bản bị hạn chế đi rất nhiều
Tuy nhiên, bắt đầu từ năm 1996, inh tế ở Nhật Bản phải đối mặt với suy giảm phát triển kéo dài và bong bóng bất động sản xuất hiện Chính phủ Nhật Bản thay đổi con đường cải cách và phát triển Năm 1996 là một năm đánh dấu sự thay đổi
Trang 28Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
lớn của lĩnh vực tài chính – ngân hàng tại Nhật Bản, Chính phủ đã thực hiện chính sách nới lỏng điều tiết trực tiếp, chuyển hệ thống tài chính phát triển theo cơ chế thị trường thực sự, tiến tới m i trường tài chính cạnh tranh hơn Vì vậy, hoạt động BHTG c cơ hội phát huy vai trò của mình trong việc bình ổn thị trường tài chính, tiền tệ, bảo vệ người gửi tiền và xử lý ngân hàng có vấn đề
Trong thời kỳ này, Cơ quan Dịch vụ Tài chính được thành lập, bộ Luật Bảo hiểm tiền gửi được sửa đổi và bổ sung BHTG Nhật bản chuyển sang hoạt động theo mô hình chi trả với quyền hạn mở rộng Luật tái thiết tài chính vào tháng 2/1998 và bộ Luật li n quan đến các biện pháp khẩn cấp cho việc củng cố sớm các chức năng tài chính (Luật củng cố sớm) năm 1998 cho phép DICJ thực hiện những chức năng bổ sung liên quan đến việc xử lý các tổ chức tài chính đổ vỡ, các nhiệm
vụ li n quan đến điều hành tài chính và các ngân hàng bắc cầu, bơm vốn để hỗ trợ cho việc tái thiết hệ thống tài chính
Các hoạt động của DICJ xoay quanh ba nội dung quan tr ng: một là việc mua
nợ xấu từ tổ chức tài chính; hai là, hỗ trợ vốn cho tổ chức tài chính muốn sáp nhập với tổ chức tài chính không còn khả năng hoạt động; ba là, tiếp nhận và điều hành các ngân hàng bị đổ bể và các nghiệp vụ khác Sửa đổi tr n c ng cho phép tăng nguồn tài chính cho DICJ thêm 155 tỷ Đô la cho mục đích bảo vệ người gửi tiền
Để hỗ trợ cho việc thực hiện các hoạt động này, ngoài các phòng ban chức năng, DICJ c n thành lập và điều hành một số công ty con bao gồm: công ty xử lý
và thu hồi nợ (RCC- The Resolution and Collection Corporation), Ngân hàng Bắc cầu, Ngân hàng Bắc cầu thứ hai của Nhật Bản và Tổng công ty tái thiết công nghiệp Nhật Bản
Vào ngày mùng 1 tháng 4 năm 1999, Tổng công ty thu hồi và xử lý nợ RCC được thành lập theo hình thức là một tổ chức trực thuộc DICJ thông qua việc sáp nhập giữa tổng công ty quản lý cho vay mua nhà (HLAC – the Housing Loan Administration Corporation) và ngân hàng thu hồi và xử lý (RCB – Resolution and Collection Bank) Vai trò của RCC là thu hồi các khoản nợ xấu một cách nhanh chóng và hiệu quả, sử dụng các biện pháp công bằng và minh bạch, tối thiểu hóa việc sử dụng quỹ c ng để giải quyết hậu quả của đ ng cửa ngân hàng
Trang 29Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Theo cơ cấu mới, DICJ được phép cấp hỗ trợ tài chính vượt quá chi phí chi trả cho các hoạt động xử lý các tổ chức tài chính bị đổ vỡ, phản ánh sự chuyển dịch cơ cấu BHTG từ chi trả có hạn mức sang bảo đảm toàn bộ hoặc mua lại nợ xấu từ các
