Khái niệm thủ tục hải quan Theo định nghĩa tổng quát của Công ước Kyoto, thủ tục hải quan được hiểu như sau: “thủ tục hải quan là tất cả các hoạt động mà cơ quan hải quan và những người
Trang 1Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
-o0o -KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Kinh tế đối ngoại
CƠ CHẾ HẢI QUAN MỘT CỬA TRONG
THỦ TỤC HẢI QUAN ĐIỆN TỬ CỦA MALAYSIA VÀ
BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
Sinh viên thực hiện : Phạm Lê Phương Anh
Trang 2Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC SƠ ĐỒ BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ
LỜI MỞ ĐẦU 5
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CƠ CHẾ HẢI QUAN MỘT CỬA TRONG THỦ TỤC HẢI QUAN ĐIỆN TỬ 4
1.1 Khái quát chung về thủ tục hải quan điện tử 4
1.1.1 Thủ tục hải quan điện tử trong tiến trình hiện đại hóa 4
1.1.2 Quy trình thủ tục hải quan điện tử 6
1.1.3 Vai trò của hải quan điện tử 10
1.2 Cơ chế một cửa quốc gia trong thủ tục hải quan điện tử 13
1.2.1 Khái niệm 13
1.2.2 Mô hình cơ chế một cửa quốc gia trong thủ tục hải quan điện tử 16
1.2.3 Điều kiện triển khai mô hình một cửa trong thủ tục hải quan điện tử18 1.3 Mô hình một cửa ASEAN (ASEAN Single Window) và mô hình một cửa quốc gia (National Single Window) 26
1.3.1 Sự khác biệt về khái niệm giữa mô hình một cửa ASEAN và mô hình một cửa quốc gia 26
1.3.2 Mô hình một cửa ASEAN 27
CHƯƠNG 2: KINH NGHIỆM TRIỂN KHAI CƠ CHẾ MỘT CỬA TRONG THỦ TỤC HẢI QUAN ĐIỆN TỬ CỦA MALAYSIA 30
2.1 Giới thiệu chung về hải quan Malaysia 30
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của hải quan Malaysia 30
2.1.2 Tầm nhìn, sứ mệnh và vai trò của hải quan Malaysia 31
2.1.3 Thủ tục hải quan điện tử của Malaysia 31
2.2 Tình hình áp dụng cơ chế hải quan một cửa trong thủ tục hải quan điện tử của Malaysia 34
2.2.1 Khái quát về cơ chế một cửa trong thủ tục hải quan điện tử của Malaysia 34
2.2.2 Thực tế áp dụng triển khai mô hình một cửa của hải quan điện tử Malaysia thông qua Cổng thông tin một cửa quốc gia myTRADELINK 36
2.2.3 Kết quả thực hiện mô hình một cửa của hải quan Malaysia 40
Trang 3Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
2.3.1 Bài học kinh nghiệm từ thành công của Malaysia trong triển khai cơ chế một cửa điện tử 47 2.3.2 Hướng phát triển mới trong tương lai cho Mô hình một cửa điện tử
mà Malaysia hướng tới 48
CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ MỘT CỬA TRONG THỦ TỤC HẢI QUAN ĐIỆN TỬ CỦA VIỆT NAM 513.1 Tổng quan về hải quan điện tử Việt Nam 51
3.1.1 Hải quan Việt Nam 51
3.2 Tình hình thực hiện thí điểm triển khai cơ chế một cửa trong thủ tục hải quan điện tử của Việt Nam 58
3.2.1 Các chủ trương chính sách và biện pháp của nhà nước về triển khai thực hiện thủ tục hải quan điện tử giai đoạn 2005 – 2013 58 3.2.2 Kết quả áp dụng các chuẩn mực hải quan điện tử hiện đại vào quá trình triển khai thủ tục hải quan điện tử Việt nam giai đoạn 2005 – 2013 60 3.2.3 Kết quả thực hiện thí điểm triển khai cơ chế một cửa quốc gia 64
3.3 Phương hướng xây dựng thủ tục hải quan điện tử Việt Nam trong thời gian tới 70
3.3.1 Mục tiêu và quan điểm hoàn thiện thủ tục hải quan điện tử Việt Nam
70
3.3.2 Phương hướng hoàn thiện thủ tục hải quan điện tử Việt Nam đến năm
2020 71
3.4 Các giải pháp hoàn thiện cơ chế một cửa quốc gia trong thủ tục hải quan điện
tử của Việt Nam 72
3.4.1 Đối với Hải quan 72 3.4.2 Đối với các doanh nghiệp liên quan 74 3.4.3 Đối với Nhà nước (Chính phủ, Quốc hội, các Bộ, Ngành liên quan).75
KẾT LUẬN 76TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 4Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
ICAO Tổ chức Hàng không Dân dụng Quốc tế
ICC Phòng Thương mại và Công nghiệp quốc tế
INCOTERMS Các điều khoản thương mại quốc tế
IMO Tổ chức Hàng hải thế giới
NSW Cơ chế một cửa quốc gia
uCUSTOMS Hệ thống Hải quan toàn diện
UN/CEFACT Trung tâm tạo thuận lợi thương mại và thương mại điện tử của
Liên hợp quốc
UNECE Ủy ban Kinh tế Châu Âu thuộc Liên Hiệp Quốc
UN/EDIFACT Trao đổi dữ liệu điện tử dùng cho Hành chính, Thương mại và
Vận tải
UNCTAD Diễn đàn Thương mại và Phát triển Liên Hiệp quốc
WCO Tổ chức Hải quan thế giới
WTO Tổ chức Kinh tế thế giới
Trang 5Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Sơ đồ 1.1 Quy trình thủ tục hải quan điện tử Việt Nam 7
Sơ đồ 1.2 Mô hình khái niệm cơ chế một cửa quốc gia 17
Bảng 2.1 Sự thay đổi về các loại phí giao dịch khi ứng dụng Cổng thông tin một cửa 42Bảng 3.1 Tổng hợp việc áp dụng chuẩn mực hải quan hiện đại vào thủ tục hải quan điện tử Việt Nam giai đoạn 2005 - 2013 63Bảng 3.2 Số Cục Hải quan và Chi cục Hải quan triển khai thủ tục hải quan điện tửgiai đoạn 2005 – 2013 .64Bảng 3.3 Số doanh nghiệp thực hiện thủ tục hải quan điện tử giai đoạn 2005 –
2013 65Bảng 3.4 Số lượng tờ khai hải quan điện tử và kim ngạch xuất nhập khẩu thông qua thủ tục hải quan điện tử giai đoạn 2005 – 2013 66
Hình 2.1 Mô hình kết nối một nơi, truy cập đến nhiều nơi trong cơ chế một cửa của Malaysia 35Hình 2.2 Các bộ phận trong Mô hình một cửa quốc gia của Malaysia 36Hình 2.3 Cơ chế vận hành Mô hình một cửa điện tử của Malaysia 37Hình 2.4 Tổng quan hệ thống SMK – Dagang Net với Cổng thông tin một cửa myTRADELINK 39Hình 2.5 Một số kết quả đạt được nhờ áp dụng Cơ chế một cửa quốc gia tại cảng Klang 44Hình 2.6 Một số kết quả đạt được nhờ áp dụng Cơ chế một cửa quốc gia tại cảng Klang (tiếp) 45Hình 2.7 Tổng thể dịch vụ ePermit cung cấp kết nối tới Hải quan và 25 cơ quan chức năng cấp phép khác 46
Trang 6Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Với việc ký kết các hiệp định song phương và đa phương về thương mại quốc tế làm cho nhiệm vụ của ngành hải quan ngày càng phức tạp hơn, nhất là các vấn đề liên quan đến hàng rào kỹ thuật, chống bán phá giá, độc quyền Bên cạnh đó,
sự phát triển như vũ bão của khoa học, công nghệ; nhất là Công nghệ thông tin và truyền thông đã làm thay đổi phương phức hoạt động của cả doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước Trước sự phát triển đó, và từ khi Việt Nam gia nhập Tổchức Thương mại thế giới (WTO), hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, đòi hỏi ngành hải quan phải đẩy mạnh hơn nữa ứng dụng khoa học, kỹ thuật và công nghệ vào hoạt động quản lý nhà nước của mình để vừa tạo thuận lợi cho doanh nghiệp vừa bảo đảm hiệu quả và hiệu lực của quản lý nhà nước về hải quan Ðồng thời, phải tiếp tục cải cách, hiện đại hóa, đổi mới hơn nữa, nâng cao năng lực cán bộ, công chức và cải thiện cơ sở pháp lý, cơ sở hạ tầng, Công nghệ thông tin,…
Ðứng trước đòi hỏi tất yếu khách quan cần phải cải cách, hiện đại hóa, Chính phủ và Bộ Tài chính rất quan tâm và chỉ đạo sát sao công tác cải cách, hiện đại hóa hải quan Nhờ cải cách, hiện đại hóa, Tổng cục Hải quan đã xây dựng và phát triển ngành hải quan bước đầu theo hướng hiện đại, chuyên sâu, chuyên nghiệp Ngành hải quan cũng đang thực hiện tốt vai trò cơ quan đầu mối về xây dựng và thực hiện
cơ chế một cửa quốc gia và cơ chế một cửa ASEAN
Malaysia là một trong những nước đi đầu trong khối ASEAN về việc triển khai thủ tục hải quan điện tử và cơ chế một cửa quốc gia Bên cạnh đó, Hải quan Malaysia cũng hướng tới việc hoàn thiện mô hình một cửa quốc gia để tiến tới tham gia xây dựng mô hình một cửa ASEAN Do đó, mô hình này rất thích hợp cho việc nghiên cứu và đúc rút kinh nghiệm cho Hải quan Việt Nam hiện nay
Từ những nguyên nhân trên, em đã chọn đề tài “Cơ chế hải quan một cửa trong thủ tục hải quan điện tử của Malaysia và bài học kinh nghiệm cho hải quan Việt Nam” làm Khóa luận tốt nghiệp.
