1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Cơ hội và thách thức của giáo dục đại học việt nam trong thời kì hội nhập AEC 2015

77 128 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

cầu về hội nhập quốc tế cũng như nguy cơ giáo dục đại học Việt Nam có xu hướng tụt hậu so với các nước đặc biệt là các nước ASEAN, giáo dục đại học Việt Nam cần có sự thay đổi cũng như p

Trang 1

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ

Người hướng dẫn khoa học : TS Đào Thị Thu Giang

Trang 2

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 5

1.1 Một số vấn đề cơ bản về giáo dục đại học 5

1.1.1 Khái niệm về giáo dục đại học 5

1.1.2 Vai trò của giáo dục đại học 6

1.1.3 Đặc điểm của giáo dục đại học 10

1.1.4 Các tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục đại học 13

1.2 Nội dung hội nhập cộng đồng kinh tế ASEAN 2015 và tác động của nó đến giáo dục đại học 14

1.2.1 Giới thiệu về cộng đồng kinh tế ASEAN 2015 14

1.2.2 Hành động của Việt Nam & ASEAN để thực hiện hội nhập cộng đồng kinh tế ASEAN 2015 16

1.2.3 Tác động của việc hội nhập cộng đồng kinh tế ASEAN 2015 đến giáo dục đại học 17

1.3 Kinh nghiệm giáo dục đại học của một số nước ASEAN 18

1.3.1 Singapore 18

1.3.2 Thái Lan 20

1.3.3 Malaysia 21

CHƯƠNG 2 CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI GIÁO DỤC ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM TRONG THỜI KÌ HỘI NHẬP AEC 2015 23

2.1 Thực trạng giáo dục đại học ở Việt Nam 23

2.1.1 Chính sách phát triển giáo dục đại học 23

2.1.2 Tổng quan về giáo dục đại học ở Việt Nam 24

2.2 Cơ hội đối với giáo dục đại học ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập AEC 2015 34

2.2.1 Thu hút các nguồn lực phát triển giáo dục từ các nước khác trong khu vực 34

2.2.2 Sự phát triển công nghệ thông tin tạo điều kiện thuận lợi cho người dạy và học 35

2.2.3 Động lực trong việc cải cách, đổi mới toàn diện giáo dục đại học 35

2.2.4 Điều kiện để học hỏi kinh nghiệm từ các nước trong khu vực 36

Trang 3

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

2.2.5 Xây dựng thương hiệu giáo dục đại học Việt Nam 37

2.3 Thách thức đối với giáo dục đại học ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập AEC 2015 37

2.3.1 Chất lượng giáo dục trong nước chưa cao 37

2.3.2 Cạnh tranh gay gắt của các trường đại học 38

2.3.3 Nguy cơ nhập khẩu giáo dục kém chất lượng 39

2.3.4 Khó khăn về đảm bảm công bằng trong xã hội 40

2.3.5 Khả năng giá trị văn hóa, giáo dục của dân tộc bị hòa tan 40

2.4 Đánh giá chung về GDĐH Việt Nam 41

2.4.1 Thành tựu 41

2.4.2 Hạn chế 43

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM TRONG THỜI KÌ HỘI NHẬP CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN 2015 48

3.1 Quan điểm, mục tiêu phát triển giáo dục đại học Việt Nam 48

3.1.1 Quan điểm phát triển giáo dục đại học Việt Nam 48

3.1.2 Mục tiêu phát triển giáo dục đại học Việt Nam 51

3.2 Một số giải pháp phát triển giáo dục đại học ở Việt Nam trong thời kì hội nhập AEC 2015 54

3.2.1 Nhóm giải pháp đối với Chính phủ, các tổ chức Nhà nước 54

3.2.2 Nhóm giải pháp đối với cơ sở giáo dục đào tạo đại học 59

3.2.3 Nhóm giải pháp đối với sinh viên 63

KẾT LUẬN 66

TÀI LIỆU THAM KHẢO 68

Trang 4

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Cộng đồng kinh tế ASEAN

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

Hiệp định chung về thương mại dịch vụ

Tổ chức thương mại thế giới

Trang 5

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Giáo dục đại học trong Hệ thống phân loại dịch vụ của WTO 11 Bảng 2.1 Số trường đại học cao đẳng trên cả nước trong giai đoạn 2000 – 2013 29 Bảng 2.2 Số lượng sinh viên cả nước từ năm học 2000 - 2001 31 Bảng 2.3 Số lượng giảng viên đại học, cao đẳng phân theo trình độ chuyên môn giai đoạn 2000 – 2013 33 Bảng 3.1 Nhận diện các hoạt động xuất khẩu dịch vụ GDĐH theo 4 phương thức cung cấp dịch vụ của GATS/WTO 50

Trang 6

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Xu hướng hội nhập đang diễn ra với tốc độ không ngừng và trở thành một xu thế tất yếu khách quan trên thế giới Hòa mình xu thế chung đó, Việt Nam đã tham gia rất nhiều tổ chức kinh tế thế giới và khu vực như ASEAN, WTO, AFTA…và gần đây chuẩn bị tham gia cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) 2015 Có thể nói, việc tham gia cộng đồng kinh tế ASEAN mang lại cho Việt Nam nhiều cơ hội như: phát triển kinh tế đồng đều, nâng cao sự cạnh tranh về kinh tế, thúc đẩy thương mại phát triển,…Tuy nhiên nó cũng đi kèm với những thách thức cho Việt Nam như: cạnh tranh trở nên khốc liệt hơn, mức độ hoàn thiện về sản phẩm cao hơn…Để tận dụng tối đa được những lợi thế và giảm tối thiểu những bất lợi tạo ra bởi xu thế này thì cần phải tập trung mạnh vào sự phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao thông qua

việc phát triển hệ thống giáo dục đại học

Thật vậy, giáo dục đại học là nguồn cung cấp nhân lực chính cho sự phát triển bền vững của một quốc gia Gia nhập AEC 2015 mang lại cho sinh viên sau khi tốt nghiêp nhiều cơ hội việc làm ở các quốc gia ASEAN mà không có rào cản nào nhưng bên cạnh đó nó cũng tạo ra nhiều áp lực hơn đòi hỏi sinh viên phải trau dồi nhiều kĩ năng hơn đề có thể cạnh tranh với các bạn sinh viên từ các nước ASEAN khác Thêm vào đó, nhà tuyển dụng ngày càng đòi hỏi cao hơn ở những sinh viên mới tốt nghiệp ra trường

cầu về hội nhập quốc tế cũng như nguy cơ giáo dục đại học Việt Nam có xu hướng tụt hậu so với các nước đặc biệt là các nước ASEAN, giáo dục đại học Việt Nam cần có sự thay đổi cũng như phát huy những điểm mạnh của mình để có chỗ đứng trong khu vực cũng như thế giới

Xuất phát từ những nhận thức trên, tác giả quyết định chọn đề tài “Cơ hội

và thách thức của giáo dục đại học Việt Nam trong thời kì hội nhập AEC 2015” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp

Trang 7

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

2 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu:

Quá trình hội nhập AEC 2015 đang ở thời kì đầu và mọi thứ dường như khá mới mẻ Vì thế, việc gia nhập AEC 2015 không những mang lại những cơ hội mà còn đặt ra nhiều khó khăn cho giáo dục đại học Việt Nam Sinh viên sau khi tốt nghiệp có thể làm việc ở bất kì quốc gia nào tham gia AEC mà không có rào cản nào cả Nghĩa là, sinh viên Việt Nam sau khi tốt nghiệp có thể sang các nước ASEAN làm việc và sinh viên từ các nước ASEAN khác cũng có thể sang Việt Nam làm việc Cơ hội việc làm nhiều hơn nhưng sự cạnh tranh cũng khốc liệt hơn Trước tình hình đó, sinh viên Việt Nam cần được trang bị những kiến thức cũng như kĩ năng cần thiết thông qua việc đổi mới hệ thống giáo dục để sẵn sàng chiến đấu trên chiến trường việc làm ở các nước ASEAN

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở phân tích thực trạng phát triển giáo dục đại học Việt Nam trong những năm gần đây và chỉ ra những cơ hội, thách thức đặt ra trong bối cảnh hội nhập cộng đồng kinh tế chung ASEAN 2015, đề tài đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm từng bước đưa giáo dục đại học nước nhà thích ứng với nền giáo dục đại học trong khu vực nói riêng và trên thế giới nói chung

Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích đã đề ra, khóa luận tập trung giải quyết những nhiệm vụ cơ bản sau:

- Hệ thống hóa một số lý luận liên quan đến giáo dục đại học và hội nhập cộng đồng kinh tế chung ASEAN 2015

- Tìm hiểu xu thế phát triển giáo dục đại học của một số nước trong khu vực

- Phân tích và đánh giá giáo dục đại học Việt Nam từ đó nêu ra cơ hội và thách thức của giáo dục đại học Việt Nam trước tình hình

- Để xuất một số giải pháp để đẩy nhanh quá trình hội nhập của giáo dục đại học Việt Nam thời gian tới