tổ chức tài chính lành mạnh để thúc đẩy chuyển nhượng nợ xấu Thực tế trong quá trình hoạt động, DICJ đã thực hiện tốt vai trò, chức năng, nhiệm vụ đối với việc tiếp nhận và xử lý các tổ chức tài chính bị đổ vỡ Tổng công ty BHTG Nhật Bản phải quy định rõ quyền hạn, trách nhiệm và thời điểm can thiệp của các cơ quan c thẩm quyền liên quan trên nguyên tắc xử lý kịp thời với chi phí tổi thiểu
2.1.2 Mô hình hoạt động của bảo hiểm tiền gửi tại Nhật Bản
Từ khi thành lập, DICJ hoạt động theo mô hình chuyên chi trả Như đã phân tích ở chương I, m hình chuy n chi trả chỉ thực hiện một nhiệm vụ duy nhất là thanh toán số tiền gửi cho người gửi tiền khi tổ chức tham gia BHTG bị phá sản hoặc ngừng hoạt động Tất cả các nghiệp vụ của DICJ đều đơn giản và không có dấu ấn, phù hợp với những quốc gia mới thành lập hệ thống tiền gửi
Tuy nhi n đến năm 1996, sau hi nền kinh tế Nhật Bản có những dấu hiệu bất
ổn Chính phủ Nhật Bản đã c những chính sách thay đổi, đồng thời bộ Luật BHTG Nhật Bản được chỉnh sửa theo mô hình chi trả với quyền hạn mở rộng
Về nhiệm vụ và chức năng: ngoài việc chịu trách nhiệm thanh toán cho người gửi tiền tại các tổ chức tài chính bị đổ vỡ, DICJ c n được tăng cường thêm các chức năng hỗ trợ tài chính cho tổ chức tham gia BHTG khi gặp h hăn trong thanh toán, cách tính và điều chỉnh các mức phí bảo hiểm, giải quyết đổ vỡ ngân hàng… Dưới đây là các hoạt động mà mô hình chi trả với quyền hạn mở rộng tại Nhật Bản thực hiện:
- Hỗ trợ tài chính
- Xử lý các tổ chức bị đổ vỡ
- Mua lại tài sản từ các tổ chức tài chính
- Thực hiện bơm vốn (bao gồm cả việc bơm vốn nhằm đối phó với các thảm
h a động đất)
- Thực hiện mua lại các khoản nợ xấu h đ i
- Công tác thanh tra giám sát các tổ chức tham gia BHTG
-
Trang 30Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
2.2 Phân tích hoạt động bảo hiểm tiền gửi tại Nhật Bản
2.2.1 Cơ sở pháp lý của hoạt động bảo hiểm tiền gửi tại Nhật Bản
2.2.1.1 Luật Bảo hiểm tiền gửi
Luật Bảo hiểm tiền gửi tại Nhật Bản được ban hành vào tháng 3 năm 1971 và bắt đầu có hiệu lực vào ngày 01/04/1971 Khi tổng công ty Bảo hiểm tiền gửi Nhật Bản mới được thành lập, Luật BHTG Nhật Bản quy định mô hình hoạt động của hệ thống là mô hình chuyên chi trả Tuy nhiên, khi kinh tế Nhật Bản bước vào giai đoạn h hăn, thi n tai, “bong b ng” bất động sản vào năm 1995 và 1996, tình trạng đ hiến cho rất nhiều ngân hàng và các tổ chức tài chính gặp h hăn, doanh thu và lợi nhuận giảm sút trong khi nợ xấu lại tăng cao Nắm bắt được tình hình, Luật BHTG đã c những điều chỉnh nhất định nhằm góp phần ổn định thị trường tài chính trong giai đoạn h hăn
Thay đổi đầu tiên chính là việc triển khai hoạt động của hệ thống BHTG Nhật Bản theo mô hình chi trả với quyền hạn mở rộng Mục đích của luật BHTG, như được định nghĩa tại Điều 1 là nhằm mục đích bảo vệ các cá nhân, tổ chức tiền gửi
c ng như duy trì hệ thống một cách trật tự, nên rất nhiều các hoạt động mà BHTG Nhật Bản được hình thành chẳng hạn như việc xử lý các tổ chức tài chính bị đổ bể,