2 Tình hình nghiên cứu
Hiện nay, việc xây dựng một mô hình hải quan hiện đại bằng cách ứng dụng các tiến bộ về công nghệ là một xu thế và là mục tiêu của các quốc gia trên thế giới
Trang 7Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
cũng như của ngành Hải quan Có một số công trình đã nghiên cứu về các vấn đề có liên quan tới mô hình hải quan hiện đại, cụ thể:
Đề tài khoa học: “Nghiên cứu các giải pháp kiểm tra sau thông quan đối với hàng hoá xuất nhập khẩu trong thông quan điện tử” (Chủ nhiệm đề tài: Văn Bá Tín – Phó Cục trưởng Cục Hải quan TP Hà Nội)
Đề tài khoa học: “Nghiên cứu triển khai áp dụng các tiêu chuẩn của hệthống GS1 vào lĩnh vực Hải quan ở Việt Nam” (Viện Tiêu chuẩn Chất lượng Việt Nam)
Tuy nhiên đến thời điểm hiện tại chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu đến khía cạnh Hệ thống một cửa trong thủ tục Hải quan điện tử của Việt Nam theo hướng khái quát và hướng tới việc thiết lập mô hình ASEAN một cửa Vì vậy, đề tài của em chọn mang tính mới và không bị trùng lặp với các công trình khoa học đã công bố trước đây
3 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nhằm nghiên cứu mô hình một cửa quốc gia trong thủ tục hải quan điện tử của Malaysia và Việt Nam, rút ra bài học từ kinh nghiệm triển khai cơ chếmột cửa quốc gia của Malaysia cho Hải quan Việt Nam và đề xuất các giải pháp hoàn thiện mô hình này cho Hải quan Việt Nam, đồng thời tiến tới mô hình ASEAN một cửa
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Mô hình hải quan một cửa trong thủ tục hải quan điện tử của Malaysia và Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu: Thực trạng áp dụng mô hình hải quan một cửa của Malaysia và Việt Nam trong vài năm trở lại đây
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp mô tả và khái quát đối tượng nghiên cứu
Phương pháp thống kê
Phương pháp phân tích và tổng hợp
6 Kết cấu của Khóa luận
Trang 8Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Ngoài Lời mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Khóa luận được chia thành ba chương, bao gồm:
Chương 1: Tổng quan về cơ chế hải quan một cửa trong thủ tục hải quan điện tử
Chương 2: Kinh nghiệm triển khai cơ chế một cửa trong thủ tục hải quan điện tử của Malaysia
Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện cơ chế một cửa trong thủ tục hải quan điện tử của Việt Nam
Trang 9Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CƠ CHẾ HẢI QUAN MỘT CỬA
TRONG THỦ TỤC HẢI QUAN ĐIỆN TỬ
1.1 Khái quát chung về thủ tục hải quan điện tử
1.1.1 Thủ tục hải quan điện tử trong tiến trình hiện đại hóa
1.1.1.1 Khái niệm thủ tục hải quan
Theo định nghĩa tổng quát của Công ước Kyoto, thủ tục hải quan được hiểu như sau: “thủ tục hải quan là tất cả các hoạt động mà cơ quan hải quan và những người có liên quan phải thực hiện nhằm đảm bảo sự tuân thủ luật pháp hải quan”.Theo Từ điển nghiệp vụ của Tổ chức Hải quan thế giới (WCO), thủ tục hải quan là cách xử lý của hải quan áp dụng đối với hàng hóa là đối tượng chịu sự điều chỉnh của Luật hải quan, với hàng hóa được hiểu là bao gồm cả phương tiện vận tải.Theo Luật Hải quan số 54/2014/QH13 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 23 tháng 6 năm 2014 quy định: “Thủ tục hải quan là các công việc mà người khai hải quan và công chức hải quan phải thực hiện theo quy định của Luật này đối với hàng hóa, phương tiện vận tải”
Trong đó:
Người khai hải quan bao gồm: chủ hàng hóa; chủ phương tiện vận tải;
người điều khiển phương tiện vận tải; đại lý làm thủ tục hải quan, người khác được chủ hàng hóa, chủ phương tiện vận tải ủy quyền thực hiện thủ tục hải quan
Công chức hải quan là người có đủ điều kiện được tuyển dụng, bổ nhiệm
và ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan hải quan; được đào tạo, bồi dưỡng và quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức
Hàng hóa bao gồm động sản có tên gọi và mã số theo Danh mục hàng hóa
xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam được xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hoặc được lưu giữ trong địa bàn hoạt động hải quan
Phương tiện vận tải bao gồm phương tiện vận tải đường bộ, đường sắt,
đường hàng không, đường biển, đường thủy nội địa xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh
Trang 10Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Về nguyên tắc tiến hành thủ tục hải quan, Điều 16 của Luật này có quy định như sau:
Hàng hóa, phương tiện vận tải phải được làm thủ tục hải quan, chịu sựkiểm tra, giám sát hải quan; vận chuyển đúng tuyến đường, đúng thời gian qua cửa khẩu hoặc các địa điểm khác theo quy định của pháp luật
Kiểm tra, giám sát hải quan được thực hiện trên cơ sở áp dụng quản lý rủi
ro nhằm đảm bảo hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước về hải quan và tạo thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh
Hàng hóa được thông quan, phương tiện vận tải được xuất cảnh, nhập cảnh sau khi đã hoàn thành thủ tục hải quan
Thủ tục hải quan phải được thực hiện công khai, nhanh chóng, thuận tiện
và theo đúng quy định của pháp luật
Việc bố trí nhân lực, thời gian làm việc phải đáp ứng yêu cầu hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh
1.1.1.2 Khái niệm thủ tục hải quan điện tử
Quy trình thủ tục hải quan bao gồm các bước theo mô hình sau: Khai báo hải quan Kiểm tra giám sát Tính và thu thuế Thông quan hàng hóa Kiểm tra sau thông quan
Đối với thủ tục hải quan thông thường, người khai hải quan sẽ tự kê khai những nội dung theo các tiêu thức trên tờ khai hải quan và phải xuất trình đầy đủ bộ
hồ sơ kèm các tài liệu cần thiết tại Chi cục Hải quan Công chức hải quan sẽ đăng
ký và tiếp nhận hồ sơ vào giờ hành chính theo quy định của pháp luật ngay sau khi người khai xuất trình bộ hồ sơ Hàng hóa sẽ được phân vào 1 trong 3 luồng: luồng xanh, luồng vàng và luồng đỏ dựa trên hai tiêu chí (thương nhân và mặt hàng) Sau khi phân luồng hàng hóa, Chi cục Hải quan sẽ quyết định hình thức kiểm tra, tỷ lệkiểm tra và miễn kiểm tra, từ đó quyết định thông quan hoặc xử lý nếu có vi phạm Hình thức thủ tục này đòi hỏi sự có mặt thường xuyên và tiếp xúc trực tiếp của cảngười khai hải quan và công chức hải quan
Theo Thông tư Số 222/2009/TT-BTC của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn thí điểm thủ tục hải quan điện tử, thủ tục hải quan điện tử được định nghĩa như sau:
Trang 11Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
“Thủ tục hải quan điện tử là thủ tục hải quan trong đó việc khai báo, tiếp nhận, xử
lý thông tin khai hải quan, ra quyết định được thực hiện thông qua Hệ thống xử lý
dữ liệu điện tử hải quan.”
Quyết định Số 149/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện thí điểm thủ tục hải quan điện tử có nêu đặc điểm của thủ tục hải quan điện tửlà: “Thủ tục hải quan điện tử được thực hiện bằng các phương tiện điện tử thông qua Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử của cơ quan hải quan”
Từ đó, có thể rút ra khái niệm về thủ tục hải quan điện tử như sau: Thủ tục hải quan điện tử là thủ tục hải quan trong đó việc khai, tiếp nhận, xử lý thông tin khai hải quan, trao đổi các thông tin khác theo quy định của pháp luật về thủ tục hải quan giữa các bên có liên quan được thực hiện thông qua Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan Trong đó, Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan được hiểu là hệthống thông tin do Tổng cục Hải quan quản lý tập trung, thống nhất, sử dụng đểthực hiện thủ tục hải quan điện tử
1.1.2 Quy trình thủ tục hải quan điện tử
Theo quan điểm của Tổ chức Hải quan thế giới (WCO), khi thực hiện thủ tục hải quan điện tử:
Người khai hải quan được khai và truyền số liệu khai hải quan bằng phương tiện điện tử đến cơ quan hải quan thông qua tổ chức truyền nhận chứng từđiện tử (người khai hải quan không phải đến cơ quan hải quan để nộp, đăng ký tờkhai như quy trình thủ tục hải quan truyền thống)
Cơ quan hải quan xử lý phân luồng hàng hóa và quyết định hình thức kiểm tra thông qua hệ thống xử lý dữ liệu điện tử tự động trên cơ sở phân tích xử lý thông tin
Người khai hải quan tự khai, tự nộp thuế và các khoản thu khác, chịu trách nhiệm về nội dung khai hải quan của mình
Cơ quan hải quan quyết định thông quan hàng hóa dựa trên kết quả xử lý
dữ liệu trên hệ thống Công nghệ thông tin
Trang 12Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Sơ đồ 1.1 Quy trình thủ tục hải quan điện tử Việt Nam
Căn cứ vào Quyết định Số 988/QĐ-TCHQ của Tổng cục Hải quan về việc ban hành quy trình thủ tục hải quan điện tử đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thương mại và Thông tư Số 22/2014/TT-BTC của Bộ Tài chính quy định thủ tục hải quan điện tử đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thương mai, quy trình thủ tục hải quan điện tử của Việt Nam bao gồm 5 bước Cụ thể như sau:
Bước 1: Tiếp nhận, kiểm tra, đăng ký, phân luồng tờ khai
o Hệ thống tự động tiếp nhận, kiểm tra, hướng dẫn (nếu có) cho người khai hải quan và cấp số tiếp nhận đối với bản thông tin đăng ký trước
o Hệ thống tự động tiếp nhận, kiểm tra, hướng dẫn (nếu có), cấp số và phân luồng tờ khai hải quan sau khi thông tin khai báo được chấp nhận theo một trong 3hình thức sau:
Trang 13Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Chấp nhận thông tin tờ khai hải quan điện tử, miễn kiểm tra hồ sơ và miễn kiểm tra thực tế hàng hóa Tờ khai được phân vào luồng 1 – xanh, Hệ thống chuyển
tờ khai hải quan sang bước 4 của Quy trình
Yêu cầu xuất trình, nộp chứng từ giấy thuộc hồ sơ hải quan để kiểm tra, tờkhai được phân vào luồng 2 – vàng
Yêu cầu xuất trình, nộp chứng từ giấy thuộc hồ sơ hải quan và hàng hóa
để kiểm tra, tờ khai được phân vào luồng 3 – đỏ
Bước 2: Kiểm tra hồ sơ hải quan (đối với luồng 2 – vàng và luồng 3 – đỏ)
o Công chức hải quan sẽ tiếp nhận chứng từ giấy do người khai hải quan xuất trình, kiểm tra và đối chiếu với thông tin tờ khai hải quan điện tử trên Hệ thống