Trang 8

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Khóa luận tập trung nghiên cứu sự tác động của việc hội nhập cộng đồng kinh tế chung ASEAN 2015 đến giáo dục đại học Từ đó phân tích những cơ hội và

thách thức của giáo dục đại học Việt Nam trong thời kì hội nhập

Giới hạn về không gian: Các nước ASEAN, các tổ chức giáo dục hàng đầu trên thế giới

Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu nói trên, khóa luận dự định sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:

Phương pháp lý thuyết: thống kê, mô tả, tổng hợp, phân tích, so sánh, hệ thống hóa

Phương pháp thực tiễn: thống kê, mô tả, tổng hợp, phân tích, so sánh, hệ thống hóa

5 Kết cấu khóa luận

Ngoài lời mở đầu và kết luận, khóa luận được bố cục làm 3 chương:

Chương 1: Tổng quan về giáo dục đại học

Chương 2 Cơ hội và thách thức đối với giáo dục đại học ở Việt Nam trong thời kì hội nhập cộng đồng kinh tế chung ASEAN 2015

Chương 3 Một số giải pháp phát triển giáo dục đại học Việt Nam trong thời kì hội nhập cộng đồng kinh tế chung ASEAN 2015

Qua đề tài, dưới góc độ của một sinh viên, tác giả hi vọng sẽ đóng góp một phần nhỏ vào sự nghiệp phát triển giáo dục đại học nước nhà để sánh vai với nền giáo dục đại học tiên tiến trên khu vực và thế giới Mặc dù đã cố gắng hết sức nhưng do hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn cũng như giới hạn về thời gian, khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định Nội dung của khóa luận có thể tồn tại những hạn chế trong cách nhìn nhận một số khía cạnh của vấn đề

và có thể chưa sâu sắc Do đó, tác giả rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô để có cơ hội hoàn thiện hơn

Trang 9

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Nhân đây, tác giả xin cảm ơn khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế trường Đại học Ngoại Thương đã tạo điều kiện tốt nhất cho tác giả hoàn thành khóa luận tốt nghiệp Đặc biệt, tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới TS Đào Thị Thu Giang – Giảng viên hướng dẫn – đã trực tiếp hướng dẫn tận tình, giúp đỡ tác giả trong quá trình hình thành ý tưởng cũng như triển khai thực hiện đề tài này

Hà Nội, tháng 5 năm 2015 Sinh viên thực hiện

Lê Thị Hồng Ngọc

Trang 10

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC

1.1 Một số vấn đề cơ bản về giáo dục đại học

1.1.1 Khái niệm về giáo dục đại học

Có thể nói cụm từ “giáo dục đại học” (higher education) hiện nay vẫn đang còn được hiểu theo nhiều ý kiến trái chiều khác nhau với nhiều sự giải thích cũng như hệ thống tư tưởng không giống nhau Trong khuôn khổ một khóa luận, tác giả xin được giới hạn ở việc tìm hiểu những khái niệm mang tính tổng quát nhất dưới góc độ xã hội, các văn bản pháp luật và các tổ chức quốc tế hàng đầu

Quan niệm về GDĐH được tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên Hợp Quốc (UNESCO) đề xuất từ năm 1968 và được nhiều nước thừa nhận với tên gọi là “giáo dục bậc ba” (tertiary education) Nhưng từ sau Hội nghị thế giới về GDĐH được tổ chức tại trụ sở của UNESCO ở Paris (Pháp) từ ngày 5 - 9/10/1998 đã xuất hiện một quan niệm mới: GDĐH ở thế kỉ XXI là học tập suốt đời

và bao gồm “tất cả các loại hình học tập, đào tạo hoặc đào tạo – nghiên cứu ở trình

độ sau trung học phổ thông được thực hiện bởi các trường đại học hoặc các cơ sở giáo dục khác được cơ quan thẩm quyền của Nhà nước công nhận như là những định chế GDĐH” Theo quan điểm này, GDĐH còn được gọi là giáo dục sau trung học bao gồm không chỉ GDĐH truyền thống như đại học, cao đẳng mà còn bao gồm tất cả mọi trình độ học vấn cung cấp cho người đã tốt nghiệp trung học phổ thông

Theo từ điển bách khoa Việt Nam thì GDĐH “là bậc đào tạo trình độ cao đẳng và đại học Đào tạo trình độ cao đẳng được thực hiện trong ba năm đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc trung học chuyên nghiệp; giúp sinh viên có kiến thức chuyên môn kỹ năng thực hành cơ bản về một ngành nghề;

có khả năng giải quyết những vấn đề thông thường thuộc chuyên ngành đào tạo Đào tạo trình độ đại học được thực hiện từ bốn đến sáu năm học tùy theo tốt nghiệp phổ thông hoặc trung học chuyên nghiệp, từ một đến hai năm đối với người có bằng tốt nghiệp cao đẳng chuyên ngành, giúp sinh viên có kiến thức chuyên môn và kĩ năng thực hành về một ngành nghề, có khả năng phát hiện, giải quyết những vấn đề

Trang 11

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Luật Giáo dục Việt Nam năm 2005 (sửa đổi năm 2009) quy định GDĐH là một cấp học của hệ thống giáo dục quốc dân nhằm đào tạo các trình độ cao đẳng, đại học, thạc sỹ và tiến sỹ (điều 38) với mục tiêu “đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân đân, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khỏe, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.” (khoản 1, điều 39)

Dưới góc độ kinh tế học thì WTO coi giáo dục trong đó có GDĐH là một trong mười hai ngành dịch vụ mang tính thương mại thuộc phạm vi điều chỉnh của hiệp định GATS Theo đó, từng bước tự do hóa thương mại dịch vụ này trên cơ sở đàm phán giữa các quốc gia là cần thiết

Trên phương diện quyền và lợi ích của người học, tồn tại quan điểm GDĐH

là phúc lợi xã hội Nghĩa là mọi người dân đều có quyền được tiếp cận và thực hiện giáo dục như nhau một cách bình đẳng, không phân biệt giàu nghèo và địa vị xã hội

Từ những khái niệm trình bày ở trên, có thể hiểu GDĐH có thể hiểu là một cấp học cao hơn trong cấu trúc giáo dục của một quốc gia Sau khi hoàn thành, sinh viên sẽ được cấp một tấm bằng của bậc đại học Những tấm bằng này được công nhận trên toàn thế giới thể hiện tính chuyên môn cũng như sự đa dạng các kĩ năng của người sở hữu, những thứ mà nhà tuyển dụng đang cần Giáo dục bổ túc thường bao gồm những sinh viên muốn học thêm để lấy bằng thạc sĩ và tiến sĩ Đồng thời

nó cũng là một loại dịch vụ đặc biệt vừa có tính thị trường vừa có tính phi thị trường

1.1.2 Vai trò của GDĐH

1.1.2.1 Vai trò của GDĐH trong xã hội

Chúng ta thường hiểu về GDĐH bao gồm giảng dạy, nghiên cứu và chuyển giao ứng dụng Tuy nhiên thực tế cho thấy từ những quan điểm khác nhau, cách hiểu khác nhau về GDĐH cho chúng ta kể ra nhiều vai trò của GDĐH trong xã hội

Nó là hệ thống nuôi dưỡng của mọi lĩnh vực trong đời sống, là nguồn cung cấp nhân lực cần thiết phục vụ cho mọi công việc Có thể nói, hệ thống GDĐH và lực lượng lao động là hai yếu tố quyết định đến việc phát triển khoa học công nghệ

Trang 12

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

cập nhật các kiến thức và kỹ năng theo nhu cầu xã hội Ủy ban Kothari (1996) nêu

ra những vai trò sau đây của GDĐH:

Thứ nhất: GDĐH giúp tìm kiếm và trau dồi tri thức mới

Có thể nói đây là một quá trình tìm kiếm và trau dồi không ngừng nghỉ và không chùn bước Trong quá trình tìm kiếm chân lý, thường xuyên xem xét lại những ý nghĩa của những kiến thức và niềm tin cũ dưới sự ảnh hưởng của những nhu cầu mới và khám phá mới Thêm vào đó, GDĐH còn nắm giữ vai trò lãnh đạo phù hợp trong mọi lĩnh vực của đời sống, phát hiện những con người có tài năng và giúp họ phát triển tối đa tiềm năng của mình bằng cách trau dồi sức khỏe, phát triển năng lực trí tuệ, bồi dưỡng các mối quan tâm, các thái độ, các giá trị đạo đức cũng như tinh thần đúng đắn

Thứ hai: Cung cấp cho xã hội những con người được đào tạo trong mọi lĩnh vực

Các lĩnh vực nông nghiệp, nghệ thuật, y dược, khoa học và công nghệ cũng như những ngành nghề khác được phát triển nhờ những cá nhân được tiếp thu những tri thức mới nhân của nhân loại với đầy đủ năng lực và có ý thức trách nhiệm cao đối với cộng đồng

Thứ ba: Đảm bảo công bằng xã hội, thúc đẩy sự phát triển bền vững

Đóng góp quan trọng của GDĐH đó là sự nỗ lực thúc đẩy chất lượng sống và công bằng xã hội, giảm thiểu những khác biệt về văn hóa xã hội thông qua việc phổ cập giáo dục đồng thời nuôi dưỡng và khích lệ ở cả giảng viên và sinh viên, những thái độ và giá trị cần thiết cho sự phát triển bền vững, tốt đẹp của cá nhân và xã hội,

và từ đó nhân rộng những thái độ và giá trị này ra cả cộng đồng

Những chức năng cụ thể của giáo dục cũng được nhấn mạnh trong báo cáo

Ủy ban quốc tế về giáo dục trong thế kỷ 21 của UNESCO, có tiêu đề là “Học tập: Kho báu bên trong” đó là:

- Cho sinh viên được nghiên cứu và tha gia các hoạt động giảng dạy

- Các khóa đào tạo kĩ năng và chuyên môn nhằm đáp ứng nhu cầu kinh tế xã hội

Trang 13

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

- Mở rộng cơ hội giáo dục cho tất cả các cá nhân

- Thúc đẩy hợp tác quốc tế thông qua việc quốc tế hóa các hoạt động nghiên cứu, công nghệ, tạo mạng lưới liên kết, và tạo điều kiện cho sự luân chuyển tự do của những ý tưởng khoa học cũng như của chính các nhà nghiên cứu (UNESCO, 1966)

1.1.2.2 Vai trò của GDĐH đối với sự phát triển kinh tế

Thứ nhất, GDĐH cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, thúc đẩy nền kinh tế tri thức phát triển Trong diễn văn khai mạc lế trao giải Nobel vào ngày 10/12/2008 tại Stockholm, Thụy Điển, Tiến sỹ Marcus Storch, chủ tịch hội đồng quỹ Nobel đã khẳng định: “Nền tảng phát triển của con người là tri thức Nhưng đóng góp quan trọng nhất là từ các đại học mà ra” Có thể nói đại học là con đường ngắn nhất giúp một cá nhân có cơ hội tiếp thu trí tuệ nhân loại Trong phân công lao động xã hội, cơ sở GDĐH là nơi duy nhất có đủ điều kiện và khả năng đào tạo ra đội ngũ lao động giàu kỹ năng và trình độ như những nhà lãnh đạo, nhà khoa học, nhà chính trị, các chuyên gia, kỹ sư cho đến các cán bộ kỹ thuật hay những người thợ lành nghề Sinh viên không những được trang bị những kiến thức chuyên sâu của các chuyên ngành mà còn tôi luyện trong họ năng lực sáng tạo ra cái mới và khả năng ứng dụng của tri thức, phát minh khoa học vào thực tiễn Theo Ngân hàng thế giới (WB) đầu tư vào giáo dục có tỷ suất lợi nhuận cao hơn so với đầu tư vào vốn vật chất So với các yếu tố khác như vốn, tài nguyên thiên nhiên tri thức khi tham gia quá trình sản xuất không những không bị hao mòn, cạn kiệt mà còn luôn được nâng cao

Thứ hai, GDĐH góp phần vào quá trình chuyển giao và đổi mới khoa học công nghệ nâng cao năng suất lao động, tạo tiền đề cho tăng trưởng kinh tế Trường đại học là nơi tập trung toàn bộ các ngành khoa học, thực hiện chức năng là trung tâm nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, phát triển công nghệ mới cũng như công nghệ mũi nhọn Nói khác đi, nó chính là cái nôi của những phát minh trong lĩnh vực kỹ thuật – công nghệ thông qua quá trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc

và lâu dài của đội ngũ giảng viên và sinh viên ưu tú Điều này có ý nghĩa quyết định trong sự tăng trưởng kinh tế dài hạn, nâng cao năng suất và chất lượng lao động

Trang 14

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Những nghiên cứu mũi nhọn đã và đang đóng góp một phần không thể thiếu trong công cuộc cách mạng phát triển nhân loại

Thứ ba, GDĐH góp phần cải thiện thu nhập, mức sống của người dân, giúp xóa đói giảm nghèo, làm giảm khoảng cách giàu nghèo và thực hiện tốt công bằng

xã hội Thông qua việc trang bị cho người học những kiến thức và kĩ năng cần thiết đáp ứng nhu cầu xã hội, GDĐH còn góp phần nâng cao mức sống và làm giảm bất công bằng xã hội Thực tế cho thấy, những người thừa hưởng giáo giục đại học bậc cao thường có cơ hội kiếm việc làm cao hơn lao động phổ thông

1.1.2.3 Vai trò của giáo dục đại học đối với sự phát triển bền vững

GDĐH thúc đẩy sự phát triển bền vững, phát triển cộng đồng Việc học và lợi ích cho xã hội của GDĐH hình thành quan hệ đối tác với các cộng đồng khu vực

và địa phương để giúp họ có một xã hội sôi động, an toàn về mặt kinh tế, và môi trường bền vững sẽ là một phần quan trọng của GDĐH thành công

Trường cao đẳng và đại học có nghĩa vụ hỗ trợ cộng đồng địa phương và khu vực để cải thiện cộng đồng Các tổ chức GDĐH là tổ chức neo cho phát triển kinh

tế ở hầu hết các của các cộng đồng xung quanh họ, đặc biệt là trong thời kì bây giờ khi mà khu vực tư nhân di chuyển các cơ sở, vốn, và công ăn việc làm thường xuyên như sáp nhập, mua lại và toàn cầu hóa trở thành tiêu chuẩn cho các tập đoàn

Có một ví dụ điển hình là 4.100 tổ chức GDĐH ở Hoa Kỳ là động cơ kinh tế lớn với ngân sách hoạt động hàng năm với tổng giá trị 200 tỷ đô la (The Chronicle of

Higher Education (2000, tr 7) Lớn hơn tổng sản phẩm trong nước của tất cả 25 quốc gia trên thế giới Hãy tưởng tượng tác dụng đòn bẩy kinh tế nếu trường đại học

là mô hình bền vững bằng cách mua các sản phẩm và dịch vụ bền vững và lợi ích sẽ lớn hơn rất nhiều nếu họ hợp tác chặt chẽ với cộng đồng địa phương

Bằng cách sử dụng các giảng viên và sinh viên thực hiện các nghiên cứu như một phần không thể thiếu của các kinh nghiệm học tập sẽ tăng cường giáo dục của chính họ và thúc đẩy mối quan hệ với các cộng đồng địa phương và đến các hệ sinh thái mà họ là một phần trong đó Hơn nữa, có một phong trào mạnh mẽ giữa các trường cao đẳng và đại học, chủ tịch, phó trưởng khoa, giảng viên và các khoa thúc

Trang 15

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

đẩy sự tham gia của mang tính công dân và dân chủ lý tưởng thông qua hoạt động

mà khoa và sinh viên tham gia (Compact Campus, 1999)

Xã hội luôn cần những bộ óc sáng tạo, những con người ưu tú để tạo ra những phát minh có giá trị và những người lao động giỏi có trình độ để ứng dụng những tiến bộ đó vào sản xuất và đời sống Ở tầm vĩ mô, GDĐH tạo ra những nhà quản lý, nhà lãnh đạo tài năng, gánh vác xứ mệnh to lớn là vạch ra những chính sách, đường lối đúng đắn để xây dựng đất nước ngày một giàu mạnh hơn Còn ở tầm vi mô, GDĐH đào tạo ra những con người có kĩ năng trình độ để triển khai, thực hiện những kế hoạch mà những bộ óc vĩ mô đã vạch ra Từ đó giúp tăng hàm lượng chất xám, tiềm năng trí tuệ đóng góp vào quá trình phát triển bền vững và phát triển cộng đồng

1.1.3 Đặc điểm của giáo dục đại học

Ở đây, tác giả muốn nhìn nhận GDĐH dưới góc độ như một dịch vụ tiêu dùng GDĐH là sản phẩm của lao động, vô hình, được tiêu dùng cùng quá trình cung cấp và nhằm thỏa mãn nhu cầu học tập ở cấp bậc đào tạo hướng về chuyên môn ngay sau khi bậc phổ thông

Theo CPC (The Central Product Classification – hệ thống phân loại các sản phẩm chủ yếu của Liên hợp quốc), dịch vụ GDĐH là một phân ngành của dịch vụ giáo dục Việc phân ngành này nhằm mục tiêu tạo điều kiện cho quá trình đàm phán

và thực hiện cam kết của các thành viên Các phân ngành được sắp xếp theo thứ tự

như sau:

Trang 16

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Bảng 1.1 Giáo dục đại học trong Hệ thống phân loại dịch vụ của WTO

Nguồn: WTO, 10/7/1991, Service Sectoral Classification List

Tại Việt Nam, GDĐH là DVGD bậc cao, là cấp giáo dục tiếp theo của các cấp học thấp hơn như giáo dục tiểu học, giáo dục trung học Nó bao gồm đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ đại học, trình độ thạc sỹ và trình độ tiến sỹ (theo điều 1 trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giáo dục 2009)

Là một loại hình dịch vụ, GDĐH cũng mang những đặc điểm chung giống tất cả các dịch vụ tiêu dùng khác, bao gồm: tính vô hình, tính không đồng nhất và khó xác định chất lượng, tính không thể tách rời và tính không được lưu trữ Ngoài

ra, những đặc điểm khác biệt mà các dịch vụ khác không có như sau (Hoàng Văn Châu, 2011, tr.19-24):