hỗ trợ tài chính, tiếp nhận việc kinh doanh hay tạo điều kiện thuận lợi cho việc sáp nhập
Luật BHTG gồm c 10 chương và 137 điều khoản, 52 quy định bổ sung với những nội dung cơ bản như: m hình hoạt động của tổ chức BHTG, chủ thể được bảo hiểm tiền gửi, chủ thế tham gia bảo hiểm tiền gửi, phạm vi bảo hiểm, phí bảo hiểm tiền gửi và hạn mức chi trả, thời điểm tổ chức bảo hiểm tiền gửi c nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền, hoạt động thanh tra, giám sát, các hoạt động của hai công ty này (Ngân hàng Bắc cầu (BB) và Công ty quản lý tài sản (RCC))
c ng được quy định tại Luật BHTG nhằm đảm bảo tính hợp pháp và giảm thiểu vướng mắc trong quá trình thực hiện vvv
Để đảm bảo cho việc ổn định các mục đích đã đề cập ở tr n, vào tháng 12 năm
2002, Luật BHTG được sửa đổi để đảm sự ổn định của các chức năng giải quyết, DICJ được ủy quyền để thực hiện các khoản vay cần thiết nhằm thanh toán các khoản nợ cho các tổ chức tài chính Trong các hoạt động bảo hiểm tiền gửi tại Nhật
Trang 31Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Bản, hoạt động thanh tra giám sát là cần thiết và giúp cho hệ thống vận hành ổn định hơn Luật BHTG quy định, xét thấy nếu cần thiết, các ủy viên của Cơ quan Dịch vụ Tài chính có thể tiến hành thanh tra hoặc kiểm tra bất kỳ một tổ chức tài chính nào đang hoạt động
Vào tháng 1 năm 2013, Hội đồng của DICJ đã đề xuất, giới thiệu về các cơ chế xử lý đổ vỡ mới Đến tháng 6 năm 2013, bản sửa đổi Luật BHTG Nhật Bản được ban hành và có hiệu lực vào ngày 06/03/2014
2.2.2.2 Các văn bản dưới luật
Ngoài việc ban hành Luật BHTG Nhật Bản, Nhật Bản còn ban hành các bộ Luật hác như:
- Luật Jusen (ban hành năm năm 1996)
- Luật li n quan đến các biện pháp khẩn cấp nhằm ổn định các tổ chức tài chính (ban hành vào tháng 2/1998)
- Luật li n quan đến các biện pháp khẩn cấp để tăng cường chức năng của tổ chức tài chính (ban hành tháng 10/1998)
- Luật li n quan đến các biện pháp đặc biệt nhằm khuyến hích tái cơ cấu tổ chức của các tổ chức tài chính (ban hành năm 2002)
- Luật li n quan đến các biện pháp đặc biệt nhằm tăng cường chức năng tài chính (ban hành năm 2004)
- Luật li n quan đến các biện pháp xử lý đặc biệt đối với các thủ tục tái tổ chức các doanh nghiệp và các thủ tục với các trường hợp nợ không trả được của doanh nghiệp (ban hành ngày 21/06/1996)
2.2.2 Đối tượng tham gia bảo hiểm tiền gửi
Đối tượng tham BHTG là các tổ chức tài chính có trụ sở được đặt tại Nhật Bản Phạm vi bảo hiểm của DICJ tự động bắt đầu khi các tổ chức tài chính nhận tiền gửi được bảo hiểm c đủ điều kiện để được tham gia bảo hiểm tiền gửi Hằng năm, các tổ chức tài chính tham gia BHTG s đ ng một khoản phí bảo hiểm Con số này không cố định và phụ thuộc vào số tiền gửi của các tổ chức để tính toán Các đối tượng tham gia BHTG được quy định tại Điều 2, Luật bảo hiểm tiền gửi Nhật Bản gồm có:
Trang 32Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