o Cập nhật kết quả kiểm tra vào Hệ thống và trừ lùi các danh mục đã đăng
ký (nếu có)
Bước 3: Kiểm tra thực tế hàng hóa
o Hình thức kiểm tra: do công chức hải quan trực tiếp thực hiện thủ công hoặc bằng dụng cụ, máy móc, thiết bị kỹ thuật hay bằng các biện pháp nghiệp vụkhác
o Mức độ kiểm tra: miễn kiểm tra, kiểm tra một phần lô hàng, kiểm tra toàn
Bước 4: Quản lý hoàn chỉnh hồ sơ
o Thu thuế: Hệ thống tự động kiểm tra việc nộp thuế của tờ khai hải quan trên cơ sở thanh toán của người khai hải quan được cập nhật trên Hệ thống Trường hợp người khai hải quan đã hoàn thành nghĩa vụ về thuế nhưng thông tin về việc thanh toán thuế chưa được cập nhật kịp thời trên Hệ thống thì công chức hải quan
Trang 14Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
căn cứ bản chỉnh chứng từ chứng minh việc hoàn thành nghĩa vụ thuế do người khai hải quan xuất trình (lưu 01 bản chụp có xác nhận của người khai hải quan) để thực hiện nghiệp vụ RCC trên Hệ thống VNACCS xác nhận tờ khai đã hoàn thành nghĩa
vụ thuế
o Xác nhận thông quan/giải phóng hàng/đưa hàng về bảo quản/vận chuyển hàng về địa điểm kiểm tra đối với tờ khai luồng vàng, luồng đỏ
o Quản lý, hoàn chỉnh hồ sơ:
Công chức được giao nhiệm vụ quản lý, hoàn chỉnh hồ sơ theo dõi, quản
lý và hoàn chỉnh hồ sơ của các lô hàng đã được “Thông quan”, “Giải phóng hàng”,
“Đưa hàng về bảo quản”, mà còn nợ các chứng từ được phép chậm nộp thuộc bộ hồ
sơ hải quan hoặc còn vướng mắc chưa hoàn tất thủ tục hải quan
Công chức hải quan đã giải quyết thủ tục cho lô hàng tại các Bước 2, Bước 3 có trách nhiệm tiếp nhận các chứng từ chậm nộp, xử lý các vướng mắc của
lô hàng Sau khi hoàn thành thì chuyển cho công chức được giao nhiệm vụ quản lý, hoàn chỉnh hồ sơ Công chức quản lý, hoàn chỉnh hồ sơ kiểm tra việc hoàn chỉnh của hồ sơ, đưa vào lưu trữ nếu đã đầy đủ hồ sơ theo quy định
Bước 5: Quản lý hàng hóa qua khu vực giám sát hải quan
o Trường hợp khu vực giám sát hải quan đã triển khai Hệ thống VNACCS: Việc giám sát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu ra, vào khu vực giám sát hải quan được thực hiện trên Hệ thống e-Customs tại Văn phòng Đội giám sát và Bộ phận giám sát cổng khu vực giám sát thuộc Chi cục Hải quan quản lý khu vực giám sát thực hiện Trong trường hợp Chi cục Hải quan quản lý khu vực giám sát không phân chia thành Văn phòng Đội giám sát và Bộ phận giám sát cổng khu vực giám sát, hoặc không có Đội giám sát chuyên trách thì Chi cục trưởng Chi cục Hải quanquản lý khu vực giám sát chịu trách nhiệm phân công công chức phù hợp thực hiện
o Trường hợp khu vực giám sát chưa triển khai Hệ thống VNACCS:
Công chức hải quan tiếp nhận, kiểm tra các chứng từ của người khai hải quan phải xuất trình; kiểm tra hiệu lực của tờ khai hải quan; đối chiếu Tờ khai hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu in có xác nhận của Chi cục Hải quan nơi đăng ký tờ khai
do người khai hải quan xuất trình, Bảng kê số container với hàng hóa làm căn cứ đểxác nhận hàng đã qua khu vực giám sát
Trang 15Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Xử lý kết quả kiểm tra: Công chức hải quan giám sát sau khi kiểm tra nếu phù hợp thì đóng dấu xác nhận “Hàng đã qua khu vực giám sát” theo mẫu dấu quy định tại Phụ lục kèm theo Quyết định này, ký tên, đóng dấu công chức vào phía dưới dấu xác nhận của Chi cục Hải quan nơi đăng ký tờ khai giao cho người khai hải quan nộp lại Chi cục Hải quan nơi đăng ký tờ khai Trường hợp kết quả kiểm tra không phù hợp, công chức hải quan giám sát báo cáo Chi cục trưởng xem xét giải quyết cụ thể theo thẩm quyền hoặc phối hợp với Chi cục Hải quan nơi đăng ký tờkhai theo quy định hiện hành
1.1.3 Vai trò của hải quan điện tử
Hiện nay, hầu hết các nước trên thế giới và đặc biệt là những nước phát triển
đã chuyển trọng tâm từ kiểm tra hàng hóa sang kiểm tra thông tin hải quan qua mạng để xác định xác biện pháp kiểm tra dựa trên cơ sở quản lý rủi ro Bằng cách ứng dụng Công nghệ thông tin trong hoạt động nghiệp vụ, cơ quan hải quan có thểnắm được đầy đủ thông tin về hàng hóa trước khi hàng xuất hoặc nhập khẩu, đồng thời theo dõi nợ đọng thuế của doanh nghiệp và tạo điều kiện cho nhiều dịch vụthương mại Từ đó, có thể thấy việc ứng dụng mô hình hải quan điện tử là một xu thế tất yếu và có vai trò quan trọng đối với nâng cao hiệu quả công tác của ngành Hải quan, mang lại lợi ích cho cả cơ quan Hải quan và Doanh nghiệp
1.1.3.1 Lợi ích mang lại cho Hải quan
Nâng cao hiệu quả công tác thông quan hàng hóa: Với các quy trình thủtục hải quan điện tử đơn giản, hài hòa, thống nhất và phù hợp với chuẩn mực quốc
tế, hiệu quả trong công tác thông quan hàng hóa được gia tăng nhanh chóng Đây làyếu tố rất quan trọng góp phần giảm thời gian thông quan, chi phí và thủ tục hànhchính, giấy tờ cho doanh nghiệp, đồng thời tăng sức cạnh tranh và tạo lập môitrường đầu tư thông thoáng, thống nhất và hấp dẫn cho doanh nghiệp
Áp dụng thủ tục hải quan điện tử giúp nâng cao chất lượng cán bộ hảiquan với trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao và tinh thần phục vụ doanh nghiệpvăn minh, lịch sự, có kỷ cương, kỷ luật và trung thực,… Việc này sẽ làm giảmphiền hà, sách nhiễu đối với doanh nghiệp
Trang 16Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Tăng cường hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, thu thập và quản lý sốliệu thống kê của cơ quan hải quan, từ đó tiến tới thực hiện quy trình quản lý thống nhất:
o Việc thực hiện thủ tục hải quan điện tử giúp thông tin giữa hệ thống của hải quan và doanh nghiệp được quản lý đồng bộ trên máy tính, tạo điều kiện thuận lợi cho việc lưu trữ, tìm kiếm và tra cứu thông tin Doanh nghiệp thực hiện thủ tục hải quan điện tử sẽ được cơ quan hải quan cung cấp thông tin về quá trình xử lý hồ
sơ hải quan điện tử thông qua hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan Ứng dụng Công nghệ thông tin trong quản lý hải quan cho phép hải quan và doanh nghiệp có thể ngay lập tức truy cập và cập nhật các thông tin về hàng hóa xuất nhập khẩu một các đầy đủ và chi tiết
o Số lượng cũng như mức độ phức tạp của các văn bản pháp luật liên quan đến hải quan ngày càng gia tăng, gây khó khăn cho cơ quan hải quan trong việc kiểm soát và xác định các quy định về quản lý điều chỉnh hoạt động xuất nhập khẩu nếu như áp dụng thủ tục hải quan truyền thống Khi chuyển sang ứng dụng thủ tục hải quan điện tử, mọi thủ tục hải quan đều được quản lý bằng hệ thống máy tính theo một quy trình thống nhất, đảm bảo việc ứng dụng một các xuyên suốt và chặt chẽ các quy định quản lý của nhà nước về thủ tục hải quan và hoạt động xuất nhập khẩu
Tăng cường hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của cơ quan hải quan và nâng cao hiệu quản thu ngân sách:
o Một trong các chức năng của cơ quan hải quan là tính thuế và thu thuếtrong hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa Bằng cách áp dụng Công nghệ thông tin, quá trình tính thuế, theo dõi nợ thuế và nộp thu ngân sách được tự động hóa thông qua hệ thống khai báo và thông quan điện tử Nhờ vậy, cơ quan hải quan có thể đảm bảo được nguyên tắc thu thuế đúng, đầy đủ và kịp thời nộp và ngân sách Nhà nước
o Việc kiểm tra, giám sat của hải quan nhằm chống buôn lậu và gian lận thương mại Trong thủ tục hải quan điện tử, cơ quan hải quan thu thập được thông tin về hàng hóa và doanh nghiệp từ nhiều nguồn khác nhau Việc thu thập thông tin cũng diễn ra nhanh chóng hơn so với khi tìm hiểu thông tin trong thủ tục hải quan
Trang 17Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
thông thường Nhờ đó, hải quan có thể phân luồng để quyết định kiểm tra hàng hóa cũng như tiến hành sàng lọc, phân loại các doanh nghiệp có mức độ rủi ro cao đểtiến hành kiểm tra
1.1.3.2 Lợi ích đối với doanh nghiệp
Thực hiện thủ tục hải quan điện tử sẽ giúp giảm chi phí và tiết kiệm thờigian và nhân lực cho doanh nghiệp
o Doanh nghiệp có thể khai thông tin vào tờ khai điện tử tại bất cứ địa điểm nào có máy tính kết nối mạng Internet và gửi đến cơ quan hải quan, không phải đến
cơ quan hải quan cửa khẩu để làm thủ tục đăng ký tờ khai hải quan (khai báo hảiquan) Và thời gian khai báo cũng linh hoạt hơn khi doanh nghiệp có thể khai hải quan điện tử vào bất kỳ thời điểm nảo chứ không phải bắt buộc khai tại các Chi cục Hải quan vào giờ hành chính như trước Thông tin khai báo sẽ được cơ quan hải quan sẽ tiếp nhận khai báo trong giờ hành chính
o Tờ khai điện tử được in từ hệ thống của doanh nghiệp, có chữ ký và đóng dấu của doanh nghiệp được sử dụng thay cho tờ khai giấy và các chứng từ kèm theo
để đi nhận hàng
o Tốc độ thông quan, tính chính xác và kịp thời trong xử lý công việc cũng được tăng lên nhanh chóng, còn chi phí và tình trạng tắc nghẽn các luồng lưu chuyển hàng hóa tại các cửa khẩu được giảm xuống một cách đáng kể Nhờ vào các thông tin do doanh nghiệp khai báo, cơ quan Hải quan có thể kiểm tra các thông tin
về lô hàng và có thể đưa ra quyết định thông quan cho lô hàng trước khi hàng hóa đến hoặc đi ra khỏi lãnh thổ hải quan Nếu hàng hoá thuộc luồng xanh (hàng hoámiễn kiểm tra hồ sơ giấy và miễn kiểm tra thực tế) thì doanh nghiệp chỉ cần hoànthành thủ tục qua mạng và việc thông quan hàng hoá xuất nhập khẩu sẽ được diễn
ra ngay sau đó Đối với hàng hoá thuộc luồng vàng và đỏ thì thủ tục cũng khôngquá phức tạp Việc này giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí và thời gian đi lại làmthủ tục, thông qua đó tăng cường khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Các quy định, chính sách liên quan được công bố một cách đầy đủ vàminh bạch trên webiste Hải quan Việc này giúp cho doanh nghiệp chủ động trong
Trang 18Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
các hoạt động xuất nhập khẩu của mình, kịp thời nắm bắt được những thay đổi vềyêu cầu, quy trình làm thủ tục hải quan