Thứ nhất: Chất lượng dịch vụ không đồng nhất

Chất lượng dịch vụ GDĐH phụ thuộc nhiều yếu tố khác như trình độ năng lực của người dạy và người học, điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị giảng dạy, môi trường giảng dạy Ngay khi cùng một cơ sở giáo dục thì cũng có sự khác nhau giữa dịch vụ do những người trực tiếp cung cấp khác nhau bởi lẽ các giảng viên có trình độ học vấn và kinh nghiệm giảng dạy không như nhau Tùy thuộc vào cách truyền đạt hoặc tâm lý giảng dạy mà cũng một chương trình đào tạo nhưng được

Trang 17

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

cung cấp trong một khoảng thời gian khác nhau thì chất lượng cũng khác nhau Do

đó có thể nói rằng GDĐH có tính không đồng nhất

Thứ hai: Tính xã hội

GDĐH không chỉ cung cấp cho các cá nhân kiến thức cơ bản, kỹ năng tay nghề để đáp ứng những đòi hỏi của thị trường lao động mà nó còn truyền dạy những giá trị đạo đức cơ bản, những trách nhiệm và nghĩa vụ của con người, cũng như những kiến thức văn hóa tối thiểu của con người để đảm bảo một xã hội nhân văn

và ổn định Vì thuộc tính tính xã hội này mà nhiều Nhà nước đòi hỏi công dân của mình phải có được một trình độ giáo dục tối thiểu là tiểu học hoặc trung học Càng lên cao mức độ chuyên môn hóa của giáo dục càng cao nên tính xã hội của GDĐH cũng giảm so với các cấp học thấp hơn

Thứ ba: Khách hàng không được tự do lựa chọn dịch vụ theo mong muốn và khả năng thanh toán

Khác với các hàng hóa và dịch vụ thông thường, nếu cảm thấy cần và đủ khả năng chi trả, người tiêu dùng có thể chọn sản phẩm mà mình muốn Tuy nhiên, đối với dịch vụ GDĐH, việc tiêu thụ sản phẩm còn tùy thuộc vào khả năng và trình độ của người học Hầu hết các trường đại học đều có tiêu chuẩn và yêu cầu đối với học viên được nhận vào trường, chẳng hạn như những cuộc thi tuyển sinh được tổ chức hàng năm, để đảm bảo chất lượng đồng đều và việc tiếp thu kiến thức và kỹ năng đạt được kết quả như mong muốn

Thứ tư: Ngoại ứng tích cực

Đối với hàng hóa hay dịch vụ thông thường khác, việc tiêu dùng chúng chỉ mang lại lợi ích, sự thỏa mãn cho người sử dụng Tuy nhiên, dịch vụ GDĐH không chỉ đem lại lợi ích cho chính cá nhân sử dụng dịch vụ mà còn cho cả những người xung quanh và cả xã hội Lợi ích cho cá nhân là lợi ích của bản thân học viên sau khi hoàn thành khóa học có thể có được kiến thức và kỹ năng làm việc, có thể tìm được việc làm tốt, thu nhập cao Bên cạnh đó, sau khi hoàn thành GDĐH các cá nhân có trình độ và tay nghề tốt sẽ có những phát minh, cải tiến nâng cao năng suất lao động cho xã hội Hơn nữa, một nước có nền kinh tế phát triển, nền tảng tri thức

Trang 18

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

của người dân cao thì các tệ nạn xã hội cũng được giảm bớt; việc thực hiện các chính sách kinh tế, văn hóa cũng dễ dàng hơn

Thứ năm: Tính thương mại hóa cao và sự bùng nổ tham gia của khu vực

tư nhân

Giáo dục trước đây vẫn được coi là một hoạt động mang tính phúc lợi vì cộng đồng Tuy nhiên để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội, nhiều trường học, các cơ sở đào tạo tư, ra đời bởi nhiều quan niệm cho rằng GDĐH mang lợi ích cho học viên nhiều hơn cho xã hội GDĐH dần trở thành một mặt hàng có tính thương mại hóa: người được hưởng lợi ích phải chi trả để đạt được lợi ích đó GDĐH trở thành loại dịch vụ đặc biệt vì vừa mang tính thị trường lại vừa mang tính phi thị trường, vừa có phần phải cân đối tài chính lại vừa có phần phi lợi nhuận

Thứ sau: Tính hướng nghiệp

Điểm khác biệt rõ nét giữa GDĐH và các phân ngành dịch vụ giáo dục cấp dưới GDĐH bắt đầu mục đích hướng nghiệp cho học viên Nếu như ở giáo dục phổ thông (giáo dục tiểu học và giáo dục trung học) việc giảng dạy nhằm mục tiêu cung cấp cho học sinh những kiến thức nền tảng và hướng đến giáo dục toàn diện thì cấp GDĐH, việc đào tạo đã đi chuyên sâu nhằm cung cấp cho học viên những hiểu biết

về các mảng ngành nghề chuyên biệt hoặc nhằm nâng cao tay nghề ở một lĩnh vực nhất định, chuẩn bị tốt nhất cho công việc sau này khi học viên tham gia thị trường lao động GDĐH là nơi đào tạo lao động có trình độ chuyên môn mà sau khi ra trường có thể có bằng cấp và làm việc như một kiến trúc sư, một bác sĩ, một giáo viên thực thụ

1.1.4 Các tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục đại học

Sự quản lý chất lượng bên trong cơ sở GDĐH là sự khởi đầu cho quá trình đảm bảo chất lượng Theo GS.TS.Phạm Thành Nghị, Học viện Khoa học xã hội và Viện Tâm lý học thuộc Viện hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam , hệ thống đảm bảo chất lượng bao gồm ba yếu tố đó là sự quản lý chất lượng bên trong, tự đánh giá và đánh giá ngoài Cụ thể là sự quản lý chất lượng bên trong liên quan đến SV và giảng viên, phương pháp quản lý giáo dục của nhà trường Từ đó mỗi cá nhân trong

Trang 19

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

và đánh giá ngoài đều quan tâm đến chương trình đào tạo, phương pháp đào t ạo, cách tổ chức và quản lý đào tạo của trường

Theo quyết định số 65 / 2007 / QĐ-BGDĐT ban hành ngày 01 tháng 11 năm

2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo thì có 10 tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục của các trường đại học đó là:

Tiêu chuẩn 1 : Sứ mạng và mục tiêu của trường đại học

Tiêu chuẩn 2 : Tổ chức quản lý

Tiêu chuẩn 3 : Chương trình giáo dục

Tiêu chuẩn 4 : Hoạt động đào tạo

Tiêu chuẩn 5 : Đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên và nhân viên

Tiêu chuẩn 6: Người học

Tiêu chuẩn 7: Nghiên cứu khoa học, ứng dụng, phát triển và chuyển giao công nghệ

Tiêu chuẩn 8: Hoạt động hợp tác quốc tế

Tiêu chuẩn 9: Thư viện, trang thiết bị học tập và cơ sở vật chất khác

Tiêu chuẩn 10: Tài chính và quản lý tài chính

1.2 Nội dung hội nhập cộng đồng kinh tế ASEAN 2015 và tác động của nó đến giáo dục đại học

1.2.1 Giới thiệu về cộng đồng kinh tế ASEAN 2015

Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) được thành lập từ năm 1967, hiện tại bao gồm 10 nước: Brunei, Campuchia, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam

Hiệp hội ASEAN dựa trên 03 trụ cột chính: an ninh chính trị; kinh tế; văn hóa xã hội Kinh nghiệm thực tế từ cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á năm 1997/1998, cộng thêm sự nổi lên của các nền kinh tế Trung Quốc và Ấn Độ đã khiến các nước ASEAN quyết tâm tạo ra một cộng đồng hợp tác kinh tế mạnh mẽ, gắn kết hơn

Trang 20

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hội nghị thượng đỉnh Hiệp hội ASEAN năm 1997 tại Kualar Lumpur, Malaysia đã ra Tuyên bố về Tầm nhìn ASEAN 2020 với ý tưởng biến ASEAN thành một khu vực phát triển ổn định, hội nhập và cạnh tranh, thiết lập một cộng đồng kinh tế khu vực vào năm 2020

Vào năm 2003, Hội nghị thượng đỉnh ASEAN ở Bali đã quyết định đẩy nhanh quá trình hình thành cộng đồng kinh tế ASEAN (Asean Economic Community - AEC), thay vì thời hạn 2020, các nước quyết định hình thành AEC vào cuối năm 2015

Năm 2007 thông qua Kế hoạch AEC 2007 đặt ra các thời hạn rõ ràng cụ thể cho các nước thành viên ASEAN thực hiện để hình thành AEC, với mục đích hợp nhất các quốc gia thành viên thành một cộng đồng kinh tế chung vào ngày 31/12/2015

Không giống như EU, ASEAN không tạo lập các tổ chức quản lý trung ương như Ủy ban Liên minh châu Âu EU hay Ngân hàng Trung ương châu Âu mà sẽ tập trung vào việc xóa bỏ các rào cản kinh doanh, thương mại

Kế hoạch AEC bao gồm 04 trụ cột (04 nội dung then chốt):