- Các ngân hàng (theo định nghĩa Luật Ngân hàng, ví dụ như ngân hàng thành thị, ngân hàng khu vực, hoặc ngân hàng thành viên của Hiệp hội Ngân hàng khu vực)
- Các ngân hàng tín dụng dài hạn (theo định nghĩa Luật Ngân hàng Tín dụng dài hạn) (Được thành lập vào năm 1952 dưới sự chỉ đạo của chính phủ Shigeru Yoshida, nhằm cung cấp tài chính dài hạn cho các ngành công nghiệp tại Nhật Bản Sau cuộc khủng hoảng nợ xấu những năm 1990- 1999, ngân hàng tín dụng dài hạn đã được quốc hữu h a vào năm 1998, nay là ngân hàng Shinsei)
- Ngân hàng trung ương tín dụng Shinkin ( là một loại ngân hàng của Nhật Bản, gồm các tổ chức tài chính hợp tác phục vụ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ và người dân địa phương Các ngân hàng Shin in được thành lập năm
1951 với các chức năng như cho vay, cấp vốn, nhận tiền gửi
- Hợp tác xã tín dụng
- Các ngân hàng Lao Động (là một tổ chức hoạt động như các quỹ tín dụng tại Nhật Bản, các ngân hàng lao động được tập hợp, liên kết thành Hiệp hội quốc gia các ngân hàng Lao Động)
- Ngân hàng Li n bang Shin umi ( được thành lập vào năm 1954, hoạt động như ngân hàng Trung ương đối với các tổ chức tín dụng tại Nhật Bản)
- Ngân hàng Ro inren ( được thành lập năm 1955, hoạt động như một quỹ tín dụng cho 47 Hiệp hội Lao động tại Nhật Bản)
2.2.3 Đối tượng được bảo hiểm và không được bảo hiểm
Đối tượng được bảo hiểm và h ng được bảo hiểm được quy định tại Điều 2, khoản 11 Luật bảo hiểm tiền gửi Nhật Bản
2.2.3.1 Đối tượng được bảo hiểm:
- Tiền gửi th ng thường theo lãi suất
- Tiền gửi có kỳ hạn
- Tiền gửi theo từng kỳ
- Tiền gửi dự trữ thuế
- Tiền gửi tiết kiệm
- Tiền trả góp
- Tiền tiết kiệm có kỳ hạn
Trang 33Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
2.2.3.2 Đối tượng không được bảo hiểm:
- Tiền gửi bằng ngoại tệ
- Các chứng chỉ tiền gửi có thể chuyển nhượng
- Tiền gửi trong các tài khoản giao dịch tài chính quốc tế đặc biệt
- Tiền gửi của hệ thống ngân hàng Nhật Bản (trừ tiền trong ngân khố)
- Tiền gửi của các tổ chức tham gia BHTG (không bao gồm các khoản tiền gửi
li n quan đến việc đầu tư của các khoản lương hưu dự trữ đ ng g p xác định)
- Tiền gửi của tổng công ty BHTG Nhật Bản
- Tiền trong các tài khoản ẩn danh
- Tiền gửi trái với Luật liên quan tới Kiểm soát các Hợp đồng phi ủy thác liên quan đến tiền gửi
2.2.4 Hạn mức chi trả
Hạn mức chi trả là số tiền tối đa mà người gửi tiền có thể nhận được nếu tổ chức tham gia BHTG bị phá sản hoặc ngừng hoạt động Chính sách của DICJ ban đầu là thực hiện chi trả BHTG ở mức độ nhất định nhằm bảo vệ người gửi tiền Dưới đây là một số mốc thời gian điều chỉnh hạn mức chi trả BHTG tại Nhật Bản phù hợp với diễn biến thực tiễn của nền kinh tế:
(Nguồn: Thông tin được đăng tải trên các website và tác giả tự tổng hợp)
Trong giai đoạn đầu triển khai, năm 1971, hạn mức chi trả tối đa cho một người gửi tiền tại một tổ chức tham gia BHTG là 1 triệu Yên Trong khoảng thời gian từ năm 1974 đến 1985: số tiền tối đa mà người gửi tiền có thể nhận là 3 triệu Yên