Bên cạnh đó, nhờ thực hiện thủ tục hải quan hiện đại, trong thời gian tới,doanh nghiệp Việt Nam sẽ dễ dàng tiếp cận và thuận lợi hơn trong việc thực hiệnthông lệ, chuẩn mực quốc tế Đây là một yếu tố rất quan trọng khi doanh nghiệp cóquan hệ hợp tác làm ăn với nước ngoài và mở rộng thị trường quốc tế Điều này đặcbiệt cần thiết trong bối cảnh kinh tế trong nước và quốc tế có nhiều khó khăn nhưhiện nay
Đối với những doanh nghiệp là thương nhân ưu tiên đặc biệt còn đượchưởng những lợi ích như được sử dụng tờ khai hải quan tạm để giải phóng hàng;được hoàn thành thủ tục thông quan trên cơ sở sử dụng tờ khai điện tử một lần/01tháng cho tất cả hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu thường xuyên với cùng một đối tác,cùng một loại hình xuất khẩu, nhập khẩu, đã được giải phóng hàng theo các tờ khaitạm; được kiểm tra hồ sơ hoặc kiểm tra thực tế hàng hoá tại trụ sở của thương nhân
ưu tiên đặc biệt hoặc tại địa điểm khác do thương nhân ưu tiên đặc biệt đăng ký,được cơ quan hải quan chấp nhận; được thực hiện thủ tục hải quan điện tử trongthời gian 24 giờ trong ngày và 7 ngày trong tuần
1.2 Cơ chế một cửa quốc gia trong thủ tục hải quan điện tử
1.2.1 Khái niệm
Theo mô tả trong Khuyến nghị số 33 (2005) (Khuyến nghị và hướng dẫn vềxây dựng cơ chế một cửa nhằm thúc đẩy việc trao đổi thông tin giữa cộng đồng thương mại và chính phủ) do Trung tâm tạo thuận lợi thương mại và thương mại điện tử của Liên hợp quốc UN/CEFACT đưa ra, “Cơ chế một cửa quốc gia” hay
“Hệ thống một cửa” là một tiện ích cho phép các bên liên quan trong thương mại và vận chuyển khai báo thông tin và các chứng từ được chuẩn hóa tới một điểm tiếp nhận duy nhất để hoàn thành các yêu cầu thủ tục nhập khẩu, xuất khẩu và quá cảnh Nếu thông tin dạng điện tử, thì các phần tử dữ liệu riêng biệt chỉ phải gửi một lần.Hiện nay, các định nghĩa về cơ chế một cửa mà các quốc gia đưa ra đều áp dụng và được phát triển dựa trên định nghĩa này
Trang 19Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Ở Việt Nam, khái niệm cơ chế một cửa quốc gia được nêu trong Quyết định
Số 2599/QĐ-BCĐASW về Phê duyệt kế hoạch tổng thể triển khai Cơ chế một cửa quốc gia và tham gia Cơ chế một cửa ASEAN giai đoạn 2008 – 2012 do Ban chỉđạo quốc gia về cơ chế một cửa ASEAN ban hành Theo đó, Cơ chế một cửa quốc gia là hệ thống tích hợp cho phép:
Các bên tham gia hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh nộp/ gửi thông tin và chứng từ chuẩn hóa tới một điểm tiếp nhận duy nhất;
Các cơ quan chính phủ xử lý dữ liệu, thông tin và ra quyết định dựa trên
hệ thống các quy trình, thủ tục thống nhất và đồng bộ; ra quyết định và gửi quyết định này tới hệ thống dựa trên thỏa thuận cung cấp và trao đổi thông tin thống nhất giữa các cơ quan chính phủ; và
Cơ quan hải quan ra quyết định cuối cùng về việc thông quan và giải phóng hàng hóa xuất khẩu/ nhập khẩu/ quá cảnh; phương tiện vận tải xuất cảnh/ nhập cảnh/ quá cảnh căn cứ trên các quyết định của các cơ quan chính phủ có liên quan được hệ thống chuyển tới một cách kịp thời dựa trên quy định về cung cấp dịch vụ công của các cơ quan chính phủ
Trong khoản I – Điều 1 – Những định nghĩa và khái niệm chung của Nghịđịnh thư về xây dựng và thực hiện cơ chế một cửa ASEAN (Protocol to Establish and Implement The ASEAN Single) cũng có nêu ra định nghĩa về khái niệm này Theo đó, Hệ thống một cửa quốc gia (National Single Window – NSW) là một hệthống cho phép:
Việc xuất trình một lần dữ liệu và thông tin;
Việc xử lý thông tin và dữ liệu đồng thời và một lần;
Việc ra quyết định một lần cho việc giải phóng và thông quan hàng hóa Việc ra quyết định một lần được hiểu một cách thống nhất là cơ quan Hải quan sẽ ra quyết định một lần duy nhất cho việc giải phóng hàng hóa dựa trên cơ sở các quyết định của các Bộ, Ban ngành chức năng có liên quan được gửi tới cho Cơ quan Hải
quan một cách kịp thời, nếu có (Protocol to establish and implement the ASEAN Single Window, tr.2)
Trang 20Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Còn theo quan điểm của Tổ chức Hải quan thế giới WCO nêu ra trong WCO – Tập 1 (WCO Volume 1) thì định nghĩa về Cơ chế một cửa luôn giữ vững quan điểm thực hiện “ việc xuất trình một lần” đối với các cơ quan chính phủ đòi hỏi thông tin từ các nhà xuất nhập khẩu và người chuyên chở để đảm bảo tuân thủ các quy định khi hàng hóa, người và phương tiện vận tải di chuyển qua biên giới Việc
di chuyển qua biên giới bao gồm xuất khẩu, nhập khẩu và quá cảnh “Việc xuất trình một lần” hàm ý tránh việc xuất trình nhiều lần và lặp lại cùng một thông tin đến các cơ quan chính phủ “Việc xuất trình một lần” không đồng nghĩa với việc gửi tất cả các loại thông tin trong cùng một lần gửi duy nhất Dữ liệu có thể được chia ra gửi nhiều lần, cho phép người khai hải quan cung cấp các thông tin theo trật
tự hợp lý của các bước giao dịch tuân theo các quy định về thông quan trong cả quá trình
“Việc xuất trình một lần” không thể thực hiện được nếu thông tin và chứng
từ không được tiêu chuẩn hóa Cụm từ “xuất trình” trong “xuất trình một lần” ngụ ý việc cung cấp thông tin theo luật định tới một Chi cục Hải quan và ở đây hải quan
sẽ đưa ra quyết định hoặc xác nhận về những dữ liệu đã gửi tới Chứng từ và thông tin đã đăng ký sẽ coi là một “tờ khai” hoặc “đề nghị thông quan” Người khai hải quan sẽ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chân thực của thông tin trong
tờ khai hải quan
Quá trình giao dịch theo cơ chế một cửa là một tập hợp các hoạt động có liên quan và có tổ chức để đạt được yêu cầu xuất trình một lần cho người giao dịch và người vận tải Những quy trình đó bao gồm cả việc các cơ quan chính phủ phản hồi lại những thông tin cho doanh nghiệp, tuy nhiên, phải nói rõ thêm là khái niệm này
ám chỉ những phản hồi mang tính hài hòa và hợp tác theo đúng quy định về thông quan hàng hóa của Chi cục Hải quan cho người khai hải quan Việc tránh gửi những thông tin thừa thãi từ cơ quan hải quan đến doanh nghiệp và ngược lại sẽ giúp cho những tiềm năng về xây dựng Môi trường một cửa quốc gia dần được bộc lộ.(World Customs Organization, 2011, Volume 1, tr 17)
Việc thực hiện cơ chế một cửa quốc gia là một xu thế tất yếu trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Hải quan trong công cuộc hiện đại hóa Cơ chế một cửa quốc gia sẽ mang lại rất nhiều lợi ích cho cả các cơ quan nhà nước và doanh nghiệp
Trang 21Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Để thông quan 1 lô hàng có thể phải đi xin giấy phép của nhiều bộ ngành khác nhau rất mất thời gian và phải chuẩn bị nhiều chứng từ, đặc biệt những chứng từ này có thể bị lặp lại nhiều lần tại nhiều Cơ quan chính phủ khác nhau Cơ chế một cửa quốc gia cho phép doanh nghiệp chỉ phải nộp 1 bộ hồ sơ duy nhất Đó cũng sẽ là điểm trung chuyển hồ sơ đến những nơi yêu cầu và trả hồ sơ theo đúng thời hạn cốđịnh Cơ chế một cửa quốc gia giúp đơn giản hóa và hài hòa thủ tục đối với hàng hóa xuất nhập khẩu, quá cảnh, đồng thời rút ngắn thời gian và giảm chi phí trong các thủ tục thông quan, giải phóng hàng hóa xuất nhập khẩu, quá cảnh, bên cạnh đó nâng cao chất lượng, tính chính xác của thông tin, chứng từ do cộng đồng doanh nghiệp và các chủ thể kinh tế cung cấp
Không những vậy, Cơ chế một cửa quốc gia giúp đảm bảo tính công khai, minh bạch và nâng cao tính dự báo của các cơ chế, chính sách do chính phủ ban hành; nâng cao năng lực quản lý nhà nước của các cơ quan chính phủ và năng lực quản lý, điều hành của các chủ thể kinh tế; làm tăng khả năng cạnh tranh với các hàng nội địa, thâm nhập vào các thị trường lớn cũng như tiếp cận nhiều nguồn lực phục vụ sản xuất Từ đó, sẽ là tiền đề để sẵn sàng kết nối với cơ chế một cửa ASEAN theo trao đổi thông tin thương mại với các đối tác thương mại khác trên toàn cầu
1.2.2 Mô hình cơ chế một cửa quốc gia trong thủ tục hải quan điện tử
1.2.2.1 Mô hình cơ chế một cửa quốc gia trong thủ tục hải quan điện tử
Có sáu thành phần chính trong hoạt động vận tải và thương mại quốc tế liên kết với nhau trong mô hình khái niệm cơ chế một cửa quốc gia, bao gồm:
Cơ quan Hải quan chịu trách nhiệm về thông quan và giải phóng hàng hóa xuất khẩu/ nhập khẩu/ quá cảnh; phương tiện vận tải xuất cảnh/ nhập cảnh/ quá cảnh
Các cơ quan chính phủ tham gia quản lý nhà nước về hoạt động vận tải, thương mại quốc tế
Các thể chế tài chính, ngân hàng, cơ quan bảo hiểm
Cộng đồng vận tải, giao nhận
Cộng đồng doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu, nhập khẩu…
Trang 22Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Các thành viên ASEAN và các đối tác thương mại khác trên toàn cầu
Sơ đồ 1.2 Mô hình khái niệm cơ chế một cửa quốc gia
1.2.2.2 Chức năng cơ bản của mô hình một cửa trong thủ tục hải quan điện tử
Cơ chế một cửa quốc gia có những chức năng cơ bản mang tính khái quát sau đây:
Cổng thông tin hướng dẫn về quy định và chính sách: chức năng này cung cấp thông tin hướng dẫn về chính sách; quy trình thủ tục; yêu cầu hồ sơ, chứng từ,
dữ liệu;… để thực hiện các hoạt động vận tải và thương mại quốc tế trong và ngoài nước
Kho dữ liệu quốc gia về thương mại và vận tải: chức năng này cho phép các chính phủ và các bên liên quan quản lý, lưu giữ và khai thác thông tin tổng hợp
về hoạt động vận tải và thương mại quốc tế
Kho dữ liệu quốc gia về các bên tham gia: chức năng này cho phép chính phủ và các bên liên quan quản lý các bên tham gia; đăng lý, thu hồi, gia hạn, phân quyền… truy nhập, tác nghiệp,… hệ thống một cửa quốc gia
Bộ tiêu chuẩn kỹ thuật: chức năng này cho phép hệ thống thực hiện các nghiệp vụ xử lý thông tin, hỗ trợ và ra quyết định trên nền tảng các quy tắc xử lý nghiệp vụ chuẩn hóa và tự động hóa Chức năng có thể chia ra thành các nhóm phục
vụ cho từng đối tượng cụ thể bao gồm:
Trang 23Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
o Nhóm chức năng quản lý hải quan,
o Nhóm chức năng xử lý nghiệp vụ quản lý của các cơ quan chính phủ có liên quan,
o Nhóm chức năng về thanh toán và bảo hiểm,