 Tạo lập một thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất

 Tạo lập một khu vực kinh tế cạnh tranh cao

 Thúc đẩy sự phát triển kinh tế công bằng

 Xây dựng một khu vực hội nhập hoàn toàn với nền kinh tế toàn cầu

Tóm lại, AEC sẽ biến ASEAN thành một khu vực với sự tự do dịch chuyển hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, lao động có kỹ năng và tự do dịch chuyển dòng vốn

Liên quan đến việc tạo lập một thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất, các quốc gia thành viên ASEAN đang tập trung thực hiện giảm và tiến tới xóa bỏ các rào cản để đảm bảo dòng chảy hàng hóa, dịch vụ và vốn trở nên tự do giữa các nước ASEAN Đối với lĩnh vực dịch vụ tài chính, các quốc gia thành viên đã cam kết tự

do hóa mạnh mẽ, xóa bỏ các hạn chế trong các ngành ngân hàng, bảo hiểm và các thị trường vốn vào năm 2015 Điều này bao hàm tự do hóa 4 phương thức cung cấp

Trang 21

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

thương mại dịch vụ qua biên giới như được định nghĩa trong WTO - là cung cấp thương mại dịch vụ qua biên giới (phương thức 1), Tiêu dùng (sử dụng dịch vụ) ở nước ngoài (phương thức 2), Hiện diện thương mại (Phương thức 3) và Tự do dịch chuyển cá nhân (Phương thức 4)

1.2.2 Hành động của Việt Nam & ASEAN để thực hiện hội nhập cộng đồng kinh tế ASEAN 2015

Hiện nay, trong khối ASEAN, Việt Nam được đánh giá là một trong bốn thành viên có tỷ lệ hoàn thành tốt nhất các cam kết trong Lộ trình tổng thể thực hiện AEC

Việt Nam đã tham gia hợp tác một cách toàn diện với các nước ASEAN từ các lĩnh vực truyền thống như: thương mại hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, nông nghiệp, giao thông vận tải, viễn thông, cho đến các lĩnh vực mới như: bảo hộ sở hữu trí tuệ, chính sách cạnh tranh, bảo vệ người tiêu dùng… Cho tới nay, Việt Nam đã giảm thuế nhập khẩu cho hơn 10 nghìn dòng thuế xuống mức 0 - 5% theo ATIGA, chiếm khoảng 98% số dòng thuế trong biểu thuế

Về thương mại hàng hoá, ASEAN đã sửa đổi, bổ bổ sung các hiệp định kinh

tế ASEAN, trong đó Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA) được ký kết ngày 26/02/2009 tại Thái Lan Nghị định thư về sửa đổi một số Hiệp định kinh tế ASEAN liên quan đến thương mại hàng hóa đã được ký ngày 08/3/2013 trong dịp Hội nghị AEM Retreat lần thứ 19 tại Hà Nội Các nước cũng đang trong quá trình thảo luận về các vấn đề hàng rào phi thuế quan trong ASEAN và 7 nước thành viên (gồm Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam)

đã thử nghiệm thành công kết nối cổng ASW trong cơ chế hải quan một cửa ASEAN

Về thương mại dịch vụ, ASEAN đã có những thỏa thuận giúp các bên sớm hoàn tất các thủ tục cần thiết để Hiệp định ASEAN về di chuyển thể nhân có hiệu lực, trên cơ sở đó tạo thuận lợi cho việc di chuyển của các cá nhân tham gia vào các hoạt động thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ và đầu tư trong khu vực Bên cạnh đó, việc thực thi Kế hoạch Chiến lược Du lịch ASEAN 2011 - 2015 cũng đang

Trang 22

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

được tích cực triển khai nhằm tạo thuận lợi cho di chuyển của những người làm du lịch thông qua các thỏa thuận công nhận lẫn nhau

Về đầu tư, ASEAN đang trong giai đoạn thực thi Hiệp định ACIA, trong đó quá trình rà soát lẫn nhau đã được triển khai nhằm giám sát việc xóa bỏ các hạn chế/trở ngại hoặc cải thiện các biện pháp theo Kế hoạch tổng thể về xây dựng AEC nhằm thúc đẩy ASEAN thành một khu vực thu hút đầu tư thống nhất

Về quyền sở hữu trí tuệ, việc thực thi kế hoạch làm việc với 28 sáng kiến và

5 mục tiêu chiến lược trong Kế hoạch hành động IPR ASEAN 2012 - 2015 đã giúp nâng cao tính pháp lý và chính sách trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến

mà một trong những vai trò to lớn của GDĐH là đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đảm bảo nhu cầu xã hội

Thêm vào đó, gia nhập AEC 2015 còn tác động đến cơ cấu đào tạo đội ngũ lao động của nền kinh tế Sẽ có sự thay đổi mạnh trong chương trình đào tạo để đáp ứng kịp thời quá trình hội nhập Một sự thay đổi có thể dễ dàng dự đoán được đó là nhu cầu sử dụng ngôn ngữ của các nước trong khu vực như tiếng Thái, tiếng Lào

sẽ tăng lên do đó sẽ xuất hiện nhiều hơn các chuyên ngành đào tạo ngôn ngữ khu vực Dự báo, việc làm sẽ tăng trưởng mạnh mẽ trong các lĩnh vực xây dựng, giao thông vận tải, dệt may và chế biến thực phẩm Như vậy thì nhân lực cho những lĩnh vực này sẽ được tăng thêm để đáp ứng nhu cầu Do đó, GDĐH sẽ tập trung hơn trong những lĩnh vực này

Trang 23

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Giảm các rào cản pháp lý cho các học viên có nhu cầu học ở các nước khác trong AEC có thể sẽ có một ảnh hưởng tương tự như trong EU Có thể dễ dàng nhận

ra sự hiệu quả đó là học viên tự do chọn môi trường đại học để nghiên cứu và học tập Hệ thống GDĐH mở cửa cho tất cả các nước trong AEC Tuy nhiên vẫn có những hạn chế Ví dụ, một SV Lào có thể muốn học tập tại một trường đại học hàng đầu xếp hạng ở Singapore, mặc dù chi phí có thể thấp Các tác động tích cực nằm sự thật là sau khi hội nhập, tất cả các trung tâm GDĐH có thể được đánh giá trên một

cơ sở chung; hy vọng là điều này sẽ cung cấp cho các trường đại học ở các nước mà giáo dục là không đạt tiêu chuẩn động lực hơn để cải thiện, để đáp ứng nhu cầu giáo dục toàn cộng đồng và ít nhất đạt tiêu chuẩn trung bình trong khu vực Chúng ta hãy cùng hi vọng rằng một tự do hoá Đông Nam Á sẽ có khả năng thu hút một số lượng lớn các SV có năng lực cao từ các châu lục khác như châu Âu và châu Mỹ

1.3 Kinh nghiệm giáo dục đại học của một số nước ASEAN

1.3.1 Singapore

Singapore có hệ thống giáo dục rất phát triển bậc nhất Đông Nam Á Nó được hình thành trên cơ sở “đặc biệt và riêng biệt” về sở thích và năng khiếu của mỗi SV Hệ thống giáo dục ở đây đã áp dụng cách tiếp cận linh hoạt để giúp SV phát triển hết tài năng của bản thân Để có được nền GDĐH tiên tiến như hiện nay, Singapore đã có những chính sách GDĐH đúng đắn và đáng học tập

Xác định đổi mới GDĐH là tất yếu

Trong những thập kỉ gần đây, GDĐH tại Quốc đảo đã có những chuyển biến, đổi mới quan trọng Chế độ “bảo lãnh” bao gồm các chính sách khuyến khích, thúc đẩy và bảo vệ đối với GDĐH đã giúp hỗ trợ đắc lực trong quá trình đổi mới Chế độ này cho phép các trường ĐH được nhận một khoản phí nghiên cứu để thực hiện những dự án và đề tài mới trong lĩnh vực mà họ có khả năng đảm nhận

Thêm vào đó, việc thành công trong quá trình đổi mới GDĐH còn thể hiện ở việc lựa chọn nhà lãnh đạo giáo dục Họ được bầu cử theo khóa và chỉ được tái bổ nhiệm khi hoàn thành tốt nhiệm vụ đặt ra ở khóa trước Họ đều có chung quan điểm

là “phải có bản lĩnh thì hãy nhận trách nhiệm lãnh đạo các cơ sở GDĐH”

Trang 24

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Trọng tâm của GDĐH là xây dựng nguồn nhân lực

Để có được một nền giáo dục thành công như bây giờ một phần là nhờ việc lựa chọn đúng đắn các nhà quản lý giáo dục Các trường ĐH sẵn sàng thuê những nhà nhà quản lý đến từ các trường hàng đầu thế giới Điểm đặc biệt là người được thuê phải đáp ứng được ba yêu cầu: một là quản lý nhà trường theo chuẩn quốc tế, hai là chuyển giao toàn bộ quá trình quản lý cho người tiền nhiệm, ba là đào tạo ra người có đủ năng lực để tiếp quản công việc này Nghĩa là có thể thuê hẳn phó hiệu trưởng hay chủ nhiệm khoa nhưng phải thỏa thuận rằng sau bao nhiêu năm thì sẽ có phó hiệu trưởng hay chủ nhiệm khoa nội địa đạt chuẩn quốc tế Điều này có thể lý giải là công nghệ giáo dục là công nghệ khó chuyển tải nhất nó không rõ ràng như những công nghệ khác vì thế cần có sự tương tác trực tiếp giữa người với người,

không thể chuyển giao theo cách thông thường

Một điểm đáng chú ý nữa là ở để làm giảng viên đại học ở Singapore thì phải đạt được hai chuẩn đó là chuẩn nghề nghiệp và chuẩn đào tạo Nghĩa là giảng viên không những là người có kiến thức chuyên sâu mà còn là những người có khả năng làm việc thực tiến xuất sắc Họ cần phải luôn cập nhật tình hình để giúp SV nắm được những thứ mới nhất tránh lãng phí thời gian đào tạo lại