Vào năm 1986, cùng với những diễn biến phức tạp đang xảy ra trên thị trường tài chính, DICJ đã nâng tỷ lệ phí bảo hiểm lên 0,012% số dư tiền gửi được bảo hiểm và
Trang 34Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
hạn mức chi trả c ng được nâng lên với mức tối đa là 10 triệu Y n (tương đương
86000 USD) cho một người gửi tiền tại một ngân hàng
Tại thời điểm 1995, do hậu quả của sự gia tăng các hoản nợ xấu của tổ chức tài chính và các ngân hàng đổ vỡ liên tiếp, Chính phủ đã tuy n bố bảo hiểm toàn bộ tiền gửi với mục đích thanh toán Đến tháng 12/1999, tiếp tục gia hạn thời gian bảo hiểm toàn bộ kéo dài tới tháng 10/2002 và sau đ được tiếp tục tới tháng 4/2005 Tuy nhiên từ tháng 4/2005, để được bảo hiểm toàn bộ, tiền gửi với mục đích thanh toán phải thỏa mãn 3 điều kiện sau: không có lãi suất, được quy đổi khi có nhu cầu, được sử dụng cho các dịch vụ thanh toán
Trong hi đ , các hoản tiền gửi không nằm trong thuộc loại tiền gửi vì mục đích thanh toán và quyết toán s được bảo hiểm tối đa là 10 triệu Y n Trong trường hợp số tiền gửi vượt quá hạn mức chi trả, tổ chức BHTG s căn cứ vào luật và các quy định về việc thanh lý tài sản của các tổ chức tín dụng bị phá sản để xem xét việc chi trả thêm
Đối với các loại tiền gửi h ng được bảo hiểm: việc chi trả phụ thuộc vào luật và các quy định về thanh lý tài sản như đã đề cập ở trên, một số khoản tiền gửi có thể
h ng được bồi thường
2.2.5 Phí bảo hiểm tiền gửi
Hằng năm, các tổ chức tài chính tham gia BHTG s nộp phí BHTG cho tổ chức BHTG trong ba tháng đầu tiên của mỗi năm Việc đ ng phí nửa năm một c ng được chấp nhận Phí bảo hiểm tiền gửi do tổ chức tham gia BHTG nộp được xác định bằng cách nhân tỷ lệ phí bảo hiểm và số dư tiền gửi được bảo hiểm trong năm tài chính trước đ với nhau
2.2.5.1 Tỷ lệ phí bảo hiểm
Tỷ lệ phí bảo hiểm được đề ra và chấp thuận bởi Ủy vi n Cơ quan Dịch vụ Tài chính (uỷ quyền hợp pháp của Thủ tướng Chính phủ), Bộ trưởng Bộ Tài chính thông qua các nghị quyết của Hội đồng Chính sách DICJ, và thông báo cho công chúng
Phí bảo hiểm đặc biệt đã bị loại bỏ vào cuối năm tài chính 2001 Phí bảo hiểm
th ng thường được sử dụng để tài trợ cho các hoạt động như hỗ trợ tài chính và số tiền thanh toán h ng vượt quá chi phí dự kiến thanh toán trực tiếp số tiền bảo hiểm
Trang 35Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
cho người gửi tiền Mức tối đa là 0,084% số dư tiền gửi được bảo hiểm Tiền gửi được chia thành hai loại là tiền gửi đặc biệt và tiền gửi hác, trong đ tiền gửi đặc biệt chịu mức phí bảo hiểm cao hơn so với tiền gửi khác Tỷ lệ phí bảo hiểm s được áp đặt cho riêng từng loại
Đến năm 2003 vẫn áp dụng tính phí theo mức độ rủi ro, nhưng chia các hoản tiền gửi thành tiền gửi với mục đích thanh toán và tiền gửi chung Sơ đồ dưới dây là
tỷ lệ phí bảo hiểm thay đổi qua từng năm của DICJ:
Năm Tỷ lệ phí bảo hiểm Tỷ lệ phí bảo hiểm
Trang 36Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