o Nhóm chức năng về nghiệp vụ vận tải, giao nhận,
o Nhóm chức năng liên chính phủ
Giao tiếp và trao đổi thông tin: Chức năng này cung cấp hệ thống các giao diện và dịch vụ cho các bên liên quan (bao gồm cộng đồng thương mại và các cơ quan chính phủ) để tiếp nhận, trao đổi thông tin với nhau để thực hiện các quy định, quy trình thủ tục liên quan đến hoạt động thương mại
1.2.3 Điều kiện triển khai mô hình một cửa trong thủ tục hải quan điện tử
Theo Khuyến nghị Số 33 – Khuyến nghị và hướng dẫn về việc xây dựng Cơ chế một cửa nhằm nâng cao hiệu quả trao đổi thông tin giữa doanh nghiệp và chính phủ do UN/CEFACT xuất bản, trong quá trình xây dựng cơ chế một cửa, chính phủ
và các doanh nghiệp được khuyến khích nên sử dụng các khuyến nghị, chuẩn mực
và các công cụ hiện hữu đã được phát triển trong nhiều năm qua bởi các cơ quan liên chính phủ và các tổ chức quốc tế như UNECE, UNCTAD, WCO, IMO, ICAO
và ICC Việc xây dựng và thực hiện hiệu quả cơ chế một cửa quốc gia phụ thuộc vào một số tiền đề nhất định và một số yếu tố quan trọng mà cần được áp dụng linh hoạt cho từng nước và từng dự án phát triển Tổng kết lại, UN/CEFACT lập ra danh sách các yếu tố tạo nên sự thành công khi xây dựng cơ chế một cửa dựa vào các nghiên cứu được UN/CEFACT tiến hành Bao gồm:
Ý chí của các cấp lãnh đạo: Sự tồn tại của ý chí chính trị quyết đoán vềviệc thực hiện cơ chế một cửa hiện diện trong cả chính phủ và doanh nghiệp là một trong những yếu tố quan trọng cho sự thành công của việc triển khai cơ chế này Đểđạt được ý chí này, nó đòi hỏi phải có thông tin rõ ràng và toàn diện về mục tiêu, hệquả, lợi ích và các trở ngại có thể gặp phải trong quá trình triển khai cơ chế một cửa Tính sẵn có của các nguồn lực cũng có quan hệ trực tiếp đến mức độ của ý chí
Trang 24Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
chính trị sự ràng buộc với cơ chế này Việc đạt được quan điểm chính trị cần thiết sẽ
là nền tảng cho mọi yếu tố thành công khác tiếp nối theo
Cơ quan chức năng có đủ tiềm lực: Liên quan đến sự cần thiết về quan điểm chính trị là yêu cầu phải có cơ quan đầu não mạnh,giàu tiềm lực và có đủ thẩm quyền để tiến hành dự án này và bao quát được từng giai đoạn phát triển của nó Tổchức này phải có sự hỗ trợ phù hợp về mặt chính trị, thẩm quyền pháp lý, nguồn tài chính và nguồn nhân lực cần thiết, và có sự liên kết với cộng đồng doanh nghiệp Bên cạnh đó, cũng cần phải có một cá nhân ưu tú trong tổ chức để làm người chỉđạo cho đề án này
Sự phối hợp chặt chẽ giữa chính phủ và cộng đồng doanh nghiệp: Cơ chếmột cửa là một mô hình thực tế về sự hợp tác giữa các cơ quan nhà nước với nhau
và giữa cơ quan chức năng với doanh nghiệp Nó đại diện cho một cơ hội thuận lợi
để xây dựng mối quan hệ Nhà nước – tư nhân trong việc xây dựng và vận hành hệthống Từ đó, các đại biểu của tất cả các cơ quan chính phủ và tư nhân có liên quan
sẽ được tham gia vào mọi giai đoạn trong quá trình phát triển của hệ thống này từlúc sơ khai, giai đoạn phân tích vị thế, giai đoạn thiết kế dự án và xuyến suốt đến khi thực hiện mô hình Sự thành công cuối cùng của mô hình một cửa phụ thuộc vào sự hợp tác, sẵn sàng và phối hợp thực hiện của các bên tham gia để đảm bảo rằng hệ thống này sẽ trở thành mô hình chung cho quy trình thương mại của họ
Đặt ra mục tiêu và phạm vi cụ thể cho việc triển khai cơ chế: Giống như bất kỳ dự án nào, việc xác định rõ ràng mục tiêu và kỳ vọng cho việc xây dựng cơ chế một cửa từ khi bắt đầu sẽ giúp định hướng cho dự án theo các giai đoạn khác nhau Điều này cần dựa trên một bản phân tích kỹ lưỡng về nhu cầu, kỳ vọng và nguồn lực của các nhà đầu tư chủ chốt, đồng thời cũng dựa trên những cơ sở hạ tầng sẵn có và thực trạng tiếp cận tới những thông tin thương mại được đệ trình lên chính phủ Như đã nêu ở trên, bản phân tích này phải đề cập đến những nhà đầu tư bao gồm cả Nhà nước và tư nhân Cơ chế một cửa thường được nhìn nhận như một phần nằm trong tổng thể chiến lược thuận lợi hóa thương mại
Hệ thống dễ dàng truy cập và thân thiện với người sử dụng:
o Khả năng truy cập dễ dàng và thân thiện với người sử dụng cũng là những yếu tố chiến lược tác động đến kết quả của kế hoạch triển khai cơ chế một cửa
Trang 25Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Những hướng dẫn và chỉ dẫn vận hành toàn diện nên được cung cấp cho người dùng
Bộ phần trợ giúp và dịch vụ hỗ trợ người sử dụng, bao gồm cả việc đào tạo, nên được thành lập, đặc biệt là trong giai đoạn đầu của quá trình Bộ phận hỗ trợ sẽ là kênh hữu ích cho việc thu thập thông tin phản hồi về những vấn đề vướng mắc trong hệ thống, và những thông tin này còn có thể trở thành công cụ có giá trị cho việc phát triển trong tương lai Giá trị và sự cần thiết của các khóa đào tạo thực hành cho người dùng cần được nhấn mạnh, đặc biệt là trong thời kỳ đầu của việc triển khai Ngoài ra, cần chú trọng đến yêu cầu đa ngôn ngữ ở một số quốc gia
o Thiết kế của dự án cần được điều chỉnh hài hòa với trình độ Công nghệthông tin của nước hoặc khu vực đang áp dụng cơ chế này Có tầm nhìn bao quát vềtiềm năng phát triển công nghệ trong tương lai của khu vực này và số lượng người dùng tối đa có thể có sẽ giúp việc áp dụng cơ chế một cửa đạt hiệu quả ngay từ lúc ban đầu Trong nhiều trường hợp, điều này còn chi phối hệ thống thông quan truyền thống hay hệ thống thông quan kết hợp điện tử và truyền thống
Môi trường pháp lý cần thiết: Việc tạo lập môi trường pháp lý là điều kiện tất yếu cho việc triển khai cơ chế một cửa Các nguồn luật và giới hạn pháp lý có liên quan cần được làm rõ và phân tích một cách kỹ lưỡng Ví dụ, việc thay đổi vềluật pháp đôi khi là cần thiết để tạo thuận lợi cho cho việc trao đổi/ nộp dữ liệu điện
tử và/ hoặc hệ thống chữ ký điện tử Hơn nữa, các hạn chế liên quan tới việc chia sẻthông tin giữa các nhà chức trách và các chi cục cũng như việc sắp xếp có tổ chức cho quá trình vận hành cơ chế một cửa cũng cần phải được khắc phục Đồng thời, các vấn đề pháp lý về ủy quyền lãnh đạo và điều hành cho một cơ quan đứng đầu cũng cần được xem xét
Áp dụng các chuẩn mực và khuyến nghị quốc tế:
o Việc triển khai cơ chế một cửa về cơ bản là kế thừa sự hài hòa và liên kết của các văn bản thương mại và các bộ dữ liệu có liên quan Để đảm bảo khả năng tích hợp với các hệ thống và ứng dụng quốc tế khác, các văn bản và mô hình dữ liệu này phải được dựa trên nền tảng các chuẩn mực và khuyến nghị quốc tế Điều này
là chính xác kể cả khi mô hình một cửa được thiết kế để vận hành mà không sửdụng đến các phương tiện kết nối dữ liệu điện tử
Trang 26Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
o Bất cứ khi nào việc trao đổi dữ liệu điện tử có can thiệp vào quy trình thì tính hài hòa, tính đơn giản và tính chuẩn mực của tất cả dữ liệu được sử dụng trong giao dịch thương mại quốc tế trở thành yêu cầu thiết yếu cho việc vận hành một cách tự động và trơn tru của cơ chế Sự hài hòa của các dữ liệu được sử dụng bỏi các thành phần tham gia khác nhau trong quy trình pháp lý của họ có thể coi là thách thức lớn nhất đối với việc xây dựng Cơ chế một cửa tự động
Nhận thức rõ được các trở ngại có thể gặp phải: Cũng có khả năng là tất cảcác thành viên trong chính phủ và/ hoặc các doanh nghiệp không hào hứng với việc
áp dụng Cơ chế một cửa Trong những tình huống như vậy, cần nhanh chóng xác định rõ những mối quan tâm đặc biệt của những người có ý kiến trái chiều Những trở ngại đã được chỉ ra cần được quan tâm riêng biệt và phải được xem xét theo tình hình và những yêu cầu của từng địa phương Rõ ràng là chi phí sẽ là một trở ngại lớn nhưng việc triển khai cơ chế này cần được xem xét đến những lợi ích về lâu vềdài trong tương lai Tuy nhiên, điều quan trọng là cần làm rõ được vấn đề tài chính của dự án để đưa ra quyết định về việc triển khai đồng bộ toàn diện hay theo từng giai đoạn Vấn đề về pháp luật cũng được coi là một vấn đề có nhiều khả năng xảy
ra ở từng khu vực
Mô hình tài chính phù hợp: Lựa chọn mô hình tài chính cho việc triển khai
mô hình cơ chế một cửa cần được quyết định sớm nhất có thể ngay khi tiến hành dự
án Đây có thể là một hệ thống được duy trì bằng nguồn vốn nhà nước (ví dụ như ở
Hà Lan) hoặc là hệ thống hoàn toàn tự chủ tài chính (như ở Mauritius) Đồng thời, cũng cần phát hiện những tiềm năng về mối quan hệ hợp tác giữa nhà nước và tư nhân nếu như đây là một cách tiếp cận tỏ ra là hữu hiệu hơn Sự minh bạch ở điểm này sẽ ảnh hưởng đáng kể đến những người ra quyết định để ủng hộ việc triển khai
hệ thống
Khả năng thanh toán: Một vài mô hình Một cửa (ví dụ như ở Thái Lan) bao gồm hệ thống của việc thanh toán các chi phí của nhà nước, thuế, thuế nhập khẩu và các loại phí tổn khác Đây có thể là một nét đặc trưng hấp dẫn đối với cảchính phủ và doanh nghiệp, và nó đặc biệt quan trọng khi hệ thống này đòi hỏi phải tạo ra ngân sách quốc gia Tuy nhiên, cũng cần phải nhắc nhở rằng việc cho thêm
Trang 27Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
yếu tố thanh khoản này vào thường đòi hỏi phải có phải có một khối lượng lớn công việc phụ trội đi kèm như sự hài hòa hóa và nhất là tính bảo mật
Marketing và xúc tiến thương mại: Marketing và tuyên truyền mô hình một cửa rất quan trọng và cần được lên kế hoạch cụ thể Chiến lược xúc tiến cần có
sự tham gia của đại diện từ tất cả chính phủ của các nước thành viên chủ chốt và những nhà đầu tư trong hệ thống bởi các bên này đều có thể cung cấp những thông tin giá trị về kỳ vọng của cộng đồng người sử dụng và giúp cho việc chỉ dẫn các thông điệp marketing và chỉ dẫn Việc lập ra một lộ trình cụ thể nên được tiến hành
và giới thiệu sớm nhất có thể ngay từ giai đoạn đầu của dự án vì đây sẽ là công cụ
hỗ trợ cho việc marketing cho dự án và giúp những người sử dụng tiềm năng trong việc lên kế hoạch cho quá trình vận hành và đầu tư có liên quan của họ Hoạt động Marketing cần nhận thức rõ những lợi ích và tính kinh tế cũng như những trọng điểm cụ thể có liên quan đến việc nâng cao hiệu quả đạt được từ quá trình vận hành