Đầu tư GDĐH một cách tập trung

Có thể thấy rằng nhu cầu đầu tư thì rất lớn nhưng ngân sách lại có hạn Vì thế, các nhà quản lý GDĐH Singapore quyết định đầu tư một cách tập trung, phải chọn từng điểm để đổi mới triệt để thành điểm đột phá lan tỏa ra cả hệ thống Hằng năm, chính phủ Singapore dành ra 20% NSNN để đầu tư vào giáo dục – chiếm tỷ trọng đầu tư lớn nhất trong tất cả các lĩnh vực Tuy nhiên, họ không đầu tư một cách dàn trải mà chỉ tập trung vào vài trường Chính phủ đã tập trung đầu tư vào những trường trọng điểm để lên đạt chuẩn quốc tế với mục tiêu cho từng giai đoạn ví dụ như năm 1965 để đáp ứng nhu cầu nhân lực đa ngành chất lượng cao thì Chính phủ

đã tập trung đầu tư vào trường ĐH Quốc gia Singapore, năm 1985 để đào tạo nhân lực khoa học kỹ thuật giúp chiếm ưu thế trong công nghệ mới thì Chính phủ đã đầu

tư mạnh vào trường ĐH Công nghệ Nanyang và từ năm 2000 đến nay thì trường

Trang 25

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

ĐH Quản lý (SMU) lại được đầu tư nhiều để đào tạo các nhà quản lý đáp ứng nhu cầu của đất nước

Đào tạo gắn liền với nhu cầu việc làm

Ở mỗi trường ĐH ở Singapore dù là công hay tư đều có trung tâm tư vấn nghề nghiệp thường xuyên tổ chức các hội chợ nghề nghiệp cũng như hội thảo giúp

SV định hướng nghề nghiệp mỗi cách rõ ràng đồng thời còn hỗ trợ SV trong quá trình thực tập cũng như giúp đỡ SV tìm kiếm việc làm Hơn nữa, bản thân các trường ĐH luôn thiết lập những mối quan hệ với các doanh nghiệp, đào tạo SV theo nhu cầu của các doanh nghiệp nên giảm được đáng kể tình trạng SV ra trường

không có việc làm

1.3.2 Thái Lan

Mặc dù gần đây, giáo dục của Thái Lan không được đánh gia cao nhưng họ

đã và đang chuẩn bị khá bài bản cho hệ thống giáo dục để sẵn sàng gia nhập AEC

2015 với mục tiêu trở thành trung tâm giáo dục hàng đầu cộng đồng ASEAN

Khuyến khích phát triển hệ thống trường tư

Thái Lan là nước duy nhất trong các nước Đông Nam Á có các cơ sở GDĐH được đặt ở gần như khắp mọi nơi trên đất nước, không những góp phần mở cửa giáo dục đưa SV quốc tế đến đây học mà còn mang lại nguồn thu cho NSNN Chỉ có hai tỉnh là không có cơ sở đào tạo GDĐH Điều này làm tăng vai trò của khu vực tư nhân trong GDĐH Hệ thống trường tư ở Thái Lan có điểm đặc biệt là họ không cấp bằng trực tiếp cho SV mà thông qua một chương trình liên kết với các trường đại học nước ngoài - những trường có xếp hạng cao Điều này cho phép SV được học chương trình tiên tiến của các quốc gia phát triển với mức chi phí thấp

Đẩy mạnh liên kết giữa các cơ sở đào tạo và xã hội

Ở Thái Lan có hơn 600 cơ sở GDĐH và 130 cơ sở cấp bằng khắp đất nước Việc liên kết giữa các trường cho phép những trường bình thường có thể học hỏi những kinh nghiệm của những trường đi đầu trong nước Từ đó tạo ra những chương trình học thuật chất lượng cao nhằm đào tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao trải khắp đất nước Việc chuyển giao tín chỉ giữa các cơ sở và ghi nhận kinh

Trang 26

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

nghiệm làm việc giúp SV linh hoạt hơn trong việc học tập cũng như thực tập chuyển tiếp, tạo điều kiện cho SV có kiến thức chuyên sâu và đa dạng hơn

Đẩy mạnh đổi mới dạy học và quản lí giáo dục đại học

Các nhà quản lý GDĐH luôn luôn theo đuổi mục tiêu cải cách chương trình

để cập nhật cho SV những kiến thức và thông tin mang tính thời sự nhất để khi ra trường SV có thể đi làm luôn mà không phải đào tạo lại Sự cải cách chương trình học và dạy đảm bảo sự linh hoạt và đa dạng để đáp ứng nhu cầu học tập cá nhân và nhu cầu của đất nước Cải cách lấy người học làm trung tâm giúp SV được trang bị tốt những kĩ năng phân tích, suy nghĩ phản biện và động lực học tập

Thêm vào đó, việc quản lý các cơ sở GDĐH cũng được Thái Lan chú ý đặc biệt Nó đóng vai trò quan trọng trong việc nghiên cứu, tạo nên sự cải thiện trong chất lượng giáo dục Cơ chế đảm bảo chất lượng nội bộ sẽ được thiết lập trong nội

bộ các trường Sau đó sẽ được các cơ quan của bộ kiểm tra và đánh giá một lần nữa

Bộ Giáo dục, Tôn giáo và Văn hóa sẽ thiết lập tiêu chuẩn chung cho các trường trong đó thì các thủ tục cấp phép sẽ được thành lập bởi hội động quốc gia dựa vào các tiêu chuẩn và đánh giá giáo dục

1.3.3 Malaysia

Giáo dục là trách nhiệm của Chính quyền và chính phủ Malaysia buộc phải chu cấp một nền giáo dục tốt nhất cho tất cả mọi người Hệ thống giáo dục Malaysia bao gồm giáo dục từ mầm non cho đến đại học.Giáo dục trước đại học nằm dưới sự quản lí chỉ đạo của Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục (MOE) trong khi giáo dục bậc đại học

và cao hơn là trách nhiệm của Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục Cấp Cao (MOHE)

Chính phủ đầu tư mạnh vào các trường tư thục

Các trường tư thục và quốc tế cũng nhận được rất nhiều hỗ trợ từ chính phủ Các trường thuộc loại này sẽ được những ưu đãi như: trường tư thục được miễn thuế thu nhập 70% trong 5 năm hoặc tương đương của một trợ cấp thuế đầu tư 100% chi phí vốn trong một khoảng thời gian 5 năm để được bù đắp so với 70% thu nhập theo luật định Những đầu tư lớn vào nền giáo dục của nước này được hy vọng

sẽ mang lại một bước tiến vượt bậc trong năm tới Điều này cũng là một nhân tố tốt

Trang 27

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

để các bạn SV quốc tế của chúng ta có thể đánh giá Malaysia như một lựa chọn lý tưởng cho việc học tập và nghiên cứu

Đẩy mạnh xuất khẩu giáo dục

Để thu hút SV nước ngoài thì ngoài việc cạnh tranh về học phí, nhiều trường

ĐH Malaysia còn có nhiều chương trình đào tạo quốc tế hấp dẫn dành riêng cho SV nước ngoài và trong nước Sự hiện diện của nhiều chương trình dành cho SV nước ngoài ở Malaysia đã mang lại lợi ích thương mại đáng mong đợi Thực tế cho thấy

có một sự tăng trưởng nhanh trong số lượng SV quốc tế học tập ở Malaysia từ 5635 năm 1997 lên tới 28837 vào năm 2008 (theo Thống kế giáo dục Malaysia, 2014) Malaysia đang dần đạt được mục tiêu đặt ra là trở thành quốc gia chỉ xuất khẩu giáo dục trước năm 2020

Khuyến khích sự cạnh tranh lành mạnh trong môi trường GDĐH

Sự cạnh tranh trong GDĐH dẫn đến việc liên tục phải đổi mới, sáng tạo giúp nâng cao chất lượng đào tạo cũng như nghiên cứu Mỗi trường tạo cho mình những thế mạnh riêng để tăng sức cạnh tranh, tạo ra những sản phẩm giáo dục tốt cho xã hội Đây là sự cạnh tranh lành mạnh và tất yếu nó sẽ có lợi cho xã hội và SV tham gia học tập

Trang 28

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

CHƯƠNG 2 CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI GIÁO DỤC ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM TRONG THỜI KÌ HỘI