tiền gửi vào năm 1996 Tuy nhi n, từ năm tài chính 1996 đến năm tài chính 2001, DICJ đã áp dụng cách tính phí theo mức độ rủi ro của các tổ chức tín dụng, phí bảo hiểm được chia thành "phí bảo hiểm th ng thường" và "phí bảo hiểm đặc biệt (để bảo vệ toàn bộ số tiền gửi)
Vào ngày 1/4/2013, Tổng Công ty Bảo hiểm tiền gửi Nhật Bản (DICJ) đã giảm tỷ lệ phí bảo hiểm tiền gửi từ 0,084% xuống còn 0,07%, và hoàn lại 120 tỷ
Y n (tương đương với khoảng 1,3 tỷ đ la Mỹ) các khoản phí thu là phần chênh lệch giữa số tiền phí c và số tiền phí mới mà các ngân hàng Nhật Bản đã nộp trong năm tài h a 2012 Báo cáo của Moody cho biết đây là một dấu hiệu tích cực cho các ngân hàng Nhật Bản, đặc biệt là các ngân hàng địa phương, do chính sách giảm phí bảo hiểm s góp phần làm giảm chi phí cận biên của hoạt động nhận tiền gửi Nguyên nhân dẫn đến quyết định giảm tỷ lệ phí bảo hiểm tiền gửi của DICJ là
do trong năm tài h a 2012 h ng c vụ đổ vỡ ngân hàng nào, khu vực ngân hàng cho thấy dấu hiệu ổn định và quỹ dự trữ gần đây được báo cáo là thặng dư 420,5 tỷ
Y n (tương đương với khoảng 4,5 tỷ đ la Mỹ)
2.2.5.2 Tổng phí bảo hiểm tiền gửi
Doanh thu phí bảo hiểm tiền gửi là là khoản tiền được đ ng g p từ phía các tổ chức tài chính Doanh thu phí thay đổi qua từng năm và c sự biến động lên xuống
rõ ràng Dưới đây là doanh thu phí bảo hiểm tiền gửi của DICJ từ năm 2011 đến 2013:
Bảng 2.3: Doanh thu phí bảo hiểm tiền gửi từ năm 2011 đến 2013 (đơn vị tỷ Yên)
(Nguồn: Annual Report 2013/2014, Annual Report 2012/2013, Annual Report
2011/2012, Annual Report 2010/2011 và tác giả tự tổng hợp)
Như đã đề cập ở bên trên, tại Nhật Bản, phí BHTG được xác định dựa vào mức độ rủi ro Các tổ chức hoạt động càng an toàn thì phí BHTG lại càng thấp, và ngược lại nếu các tổ chức tài chính hoạt động kém an toàn thì số phí BHTG s cao
Trang 37Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
hơn Trong 4 năm tr n thì doanh thu phí BHTG năm 2011 là cao nhất với 702.9 tỷ
Y n vì trong năm 2011 hệ thống các ngân hàng hoạt động với nhiều rủi ro hơn, điển hình là trường hợp của ngân hàng Incubator tại Nhật Bản Năm 2012 thì doanh thu phí giảm xuống còn 606.5 tỷ Y n Đến năm 2013, doanh thu phí BHTG c tăng, tuy nhi n h ng đáng ể Và trong các năm đ , Nhật Bản c ng h ng xảy ra trường hợp đổ vỡ nào ngoại trừ năm 2011
2.2.6 Chi trả tiền gửi bảo hiểm
Khi các TCTD bị phá sản hoặc buộc phải tạm dừng hoạt động, hoạt động đầu tiên của các tổ chức BHTG là thực hiện công tác chi trả tiền gửi cho người dân nhằm tránh tình trạng hoang mang Tại Nhật Bản, người dân có thể nhận được khoản tiền gửi thông qua hình thức chi trả trực tiếp hoặc số tiền đ được chuyển thẳng vào tài khoản ngân hàng của h Nếu số dư tiền gửi trong tài khoản ít hơn
1000 Yên, thì số tiền này s h ng được hoàn trả sau khi hoàn thành các thủ tục chi trả Trong trường hợp còn lại, số dư của các tài khoản tiền gửi th ng thường hoặc tiền gửi tiết kiệm s được thanh toán trả dần vào các quý tiếp theo trong năm (theo Điều 19)