cơ chế một cửa
Chiến lược kết nối thông tin: Việc tạo lập một phương tiện để thông báo chính xác cho các nhà đầu tư về mục tiêu, kỳ vọng, hướng phấn đấu và tiến trình (và cả những khó khăn nữa) sẽ tạo dựng được lòng tin và tránh được những hiểu lầm có thể dẫn tới việc mất cơ hội hợp tác thực hiện các dự án triển vọng khác.Trong hoàn cảnh này, việc đáp ứng đúng được kỳ vọng của các nhà đầu tư là vô cùng quan trọng, và cần nhớ rõ câu ngạn ngữ về kinh doanh là hãy hứa hẹn ít thôi
và đưa cho người ta nhiều hơn đã hứa Cũng cần phải nhớ rằng hầy hết các nhà đầu
tư không hi vọng vào các phép màu: giải quyết các vấn đề đơn giản mà thiết thực có thể chi phối thiện chí hợp tác lâu dài để thực hiện dự án này
Cũng trong Quyết định Số 2599/QĐ-BCĐASW của Ban chỉ đạo quốc gia về
cơ chế một cửa ASEAN, chương IV có quy định việc xây dựng, triển khai Cơ chếmột cửa quốc gia đòi hỏi các bên tham gia phải thực hiện 6 cấu phần bao gồm:
Tiêu chuẩn hóa và hài hòa hóa quy trình thủ tục: Tiêu chuẩn hóa và hài hòa hóa quy trình thủ tục, trước hết là một quá trình rà soát, đánh giá quy trình hoạt động của các bên liên quan trong một hoặc nhiều loại giao dịch để tìm ra những điểm lặp lại, những vấn đề có cùng bản chất nhưng mang tên gọi khác nhau, những điểm bất hợp lý hoặc phát sinh không cần thiết do bản thân sự chồng chéo, thiếu
Trang 28Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
trao đổi thông tin hoặc thiếu tính đồng bộ của thủ tục hành chính gây ra Một khi đã tìm ra những điểm bất cập nêu trên, người ta sẽ tiến hành sắp xếp lại các bước của quy trình thủ tục một cách hợp lý hơn (tái thiết kế quy trình), đưa ra một cách hiểu
và định nghĩa duy nhất đối với một vấn đề (tiêu chuẩn hóa) và loại bỏ những nội dung lặp đi lặp lại hoặc những chồng chéo không cần thiết (hài hòa hóa) Khi đã hoàn thành các công việc trên ở phương diện quốc gia, người ta sẽ thu được một tập hợp các quy trình thủ tục đã được thiết kế lại một cách thống nhất, đồng bộ để đáp ứng các yêu cầu và quy định của luật pháp quốc gia Để đảm bảo khả năng hội nhập
và thực hiện các giao dịch quốc tế, người ta lại tiếp tục phải đối chiếu yêu cầu vềthủ tục trong nước với các thông lệ, chuẩn mực quốc tế để vừa đảm bảo tính tương thích của yêu cầu quốc gia với thông lệ và chuẩn mực quốc tế; vừa đảm bảo tính hài hòa giữa thông lệ và chuẩn mực quốc tế với các yêu cầu và lợi ích quốc gia, biến yêu cầu và lợi ích quốc gia thành thông lệ và chuẩn mực Quá trình tiêu chuẩn hóa
và hài hòa hóa nêu trên là một quá trình lặp đi lặp lại, không có thời điểm kết thúc
và phải được cập nhật liên tục Hiện tại, có rất nhiều phương pháp luận và cách tiếp cận để thực hiện quá trình này, trong đó một phương pháp tiếp cận phổ biến là sửdụng các khuyến nghị của các tổ chức của Liên hiệp quốc (VD: UN/CEFACT), Tổchức Hải quan thế giới (WCO), Tổ chức Hàng hải thế giới (IMO),…
Tiêu chuẩn hóa và hài hòa hóa yêu cầu thông tin, chứng từ: Nhằm đảm bảo tính thống nhất và nhất quán cho tất cả các bên trao đổi thông tin trong Hệ thống một cửa, phải đạt được thỏa thuận về một bộ dữ liệu chung Để xây dựng bộ dữ liệu, tất cả các biểu mẫu và dữ liệu của các Bộ, Ngành khác nhau đang sử dụng sẽ phải được đưa ra phân tích để hiểu được tính hợp lý và mức độ yêu cầu của mỗi chỉ tiêu
dữ liệu Chuẩn dữ liệu là nền tảng cơ bản cho sự thông suốt trong trao đổi dữ liệu, đảm bảo dữ liệu tương thích với các yêu cầu của Bộ, Ngành và nâng cao khả năng của các bên tham gia (trong và ngoài nước) trong việc trao đổi dữ liệu chính xác và hiệu quả Các tiêu chuẩn được sử dụng phổ biến nhất là ISO3166 cho mã và tên quốc gia, ISO4217 cho mã và tiền tệ, IMO-FAL 1-7 cho chứng từ mà Hải quan/ Cơ quan cảng vụ yêu cầu, INCOTERMS cho các khái niệm thương mại chuẩn được sửdụng phổ biến nhất trong hợp đồng mua bán quốc tế do Phòng Thương mại quốc tế(ICC) soạn thảo và xuất bản, ISO8601 cho Ngày, Thời gian và khoảng thời gian,
Trang 29Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
ISO9735 cho việc trao đổi dữ liệu điện tử trong Trao đổi Thương mại của UN/EDIFACT
Thiết kế hệ thống thông tin và xây dựng hạ tầng kỹ thuật: Vấn đề ứng dụng Công nghệ thông tin và truyền thông luôn được đặt ra như là một công cụ hữu hiệu đảm bảo mục tiêu cải cách thủ tục hành chính, xây dựng chính phủ điện tử, tạo thuận lợi thương mại đồng thời tăng cường năng lực của các cơ quan chính phủcũng như tăng cường hiệu quả quản lý, điều hành của cộng đồng doanh nghiệpCấu phần này chủ yếu tập trung giải quyết các nội dung cơ bản bao gồm:
o Xây dựng mô hình kỹ thuật và kiến trúc tổng thể của hệ thống Công nghệthông tin một cửa quốc gia
o Xây dựng bộ tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia trong khuôn khổ thực hiện cơ chế một cửa quốc gia và cơ chế một cửa ASEAN
o Triển khai từng bước và đồng bộ việc xây dựng hệ thống Công nghệ thông tin một cửa quốc gia đáp ứng lộ trình đã vạch ra
Xây dựng cơ sở pháp lý và cơ chế thực hiện: Mục đích của cấu phần này nhằm xây dựng cơ sở pháp lý và cơ chế thực hiện đảm bảo cho Cơ chế một cửa quốc gia được xây dựng, vận hành phù hợp với các cam kết quốc tế của Việt Nam, các quy định trong hệ thống pháp luật Việt Nam Theo Hiệp định, Nghị định thư vềxây dựng và thực hiện Cơ chế một cửa ASEAN, các chuẩn mực và thông lệ quốc tếcũng như kinh nghiệm của các nước trong quá trình xây dựng và thực hiện Cơ chếmột cửa; và trên cơ sở rà soát sơ bộ hệ thống pháp luật Việt Nam thì yêu cầu vềkhung pháp lý đảm bảo cho việc xây dựng và thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia thường bao gồm những nội dung sau:
o Quy định về xây dựng hệ thống Cơ chế một cửa quốc gia: bao gồm các bên tham gia, chức năng của hệ thống, mô hình hoạt động của hệ thống…
o Thỏa thuận về việc sử dụng phương tiện điện tử để thực hiện giao dịch giữa các cơ quan nhà nước với nhau; giữa các cơ quan nhà nước với các bên tham gia Cơ chế một cửa quốc gia
Trang 30Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
o Cơ chế vận hành hệ thống: Do các cơ quan chính phủ cùng vận hành hay xem xét tới việc thuê một bên thứ 3 vận hành hệ thống và quy định các điều kiện đối với bên thứ 3 này;
o Cơ chế quản lý, điều hành hệ thống sau triển khai: Các bên tham gia quản
lý, điều hành hệ thống, phối hợp giữa các bên tham gia quản lý, điều hành hệ thống; hoạt động quản lý, điều hành hệ thống
o Cơ chế chỉ đạo, phối hợp thực hiện giữa bên quản lý, điều hành với bên vận hành hệ thống
o Cam kết về cung cấp các loại dịch vụ trong hệ thống, bao gồm: Các dịch
vụ công: được thực hiện trên cơ sở thỏa thuận về cung cấp dịch vụ công của các cơ quan nhà nước tham gia hệ thống; các dịch vụ do bên thứ ba cung cấp: VD dịch vụlưu trữ dữ liệu trong trường hợp bên thứ ba vận hành hệ thống
o Các chính sách ưu tiên, hỗ trợ doanh nghiệp tham gia hệ thống
o Quy định tiếp nhận, trao đổi, xử lý các hồ sơ bằng văn bản giấy
o Quy định liên quan tới hài hòa hóa, chuẩn hóa quy trình, thủ tục
o Các quy định về chế tài hành chính, hình sự; quy định về quyền sở hữu trí tuệ, các vấn đề cạnh tranh, cơ chế giải quyết tranh chấp
Đào tạo và tuyên truyền: Để đảm bảo thành công của cơ chế một cửa quốc gia, trước hết, các bên liên quan cần có nhận thức và hiểu biết đầy đủ về nội hàm, phạm vi của cơ chế một cửa quốc gia Bên cạnh đó, muốn có một hệ thống được xây dựng hiệu quả, đáp ứng chuẩn mực, đội ngũ triển khai thực hiện cần trang bịcác kiến thức chuyên gia một cách đầy đủ về nhiều phương diện như kỹ thuật nghiệp vụ, công nghệ, pháp luật… Khi hệ thống đã hoàn thành, đội ngũ sử dụng hệthống lại phải được trang bị và đào tạo các kiến thức trong việc sử dụng các chức năng của hệ thống, quản lý và vận hành hệ thống Các đối tượng được đề cập tới trong cấu phần này bao gồm:
o Các quan chức và nhân viên chính phủ
o Cộng đồng doanh nghiệp thương mại, sản xuất
o Cộng đồng doanh nghiệp cung cấp dịch vụ giao nhận, kho vận, thanh toán,
hạ tầng Công nghệ thông tin…
Trang 31Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
o Kỹ năng sử dụng, vận hành, quản lý, bảo trì, phát triển hệ thống
Đánh giá và phân tích hiệu quả thực hiện: Để đánh giá hiệu quả hoạt động
và xác định những tác động của sự thay đổi thủ tục hành chính lên hoạt động của tổchức, một trong những phương pháp hữu hiệu là thực hiện các phân tích chi phí –lợi ích, trong đó, các yếu tố mang tính định lượng được đặt ra như là tiêu chí đánh giá và các phương pháp kinh tế lượng cũng như những phương pháp đo lường đánh giá mang tính chất chuẩn mực được sử dụng để đo lường hiệu quả
1.3 Mô hình một cửa ASEAN (ASEAN Single Window) và mô hình một cửa quốc gia (National Single Window)
1.3.1 Sự khác biệt về khái niệm giữa mô hình một cửa ASEAN và mô hình một cửa quốc gia
Trong Nghiên cứu về Cơ chế một cửa ASEAN vào tháng 12 năm 2012 của JASTPRO – Tổ chức Nhật Bản về đơn giản hóa quy trình thương mại quốc tế, Cơ chế một cửa quốc gia theo quan điểm của ASEAN được định nghĩa là một HỆTHỐNG (trong nhiều trường hợp, hệ thống này được hỗ trợ bởi các hệ thống máy chủ và các công cụ có liên quan khác) cho phép:
Việc xuất trình một lần dữ liệu và thông tin;
Việc xử lý thông tin và dữ liệu đồng thời và một lần;
Việc ra quyết định một lần cho việc giải phóng và thông quan hàng hóa.Mặt khác, Cơ chế một cửa ASEAN được định nghĩa là một MÔI TRƯỜNG (thực tế nó sẽ mang ý nghĩa là một dạng hệ thống các mạng lưới) mà ở đó Cơ chếmột cửa quốc gia của các nước thành viên được vận hành và tạo thành một thểthống nhất
Mặc dù cả hai khái niệm Cơ chế một cửa ASEAN và Cơ chế một cửa quốc gia cùng sử dụng cụm từ “cơ chế một cửa” nhưng hai khái niệm này khá khác biệt
và cần được phân định rạch ròi
Mục tiêu mà Cơ chế một cửa quốc gia hướng tới là: “Đẩy nhanh tốc độ thông quan hàng hóa, giảm bớt chi phí và thời gian thực hiện quy trình, từ đó tiến tới nâng cao hiệu quả và tính cạnh tranh trong thương mại.”
Trang 32Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Cơ chế một cửa ASEAN thì hướng tới mục tiêu: “Việc xây dựng các quy trình thương mại, quy trình thủ tục hải quan và các luồng lưu chuyển thông tin theo hướng đơn giản, hài hòa và tiêu chuẩn hóa được mong đợi sẽ giảm được các chi phí cho nhiều khâu trong giao dịch của ASEAN, từ đó nâng cao tính cạnh tranh xuất khẩu và tạo thuận lợi cho quá trình hợp nhất ASEAN thành một thị trường chung vềhàng hóa, dịch vụ, đầu tư và một nền tảng sản xuất duy nhất.” (Japan Association
for Simplification of International Trade Procedures, 2012, ASEAN Single Window – Heading Survey in 2012, tr 2)
1.3.2 Mô hình một cửa ASEAN
1.3.2.1 Sự đa dạng về mô hình một cửa theo khu vực
Cổng thông tin là một công cụ mà ở đó việc trao đổi dữ liệu thương mại quốc
té được nhận diện giữa hai bên có liên quan trong Cơ chế một cửa khu vực (Trong trường hợp của khu vực ASEAN, cổng thông tin này được gọi là “Cổng thông tin ASW” – Cổng thông tin ASEAN một cửa.) Mô hình một cửa khu vực sẽ được phân loại thành 2 dạng tùy thuộc vào nơi mà cổng thông tin này được thiết lập: Loại 1 là
“Mô hình cổng thông tin tập trung” nếu như nó được lắp đặt ở duy nhất một máy chủ tập trung để phục vụ nhu cầu sử dụng của tất cả các nước thành viên, loại 2 là
“Mô hình cổng thông tin phân lập” nếu như nó được lắp đặt riêng biệt theo phạm vi
hệ thống quốc gia của mỗi nước thành viên
Mô hình cổng thông tin tập trung: Nếu mô hình cổng thông tin tập trung được áp dụng cho cơ chế một cửa ASEAN thì nó sẽ có liên quan đến việc xây dựngmột máy chủ tập trung cho cổng thông tin ASW trên Hệ thống máy tính chủ tập trung, nơi diễn ra quá trình trao đổi dữ liệu giao dịch giữa 2 thành viên ASEAN Cấu trúc của Mô hình cổng thông tin tập trung khá đơn giản vì chỉ có một Hệ thống máy chủ tập trung hỗ trợ cho toàn bộ quy trình thông quan một cửa của khu vực.Tuy nhiên trên thực tế, Mô hình cổng thông tin tập trung không được áp dụng cho
Cơ chế một cửa ASEAN vì một số lý do sau:
o Không quyết định được Hệ thống máy chủ của cổng thông tin tập trung sẽđược lắp đặt tại quốc gia nào (vấn đề chính trị)
Trang 33Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
o Liệu việc truyền thông tin giao dịch thương mại giữa nước xuất khẩu và nước nhập khẩu thông qua một nước thứ ba là nơi lắp đặt Hệ thống máy chủ có tạo
o Ứng dụng Cổng thông tin ASW: Ứng dụng cổng thông tin ASW chủ yếu được phát triển và điều khiển bởi từng nước thành viên ASEAN Mỗi thành viên của ASEAN có những cách thức riêng biệt để kết nối Hệ thống một cửa quốc gia của họ với Ứng dụng Cổng thông tin ASEAN và việc bảo mật cũng nằm dưới quyền kiểm soát của họ
o Mô hình cổng thông tin phân lập: Các hệ thống ứng dụng Cổng thông tin ASW cung cấp bởi tất cả các quốc gia ASEAN được kết nối với nhau thông qua một mạng lưới được bảo mật và hoàn toàn nhìn nhận với vai trò tương tự như Hệthống máy chủ tập trung của Mô hình Cổng thông tin tập trung Việc trao đổi dữliệu giữa bên gửi và bên nhận được diễn ra trực tiếp thông qua Ứng dụng Cổng thông tin ASW của 2 nước đó
Các dịch vụ khu vực: Cơ chế một cửa ASEAN sẽ có một công cụ để điều hành và duy trì các định dạng, mã tiêu chuẩn và các thông tin cơ bản khác của Cơ chế một cửa ASEAN Công cụ này sẽ được gọi là “Dịch vụ khu vực” Các mẫu, định dạng và mã tiêu chuẩn,… sẽ được tùy chỉnh, cho dù người ta có không nhận thức được sự điều chỉnh này, khi nó được sử dụng giữa bất kỳ cặp quốc gia đối tác song phương nào trong ASEAN mà không cần đến Hệ thống máy chủ Vì vậy việc xây dựng một dạng Thư viện có đề cập đến những “Chuẩn mực” hay “Nguồn mẫu”
về định dạng các tài liệu của ASEAN là rất cần thiết cho việc duy trì tính hài hòa
Trang 34Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
của Cơ chế một cửa ASEAN (Japan Association for Simplification of International
Trade Procedures, 2012, ASEAN Single Window – Heading Survey in 2012, tr 3, 4) 1.3.2.2 Chương trình hướng tới việc triển khai trực tiếp cơ chế
“Mô hình Cổng thông tin phân lập” đang trong quá trình cân nhắc để lựa chọn trở thành Mô hình của Cơ chế một cửa ASEAN và một đề án thử nghiệm với quy mô nhỏ đã được tiến hành ở 7 nước thành viên ASEAN ngoại trừ Campuchia, Myanmar và Lào Việc thử nghiệm ở quy mô đầy đủ dự kiến sẽ mang lại kết quảgiúp cho việc đánh giá và đưa ra quyết định về mô hình áp dụng cho cơ chế một cửa ASEAN vào năm 2015 (Japan Association for Simplification of International Trade
Procedures, 2012, ASEAN Single Window – Heading Survey in 2012, tr 5)
1.3.2.3 Khung pháp lý của Cơ chế một cửa ASEAN
Nhóm hoạt động trong mảng các vấn đề về pháp luật và quy định đang tiến hành thực hiện Hiệp ước khung pháp lý cho mô hình một cửa ASEAN Để chuẩn bịcho việc này, mỗi nước thành viên sẽ tiến hành một bản đánh giá về sự khác biệt giữa những nội dung cơ bản của Hiệp ước với Luật pháp và Hiến pháp quốc gia Theo đó, quy tắc cơ sở sẽ là tránh sự không nhất quán giữa Khung pháp lý của cơ chế một cửa ASEAN và Khung pháp lý quốc gia của mỗi nước (Japan Association
for Simplification of International Trade Procedures, 2012, ASEAN Single Window – Heading Survey in 2012, tr 6)
Trang 35Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
CHƯƠNG 2 KINH NGHIỆM TRIỂN KHAI CƠ CHẾ MỘT CỬA TRONG THỦ TỤC HẢI QUAN ĐIỆN TỬ CỦA MALAYSIA
2.1 Giới thiệu chung về hải quan Malaysia
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của hải quan Malaysia
Hải quan Hoàng gia Malaysia là cơ quan chính phủ chịu trách nhiệm điều hành các chính sách về thuế của quốc gia Năm 1931, tại Hội nghị các nguyên tắc của Hội liên hiệp các nước bán đảo Mã Lai tổ chức ở Sri Mananti, ủy viên cấp cao của Anh – ông Cecil Clementi đề xuất việc mở rộng sự hợp tác dựa trên kết quả vềmức tăng trưởng của thuế nhập khẩu thường niên của khu vực này Ông đề nghịviệc thành lập một Liên minh Hải quan cho toàn bộ bán đảo Mã Lai, như vậy việc gia tăng nguồn thu từ thuế không gây ảnh hưởng đến quá trình diễn ra các giao dịch trong khu vực về Đến năm 1932, Biểu thuế Hải quan đã chiếm một phần lớn các hàng hóa và thuế suất ưu đãi đã được áp dụng cho hàng hóa đến từ đế quốc Anh.Nhưng phải đến năm 1946, cùng với sự thành lập của Liên bang Mã Lai, Liên minh Hải quan cho toàn bán đảo Mã Lai mới được ra đời với tên gọi Cục thuếquan và thuế tiêu thụ đặc biệt của Liên bang Mã Lai Tuy nhiên, do sự tan rã của Liên bang Mã Lai nên cơ quan hải quan này cũng bị giải thể vào năm 1948
Trong năm 1948, Tổng cục Hải quan Malaysia quản lý hoạt động hải quan ởtoàn bộ bán đảo Mã Lai được thành lập theo quyết định của Liên đoàn Mã Lai đang nắm quyền lúc bấy giờ Theo Pháp lệnh Hải quan năm 1952, Tổng cục Hải quan sẽchịu sự điều hành của Ủy viên cấp cao của Malaysia và được dẫn dắt bởi bộ phận kiểm soát hải quan Bên cạnh đó, Hội đồng của liên minh còn được trao quyền ban hành các luật và đạo luật dựa trên các vấn đề Hải quan Điều này kéo dài cho đến năm 1957 khi đất nước đã giành lại được quyền tự chủ
Vào ngày 16 tháng 9 năm 1963, cơ cấu của ban điều hành Tổng cục Hải quan
đã được cải tổ lại với sự tham gia cả Sabah, Sarawak và Singgapore thuộc liên minh bán đảo Mã Lai
Về cơ cấu, Tổng cục Hải quan Malaysia được chia thành ba bộ phận ứng với
ba vùng lãnh thổ: bán đảo Mã Lai, Sabah và Sarawak Mỗi một bộ phận sẽ được
Trang 36Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
điều hành bởi Kiểm sát viên khu vực kiểm tra về khu vực hải quan và thuế môn bài Ngày 29/10/1963, ông Yang Di – Pertuan Agong đã cho phép thêm chữ “Hoàng gia” vào cho tên Tổng cục Hải quan và Thuế vụ Đây là một vinh dự từ Chính phủdành cho những đóng góp của Tổng cục Hải quan cho quốc gia này (Wikipedia,
Royal Malaysian Customs)
2.1.2 Tầm nhìn, sứ mệnh và vai trò của hải quan Malaysia
Tầm nhìn: Đến cuối năm 2015 sẽ trở thành Tổng cục quản lý hải quan đạttiêu chuẩn quốc tế
Sứ mệnh:
o Góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
o Bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội
o Đảm bảo hiệu suất và sự tuân thủ luật pháp một cách có hiệu quả
o Thu thập lưu giữ và phân tích dữ liệu liên quan đến Cục Hải quan
o Tham vấn và tư vấn cho cộng đồng doanh nghiệp
2.1.3 Thủ tục hải quan điện tử của Malaysia
2.1.3.1 Quá trình phát triển của hải quan điện tử Malaysia
Malaysia là một trong những nước xây dựng môi trường thương mại phi giấy
tờ (áp dụng thủ tục hải quan điện tử) sớm nhất trong khu vực Đông Nam Á ngay từnhững năm 90 của thế kỷ trước Năm 1992, chính phủ Malaysia bắt đầu triển khai việc áp dụng Công nghệ thông tin và các giao dịch thương mại quốc tế của đất nước này dần dần tiến tới “không biên giới” sau khi các sáng kiến về thủ tục phi giấy tờđược tích hợp và trong chuỗi cung ứng Năm 1989, theo sự ủy nhiệm của chính phủMalaysia cho Phòng thương mại và công nghiệp quốc gia Malaysia (NCCIM)Dagang Net được thành lập để thực hiện việc xây dựng các dịch vụ hải quan điện tử,
Trang 37Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
phi giấy tờ Dagang Net chính là công ty phối hợp với Hải quan hoàng gia Malaysia
mở đầu thực hiện sáng kiến khai báo và thông quan hàng hóa tự động Đến tháng 8/1993, công ty xây dựng hệ thống trao đổi dữ liệu điện tử (EDI)
Tiếp đó, vào năm 1995, Chính phủ Malaysia quyết định tích hợp dịch vụmạng giá trị gia tăng của Dagang Net với hệ thống thông tin hải quan của Hải quan Hoàng gia Malaysia thành một hệ thống xương sống quốc gia cho các thủ tục thương mại, gọi là hệ thống “SMK- Dagang Net” Kết nối đầu tiên được thực hiện tại cảng Klang vào tháng 8/1994 với việc triển khai thành công chính phủ điện tử, chữ ký số, thẻ thông minh và trao đổi các dữ liệu điện tử nhằm cải thiện hiệu quả, năng lực thực hiện các thủ tục tại cảng Năm 2003, hệ thống SMK – Dagang Net được triển khai trên tất cả các điểm kiểm soát Hải quan thuộc chương trình SMK quốc gia Năm 2004, hệ thống thực hiện nâng cấp nhằm đáp ứng các chuẩn mực quốc tế theo UN/CEFACT khuyến nghị
Đến đầu những năm 2000, số lượng giao dịch thương mại quốc tế tăng lên quá lớn khiến hệ thống cũ không còn đáp ứng được, chính phủ Malaysia quyết định bắt đầu thực hiện Cơ chế một cửa của Malaysia theo các khuyến nghị của Trung tâm tạo thuận lợi và thương mại điện tử của Liên hợp quốc (UN/CEFACT) Cho đến nay, hệ thống đã được triển khai ở cảng Klang, sân bay quốc tế Kualua Lumpur, các cảng chính ở Penang, hai cảng chính ở Johor, các cảng chính ở Kota Kinabalu
và Kuching
Hệ thống kết hợp SMK – Dagang Net đã cung cấp một cổng thông tin trên phạm vi quốc gia với tên gọi myTRADELINK Đây không chỉ là nơi giới thiệu các thủ tục liên quan đến hàng hóa, phương tiện vận chuyển nhập khẩu, xuất khẩu và quá cảnh mà còn cung cấp dịch vụ hỗ trợ nộp thuế và lệ phí Hàng năm, hệ thống xử
lý khoảng 275 triệu giao dịch thương mại, thu hơn 1,8 tỷ Ringgit tiền thuế hải quan
và được triển khai trên 500 Chi cục Hải quan trên cả nước
Nhìn chung, quá trình phát triển của Hải quan điện tử Malaysia có thể được khái quát qua các mốc thời gian sau:
Năm 1989: Malaysia xây dựng hệ thống trao đổi dữ liệu điện tử EDI với việc thành lập Dagang Net
Trang 38Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Năm 1994: Lần đầu tiên triển khai thí điểm Hệ thống hải quan điện tử SMK – Dagang Net tại cảng Klang
Năm 2002: Triển khai dịch vụ khai báo điện tử (eDeclare), đến nay đã thực hiện được ở 166 điểm khai báo hải quan trên toàn quốc
Năm 2003: Hệ thống SMK – Dagang Net được triển khai trên tất cả các Chi cục Hải quan trên phạm vi cả nước và đến năm 2004 thì hoàn thành chương trình SMK quốc gia
Năm 2005: Giới thiệu dịch vụ cấp phép điện tử (ePermit), hiện nay áp dụng cho 26 cơ quan cấp phép trên toàn quốc
Năm 2009: Mô hình hải quan một cửa chính thức được áp dụng với việc giới thiệu cổng thông tin myTRADELINK Cũng trong năm này, dịch vụ chứng nhận ưu đãi xuất xứ điện tử (ePCO) được giới thiệu
Năm 2010: Giới thiệu dịch vụ cấp giấy phép điện tử STA (ePermitSTA)
2.1.3.2 Thủ tục hải quan điện tử của Malaysia
Thủ tục hải quan xuất khẩu:
o Người xuất khẩu hoặc đại lý gom hàng xin giấy phép xuất khẩu từ cơ quan cấp phép
o Người xuất khẩu hoặc đại lý gom hàng khai báo thông tin về lô hàng vào
tờ khai điện tử Form K2 và nộp cho Hải quan thông qua hệ thống SMK – Dagang Net và được nhận lại số đăng ký tờ khai từ hệ thống tự động của Cơ quan hải quan
o Cơ quan hải quan tiếp nhận tờ khai của doanh nghiệp và các chứng từ khác là vận đơn và giấy phép xuất khẩu để chuẩn bị cho việc thông quan hàng hóa
o Dựa vào kết quả phân luồng tờ khai trên hệ thống tự động, cơ quan hải quan sẽ tiến hành thông quan ngay cho hàng hóa mà miễn kiểm tra giấy tờ; thông quan hàng hóa sau khi kiểm tra bộ chứng từ hoặc thông quan hàng hóa sau khi kiểm tra bộ chứng từ và kiểm tra thực tế hàng hóa
o Chi cục trưởng Chi cục Hải quan xác nhận vào tờ khai hải quan điện tử trong hệ thống và bản in của tờ khai đó
o Người khai hải quan hoàn thành các nghĩa vụ về thuế và thuế quan
Trang 39Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
o Trong vòng 7 ngày sau khi hàng hóa được thông quan, phải xuất trình lên Hải quan bản khai hàng hóa
Thủ tục hải quan nhập khẩu:
o Người nhập khẩu hoặc người có nghĩa vụ xin giấy phép nhập khẩu từ cơ quan cấp phép
o Đại lý gom hàng khai hải quan theo mẫu tờ khai hải quan nhập khẩu K1
và nộp thông qua hệ thống điện tử SMK – Dagang Net
o Đại lý gửi hàng xuất trình bản khai hàng hóa cho Chi cục Hải quan trong vòng 24 giờ kể từ khi tàu đến Trên thực tế, học được phép cho xuất trình bản kê khai hàng hóa sớm hơn thời gian tàu đến
o Hệ thống thông quan điện tử tự động gửi cho người khai báo hải quan về
số đăng ký tờ khai sau khi nhận được từ khai trong hệ thống
o Cơ quan hải quan tiếp nhận tờ khai nhập khẩu và các chứng từ cần thiết khác để đánh giá hàng hóa được khai báo Cơ quan hải quan sẽ tiến hành kiểm tra lại và quyết đinh mức thuế mà người khai hải quan phải nộp và ra quyết định về việc thông quan hàng hóa Hàng hóa sẽ được tiến hành kiểm tra thực tế nếu có yêu cầu
o Người nhập khẩu hoặc đại lý gửi hàng thay mặt người nhập khẩu hoàn thành các nghĩa vụ về thuế đối với hải quan
o Chi cục trưởng Chi cục Hải quan xác nhận thông quan hàng hóa vào hệ thống và trên bản in của tờ khai nhập khẩu Trường hợp hàng hóa miễn thuế mặc định được thông quan ngay
2.2 Tình hình áp dụng cơ chế hải quan một cửa trong thủ tục hải quan điện tử của Malaysia
2.2.1 Khái quát về cơ chế một cửa trong thủ tục hải quan điện tử của Malaysia
Cổng thông tin hỗ trợ thương mại myTRADELINK là trung gian kết nối các cộng đồng thương mại với các cơ quan có liên quan của chính phủ và các doanh nghiệp trong hoạt động thương mại và logistics toàn cầu Là một sáng kiến của Chính phủ Malaysia, được điều hành bởi Bộ Tài chính và vận hành bởi Dagang Net,
Trang 40Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
myTRADELINK là cầu nối duy nhất để các cộng đồng thương mại trao đổi các chứng từ cần thiết cho việc hoàn thành các bước trong quy trình thương mại (bao gồm cả xuất khẩu, nhập khẩu và quá cảnh) ở bất kỳ đâu, tại bất cứ địa điểm nào thông qua mạng Internet
Hình 2.1 Mô hình kết nối một nơi, truy cập đến nhiều nơi
trong cơ chế một cửa của Malaysia
(UNNExT, 2010, Towards a single window trading environment – Case of Malaysia’s National Single Window, tr.4)
Với Cổng thông tin này, việc trao đổi chứng từ thương mại giữa khu vực công với khu vực tư nhân và với cộng đồng giao nhận logistics được thực hiện bằng
hệ thống điện tử một cách an toàn, tính bảo mật và hiệu quả cao và thông qua một kết nối truy cập duy nhất
Hiện nay các dịch vụ có trên hệ thống một cửa Malaysia bao gồm:
Khai báo điện tử (eDeclare)
Chứng nhận xuất xứ ưu đãi điện tử (ePCO)
Dịch vụ thanh toán thuế điện tử (ePayment)