NHẬP AEC 2015

2.1 Thực trạng giáo dục đại học ở Việt Nam

2.1.1 Chính sách phát triển giáo dục đại học

2.1.1.1 Chính sách quản lý trong giáo dục

Nghị quyết về đổi mới GDĐH giai đoạn 2010-2012 (số 05-NQ/BCSĐ) của Ban cán sự Đảng Bộ Giáo dục đào tạo đánh giá thực trạng quản lý GDĐH trong những năm qua cho thấy công tác quản lý của Bộ giáo dục và đào tạo đối với các trường chưa đổi mới đáng kể phù hợp với các quy luật chi phối hoạt động của hệ thông GDĐH và đòi hỏi của phát triển xã hội Quyền tự chủ vẫn chưa thực sự phát huy hết tác dụng vì tính chất chưa triệt để và thiếu nhất quán, đồng bộ trong các chủ trương chính sách của Nhà nước Phương pháp quản lý của Nhà nước đối với các trường đại học, cao đẳng còn tập trung, chưa có quy chế phối hợp với các bộ, ngành, chưa phân cấp cho chính quyền địa phương, chưa tạo đủ điều kiện để các cơ

sở đào tạo thực hiện quyền và trách nhiệm tự chủ Công tác quản lý ở các trường chưa phát huy được trách nhiệm và sự sáng tạo của đội ngũ nhà giáo, các nhà quản

lý và SV

Tiếp theo đó, chỉ thị 296 của Thủ tướng Chính phủ về đổi mới quản lý GDĐH trong giai đoạn 2010-2012 (296/CT-TTg, ngày 27 tháng 2 năm 2010) cũng nêu rõ việc đổi mới quản lý GDĐH bao gồm quản lý Nhà nước về giáo dục và quản

lý của các cơ sở đào tạo là khâu đột phá để tạo ra sự đổi mới toàn diện của GDĐH Một trong các nhiệm vụ cấp thiết mà Thủ tướng giao cho Bộ giáo dục đào tạo là rà soát, bổ sung, điều chỉnh các văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành, đồng thời xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật mới về thành lập trường, tuyển sinh, tổ chức đào tạo và nghiên cứu khoa học, quan hệ giữa Ban giám hiệu và Hội đồng trường, Đảng ủy, các đoàn thể ở trường để từ đó các trường đại học, cao đẳng thực hiện quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm trước xã hội và Nhà nước theo quy định của Luật giáo dục

Trang 29

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Gần đây có luật GDĐH 08/2012/QH2013 do Quốc hội ban hành ngày 18 tháng 6 năm 2012 (có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2013) được xây dựng cũng quan tâm rất nhiều đến vấn đề tự chủ của cơ sở GDĐH Quyền tự chủ đại học được coi là đã được thể hiện ở nhiều điều khoản của Luật về Hội đồng trường, Hội đồng quản trị, Hiệu trưởng, nhiệm vụ và quyền hạn của cơ sở giáo dục

2.1.1.2 Chính sách thu hút sinh viên

Việt Nam có lệ phí và thủ tục cấp visa không có gì hạn chế đối với SV nước ngoài Tuy nhiên tính chủ động của chính sách nhằm thu hút SV nước ngoài thì còn yếu, yếu hơn cả những nước trong khu vực Những chính sách để hỗ trợ SV nước ngoài như cấp học bổng, cung cấp thông tin về các chương trình đào tạo hay hỗ trợ

về ngôn ngữ (tiếng Việt) thì hầu như còn thiếu vắng Trường hợp SV nước ngoài theo học chủ yếu là tự tìm đến hoặc kết nối của các nhà cung cấp dịch vụ GDĐH trong nước với SV nước ngoài

2.1.1.3 Chính sách tạo lập hành lang pháp lý cho xuất khẩu dịch vụ giáo dục

Trong khuôn khổ cam kết gia nhập WTO, Việt Nam chưa cam kết đối với việc tiếp cận thị trường và đối xử quốc gia trong dịch vụ GDĐH theo phương thức cung cấp qua biên giới và hiện diện thể nhân Do các phương thức khá nhạy cảm nên Nhà nước còn khá thận trọng khi mở của thị trường (Hoàng Văn Châu, 2011, tr.83-93)

Về vấn đề xuất khẩu dịch vụ GDĐH theo phương thức hiện diện thương mại, hiện chưa có quy định riêng về việc hiện diện thương mại của các cơ sở đào tạo Việt Nam tại nước ngoài, trừ những nội dung được quy định theo Luật đầu tư số 59/2005/QH11 ban hành ngày 29 tháng 11 năm 2005

2.1.2 Tổng quan về giáo dục đại học ở Việt Nam

2.1.2.1 Hệ thống bằng cấp

Tại Việt Nam, sau khi hoàn thành giáo dục phổ thông (bao gồm giáo dục chính quy, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục thường xuyên) học sinh (thường là 18 tuổi) sẽ tham gia kỳ thi tuyển sinh để thi tuyển vào các trường đại học hoặc cao

Trang 30

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

đẳng Có nhiều trường sẽ tổ chức xét tuyển thẳng cho những học sinh đạt thành tích cao trong các cuộc thi Quốc gia hay Quốc tế

Sau mỗi kỳ thi tuyển sinh, dựa vào chỉ tiêu mà mỗi trường sẽ đưa ra mức điểm chuẩn khác nhau Thí sinh nếu qua điểm chuẩn sẽ được nhận vào học tại trường đại học hoặc cao đẳng mà mình có nguyện vọng đăng ký và thi tuyển ngay

từ đầu Một trường hợp khác là nếu không đủ điểm chuẩn để vào trường đại học đăng ký ban đầu, thí sinh có thể có nguyện vọng xét tuyển vào một trường đại học khác với mức điểm chuẩn thấp hơn hoặc cũng có thể nộp đơn để xét tuyển vào trường cao đẳng Thông thường các trường cao đẳng tại Việt Nam có chất lượng đạo tạo và danh tiếng không được như các trường đại học, thời gian đào tạo cũng ngắn hơn (2 đến 3 năm so với đại học là 4 đến 6 năm) nên điểm xét tuyển vào các trường cao đẳng hầu như cũng thấp hơn

SV sau khi hoàn thành chương trình đào tạo tại các trường đại học và cao đẳng sẽ được cấp bằng cử nhân hệ chính quy Nếu sau khi tốt nghiệp các trường cao đẳng , SV chưa có nhu cầu đi làm ngay mà muốn nâng cao trình độ thì có thể tiếp tục học liên thông lên đại học Trước đay theo quyết định số 06/2008/QĐ-BGDĐT), nếu học viên học liên thông Đại học chính quy theo hình thức tập trung ban ngày và học liên tục tại trường, thực hiện đúng mọi quy chế về tuyển sinh và đào tạo đại học chính quy thì sau khi kết thúc khóa học vẫn được cấp bằng cử nhân chính quy Nếu học viên học liên thông lên đại học theo hình thức vừa làm vừa học thì sau khi kết thúc khóa học sễ chỉ được cấp bằng hệ vừa học vừa làm (hệ liên thông) Tuy nhiên,

để tránh tình trạng học viên mượn hệ cao đẳng làm “trạm nghỉ”, đi đường vòng lên đại học để lấy bằng, gần đây Bộ Giáo dục và đào tạo đã ban hành thông tư 55/2012/TT-BGDĐT, quy định các học viên chưa tốt nghiệp cao đẳng đủ 36 tháng muốn học liên thông lên đại học sẽ phải tham gia kỳ thi tuyển sinh đại học cùng với các học sinh bình thường khác Quy định mới này gây nhiều ý kiến trái chiều tuy nhiên tạo ra hiệu quả tích cực trong việc đảm bảo chất lượng, tránh hiện tượng cấp bằng cử nhân chính quy cho học viên không đủ năng lực

2.1.2.2 Cơ cấu mạng lưới giáo dục đại học

Trang 31

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Cơ cấu tổ chức của các trường đại học Việt Nam trong thời gian qua đã phát triển theo hướng thực hiện tốt chức năng của trường đề ra, đồng thời đa dạng hóa và nâng cao chất lượng đào tạo Nhiều trường mở thêm nhiều ngành đạo tạo mới và đưa vào hoạt động có hiệu quả các trung tâm nghiên cứu khoa học, tư vấn, chuyển giao công nghệ Nhiều trường còn đẩy mạnh hoạt động khảo thí, giám sát và thanh tra giáo dục

Trường đại học, viện đại học, học viên và trường cao đẳng là các cơ sở đào tạo giáo dục bậc đại học ở Việt Nam Hiện nay ở nước ta có nhiều hình thức tổ chức các cơ sở đào tạo này: thuộc quản lý Nhà nước (công lập) hoặc tư thục, có cơ cấu tuyển sinh cả nước hoặc theo vùng, theo tỉnh, chi tiết như sau (Theo Bách Khoa toàn thư mở):

a Các đại học Quốc gia

“Việt Nam có 2 đại học Quốc gia nằm ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Đây là 2 đại học trọng điểm quốc gia” Mỗi đại học có nhiều trường đại học thành viên, đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao và giữ vai trò nòng cốt, quan trọng trong hệ thống GDĐH ở nước ta Đại học Quốc gia hoạt động theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm cao dưới sự quản lý trực tiếp của Thủ tường chính phủ Người đứng đầu đại học Quốc gia gọi là giám đốc kiểm chủ tịch Hội đồng Giám đôc và các phó giám đốc do Thủ tướng chính phủ bổ nhiệm

b Các đại học cấp vùng

“Các đại học cấp vùng được giao quyền tự chủ như các đại học Quốc gia, có các thành viên trực thuộc là các khoa và/hoặc các trường đại học Người đứng đầu của một đại học vùng là giám đốc, người đứng đầu của một đại học thành viên gọi

là hiệu trưởng Các đại học cấp vùng này nằm tại các khu vực kinh tế động lực của một vùng có nhiều khu công nghiệp”, bao gồm đại học Thái Nguyên, đại học Huế, đại học Vinh, đại học Đà Nẵng và đại học Cần Thơ

c Các trường đại học và học viện quân sự

“Hiện nay ở nước ta có tất cả 22 trường đại học quân sự đào tạo sĩ quan cho tất cả các ngành, cơ quan, đơn vị của Bộ quốc phòng Các trường quân sự do Bộ