Tại Nhật Bản, mỗi tổ chức s có riêng một tài khoản chuyên dụng dành cho các khoản tiền thanh toán nhằm tránh nhầm lẫn với các quỹ tài khoản hác Dưới đây là bảng số liệu thể hiện tổng số tiền đã thu và chi của DICJ trong khoảng thời gian 2008-2013:
Bảng 2.4 : Tổng số tiền đã thu và chi của DICJ từ năm 2008 đến năm 2013
(đơn vị: Yên)
(Nguồn: http://www.dic.go.jp/shiryo/nenpo/h25/gaikyo5-3.html )
Năm Tổng số tiền thu
Tổng số tiền chi Chi trả cho người gửi
tiền
Hỗ trợ cho các tổ chức tài chính bị phá sản
Trang 38Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Ngoài ra, hàng năm, tổ chức BHTG còn tập hợp và thu thập danh sách dữ liệu
về số lượng người gửi tiền để có thể chi trả chính xác và nhanh ch ng, đảm bảo quyền lợi của người gửi tin c ng như xây dựng niềm tin của công chúng vào hệ thống ngân hàng
2.2.7 ệ thống gi m s t và kiểm t hoạt động ảo hiểm tiền gửi
Các quốc gia thành lập hệ thống BHTG đều xây dựng một bộ phận chuyên thực hiện các hoạt động kiểm tra, giám sát nhằm ngăn chặn sự đổ vỡ của các ngân hàng hoặc xử lý các ngân hàng bị đổ vỡ một các nhanh g n và giảm thiểu tổn thất đến mức cao nhất
Luật BHTG Nhật Bản quy định rằng, DICJ có thể tiến hành kiểm tra giám sát
tổ chức tài chính khi Cơ quan Dịch vụ Tài chính nghi ngờ và xét thấy việc kiểm tra
là cần thiết để đảm bảo các tổ chức tài chính s hoạt động đúng quy định của pháp luật
Phạm vi kiểm tra, giám sát được quy định tại điều 137, khoản 6 của luật BHTG Các hoạt động nghiệp vụ của DICJ dần được mở rộng và phát huy tác dụng DICJ chú tr ng triển khai hoạt động giám sát với những nội dung sau: tình hình nộp phí BHTG, dự tính số tiền gửi và các khoản khác phải chi trả trong trường hợp tổ chức tài chính bị đổ bể, kiểm tra tổng hợp số liệu tiền gửi để đảm bảo đầy đủ, chính xác quyền lợi người gửi tiền
Tháng 1 năm 2003, DICJ tiến hành kiểm tra việc thanh toán phí BHTG Đây
là một hoạt động không thể thiếu trong việc đảm bảo các khoản phí được nộp đúng hạn và duy trì sự bình đẳng giữa các tổ chức tham gia BHTG Chỉ tính riêng trong năm 2007, DICJ đã tiến hành 248 cuộc điều tra, trong đ c 19 cuộc kiểm tra tại chỗ, và phát hiện ra tổng tài sản ngầm trị giá 18,6 tỷ Yên Tính từ tháng 6/1996, là thời điểm DICJ bắt đầu được trao quyền điều tra tài sản, tổng giá trị tích l y tài sản ngầm được phát hiện lên tới 705,1 tỷ Yên
Và đối với trường hợp đổ vỡ, Luật BHTG Nhật Bản yêu cầu tất cả các ngân hàng phải chuẩn bị những thông tin cần thiết để gửi cho BHTG Nhật Bản dưới dạng
7 mẫu biểu dữ liệu nhằm phục vụ cho mục đích tập hợp thông tin tài khoản theo tên người gửi tiền Để đảm bảo hệ thống có thể cùng làm việc hiệu quả, BHTG Nhật Bản thực hiện quy trình xác minh định kỳ 7 mẫu biểu dữ liệu đối với từng ngân
Trang 39Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
hàng, và mỗi năm từ 150 – 180 ngân hàng được thực hiện quy trình xác minh dữ liệu
Dưới đây là số lượng các tổ chức tài chính bị kiểm tra tính đến tháng 1 năm 2015:
Hợp tác xã tín dụng
Ngân hàng Shinkin gồm: Ngân hàng Trung ương Shin in
Hợp tác xã tín dụng gồm: Ngân hàng liên bang Shinkumi
Khoảng thời gian thanh tra, giám sát s được tiến hành từ tháng 7 năm trước đến tháng 6 năm tiếp theo
Số lượng các ngân hàng bị thanh tra tăng dần qua các năm Tính đến ngày 22/07/2014, tổ chức tham gia BHTG gồm có 141 ngân hàng, 267 các ngân hàng Shinkin và 154 quỹ tín dụng, trong đ số lượng các tổ chức tài chính bị thanh tra nhiều nhất là các ngân hàng Shinkin Ri ng năm 2012, số lượng các TCTD bị kiểm tra nhiều hơn, vì trong hoảng thời gian đ tại Nhật Bản đã xảy ra việc đổ vỡ ngân hàng Incubator, nên hệ thống kiểm tra giám sát được thắt chặt và nghiệm ngặt hơn rất nhiều
Ngoài ra, tổ chức BHTG Nhật Bản còn thực hiện quyền điều tra tài sản ngầm Trên nguyên tắc chi phí tối thiểu, RCC được ủy quyền để thu hồi các khoản nợ xấu, tăng giá trị thu hồi, giảm bớt gánh nặng cho người nộp thuế Tuy nhiên, trong quá trình
Trang 40Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
thu hồi nợ, có nhiều chủ nợ đã dùng các biện pháp tinh vi để che giấu tài sản mà về nguyên tắc phải được dùng để trả nợ
Theo Luật Bảo hiểm tiền gửi của Nhật Bản, DICJ được trao quyền để tiến hành điều tra các tài sản ngầm đ “Ban điều tra đặc biệt” bao gồm đội ng các chuyên gia từ: cơ quan thuế vụ, cơ quan c ng tố, cơ quan cảnh sát quốc gia, phòng hải quan, chuyên gia thuộc khối ngân hàng Trong quá trình điều tra của mình, các ngân hàng được yêu cầu công khai các thông tin về tài khoản tiền gửi của các bên liên quan kể cả các thành vi n gia đình chủ nợ, các đối tác inh doanh… Đồng thời, các ngân hàng được yêu cầu đệ trình hồ sơ về luồng tiền mặt, tiến hành phỏng vấn các b n li n quan để điều tra làm rõ luồng tiền mặt và tài sản
Từ đ c thể thấy, hoạt động kiểm tra giám sát của hệ thống BHTG Nhật Bản
là một nghiệp vụ then chốt và không thể thiếu, nhằm giúp cho các tổ chức tài chính hoạt động hiệu quả hơn và ịp thời chấn chỉnh hoạt động nếu các định chế tài chính đang tr n đà mất cân bằng, gây ảnh hưởng đến hệ thống ngân hàng Nhật Bản
Tại Nhật Bản, c hai phương pháp xử lý đổ vỡ tài chính hiện đang được áp
dụng là phương pháp Đặc biệt và phương pháp Thông thường
- Phương pháp xử lý đặc biệt: với những trường hợp đổ vỡ có tính hệ thống,
BHTG Nhật Bản s thực hiện một quy trình kiểm soát nghiêm ngặt hơn Phương pháp xử lý là Bơm vốn, hỗ trợ tài chính trong trường hợp thiếu vốn
chi trả và quốc hữu hóa
- Phương pháp xử lý đổ vỡ th ng thường: chính sách chi phí tối thiểu với cơ chế Tiếp nhận và mua lại (P&A) hoặc Chi trả được BHTG Nhật Bản áp dụng Giữa hai cơ chế này, P&A mang lại hiệu quả cao hơn Cơ chế này tuân theo Luật phá sản và Luật Tái thiết dân sự (CRL) BHTG Nhật Bản s được chỉ định là tổ chức Quản lý tài chính, đứng ra để thực hiện các hoạt động như: quản lý các ngân hàng phá sản, đánh gia tài sản, chuyển các tài sản tốt sang cho Ngân hàng Bắc cầu và các tài sản xấu cho RCC