Trang 32

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

quốc phòng phối hợp với Bộ giáo dục đào tạo quản lý, chỉ đạo về mặt nội dung chương trình đào tạo Người học muốn dự thi vào các trường này phải đạt tiêu chuẩn sức khỏe và lý lịch”

d Các trường đại học và học viện công an

“Các trường công an do Bộ Công an mà trực tiếp là Tổng cục xây dựng lực lượng Công an nhân dân quản lý Muốn được theo học tại các trường này, người học cũng phải đạt được những tiêu chuẩn về sức khỏe và phẩm chất chính trị”

e Các trường đại học theo ngành dân sự

“Đây là những trường trực thuộc cùng lúc Bộ giáo dục đào tạo hoặc tổ chức, đoàn thể”, ví dụ: Trường đại học Công nghiệp Hà Nội, trường đại học dầu khí, trường đại học Ngoại Thương

f Các trường đại học địa phương

Đây là “các trường đại học đào tạo tổng hợp dưới sự quản lý của ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố, hoạt động theo hình thức công lập”, chẳng hạn như trường đại học Đồng Nai, trường đại học Hải Phòng

g Các trường đại học ngoài công lập

Các trường đại học này còn gọi là đại học dân lập và tư thục, do một cá nhân hoặc một nhóm cá nhân thành lập Mặc dù vậy, các trường ngoài công lập vẫn chịu

sự quản lý của Bộ Giáo dục và đào tạo cùng với ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố nơi trường đặt trụ sở

h Các trường dự bị đại học dân tộc

Đây là “loại hình chuyên biết được thành lập riêng cho người dân tộc thiểu

số ở vùng sâu vùng xa, làm nhiệm vụ đào tạo, tạo nguồn cán bộ quản lý, cán bộ khoa học cho người dân tộc thiểu số”,ví dụ như trường dự bị đại học dân tộc Sầm Sơn

i Các trường cao đẳng

Các trường cao đẳng bao gồm cả trường công lập, bán công lập và tư thục

Trang 33

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

a Số trường đại học, cao đẳng

Trong những năm qua, quy mô GDĐH nước ta không ngừng tăng cả ở hệ thống các trường công lập và ngoài công lập Năm học 2000 - 2001, cả nước có tất

cả 178 trường bao gồm 104 trường cao đẳng và 74 trường đại học Trong số 74 trường đại học thì có 17 trường ngoài công lập Đến năm học 2007 - 2008, số trường cao đẳng và đại học lần lượt tăng lên gần gấp đôi, với con số lần lượt là 206

và 140 trường Sự gia tăng mạnh mẽ một lần nữa được chứng minh khi mà năm học

2012 – 2013, số lượng trường đại học đã lên tới 207 trường, bằng 148% so với năm học 2007 – 2008 Hiện nay nước ta đã có 54 trường đại học ngoài công lập, gấp hơn

3 lần so với năm học 2000 – 2001

Trang 34

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Bảng 2.1 Số trường đại học cao đẳng trên cả nước trong

Công lập

Ngoài công lập

Đại học

Công lập

Ngoài công lập

Nguồn: Bộ Giáo dục và đào tạo,2013, Thống kê giáo dục 2013

Năm học 2000-2001, trong tổng số các trường cao đẳng và đại học thì tỷ lệ các trường ngoài công lập mới chỉ là 4,81% (5 trên tổng số 104 trường) và 22,97%

Trang 35

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

(17 trên tổng sô 74 trường) Đến năm học 2011-2012, con số này lần lượt là 13,55% (29 trên tổng số 214 trường) và 26,09% (54 trên tổng số 207 trường) Điều này cho thấy rằng giáo dục bậc đại học tư ở nước ta ngày càng phát triển mạnh mẽ Xu thế này hòa toàn tương đồng với thế giới khi mà có khoảng 30% SV trên toàn thế giới lựa chọn môi trường GDĐH tư nhân và ở nhiều quốc gia GDĐH tư trở thành mũi nhọn, chẳng hạn như ở một số nước Đông Á như Hàn Quốc, Phillippines (UNESCO World Conference on Higher Education, 2009, tr.7)

b Số lượng SV

Trong những năm qua, số lượng SV cả nước không ngừng gia tăng Năm học

2000 – 2001, cả nước có 918.288 SV Đến năm học 2012 – 2013, con số này đã là 2.177.299, tăng tới 137% so với năm 2000 – 2001

Trang 36

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Bảng 2.2 Số lượng sinh viên cả nước từ năm học 2000 - 2001

Nguồn: Bộ Giáo dục và đào tạo, 2013, Thống kê giáo dục năm 2013

Năm học 2012-2013, số SV tại các trường công lập là 1.275.608 SV, chiếm đến 87,8% trên tổng số SV cả nước Có 1.076.233 SV theo học hệ chính quy và 248.291 SV tốt nghiệp trong năm 2013 Sự gia tăng số lượng các trường đại học và cao đẳng (cả hệ công lập và ngoài công lập) cùng với sự mở rộng các chuyên ngành đào tạo của các trường là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng số lượng SV trong những năm vừa qua Điều này hoàn toàn phù hợp với xu thế chung của thế giới: khi mà nền kinh tế càng phát triển và ảnh hưởng của toàn cầu hóa lan tỏa khắp mọi lĩnh vực của nền kinh tế thì nhu cầu giáo dục đào tạo, nhất là đào tạo giáo dục bậc cao ngày càng được chú trọng và mở rộng

Trang 37

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Tuy nhiên, quy mô hiện tại của GDĐH ở nước ta vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu của xã hội Theo số liệu của Bộ Giáo dục và đào tạo, tổng chỉ tiêu tuyển sinh đại học, cao đẳng năm 2013 là 605000 SV trong khi tổng số thí sinh tham gia dự thi

là 1,3 triệu Như vậy chỉ có khoảng 46,54% thí sinh cả nước được vào đại học, cao đẳng Vì lẽ đó, nhu cầu nhập khẩu dịch vụ GDĐH nước ta vẫn tăng cao

Xét về góc độ cung, nhiều trường đại học, cao đẳng ngoài công lập trong vài năm trở lại đây không thể tuyển đủ số SV vào học vì việc thành lập những cơ sở giáo dục này không kiểm tra chặt chẽ và chất lượng đào tạo không đảm bảo Vì lẽ

đó, việc mở nhiều trường mới hoặc mở nhiều ngành đào tạo mới nhằm tăng quy mô giáo dục không mang lại ý nghĩa bởi nhiều SV ra trường không thể tìm được việc làm

c Đội ngũ giảng viên

Trong những năm qua, số lượng giảng viên đại học liên tục tăng Năm học

2000 – 2001, cả nước có tất cả 32.230 giảng viên Đến năm học 2008 – 2009, con

số này tăng lên gần gấp 2 lần và đến năm 2012 – 2013, số giảng viên đại học, cao đẳng đã là 87.317, tăng 171% so với năm học 2000 – 2001 Tuy nhiên dù đội ngũ giảng viên có tăng về số lượng tuyệt đối nhưng tốc độ tăng còn chậm hơn so với tốc

độ tăng của SV Chính vì vậy, tỷ lệ SV trên giảng viên vẫn còn ở mức cao Đến năm

2013, tỷ lệ bình quân giảng viên/SV là 1/25 trong khi tỷ lệ này ở các nước OECD dao động từ 1/20 – 1/10 (OECD Education at a glance, 2012, tr.453)

Trang 38

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Bảng 2.3 Số lượng giảng viên đại học, cao đẳng phân theo trình độ chuyên môn

Nguồn: Bộ Giáo dục và đào tạo, Thống kê giáo dục năm 2013

Trình độ giảng viên cũng liên tục được cải thiện với số giảng viên trình độ tiến sỹ và thạc sỹ đều tăng dần qua các năm Số giảng viên trình độ tiến sỹ năm học 2012-2013 là 9.562, gấp đôi so với năm học 2000 – 2001 Năm học 2000 – 2001, cả nước mới chỉ có 8.064 giảng viên trình độ thạc sỹ thì đến năm học 2012 – 2013 con

số này đã tăng lên đến 5 lần, chiếm 45% trên tổng số 87.317 giảng viên Sự gia tăng giảng viên có trình độ cao hứa hẹn chất lượng giáo dục đào tạo trong những năm tới

sẽ được cải thiện đáng kể

Ngày đăng: 18/05/2020, 08:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm