1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số vấn đề pháp lý về hủy phán quyết của trọng tài thương mại tại việt nam và khuyến nghị cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu

87 121 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 1,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU STT Ký hiệu Tên Tiếng Anh Tên Tiếng Việt 1 CIETAC China International Economic and Trade A

Trang 1

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ

XUẤT NHẬP KHẨU

Họ và tên sinh viên : Trần Thị Khánh Linh Mã sinh viên : 1111110144

Người hướng dẫn khoa học : Th.S Đinh Khương Duy

Hà Nội, tháng 5 năm 2015

Trang 2

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI VÀ HỦY PHÁN QUYẾT CỦA TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI 4

1.1 Khái niệm, đặc điểm và phân loại trọng tài thương mại………4

1.1.1 Khái niệm trọng tài thương mại 4

1.1.2 Đặc điểm của trọng tài thương mại 5

1.1.3 Phân loại trọng tài thương mại 7

1.1.4 Ưu nhược điểm của phương thức trọng tài 9

1.2 Phán quyết của trọng tài thương mại……….11

1.2.1 Khái niệm phán quyết của trọng tài thương mại 11

1.2.2 Đặc điểm phán quyết của trọng tài thương mại 11

1.2.3 Công nhận và thực thi phán quyết của trọng tài thương mại 12

1.3 Hủy phán quyết của trọng tài thương mại……….14

1.3.1 Khái niệm hủy phán quyết của trọng tài thương mại 14

1.3.2 Tác động của hủy phán quyết trọng tài thương mại 15

1.3.3 Vấn đề pháp luật về hủy phán quyết của trọng tài thương mại tại một số quốc gia điển hình 20

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ HỦY PHÁN QUYẾT CỦA TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM 25

2.1 Tổng quan về trọng tài thương mại tại Việt Nam……….25

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển trọng tài thương mại tại Việt Nam……… 25

2.1.2 Một số hoạt động của trọng tài thương mại tại Việt Nam 27

Trang 3

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

mại………31

2.2.1 Căn cứ hủy phán quyết trọng tài 32

2.2.2 Nghĩa vụ chứng minh 41

2.2.3 Thời hạn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài 41

2.2.4 Tòa án có thẩm quyền đối với phán quyết trọng tài 43

2.2.5 Đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài 43

2.2.6 Tòa án xem xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài 44

2.3 Thực trạng hủy phán quyết của trọng tài thương mại tại Việt Nam……… 48

2.3.1 Tình hình hủy phán quyết trọng tài thương mại tại Việt Nam 48

2.3.2 Một số trường hợp yêu cầu hủy phán quyết trọng tài thương mại tại Việt Nam 50

2.4 Đánh giá quy định của pháp luật Việt Nam về hủy phán quyết của trọng tài thương mại hiện nay……… 56

2.4.1 Một số ưu điểm 56

2.4.2 Một số hạn chế và nguyên nhân 57

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ CHO CÁC DOANH NGHIỆP XUẤT NHẬP KHẨU ĐỂ VẬN DỤNG HIỆU QUẢ PHÁP LUẬT VỀ HỦY PHÁN QUYẾT CỦA TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM 59

3.1 Xu hướng giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại tại Việt Nam trong thời gian tới……… 59

3.2 Xu hướng hủy phán quyết do trọng tài thương mại của Việt Nam tuyên với các giao dịch xuất nhập khẩu trong những năm tới………61

3.3 Một số đề xuất để vận dụng hiệu quả pháp luật về hủy phán quyết của trọng tài thương mại tại Việt Nam………64

3.3.1 Đề xuất cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu 64

Trang 4

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

3.3.3 Đề xuất đối với các cơ quan Nhà nước 71 KẾT LUẬN 76 TÀI LIỆU THAM KHẢO 78

Trang 5

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

STT Ký hiệu Tên Tiếng Anh Tên Tiếng Việt

1 CIETAC

China International Economic and Trade Arbitration Commission

Hội đồng Trọng tài Kinh tế và Thương mại quốc tế Trung

7 VIAC Vietnam International

Arbitration Center

Trung tâm Trọng tài Quốc tế

Việt Nam

Trang 6

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Bảng 2.1 Tỷ lệ tranh chấp có yếu tố nước ngoài tại VIAC 30

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Số vụ tranh chấp tại VIAC từ 1993 đến 2014 30 Biểu đồ 2.2 Yêu cầu hủy phán quyết trọng tài giai đoạn 2003-2013 49 Biểu đồ 2.3 Tỷ lệ hủy phán quyết trọng tài giai đoạn 2003-2014 49

Trang 7

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, giao dịch thương mại quốc tế ngày càng được mở rộng và phát triển Các doanh nghiệp trong và ngoài nước tích cực giao thương, mở rộng sản xuất, mua bán, tiến hành các hoạt động giao dịch thương mại với nhau Trong quá trình đó, việc phát sinh tranh chấp vẫn thường xuyên xảy ra và một trong những vấn đề đáng lo ngại Tranh chấp thương mại hiện nay đang có xu hướng gia tăng cùng với sự phức tạp ngày càng cao Kèm theo đó là sự tăng lên về nhu cầu giải quyết tranh chấp thương mại của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu

Một trong những phương pháp giải quyết tranh chấp trong hoạt động thương mại là sử dụng trọng tài thương mại Phương thức này được thế giới ưa chuộng vì nhiều lợi ích mà nó mang lại như tự do thỏa thuận, thủ tục nhanh gọn, thông tin tranh chấp được giữ kín, tiết kiệm thời gian và chi phí cho doanh nghiệp Vì vậy, việc lựa chọn trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp trong các hợp đồng thương mại quốc tế đang có xu thế gia tăng

Tuy nhiên, tranh chấp thương mại bằng trọng tài cũng có nhiều vấn đề bất cập Mặc dù phán quyết của trọng tài có giá trị chung thẩm, nhưng vẫn có thể bị xem xét lại bởi tòa án có thẩm quyền khi có đơn yêu cầu, khiến cho các doanh nghiệp chưa thể yên tâm Thời gian qua, việc thụ lý và giải quyết đơn yêu cầu hủy phán quyết của trọng tài thương mại tại các tòa án ở Việt Nam đã tăng rõ rệt Số trường hợp tòa án hủy phán quyết của trọng tài trong nước cũng như không công nhận quyết định của trọng tài nước ngoài cũng tăng lên Điều này khiến cho các doanh nghiệp ngần ngại khi lựa chọn trọng tài, làm giảm uy tín và ảnh hưởng đến hoạt động của hội đồng trọng tài, giảm sự hấp dẫn của môi trường kinh doanh tại Việt Nam

Pháp luật Việt Nam về trọng tài thương mại hiện nay cũng có nhiều chuyển biến Điển hình là sự ra đời của Luật trọng tài thương mại thay thế Pháp lệnh trọng tài thương mại trước đây Đây là một trong những thành công trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về trọng tài thương mại của Nhà nước Những quy định của Luật trọng tài thương mại về hủy phán quyết trọng tài đã có nhiều thay đổi tích cực hơn, mặc dù vẫn tồn tại một số hạn chế nhất định

Trang 8

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Ngoài Luật trọng tài thương mại, Việt Nam còn có một số bộ luật và các văn bản có liên quan đến trọng tài thương mại như Luật thương mại, Bộ Luật dân sự, Luật tố tụng dân sự, Luật thi hành án dân sự, Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP của Tòa án Nhân dân Tối cao về việc hướng dẫn thi hành một số quy định trong Luật trong tài thương mại Bên cạnh đó, Việt Nam cũng kí kết và tham gia các điều ước quốc tế khác nhau về trọng tài như Công ước New York về công nhận và cho thi hành các quyết định của trọng tài nước ngoài, trở thành thành viên của Tòa án Trọng tài thường trực, các Hiệp định tương trợ tư pháp về dân sự, thương mại, các Hiệp định khuyến khích bảo hộ đầu tư, Hiệp định Thương mại tự do

Hiện nay, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu tại Việt Nam vẫn chưa hiểu biết nhiều về phương thức trọng tài cũng như chưa nắm rõ luật pháp về vấn đề hủy phán quyết của trọng tài thương mại, khiến cho nhiều phán quyết bị hủy với lý do chưa thuyết phục Điều này gây thiệt hại cho các doanh nghiệp khi tốn kém thời gian, chi phí trong quá trình xem xét đơn hủy phán quyết trọng tài Bởi vậy, để giúp các doanh nghiệp cho sự lựa chọn tốt hơn trong giải quyết tranh chấp thương mại bằng

trọng tài, khóa luận quyết định chọn đề tài: “Một số vấn đề pháp lý về hủy phán quyết của trọng tài thương mại tại Việt Nam và khuyến nghị cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu” làm nội dung nghiên cứu

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của khóa luận là đề xuất những giải pháp áp dụng hiệu quả pháp luật về hủy phán quyết của trọng tài thương mại để bảo vệ quyền lợi cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu của Việt Nam

Để thực hiện được mục đích này, khóa luận sẽ thực hiện các nhiệm vụ sau đây: Thứ nhất là tìm hiểu tổng quan về trọng tài thương mại và hủy phán quyết của trọng tài thương mại trên cơ sở lý luận Thứ hai là nghiên cứu pháp luật Việt Nam về vấn đề hủy phán quyết trọng tài thương mại, đánh giá các ưu điểm đạt được và hạn chế còn tồn tại Đồng thời phân tích thực trạng hoạt động trọng tài và hủy phán quyết trọng tài thương mại tại Việt Nam nhằm tìm hiểu sự áp dụng về luật pháp của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu hiện nay Thứ ba, đề xuất một số khuyến nghị cho các doanh nghiệp để áp dụng hiệu quả những quy định của luật pháp Việt Nam nhằm mục đích đảm bảo quyền lợi cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu

Trang 9

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Các quy định của pháp luật Việt Nam về hủy phán quyết của trọng tài thương mại

Phạm vi nghiên cứu:

 Không gian: các tranh chấp liên quan tới Việt Nam và có phán quyết của trọng tài được tuyên trên lãnh thổ Việt Nam

 Thời gian: chủ yếu trong khoảng thời gian từ năm 2003 cho đến năm 2014 Khóa luận chủ yếu đề cập đến những quy định về hủy phán quyết của trọng tài thương mại trong Luật trọng tài thương mại và Nghị quyết hướng dẫn thi hành Luật trọng tài thương mại

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện các mục tiêu trên, khóa luận sẽ sử dụng và kết hợp các phương pháp: phương pháp phân loại và hệ thống hóa lý thuyết, phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết, phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm, phương pháp lịch sử, phương pháp chuyên gia và điển hình là phương pháp so sánh luật học Ngoài ra, khóa luận nghiên cứu dựa trên các nguồn thông tin thứ cấp thu thập được qua các giáo trình, sách báo tham khảo và các tài liệu trên các phương tiện thông tin điện tử

5 Kết cấu của khóa luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, kết cấu của khóa luận bao gồm 3 chương sau đây:

Chương 1: Khái quát về trọng tài thương mại và hủy phán quyết của trọng tài thương mại

Chương 2: Một số vấn đề pháp lý về hủy phán quyết của trọng tài thương mại tại Việt Nam

Chương 3: Một số khuyến nghị cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu để vận dụng hiệu quả pháp luật về hủy phán quyết của trọng tài thương mại tại Việt Nam Người viết xin chân thành cảm ơn Th.S Đinh Khương Duy, người đã trực tiếp hướng dẫn tận tình, cùng các giảng viên trường Đại học Ngoại Thương Hà Nội đã giúp đỡ để khóa luận này có thể được hoàn thành

Trang 10

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI VÀ HỦY PHÁN

QUYẾT CỦA TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI 1.1 Khái niệm, đặc điểm và phân loại trọng tài thương mại

1.1.1 Khái niệm trọng tài thương mại

Trọng tài thương mại là một phương thức giải quyết tranh chấp trong thương mại xuất hiện từ lâu trên thế giới Khái niệm trọng tài thương mại theo đó cũng được đề cập nhiều trong các văn bản pháp luật quốc tế và các tài liệu về trọng tài thương mại Cho đến hiện nay, đã có rất nhiều khái niệm được đưa ra từ nhiều góc độ khác nhau, từ đó dẫn tới nhiều cách hiểu khác nhau về trọng tài thương mại Okezie Chukwumerije (1994) cho rằng: Trọng tài là một cơ chế giải quyết tranh chấp giữa các bên với nhau, được thực hiện thông qua một cá nhân do các bên lựa chọn hoặc bởi việc dựa trên những thủ tục hay những tổ chức nhất định được lựa chọn bởi chính các bên Theo đó, khái niệm trọng tài được hiểu là một cá nhân hoặc một tổ chức nhất định được lựa chọn bởi các bên tham gia tranh chấp để giải quyết vấn đề phát sinh Khái niệm này được đưa ra mang ý nghĩa giải thích về mặt hình thức của trọng tài chứ chưa thực sự đi sâu vào ý nghĩa và đặc điểm của trọng tài thương mại

James và Nicholas (1996) đã viết rằng: Trọng tài được coi như là một tiến trình

tư được mở ra theo sự thỏa thuận của các bên nhằm giải quyết một tranh chấp đang tồn tại hoặc có thể sẽ phát sinh bởi một hội đồng trọng tài gồm một hoặc nhiều trọng tài viên Khái niệm này có đề cập đến trọng tài là quá trình giải quyết tranh chấp tư nhân, tức là tự các cá nhân thống nhất với nhau lập ra hội đồng trọng tài gồm một hay nhiều trọng tài viên, nhằm giải quyết tranh chấp đang tồn tại hoặc có thể sẽ phát sinh sau đó So với quan điểm trước đây, có thể nhận thấy khái niệm trọng tài đã được mở rộng về mặt tổ chức và cách thức hoạt động của trọng tài Ngày nay, trọng tài ngày càng được các doanh nghiệp trên thế giới ưa chuộng Các tổ chức trọng tài cũng phát triển mạnh mẽ theo thời gian Khái niệm trọng tài cũng được mở rộng hơn Theo nhiều cách tiếp cận khác nhau, có thể nhận thấy trọng tài được coi như một bên thứ ba ngoài Nhà nước để giải quyết tranh chấp thương mại phát sinh giữa các bên, được thành lập bởi sự thỏa thuận bởi các bên với cơ cấu là một hội đồng trọng tài bao gồm một hay nhiều trọng tài viên Tuy

Trang 11

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

trọng tài là sự tự thỏa thuận lựa chọn của cả hai bên nhưng việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài dựa trên cơ sở pháp luật và được pháp luật bảo hộ Điều này thể hiện sự tự do nhưng trong khuôn khổ luật pháp của các bên

Như vậy, từ nhiều khía cạnh khác nhau về trọng tài thương mại, có thể hiểu khái niệm này đơn giản như sau: Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại, được thực hiện bởi Hội đồng trọng tài do các bên lựa chọn, với tư cách là một bên thứ ba độc lập nhằm giải quyết tranh chấp bằng phán quyết được đưa ra trên cơ sở tự nguyện của cả hai bên và có ràng buộc về mặt pháp lý đối với mỗi bên

1.1.2 Đặc điểm của trọng tài thương mại

1.1.1.1 Trọng tài mang tính phi Nhà nước

Trọng tài thương mại là một tổ chức phi Chính phủ, do các trọng tài viên tự thành lập để giải quyết tranh chấp thương mại phát sinh và hoạt động dựa trên các văn bản pháp luật hiện hành Về bản chất, trọng tài không phải cơ quan Nhà nước, không hoạt động bằng Ngân sách Nhà nước Mục đích hoạt động của các trung tâm trọng tài là cung cấp dịch vụ để tìm kiếm lợi nhuận dựa vào phí trọng tài Khi xét xử trọng tài không nhân danh Nhà nước để đưa ra phán quyết Như vậy, trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp và là cơ quan giải quyết tranh chấp mang tính phi Nhà nước

1.1.1.2 Cơ chế giải quyết tranh chấp bằng trọng tài là sự kết hợp giữa hai yếu tố thỏa thuận và tài phán

Trọng tài mang yếu tố thỏa thuận tự nguyện giữa các bên Điều này thể hiện ở việc lựa chọn trọng tài giải quyết tranh chấp cần có sự thỏa thuận của các bên ngay khi kí kết hợp đồng Sau khi thỏa thuận trọng tài có hiệu lực, nếu tranh chấp phát sinh, đương sự sẽ tiếp tục thỏa thuận lựa chọn hội đồng trọng tài để giải quyết Như vậy, trọng tài hoàn toàn mang tính chất tự thỏa thuận của các bên Trong quá trình xét xử, việc giải quyết tranh chấp dựa trên sự thỏa thuận tự nguyện dưới tác động của các trọng tài viên

Trọng tài đi kèm với yếu tố tài phán Tuy là tổ chức phi Chính phủ nhưng các trung tâm trọng tài hoạt động giải quyết các vụ tranh chấp dựa trên luật lệ quy định hiện hành Trọng tài xét xử dựa vào luật pháp, đưa ra phán quyết được Nhà nước

Trang 12

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

bảo hộ và bắt buộc thi hành Dù không phải cơ quan Nhà nước nhưng xét xử trọng tài mang tính luật pháp và các đơn vị phải thực thi theo quy định của pháp luật

Cơ chế trọng tài là sự kết hợp của hai yếu tố: thỏa thuận và tài phán Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài vừa kèm theo sự tự thỏa thuận của các bên đương sự, vừa dựa trên những quy định của luật pháp hiện hành, là sự hòa giải kết hợp với yếu tố pháp lý Lựa chọn trọng tài để giải quyết tranh chấp, các bên hoàn toàn có thể tự do thỏa thuận lại với nhau trên một cơ sở tự nguyện, không cưỡng chế, không cứng nhắc như tòa án, lại vừa có thể dựa trên luật pháp để đảm bảo quyền lợi của mình, không để thua thiệt với đối phương Phán quyết của trọng tài dựa trên tiền đề là sự thỏa thuận của các bên Các bên đương sự có thể tự do thỏa thuận trong quá trình giải quyết tranh chấp Tuy nhiên một khi đã thỏa thuận thì phán quyết của trọng tài có tính chất tài phán và bắt buộc các bên phải tuân thủ Đây là sự kết hợp làm nên tính thực dụng cao cho phương pháp giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài

1.1.1.3 Trọng tài đảm bảo quyền tự định đoạt của các bên đương sự

Các bên có quyền tự định đoạt khi lựa chọn trọng tài để giải quyết tranh chấp, ngay từ thỏa thuận trọng tài hay lựa chọn trọng tài viên, lựa chọn quy tắc tố tụng trọng tài, luật áp dụng để giải quyết tranh chấp, địa điểm giải quyết tranh chấp… So với giải quyết tranh chấp bằng tòa án, các đơn vị tranh chấp lựa chọn trọng tài có quyền tự định đoạt cao hơn Bởi vậy đây cũng là một yếu tố làm nên sự khác biệt của trọng tài

1.1.1.4 Phán quyết của trọng tài có giá trị chung thẩm và bắt buộc thi hành đối với mỗi bên

Trọng tài hoạt động dựa trên hình thức xét xử một lần Phán quyết trọng tài có giá trị chung thẩm và không thể kháng cáo trước bất kì cơ quan, tổ chức nào (trừ một số trường hợp liên quan đến hủy phán quyết trọng tài) Phán quyết của trọng tài bắt buộc thi hành đối với các bên tham gia Đặc điểm này là một yếu tố quan trọng tạo điều kiện thuận lợi trong việc giải quyết tranh chấp nhanh gọn, dứt điểm và là nguyên nhân khiến cho các doanh nghiệp tin tưởng và lựa chọn trọng tài Một khi

đã lựa chọn trọng tài, vấn đề tranh chấp phát sinh sẽ được xét xử nhanh gọn, tiện lợi mà vẫn mang yếu tố luật pháp Phán quyết trọng tài được Nhà nước bảo hộ và

Trang 13

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

cưỡng chế thi hành đối với mỗi bên

1.1.1.5 Trọng tài có kèm theo sự hỗ trợ của tòa án

Trọng tài không phải là cơ quan Nhà nước, không nhân danh Nhà nước nên không có các cơ quan cưỡng chế như Nhà nước Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài lại mang nhiều yếu tố tự nguyện, thỏa thuận giữa các bên, không có sự can thiệp nhiều từ phía các trọng tài viên Bởi vậy việc đảm bảo khách quan trọng quá trình xét xử đối với trọng tài gặp nhiều khó khăn Tuy nhiên trọng tài lại có được cơ chế hỗ trợ từ tòa án theo quy định của pháp luật Tòa án sẽ đảm bảo phán quyết của trọng tài được thực thi khi một hoặc cả hai bên đương sự không thực sự tự nguyện Ngoài ra, tòa án còn có thể hỗ trợ trọng tài ở một số nội dung khác như quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, kê biên tài sản, bảo toàn chứng cứ, cấm hoặc buộc đương sự thực hiện một số hành vi nhất định…

1.1.3 Phân loại trọng tài thương mại

Trọng tài thương mại có hai hình thức được biết đến là trọng tài vụ việc (trọng tài ad hoc) và trọng tài quy chế (trọng tài thường trực)

1.1.3.1 Trọng tài vụ việc (trọng tài ad hoc)

Trọng tài vụ việc là hình thức tổ chức trọng tài do các bên tranh chấp thỏa thuận thành lập để giải quyết một vụ tranh chấp cụ thể và sẽ tự chấm dứt sau khi tranh chấp được giải quyết Đây là hình thức trọng tài xuất hiện sớm nhất và được sử dụng rộng rãi ở các nước trên thế giới (Luật Dương Gia, 2014)

Hình thức trọng tài này không có trụ sở thường trực, không có bộ máy điều hành và không có danh sách trọng tài viên Trọng tài viên được các bên lựa chọn hoặc chỉ định Quy tắc tố tụng là do các bên thỏa thuận lựa chọn một trong những quy tắc tố tụng phổ biến trong nước và quốc tế, trọng tài vụ việc không có quy tắc tố tụng riêng

Trọng tài vụ việc có một số đặc điểm nổi bật Thứ nhất, quyền lựa chọn trọng tài viên của các bên đương sự không bị giới hạn theo một danh sách có sẵn như trọng tài thường trực Thứ hai, các bên đương sự có toàn quyền xác lập quy chế tố tụng mà không phải phụ thuộc vào quy tắc tố tụng của trung tâm trọng tài có sẵn Doanh nghiệp có thể tự định đoạt các cách thiết lập hội đồng trọng tài và thủ tục giải quyết thích ứng với tính chất từng vụ tranh chấp Các đặc điểm này giúp phân

Trang 14

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

biệt trọng tài vụ việc với hình thức trọng tài khác

Như vậy, trọng tài vụ việc là hình thức tổ chức đơn giản, linh hoạt và mềm dẻo về phương thức hoạt động nên nói chung nó phù hợp với tranh chấp ít tình tiết phức tạp, có nhu cầu giải quyết nhanh chóng và nhất là các bên tranh chấp có kiến thức

và hiểu biết pháp luật cũng như kinh nghiệm tranh tụng

1.1.3.2 Trọng tài quy chế (Trọng tài thường trực)

Trọng tài thường trực là trọng tài có tổ chức được thành lập để hoạt động một cách thường xuyên, có trụ sở, có điều lệ và quy tắc xét xử riêng Hiện nay, trọng tài thường trực được tổ chức dưới dạng các trung tâm trọng tài Trung tâm trọng tài là tổ chức phi Chính phủ có tư cách pháp nhân, có con dấu, có tài khoản riêng và có trụ sở giao dịch ổn định (Luật Dương Gia, 2014) Cơ cấu tổ chức của trung tâm trọng tài gồm có ban điều hành và các trọng tài viên của trung tâm Tổ chức quản lý của các trung tâm trọng tài thường đơn giản và gọn nhẹ

Các trung tâm trọng tài có thể tự quyết định về lĩnh vực hoạt động và có quy tắc tố tụng riêng Các bên đương sự phải tuân theo các quy tắc này, mọi sự thay đổi phải được thỏa thuận và phải thông báo cho Hội đồng trọng tài Tuy nhiên, quy chế tố tụng của các trung tâm trọng tài thường linh hoạt, có khả năng đáp ứng các nhà kinh doanh trong việc giải quyết tranh chấp nên sự thay đổi về quy tắc tố tụng thường không cần thiết Do đó, các đương sự chỉ cần thỏa thuận áp dụng các bộ quy tắc này, không phải mất thêm thời gian thỏa thuận và tiện lợi khi các doanh nghiệp này không am hiểu nhiều trong vấn đề kiện tụng

Các tổ chức trọng tài thường trực đều độc lập và không có quan hệ gì với nhau trong việc giải quyết các tranh chấp kinh tế, không phụ thuộc vào nhau và đều bình đẳng trước sự lựa chọn của doanh nghiệp Việc lựa chọn các tổ chức trọng tài cũng hoàn toàn phụ thuộc vào sự thỏa thuận của mỗi bên

Trong quá trình hoạt động, các trung tâm trọng tài có quyền mở rộng hoặc thu hẹp phạm vi lĩnh vực hoạt động của mình, nhưng phải được sự đồng ý của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Các trung tâm trọng tài có thể được tổ chức và hoạt động với tính chất trọng tài chuyên ngành (tập trung giải quyết một số loại tranh chấp thương mại nhất định) Việc này làm tăng tính chuyên môn và nghiệp vụ cho các trung tâm, giúp giải quyết các tranh chấp nhanh chóng và hợp pháp

Trang 15

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

1.1.4 Ưu nhược điểm của phương thức trọng tài

1.1.4.1 Ưu điểm của phương thức trọng tài

Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài đảm bảo quyền tự do thỏa thuận của các bên Trọng tài không bị ràng buộc bởi nguyên tắc lãnh thổ, các bên có quyền lựa chọn bất kỳ trung tâm trọng tài trong nước và nước ngoài để giải quyết tranh chấp đồng thời lựa chọn trọng tài viên có chuyên môn, nghiệp vụ, lựa chọn quy tắc, thủ tục tố tụng, ngôn ngữ, thời gian, địa điểm… để giải quyết tranh chấp Bởi vậy, đối với các tranh chấp mang tính quốc tế, trọng tài thường là phương thức được ưu tiên lựa chọn hơn so với tòa án Sự tự do thỏa thuận mang ý nghĩa quan trọng đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trong và ngoài nước, vì điều này đem lại một số lợi ích cho các doanh nghiệp khi giảm bớt chi phí phiên dịch, di chuyển, sự khác biệt về luật pháp,… Như vậy, trọng tài đề cao tính tự do thỏa thuận giữa các bên trong giải quyết tranh chấp

Trọng tài là cơ chế giải quyết tranh chấp dứt điểm Phán quyết của trọng tài có giá trị chung thẩm, không bị kháng cáo, kháng nghị Trong khi đó, xét xử tại tòa án có thể phải trải qua nhiều cấp trước khi bản án thực sự có hiệu lực và kết thúc vụ tranh chấp Điều này giúp tiết kiệm chi phí, thời gian cho các doanh nghiệp

Trọng tài giải quyết tranh chấp theo nguyên tắc xét xử kín, đảm bảo bí mật thương mại về khiếm khuyết chất lượng sản phẩm cho các bên đương sự, giữ vững

uy tín thương mại Trong khi đó, xét xử tại tòa án sẽ công khai thông tin về vụ tranh chấp cho công chúng, ảnh hưởng đến uy tín cũng như hoạt động kinh doanh của các bên có liên quan Bởi vậy đây là một trong những ưu điểm khi giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại

Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài mang tính chuyên môn cao Hội đồng trọng tài là do các bên lựa chọn, trong đó các trọng tài viên được chọn là những người am hiểu về lĩnh vực tranh chấp và luật pháp Trong khi đó, các thẩm phán tại tòa án đều được chỉ định từ Chánh án, có thể thẩm phán không có trình độ chuyên môn cao liên quan đến đối tượng tranh chấp, đặc biệt là một số ngành đặc thù như dầu khí, xây dựng, tài chính,… Lựa chọn trọng tài viên phù hợp trong phương thức trọng tài góp phần nâng cao hiệu quả, công bằng và chính xác trong giải quyết tranh chấp

Trang 16

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Trọng tài là một cơ chế giải quyết tranh chấp mềm dẻo, nhanh chóng, thuận lợi cho các bên Khi xét xử tại tòa án, các bên hoàn toàn phụ thuộc vào sự chỉ đạo của tòa án về thủ tục, thời gian, địa điểm cách thức xét xử Trong khi đó, với trọng tài, các bên thông thường được tự do lựa chọn thủ tục, thời gian, địa điểm, phương thức giải quyết tranh chấp tiện lợi, nhanh chóng, hiệu quả nhất cho các bên trong khuôn khổ pháp luật cho phép Điều này có thể làm giảm chi phí, thời gian và tăng hiệu quả cho quá trình giải quyết tranh chấp

Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp thường được ưu tiên hơn đối với các tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài Khi sử dụng phương thức trọng tài, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu có thể lựa chọn trọng tài viên, địa điểm, luật pháp của các nước trong quá trình giải quyết tranh chấp Điều này giúp tạo điều kiện cho tranh chấp được giải quyết được thuận lợi hơn Hơn nữa, việc công nhận và thi hành quyết định của tòa án nước ngoài so với phán quyết của trọng tài nước ngoài thường phức tạp và khó khăn hơn Do đó, các doanh nghiệp nước ngoài sẽ ưu tiên sử dụng phương thức trọng tài để giải quyết tranh chấp phát sinh

1.1.4.2 Nhược điểm của phương thức trọng tài

Mặc dù trọng tài có nhiều ưu điểm vượt trội so với các phương thức giải quyết khác nhưng vẫn tồn tại một số hạn chế nhất định Thứ nhất, chi phí giải quyết bằng trọng tài thương mại tương đối cao so với mức án phí giải quyết tại tòa án Thứ hai, phán quyết của trọng tài thương mại mang tính chung thẩm vừa là một ưu điểm nhưng đồng thời cũng là một nhược điểm, đòi hỏi quá trình giải quyết tranh chấp hoàn toàn chính xác, không được phép phạm sai lầm vì các bên không có quyền được kháng cáo Điều này gây khó khăn trong việc sửa chữa sai phạm sau quá trình giải quyết tranh chấp Thứ ba, phán quyết trọng tài không phải lúc nào cũng được thi hành thuận lợi như quyết định của tòa án Trọng tài thương mại không phải cơ quan Nhà nước nên phán quyết của trọng tài thường phải nhờ đến sự hỗ trợ của cơ quan thi hành án để có thể được thực thi Ngoài ra, trọng tài không có thẩm quyền kiểm kê tài sản, áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với tài sản là đối tượng tranh chấp Việc kiểm tra chỉ thực hiện thông qua tòa án khi các bên có yêu cầu Do vậy trọng tài thiếu tính cưỡng chế đối với các bên tham gia trong quá trình giải quyết tranh chấp

Trang 17

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

1.2 Phán quyết của trọng tài thương mại

1.2.1 Khái niệm phán quyết của trọng tài thương mại

Khi các bên tranh chấp có thỏa thuận trọng tài về việc giải quyết tranh chấp, trọng tài sẽ thụ lý để giải quyết theo một trình tự, thủ tục mà pháp luật về trọng tài thương mại quy định Kết thúc quá trình giải quyết tranh chấp, trọng tài thương mại sẽ đưa ra quyết định cuối cùng gọi là phán quyết Phán quyết được hiểu là một quyết định để mọi người phải tuân theo Cũng có thể hiểu rằng phán quyết là kết quả cuối cùng của một trình tự, thủ tục pháp lý theo quy định của pháp luật (Hội đồng phối hợp phổ biến giáo dục pháp luật trung ương, 2013)

Phán quyết trọng tài khác với quyết định trọng tài Quyết định trọng tài là quyết định của hội đồng trọng tài trong quá trình giải quyết tranh chấp Phán quyết của trọng tài thương mại là kết quả hòa giải tranh chấp được hội đồng trọng tài tuyên bố trong phiên họp cuối cùng và chấm dứt tố tụng trọng tài, là sản phẩm mong đợi cuối cùng của các bên tranh chấp và cả Hội đồng trọng tài (Điều 3 Luật Trọng tài thương mại) Phán quyết của trọng tài có tính chung thẩm, ràng buộc tất cả các bên của tranh chấp dù các bên có đồng ý hay không Nếu hết thời hạn thi hành phán quyết trọng tài mà bên phải thi hành không tự nguyện thi hành thì bên được thi hành phán quyết có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền thi hành phán quyết trọng tài

Về hình thức, phán quyết trọng tài là một văn bản được đưa ra bởi Hội đồng trọng tài, tạo ra một sự kiện pháp lý chấm dứt tố tụng trọng tài Về nội dung, phán quyết bao gồm kết quả giải quyết tranh chấp giữa hai bên, kết luận của Hội đồng trọng tài, quy định quyền và nghĩa vụ của mỗi bên phải thực hiện

Như vậy, có thể đưa ra khái niệm: Phán quyết của trọng tài thương mại là văn bản có giá trị pháp lý của Hội đồng trọng tài thương mại giải quyết toàn bộ vụ tranh chấp thương mại giữa các bên tranh chấp và chấm dứt tố tụng trọng tài, buộc các bên tham gia tranh chấp phải thực hiện

1.2.2 Đặc điểm phán quyết của trọng tài thương mại

Phán quyết trọng tài là quyết định giải quyết toàn bộ vụ tranh chấp và chấm dứt tố tụng trọng tài của hội đồng trọng tài Quá trình giải quyết toàn bộ vụ tranh chấp của Hội đồng trọng tài tính từ thời điểm trung tâm trọng tài nhận được đơn khởi

Trang 18

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

kiện của nguyên đơn (đối với trọng tài thường trực) hoặc từ khi bị đơn nhận được đơn khởi kiện (đối với trọng tài vụ việc) cho đến khi ra quyết định trong phiên họp cuối cùng Kết thúc quá trình đó, một phán quyết sẽ được đưa ra và có giá trị chung thẩm Phán quyết này so với các quyết định khác mà Hội đồng trọng tài ban hành sẽ có giá trị cuối cùng, giải quyết tất cả các vấn đề tồn tại và mang tính ràng buộc đối với mỗi bên

Phán quyết trọng tài phải trình bày theo một quy định chung về hình thức văn bản theo quy định của pháp luật Việc trình bày phán quyết trọng tài có liên quan đến tính thực thi của phán quyết và ảnh hưởng đến giá trị của phán quyết đó

Phán quyết của trọng tài có tính ràng buộc đối với các bên tham gia Phán quyết của trọng tài buộc các bên tham gia phải thực hiện Sau khi trọng tài thương mại đưa ra phán quyết thì các bên không có quyền kháng cáo trước bất kì một tổ chức nào trừ khi có cơ sở cho rằng phán quyết đó vi phạm pháp luật Nhờ đặc điểm này khiến cho giải quyết tranh chấp bằng trọng tài diễn ra nhanh gọn, không qua nhiều cấp phán quyết như tòa án

1.2.3 Công nhận và thực thi phán quyết của trọng tài thương mại

Công nhận và thực thi phán quyết trọng tài là một thủ tục tố tụng đặc biệt, do

cơ quan có thẩm quyền tiến hành nhằm xem xét để công nhận tính hiệu lực của phán quyết trọng tài trên phạm vi quy định Sau khi xem xét và được công nhận tính hiệu lực, nó sẽ đảm bảo cưỡng chế thi hành Công nhận và thi hành phán quyết trọng tài thường đi kèm với nhau Một phán quyết phù hợp với quy định của pháp luật sẽ được công nhận hợp pháp Khi đó các bên có mặt trong phán quyết cần thực hiện những gì được yêu cầu để giải quyết tranh chấp và đảm bảo công bằng (Đặng Trung Hà, 2009)

Việc thi hành phán quyết trọng tài có thể thực hiện bằng tự nguyện hoặc cưỡng chế Một bên có thể tự nguyện thi hành quyết định trọng tài nếu hoàn toàn đồng ý với quyết định đó, hoặc có thể do áp lực từ các bên khác trong hoạt động thương mại nên bắt buộc thi hành Tuy nhiên, trường hợp có bên không tự nguyện thi hành quyết định trọng tài thường xuyên xảy ra, dẫn đến việc cần phải cưỡng chế thi hành Sự cưỡng chế này không đến từ bên còn lại cũng không đến từ bên trọng tài, mà nằm ở Nhà nước Do đó việc đảm bảo thi hành quyết định trọng tài nằm trong tay

Trang 19

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

tòa án và các cơ quan quyền lực của Nhà nước Phán quyết của trọng tài có thể được thi hành trên thực tế chỉ có cơ quan Nhà nước có thể đảm bảo

Hết thời hạn thi hành mà bên phải chịu thi hành phán quyết không tự nguyện thi hành và cũng không yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, thì bên được thi hành có quyền làm đơn yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền thi hành phán quyết trọng tài Đối với phán quyết của trọng tài vụ việc, bên được thi hành có quyền làm đơn yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền thi hành phán quyết trọng tài sau khi phán quyết được đăng ký tại tòa án nơi Hội đồng trọng tài đã

ra phán quyết

Như vậy, xét về thủ tục trọng tài thì công nhận và thi hành quyết định trọng tài là tổng thể các nguyên tắc và quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ liên quan tới việc công nhận và thi hành quyết định trọng tài, nhưng xét về mặt thuật ngữ thì đó là hành vi của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thừa nhận quyết định của trọng tài đã có hiệu lực pháp luật và làm cho quyết định được thực hiện trên thực tế (Nguyễn Trung Tín, 2014)

Các quyết định của trọng tài được Tòa án hỗ trợ và đảm bảo tính thực thi, khiến cho các doanh nghiệp an tâm và lựa chọn trọng tài Phán quyết trọng tài được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự Quy định đã thể hiện sự hỗ trợ rõ nét nhất của Nhà nước đối với hoạt động trọng tài, vì trọng tài là phi Chính phủ nên bản thân trọng tài không thể cưỡng chế thi hành phán quyết của mình Nếu trọng tài đã phán quyết mà bên phải thi hành không chịu thi hành, bên được thi hành cũng như bản thân trọng tài sẽ không có cách gì buộc thi hành được Vì thế, Nhà nước hỗ trợ thi hành phán quyết trọng tài là sự hỗ trợ vô cùng cần thiết và hiệu quả

Công ước New York 1958 về công nhận và thi hành các quyết định của trọng tài nước ngoài là một trong những văn bản pháp lý quy định về vấn đề này Theo đó, đối với các quyết định trọng tài được ban hành tại lãnh thổ của một quốc gia khác với quốc gia có nơi yêu cầu công nhận và thi hành quyết định trọng tài đó, quyết định trọng tài nước ngoài sẽ được công nhận và ràng buộc thi hành đối với các bên tham gia vào công ước này Tuy nhiên, phán quyết của trọng tài nước ngoài có thể bị xem xét và không công nhận tính thực thi bởi tòa án, mặc dù tòa án chỉ

Trang 20

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

xem xét tính hợp pháp về hình thức của phán quyết chứ không đi sâu vào nội dung vụ tranh chấp Như vậy, xét về tổng thể, các phán quyết của trọng tài trong các nước là thành viên của Công ước New York đều có thể đảm bảo thi hành đối với các nước thành viên khác Trong khi đó, các quyết định của tòa án nước ngoài để có thể được xem xét và công nhận hiệu lực cần có các thủ tục đặc biệt, phức tạp hơn so với phán quyết trọng tài nước ngoài Để công nhận quyết định của tòa án nước ngoài cần dựa vào các Điều ước quốc tế, các Hiệp định song phương về tương trợ tư pháp mà các bên đã kí kết Bởi vậy, đối với các tranh chấp xảy ra mang yếu tố quốc tế, việc thi hành phán quyết trọng tài sẽ được đảm bảo hơn so với tòa án nước ngoài

1.3 Hủy phán quyết của trọng tài thương mại

1.3.1 Khái niệm hủy phán quyết của trọng tài thương mại

Phán quyết của trọng tài thương mại có giá trị chung thẩm đối với mỗi bên, vụ việc đã được trọng tài giải quyết sẽ không được giải quyết lại bởi bất kì cơ quan tổ chức nào Tuy nhiên điều đó không có nghĩa là phán quyết trọng tài không thể thay đổi Tòa án có thể hủy phán quyết trọng tài khi các bên tham gia có yêu cầu và có căn cứ để hủy phán quyết đó Hủy phán quyết trọng tài có thể hiểu đơn giản rằng một phán quyết của hội đồng trọng tài đưa ra bị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền không công nhận tính hợp pháp và bị coi là không có hiệu lực Khi đó các bên có liên quan không phải thực thi nội dung của phán quyết và vụ tranh chấp đó coi như chưa được giải quyết

Thủ tục hủy phán quyết trọng tài của tòa án không phải là thủ tục xét xử lại vụ kiện, không phải thủ tục phúc thẩm trong tố tụng dân sự, tòa án chỉ xem xét về mặt hình thức đối với phán quyết trọng tài được đưa ra Khi nhận được đơn yêu cầu hủy phán quyết của trọng tài đối với các vụ tranh chấp đã được trọng tài giải quyết, tòa án không xét xử lại vụ tranh chấp mà chỉ đối chiếu các trường hợp hủy quyết định trọng tài trong các văn bản quy phạm pháp luật và các chứng cứ của các bên đưa ra để ra quyết định hủy phán quyết nếu có đủ cơ sở chứng minh phán quyết của trọng tài là vi phạm pháp luật Thủ tục tòa án xét xử đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài chỉ có một cấp, Hội đồng gồm ba thẩm phán xem xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài và quyết định của Hội đồng là chung thẩm, có hiệu lực thi hành ngay

Trang 21

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Trong trường hợp tòa án ra quyết định hủy phán quyết trọng tài, các bên có thể thỏa thuận để đưa vụ tranh chấp đó ra giải quyết tại một trung tâm trọng tài khác hoặc khởi kiện tại tòa án Ngược lại trường hợp tòa án không hủy phán quyết trọng tài thì phán quyết đó của trọng tài phải được thi hành

1.3.2 Tác động của hủy phán quyết trọng tài thương mại

1.3.2.1 Tác động đối với doanh nghiệp

Tác động tích cực

Phán quyết của trọng tài thương mại có thể bị hủy bởi tòa án, nếu chứng minh được có sự sai sót trong vấn đề tố tụng Trong trường hợp sai sót thực sự xảy ra, thì pháp luật quy định tòa án có thẩm quyền có thể hủy phán quyết của trọng tài sẽ đem

lại cho doanh nghiệp một số lợi ích nhất định:

Đảm bảo tính công bằng, minh bạch trong giải quyết tranh chấp bằng trọng tài Tranh chấp một khi đã xảy ra, thì việc tìm đúng sai của các bên là một vấn đề

nan giải Nó không chỉ đơn thuần là việc sự thật xảy ra như thế nào, mà còn bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau như vị thế, danh tiếng, quyền lực, của cải,… Nói một cách khác, trong quá trình tố tụng, các bên có sử dụng vị thế của mình gây ảnh hưởng và vi phạm quy tắc tố tụng hay không, điều này chưa thể nắm chắc Một khi phán quyết của trọng tài đã được đưa ra, các bên không thể có bất cứ kháng cáo nào Như vậy, trong trường hợp có thể đưa ra bằng chứng cho thấy phán quyết của trọng tài là không hợp lệ, doanh nghiệp có thể đưa đơn lên tòa án xin hủy phán quyết trọng tài để đảm bảo tính công bằng cho mình và trong kinh doanh thương mại

Doanh nghiệp có thêm thời gian thu thập chứng cứ Việc tìm kiếm bằng chứng

cho các vụ tranh chấp luôn là vấn đề khó khăn cho doanh nghiệp, nhất là khi các vụ giao thương vượt ra khỏi tầm biên giới quốc gia Để tìm hiểu thông tin về đối tác nước ngoài, doanh nghiệp thường mất khá nhiều thời gian tiếp cận và có thể bị gây khó khăn từ đối tác Trong khi đó, trọng tài luôn là nơi giải quyết tranh chấp nhanh gọn, tiết kiệm thời gian Nếu sau phán quyết trọng tài được đưa ra, doanh nghiệp mới tìm được bằng chứng cho rằng phán quyết đó không đúng, ví như tìm ra đối tác đưa bằng chứng giả, doanh nghiệp có thể trình đơn lên tòa án để hủy phán quyết trọng tài Khi tòa án nhận đơn và giải quyết, doanh nghiệp sẽ có nhiều thời gian hơn

Trang 22

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

cho việc tìm kiếm chứng cứ cho mình

Tạo tâm lý an tâm về luật pháp khi doanh nghiệp lựa chọn trọng tài Về bản

chất, các trung tâm trọng tài vẫn không phải cơ quan Nhà nước, không có quyền lực của Nhà nước, nhưng phán quyết được đưa ra lại có giá trị chung thẩm, được bảo hộ bởi Nhà nước Điều này gây tâm lý không an tâm về tính hợp pháp của các trình tự tố tụng cũng như phán quyết đưa ra của trọng tài Việc doanh nghiệp cho thể xin hủy phán quyết nếu tìm ra phán quyết là vi phạm quy định pháp luật sẽ tạo ra tâm lý

an tâm và tin tưởng về độ chính xác và công bằng của phán quyết trọng tài

Thực tế cho thấy, nhiều doanh nghiệp đã áp dụng luật này để hủy thành công các phán quyết trọng tài vi phạm quy định của pháp luật, làm cho các vụ tranh chấp trở lên minh bạch và rõ ràng hơn, trả lại lợi ích đáng có cho các đơn vị và tạo nền tảng phát triển cho giao dịch thương mại quốc tế

Tác động tiêu cực

Đối với nguyên đơn, việc hủy thành công phán quyết trọng tài là đem lại cho họ nhiều lợi ích Tuy nhiên, xét đến thiệt hại tổng thể cho bị đơn và cả nguyên đơn, thì việc hủy phán quyết trọng tài không phải là yếu tố có thể lạm dụng Việc này gây nhiều thiệt hại về mặt vật chất và tinh thần cho các bên cũng như ảnh hưởng đến giao thương

Thời gian tranh chấp bị kéo dài gây tốn kém chi phí đối với cả hai bên Một

trong những lợi ích của việc thỏa thuận trọng tài thương mại làm cơ quan giải quyết tranh chấp phát sinh là cơ chế giải quyết một lần, không kháng cáo, tiết kiệm thời gian và công sức, tiền bạc của các bên bỏ ra để giải quyết tranh chấp Thế nhưng, việc một bên yêu cầu tòa án hủy quyết định trọng tài sẽ làm mất đi lợi ích đó và kéo dài cuộc tranh chấp Hai bên phải đối mặt nhau thêm một phiên tòa xét xử phán quyết trọng tài gây tốn thời gian, công sức và cho các bên, chưa kể nếu phán quyết thực sự bị hủy, thì lại phải giải quyết tranh chấp lại từ đầu, từ chuẩn bị thủ tục đến các phiên họp Kéo dài tranh chấp khiến tốn thời gian của cả hai bên, ảnh hưởng đến công việc kinh doanh và gây mệt mỏi, mất tin tưởng vào đối phương

Tranh chấp bị công khai ảnh hưởng đến uy tín kinh doanh cũng như vị thế trên thương trường Đặc điểm của xét xử trọng tài là xét xử kín, đảm bảo giữ bí mật

kinh doanh trừ trường hợp hai bên có thỏa thuận khác, trong khi đó tòa án luôn là

Trang 23

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

nơi xét xử công khai Việc đưa phán quyết trọng tài ra tòa án sẽ làm mất đi tính bí mật, gây ảnh hưởng không tốt đến uy tín của các bên Nhiều phiên tòa đi sâu vào cuộc tranh chấp khiến các thông tin về chất lượng sản phẩm lan truyền trên thị trường, làm cho các doanh nghiệp lo ngại về uy tín của mình Giữ vững hình ảnh đối với khách hàng luôn là điều quan trọng hàng đầu của các doanh nghiệp Bởi vậy việc đưa phán quyết trọng tài ra tòa án xem xét là việc không mong muốn của cả hai bên

Doanh nghiệp mất tin tưởng vào trung tâm trọng tài Giải quyết tranh chấp

thương mại bằng trọng tài có nhiều lợi ích ưu việt hơn so với tòa án, nhưng thực tế cho thấy doanh nghiệp chưa thực sự tin tưởng vào trọng tài Bởi vậy, việc quy định phán quyết trọng tài có thể bị hủy khiến cho các doanh nghiệp trong nước càng mất niềm tin vào trọng tài thương mại Vì những lo ngại đó, họ quyết định chọn tòa án giải quyết tranh chấp, bỏ qua một số bất cập như giải quyết nhiều lần, công khai bản án,…Quyết định của tòa án luôn khiến doanh nghiệp an tâm hơn so với phán quyết trọng tài, vậy nên dù rằng trọng tài mang lại nhiều lợi ích, doanh nghiệp vẫn bỏ qua và lựa chọn tòa án

Dù việc hủy phán quyết trọng tài đem lại cho doanh nghiệp cả lợi ích và thiệt hại Tuy nhiên tùy vào tình huống tranh chấp, tùy vào kết quả của phán quyết trọng tài, việc lợi và hại bên nào nhiều hơn bên nào vẫn còn là vấn đề cần quan tâm của các doanh nghiệp Tuy nhiên, thiệt hay lợi, xét cho cùng thì chúng ta vẫn nên chọn một phương án giải quyết và đảm bảo công bằng với phương thức đó Việc lựa chọn trọng tài rồi lại ra tòa án xin hủy phán quyết, khác gì đi một con đường vòng mà vẫn không đến đích Điều đó cho thấy việc ban hành quy định tòa án có thể hủy phán quyết trọng tài gây nhiều ảnh hưởng lớn tới các doanh nghiệp

1.3.2.2 Tác động đối với các trung tâm trọng tài

Tác động tích cực

Các trung tâm trọng tài hiện nay tồn tại với tư cách pháp nhân, hoạt động với mục đích kinh doanh và được bảo hộ dưới pháp luật của Nhà nước Vì trung tâm trọng tài không phải là cơ quan Nhà nước nhưng lại có phán quyết có giá trị chung thẩm và không kháng cáo, nên trung tâm trọng tài vẫn luôn nằm trong sự giám sát

Trang 24

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

của Nhà nước Với quy định của pháp luật về hủy phán quyết trọng tài thương mại của Nhà nước, đảm bảo một số lợi ích cho các trung tâm trọng tài như sau:

Tạo ra một động lực để hội đồng trọng tài thực hiện tốt vai trò và trách nhiệm của mình Hội đồng trọng tài và các trọng tài viên không phải là viên chức Nhà

nước, phán quyết đưa ra không mang tính quyền lực Nhà nước nhưng được bảo hộ và bắt buộc thi hành Điều này cho thấy công việc của trọng tài viên là đảm bảo công bằng, minh bạch trong kinh doanh Dù hoạt động với mục đích thu lợi nhuận từ phí dịch vụ, nhưng hội đồng trọng tài cần xét xử công minh, rõ ràng, gắn liền với pháp luật Dưới sự giám sát của pháp luật với quy định hủy phán quyết vi phạm, Hội đồng trọng tài sẽ phải thực hiện tốt vai trò của mình, đưa ra một phán quyết chuẩn xác để giữ vững uy tín đối với doanh nghiệp và đối với Nhà nước Điều đó vừa là thước đo pháp luật vừa là hình phạt đối với các phán quyết trọng tài

Đưa ra các bài học để các trung tâm trọng tài rút kinh nghiệm về sau Thực tế

hiện nay các phán quyết trọng tài bị hủy khá nhiều cùng với nhiều lý do khác nhau Việc này khiến cho các trung tâm trọng tài và các trọng tài viên phải suy nghĩ và rút

ra bài học Chưa kể đến quyết định của tòa án đúng hay sai, những lý do tòa án đưa

ra làm phán quyết bị hủy cũng là một trong những thiếu sót của Hội đồng trọng tài Để tránh việc phán quyết bị hủy với những lý do chưa chính đáng, Hội đồng trọng tài cần rút kinh nghiệm và thực hiện tốt hơn các cuộc tranh chấp về sau, không để tình trạng hủy phán quyết dẫn đến mất uy tín của mình

Tác động tiêu cực

Đi cùng với một số ích lợi từ quy định hủy phán quyết trọng tài thương mại là một số thiệt hại đối với các trung tâm trọng tài Phán quyết là quyết định cuối cùng đưa ra để giải quyết toàn bộ một vụ tranh chấp, là kết quả làm việc của hội đồng trọng tài Việc tòa án hủy phán quyết của trọng tài gây một số khó khăn nhất định về phía các trung tâm trọng tài như sau:

Làm mất uy tín của trọng tài đối với các doanh nghiệp Đây là một trong những

thiệt hại lớn nhất khi phán quyết của hội đồng trọng tài bị hủy bởi tòa án Trọng tài cũng là một đơn vị kinh doanh dịch vụ, việc mất uy tín trọng tài ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của các trung tâm trọng tài Hiện nay, doanh nghiệp tìm đến trọng tài để giải quyết tranh chấp so với tòa án còn chưa nhiều, một trong những nguyên do

Trang 25

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

đó là doanh nghiệp chưa thực sự tin tưởng vào trọng tài Nỗ lực tạo niềm tin cho doanh nghiệp nhiều năm nay của các trung tâm trọng tài sẽ bị mất đi nếu các phán quyết của trọng tài bị hủy Với trung tâm trọng tài thì mất niềm tin của doanh nghiệp là một sự thiệt hại khá lớn về cả vật chất lẫn tinh thần, giảm số lượng giải quyết tranh chấp của trọng tài, cản trở sự phát triển của các trung tâm trọng tài

Giảm uy tín của trọng tài đối với Nhà nước Tuy không phải cơ quan Nhà nước

nhưng trọng tài luôn được Nhà nước bảo hộ vì những lợi ích của nó Việc phán quyết trọng tài bị hủy khiến cho Nhà nước bắt đầu không tin tưởng vào năng lực giải quyết của trọng tài, đồng thời có thể đưa ra và sửa đổi các luật quy định gây bất lợi hơn đối với trọng tài

Làm giảm vị thế của trọng tài trong nước so với trọng tài thế giới Trong các

cuộc tranh chấp mang yếu tố nước ngoài, thỏa thuận trọng tài có thể lựa chọn trọng tài trong nước hoặc trọng tài bên nước của đối tác Việc hủy phán quyết sẽ dẫn tới các doanh nghiệp nước ngoài mất lòng tin vào trọng tài trong nước, họ sẽ ưu tiên trọng tài nước họ, khiến doanh nghiệp nước ta chịu nhiều thiệt thòi khi chịu kinh phí di chuyển, phiên dịch,… Đồng thời uy tín của các trung tâm trọng tài trong nước so với bạn bè quốc tế sẽ bị ảnh hưởng xấu, gây bất lợi đối với tình hình hoạt động của trọng tài nước nhà

Như vậy việc hủy phán quyết của trọng tài thương mại cũng gây nhiều ảnh hưởng tới hoạt động của các trọng tài trong nước Xét cho cùng, việc một phán quyết bị hủy dẫn tới thiệt hại nhiều hơn là lợi ích đối với trọng tài Các trung tâm trọng tài trong nước đang cố gắng cải thiện tình hình bị hủy phán quyết có thể cho thấy những tác động không nhỏ của việc này tới hoạt động và uy tín của họ

1.3.2.3 Tác động đối với Nhà nước

Tác động của việc các phán quyết của trọng tài bị hủy cũng gây một số ảnh hưởng tới Nhà nước và cụ thể là các cơ quan Nhà nước như các tòa án Trước hết, có thể kể đến việc quy định pháp luật về hủy phán quyết trọng tài đem đến các lợi ích sau:

Giám sát hoạt động của các trung tâm trọng tài, đảm bảo tính công bằng trong giao thương Việc ban hành các văn bản pháp luật của Nhà nước với mục đích cao

nhất là giám sát và điều chỉnh hoạt động của các tổ chức trong nước Nhà nước, cụ

Trang 26

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

thể là các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền như tòa án, có thể giám sát quá trình xét xử của trọng tài, đảm bảo tính chính xác cho các phán quyết Tòa án là nơi giám sát trọng tài, dựa vào các luật lệ quy định hiện hành Nhờ vào đó, tòa án có thể kiểm tra các phán quyết của Hội đồng trọng tài, đảm bảo tính công bằng trong tranh chấp

Giữ ổn định hoạt động của các trung tâm trọng tài Các phán quyết bị hủy

khiến cho các trung tâm trọng tài hoạt động cẩn trọng hơn, chính xác hơn Luật ban hành giúp cho hoạt động của các trung tâm trọng tài có tổ chức và chuyên nghiệp hơn Đồng thời tránh việc phía trọng tài xét xử không công bằng, nhận hối lộ, làm giảm hiệu quả giải quyết tranh chấp, ổn định lòng tin cho doanh nghiệp về sự công bằng

Bên cạnh đó, việc phán quyết trọng tài bị hủy cũng đem lại ít nhiều khó khăn cho Nhà nước, điển hình là việc quá tải trong hệ thống tố tụng tranh chấp kinh tế, thương mại hiện nay Tòa án luôn là cơ quan có thẩm quyền cao nhất, bởi vậy lòng tin của doanh nghiệp về các quyết định của tòa cũng nhiều hơn Tuy vậy việc xét xử tranh chấp tại tòa án thường qua nhiều cấp, mất nhiều thời gian và số lượng các vụ tranh chấp ngày càng nhiều và phức tạp, nên tình trạng quá tải đang diễn ra hàng ngày tại các tòa án kinh tế Việc ban hành các luật trọng tài cũng với sự ra đời của các trung tâm trọng tài góp phần làm giảm sự quá tải cho các tòa án và tiết kiệm thời gian cho các doanh nghiệp Nhưng trọng tài xử xong, doanh nghiệp lại mang phán quyết ra tòa án xin hủy, vậy chẳng khác gì không có trọng tài, làm cho số lượng vụ án tòa cần xử lại tăng lên Ngoài ra, việc các phán quyết của trọng tài bị hủy cũng khiến cho tòa án không tin tưởng vào các quyết định của trọng tài, gây ảnh hưởng đến hoạt động của các trung tâm trọng tài

1.3.3 Vấn đề pháp luật về hủy phán quyết của trọng tài thương mại tại một số quốc gia điển hình

1.3.3.1 Pháp luật về hủy phán quyết trọng tài tại Trung Quốc

Trung Quốc là một quốc gia lớn nằm ở địa phận Đông Á với dân số đông nhất thế giới Luật Trọng tài của Trung Quốc cũng được các nước trên thế giới ghi nhận là phù hợp với tình hình phát triển của trọng tài thương mại nước này Theo Luật Trọng tài Trung Quốc, việc thu hồi các quyết định trọng tài có thể được chia thành phán quyết trọng tài trọng nước bị thu hồi và hủy bỏ quyết định của trọng tài nước

Trang 27

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

ngoài, cả hai đều dựa trên cơ sở luật định là không giống nhau Sự khác biệt chính là việc thu hồi dựa trên các vấn đề thủ tục và vấn đề nội dung của quyết định các trọng tài trong nước Về việc thu hồi quyết định của trọng tài nước ngoài, tòa án có thể không xem xét đến nội dung của phán quyết mà chỉ xem xét đến các vấn đề thủ tục Cách tiếp cận này thu hẹp phạm vi can thiệp của tòa án đối với trọng tài quốc tế, phù hợp với mục đích tăng cường sự hấp dẫn của trọng tài nước ngoài tại Trung Quốc trong bối cảnh quốc tế, phù hợp với lợi ích công cộng của xã hội (Hội đồng phối hợp phổ biến giáo dục pháp luật trung ương, 2013)

Theo Điều 58 Luật Trọng tài Trung Quốc 1994, nếu các bên đưa ra bằng chứng chứng minh các phán quyết thuộc các trường hợp sau đây có thể áp dụng việc thu hồi phán quyết: không có thỏa thuận trọng tài; vấn đề phán quyết không thuộc về thỏa thuận trọng tài hoặc ủy ban trọng tài không có thẩm quyền phân xử; các thành viên của hội đồng trọng tài vi phạm về thủ tục pháp lý hoặc thủ tục trọng tài; phán quyết dựa trên các bằng chứng giả mạo; một bên che giấu bằng chứng đủ để ảnh hưởng đến tính khách quan của phán quyết; trọng tài nhận hối lộ, thiên vị; phán quyết đi ngược lại với lợi ích công cộng

Các lý do trên nhằm vào các thủ tục xét xử, các tổ chức liên quan, vấn đề đạo đức, bằng chứng đưa ra và lợi ích công cộng Như vậy, phạm vi xem xét hủy bỏ quyết định trọng tài tương đối rộng Để ngăn chặn và khắc phục lỗi các tổ chức trọng tài đưa ra phán quyết bất hợp pháp, đảm bảo sự công bằng của phán quyết trọng tài, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, Luật Trọng tài Trung Quốc cho phép tòa án giám sát tư pháp các quyết định trọng tài Xem xét tư pháp phán quyết trọng tài là thực hiện tiêu chuẩn quốc gia Theo đó tòa án có thể hủy bỏ hoặc từ chối thi hành phán quyết trọng tài sai về mặt pháp lý Nó đảm bảo sự công bằng của phán quyết trọng tài, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp

Xét về mặt bản chất, Luật Trọng tài Trung Quốc chỉ cho phép tòa án dựa trên các vấn đề sai về thủ tục, hình thức và con người để hủy phán quyết trọng tài, chứ không đi sâu vào nội dung các cuộc tranh chấp mà trọng tài đã xử Pháp luật Trung Quốc có phân ra các cấp bậc trọng tài, phân biệt trọng tài trong nước và trọng tài nước ngoài, sử dụng phương thức giám sát tư pháp trước khi quyết định thu hồi hay hủy bỏ quyết định trọng tài Đối với trọng tài trong nước, tòa án có thể xem xét hủy

Trang 28

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

phán quyết nếu phán quyết đó vi phạm pháp luật, tuy nhiên đối với các phán quyết của trọng tài nước ngoài, mang tính quốc tế, tòa án sẽ thực hiện giám sát, kiểm tra và có thể quyết định thu hồi hoặc không thực thi phán quyết đó

1.3.3.2 Pháp luật về hủy phán quyết trọng tài tại Singapore

Singapore là một quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á Trọng tài ở Singapore được hoạt động chủ yếu tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Singapore (SIAC) Trọng tài được sử dụng rộng rãi để giải quyết tranh chấp tại đây, đặc biệt là trong thương mại, xây dựng kĩ thuật cũng như vận tải hàng hải Năm 2011, số vụ tranh chấp được giải quyết tại SIAC là 188 vụ Đến năm 2014 con số này tăng lên 222 vụ, tăng 18% (SIAC, 2014) Số vụ tranh chấp thương mại được giải quyết thông qua trọng tài Singapore ngày càng tăng cho thấy sức hấp dẫn của trọng tài nước này đối với các doanh nghiệp nước khác

Pháp luật liên quan đến trọng tài tại Singapore bao gồm Luật Trọng tài quốc tế, áp dụng cho trọng tài quốc tế, và Luật Trọng tài, áp dụng cho trọng tài trong nước Theo đó, một bên có thể kháng cáo phán quyết của trọng tài lên tòa án khi có vấn đề pháp lý về phán quyết đó Phán quyết trọng tài có thể bị xem xét lại trong các trường hợp sau: một bên tranh chấp không có năng lực hành vi dân sự; thỏa thuận trọng tài không có giá trị pháp lý; nguyên đơn không thông báo hợp lý về chỉ định trọng tài viên, hoặc tố tụng trọng tài, hay không thể trình bày trường hợp của mình; phán quyết được đưa ra không được quy định hoặc không nằm trong các điều khoản thỏa thuận trọng tài hoặc có quyết định về những vấn đề vượt quá phạm vi của thỏa thuận trọng tài; trọng tài viên không phù hợp với thỏa thuận của các bên, trừ khi thỏa thuận đó là trái với các quy định của Luật Trọng tài hoặc Luật Trọng tài quốc tế mà các bên không thể thay đổi được; các vấn đề tranh chấp không thể giải quyết bằng trọng tài theo pháp luật của Singapore; phán quyết trọng tài trái với chính sách công của Singapore

Ngoài ra, Luật Trọng tài và Luật Trọng tài quốc tế của Singapore quy định phán quyết trọng tài có thể bị kháng cáo nếu phán quyết được đưa ra bị ảnh hưởng bởi sự gian lận và tham nhũng hoặc một hành vi vi phạm pháp luật xảy ra của bất kì bên nào dẫn tới việc đưa ra phán quyết

Trang 29

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Có thể thấy, pháp luật về trọng tài của Singapore vừa chặt chẽ lại vừa linh hoạt Trọng tài tại Singapore được bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp Tòa án địa phương có thể can thiệp để hỗ trợ thủ tục tố tụng trọng tài Chẳng hạn như hỗ trợ yêu cầu đưa ra bằng chứng, bảo quản tài sản, bảo lưu bằng chứng, đảm bảo số tiền trong tranh chấp Các lợi ích này đều được đảm bảo ngay cả khi các điểm trọng tài nằm bên ngoài lãnh thổ Singapore (Điều 12A Luật trọng tài quốc tế Singapore) Tòa án tối cao cũng có thể ra lệnh hầu tòa để buộc các nhân chứng tham gia trước tòa án trọng tài (Điều 13 Luật trọng tài quốc tế Singapore) Việc tòa án hỗ trợ trọng tài giải quyết tranh chấp giúp cho các hoạt động trọng tài ở Singapore phát triển mạnh Đó là một trong những lý do khiến Singapore trở thành nước hấp dẫn các trọng tài Tòa án Singapore đã tuyên bố như một chính sách rằng trọng tài là tổ chức giải quyết tranh chấp chuyên nghiệp Pháp luật Singapore cũng có xu hướng tòa án không can thiệp gây bất lợi cho các thủ tục tố tụng trọng tài Đây là một yếu tố quan trọng để phát triển trọng tài cần được học tập

Những nguyên nhân xem xét phán quyết trọng tài trong luật pháp của Singapore cũng khá rộng, bao gồm cả thủ tục, con người và các vấn đề vi phạm pháp luật Tuy nhiên cũng giống như một số nước khác, tòa án chỉ xem xét lại một phán quyết của trọng tài về mặt hình thức chứ không đi sâu vào phân tích nội dung vụ tranh chấp Điều này thể hiện sự tôn trọng về chuyên môn cũng như hoạt động của các tổ chức trọng tài, tránh việc hai cơ quan xử lặp một vụ Các quy định cũng được ghi rõ ràng kèm theo các chú thích, hạn chế việc xung đột luật pháp hay lạm dụng các kẽ hở để thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật

1.3.3.3 Pháp luật về hủy phán quyết trọng tài tại Anh

Anh là một trong những nước có lịch sử phát triển của trọng tài thương mại lâu đời nhất trên thế giới Các doanh nghiệp thường xuyên lựa chọn trọng tài quốc tế để giải quyết tranh chấp xuyên biên giới và lựa chọn London làm nơi xử án Đây vốn là một trung tâm thương mại và tài chính lớn của thế giới, thẩm quyền trung lập và

vô tư, chiếm giữ các kỷ lục về thực thi các phán quyết trọng tài

Pháp luật về trọng tài ở Anh sử dụng Luật Trọng tài 1996 chứa một khuôn khổ chặt chẽ và hiện đại cho trọng tài trong nước và quốc tế đặt tại Anh Tại đây, việc phán quyết của trọng tài bị kháng cáo thường rất khó Trước khi nộp đơn lên tòa án,

Trang 30

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

nguyên đơn trước hết phải sử dụng tất cả bằng chứng của mình trong phiên tòa để điều chỉnh hoặc bổ sung phán quyết và quá trình thủ tục cần kháng cáo Quyết định thu hồi phải được đưa ra trong vòng 28 ngày kể từ ngày phán quyết được ban hành, hoặc kể từ ngày thông báo về kết quả của khiếu nại trọng tài, xem xét, điều chỉnh hoặc bổ sung quyết định Chỉ có ba lý do để phán quyết trọng tài bị khiếu nại: thẩm quyền của Hội đồng trọng tài về nội dung tranh chấp; hủy bỏ vì một hay những lý

do bất thường nghiêm trọng theo quy định của Luật Trọng tài (mặc dù trong thực tế

cơ sở này rất khó để đáp ứng); kháng cáo dựa trên một vấn đề pháp luật (điều này chỉ có thể thực hiện dựa trên sự đồng ý của các bên tham gia hoặc với sự cho phép của tòa án)

Tòa án có thể can thiệp vào các thủ tục hỗ trợ trọng tài khi có điều khoản trong Luật Trọng tài cho phép sự can thiệp của tòa án để ngăn ngừa một sự bất công lớn ngay cả khi không có quy định trong luật Chẳng hạn như tòa án có thể hỗ trợ trọng tài như yêu cầu các bên tham gia, yêu cầu nhân chứng đưa ra thông tin hoặc chứng cứ quan trọng, cấp một lệnh đình chỉ tạm thời, xác định một vấn đề pháp luật phát sinh trong quá trình tố tụng làm ảnh hưởng đáng kể tới quyền lợi của một bên Như vậy, các tòa án của Anh ủng hộ trọng tài và hầu như không can thiệp bất lợi cho trọng tài, chỉ khi có điều khoản vi phạm quy định của Luật Trọng tài Sự hỗ trợ của tòa án trong các thủ tục tố tụng góp phần giải quyết nhanh gọn các tranh chấp do trọng tài phân xử (Hội đồng phối hợp phổ biến giáo dục pháp luật trung ương, 2013)

Pháp luật trọng tài Anh quy định khá rõ về sự độc lập của trọng tài đối với tòa án, trong đó các phán quyết phần lớn được công nhận và thi hành Việc phán quyết bị thu hồi là rất khó và chủ yếu dựa trên các vấn đề về vi phạm pháp luật và thẩm quyền, không đi sâu vào nội dung các vụ tranh chấp Sự phát triển về luật pháp trọng tài ở Anh cho thấy sự công nhận và tôn trọng trọng tài ở đây rất cao, tạo nền tảng cho các doanh nghiệp khu vực lựa chọn trọng tài nước này, tạo điều kiện cho các dịch vụ trọng tài phát triển mạnh

Trang 31

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ HỦY PHÁN QUYẾT CỦA

TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM 2.1 Tổng quan về trọng tài thương mại tại Việt Nam

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển trọng tài thương mại tại Việt Nam

Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp đã hình thành và phát triển ở Việt Nam từ khá lâu, tuy nhiên chỉ trong thời gian gần đây, trọng tài thương mại mới được công nhận và sử dụng rộng rãi theo đúng chuẩn mực trên thế giới

Theo Hội đồng phối hợp phổ biến pháp luật trung ương (2013), khoảng cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, Việt Nam đã có các tòa án thương mại và các quy tắc trọng tài trong Luật tố tụng dân sự Tuy vậy tại thời điểm này trọng tài vẫn chưa được các doanh nghiệp biết đến và sử dụng một cách phổ biến

Trước năm 2003, có hai loại hình trọng tài tồn tại ở nước ta là trọng tài kinh tế nhà nước và trọng tài phi nhà nước

Trọng tài kinh tế nhà nước là mô hình trọng tài do Nhà nước thành lập để giải

quyết các tranh chấp phát sinh từ các hợp đồng kinh tế nhà nước theo Nghị định 20/TTg ngày 14/04/1960 Sau đó Pháp lệnh Trọng tài kinh tế nhà nước ra đời năm

1990 với ba cấp độ trọng tài kinh tế: trọng tài kinh tế nhà nước, trọng tài kinh tế tỉnh và trọng tài kinh tế huyện Như vậy, thực chất trọng tài kinh tế nhà nước là cơ quan của Nhà nước, vừa thực hiện các chức năng quản lý kinh tế, vừa xét xử như tòa án nhằm giải quyết các tranh chấp giữa các tổ chức kinh tế nhà nước Đây vẫn là hình thức mang nhiều tính chất tòa án, chưa thể hiện được vai trò của trọng tài Mặc dù tòa án nhân dân lúc này chỉ giải quyết các tranh chấp dân sự, không giải quyết các tranh chấp kinh tế Đến năm 1993 với sự ra đời của Luật Tổ chức Tòa án 1993, mô hình này bị loại bỏ và thay thế vào đó là Tòa án kinh tế

Trọng tài kinh tế phi nhà nước tồn tại hai mô hình khác nhau Mô hình thứ nhất

là trung tâm trọng tài do Chính phủ thành lập Hội đồng Trọng tài Ngoại thương ra đời bằng Nghị định số 59/CP ngày 30/4/1963 của Hội đồng Chính phủ, sau đó, Hội đồng Trọng tài Hàng hải được thành lập theo Nghị định số 153/CP ngày 05/10/1964 Cho đến năm 1993, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số 204/TTg về việc hợp nhất Hội đồng Trọng tài Ngoại thương và Hội đồng Trọng tài Hàng hải và thành lập Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) bên cạnh

Trang 32

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam Mô hình thứ hai là các trung tâm trọng tài kinh tế tư nhân thành lập theo Nghị định số 116/CP ngày 05/09/1994 của Chính phủ Theo đó có 5 trung tâm trọng tài được thành lập tại TP Hà Nội (2 trung tâm), TP Hồ Chí Minh, Cần Thơ và Bắc Giang

Năm 1995, Việt Nam gia nhập Công ước New York về việc công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài Việc gia nhập này có nghĩa bất kì phán quyết trọng tài nào tại bất kì nước nào là thành viên công ước mà có một bên của phán quyết ở Việt Nam hoặc tài sản ở Việt Nam thì đều được Nhà nước Việt Nam công nhận và bảo hộ tính thực thi Ngược lại, bất kì phán quyết của trọng tài nào ở Việt Nam cũng có thể được công nhận và cho thi hành ở nước thành viên của công ước này

Có thể nói việc giải thể trọng tài kinh tế nhà nước, thành lập các trung tâm trọng tài thương mại độc lập năm 1993 và 1994, tham gia Công ước New York đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng khi Nhà nước để trọng tài thương mại về đúng bản chất và chức năng của nó, đánh dấu sự cải thiện đáng kể môi trường pháp lý nhằm tạo thuận lợi trong việc thu hút đầu tư nước ngoài Tuy nhiên trong giai đoạn này vẫn không có luật về trọng tài thống nhất điều chỉnh hệ thống trọng tài trong nước và trọng tài quốc tế Vì thế mô hình trọng tài tại Việt Nam vẫn chưa tiếp cận được những chuẩn mực của trọng tài thế giới

Do đó, ngày 25/02/2003, Ủy ban Thường vụ Quốc hộ đã ban hành Pháp lệnh Trọng tài thương mại, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2003 để đảm bảo cơ sở pháp lý cho các hoạt động trọng tài Về cơ bản, Pháp lệnh phù hợp với pháp luật và thông lệ quốc tế trong việc điều chỉnh các vấn đề chủ yếu của trọng tài như quy định về hiệu lực của thoả thuận trọng tài, điều kiện trở thành trọng tài viên, quy định về trọng tài vụ việc, mở rộng thẩm quyền chọn trọng tài viên, ghi nhận mối quan hệ giữa trọng tài và toà án bằng một loạt các quy định cụ thể như hỗ trợ thi hành thoả thuận trọng tài, chỉ định trọng tài viên, giải quyết khiếu nại về thẩm quyền của hội đồng trọng tài, áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, giải quyết yêu cầu huỷ quyết định trọng tài, lưu trữ hồ sơ trọng tài,… Pháp lệnh ra đời là một trong những mốc quan trọng trong lịch sử phát triển của pháp luật về trọng tài tại Việt

Trang 33

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Nam, là nền tảng cho pháp lý trọng tài nước nhà tiếp cận, hòa nhập với trọng tài các nước trên thế giới

Trải qua thời gian, cùng với sự phát triển của nhiều yếu tố mới mang tính hội nhập quốc tế cao như Việt Nam trở thành thành viên của của Tổ chức thương mại Thế giới, với sự ban hành một số luật mới như Luật thương mại 2005, Luật đầu tư 2005,… một số quy định của Pháp lệnh đã không còn phù hợp Pháp lệnh Trọng tài thương mại vẫn chưa đủ khả năng tạo ra những cơ sở pháp lý để giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài một cách toàn diện Trên cơ sở đó, ngày 17/06/2010, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật trọng tài thương mại, gồm 13 chương, 82 điều, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2011 và thay thế cho Pháp lệnh Trọng tài thương mại hết hiệu lực cùng ngày Luật Trọng tài thương mại đã kế thừa và phát huy những điểm quan trọng trong Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003, phù hợp với thông lệ quốc tế, tạo ra một khung pháp lý mới cho sự phát triển của hoạt động trọng tài thương mại tại Việt Nam

Ngày 28/07/2011, Chính phủ ban hành Nghị định số 63/2011/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trọng tài thương mại Nghị định này hướng dẫn thi hành Luật Trọng tài thương mại và các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động trọng tài thương mại ở Việt Nam Ngày 20/03/2014, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP về việc hướng dẫn thi hành một số quy định trong luật trọng tài thương mại Đây là một trong những văn bản hướng dẫn chi tiết và bổ sung cho Luật Trọng tài thương mại, hoàn thiện pháp luật Việt Nam về trọng tài

2.1.2 Một số hoạt động của trọng tài thương mại tại Việt Nam

2.1.2.1 Các tổ chức trọng tài tại Việt Nam

Theo thống kê của Bộ Tư pháp, hiện nay trên cả nước có 08 trung tâm trọng tài đang hoạt động, tập trung tại các thành phố lớn, trong đó lớn nhất là Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC) Các trung tâm này hoạt động độc lập, không phân cấp bậc và đều được pháp luật hỗ trợ Dưới đây là danh sách 08 trung tâm trọng tài tại Việt Nam hiện nay:

Trang 34

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Trung tâm trọng tài Thương mại Đông Dương, tên viết tắt là ITAC Thành lập

theo Giấy phép thành lập số 05/BTP/GP ngày 07/03/2014 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp Chủ tịch trung tâm là ông Trịnh Tùng Tâm với tổng số trọng tài viên là 15 người Địa chỉ tại số 10, phố Chương Dương, phường Chương Dương, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội Điện thoại liên hệ: 0466818168

Trung tâm trọng tài thương mại Cần Thơ với tên viết tắt là CCAC Quyết định

thành lập số 268/TCCB ngày 30/01/1999 của Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ Chủ tịch trung tâm: ông Lê Văn Cường và tổng số trọng tài viên là 12 Địa chỉ: 296 đường 30/4, phường Xuân Khánh, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ Số điện thoại: 0903849428

Trung tâm trọng tài thương mại Á Châu có tên viết tắt: ACIAC Giấy phép

thành lập số 03/GPTT ngày 16/5/1997 của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội Chủ tịch trung tâm: ông Trần Quang Mỹ Tổng số trọng tài viên là 37 Địa chỉ: Tầng 3, số 37 Lê Hồng Phong, Ba Đình, thành phố Hà Nội Số điện thoại: 0437344677

Trung tâm trọng tài thương mại Thành phố Hồ Chí Minh, tên viết

tắt: TRACENT Giấy phép thành lập số 2404/GP-UB ngày 08/01/1997 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh Chủ tịch trung tâm là ông Nguyễn Văn On Tổng số trọng tài viên: 27 Địa chỉ: 460 Cách mạng Tháng tám, phường 4, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh Số điện thoại: 0838446975

Trung tâm trọng tài thương mại Tài chính Ngân hàng Việt Nam, tên viết tắt

là VIFIBAR Giấy phép thành lập số 03/BTP/GP ngày 22/6/2012 của Bộ trưởng Bộ

Tư pháp Chủ tịch trung tâm: ông Lê Thiết Hùng Tổng số trọng tài viên: 07 Địa chỉ: Phòng 3, Lầu 7, tòa nhà TKT tower số 569-573 Trần Hưng Đạo, phường Cầu

Kho, quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh Số điện thoại: 0839208526

Trung tâm trọng tài thương mại Tài chính với tên viết tắt: FCCA Giấy phép

thành lập số 04/BTP/GP ngày 21/11/2012 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp Chủ tịch trung tâm: bà Nguyễn Thị Kim Vinh Tổng số trọng tài viên: 06 Địa chỉ: 215/42 Nguyễn Xí, phường 13, quận Bình Thạnh,Thành phố Hồ Chí Minh Số điện thoại:

0838212357

Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam có tên viết tắt là VIAC Quyết định thành

lập số 204/TTg ngày 28/4/1993 của Thủ tướng Chính phủ Chủ tịch trung tâm: ông

Trang 35

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Trần Hữu Huỳnh Tổng số trọng tài viên: 149 Địa chỉ:Số 9, Đào Duy Anh, quận

Đống Đa, thành phố Hà Nội Số điện thoại: 0435744001

Trung tâm trọng tài quốc tế Thái Bình Dương, tên viết tắt: PIAC Giấy phép

thành lập số 01/TP-GP ngày 28/8/2006 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp Chủ tịch trung tâm: ông Nguyễn Đăng Trừng Tổng số trọng tài viên: 50 Địa chỉ: Lầu 3B, Tòa nhà 57-59 Hồ Tùng Mậu, phường Bến Nghé, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh Số điện

Số vụ tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài cũng đang có chiều hướng tăng lên Tuy hiện nay chưa có tổng hợp về tình hình giải quyết tranh chấp bằng trọng tài trên cả nước nhưng dựa trên thống kê của Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC) - trung tâm trọng tài lớn nhất nước ta – cũng có phản ánh được điều này

Trang 36

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Biểu đồ 2.1 Số vụ tranh chấp tại VIAC từ 1993 đến 2014

(Đơn vị: vụ việc)

(VIAC, 2014)

Thành lập năm 1993, VIAC chỉ giải quyết 6 vụ/năm Con số này đến năm 2014

đã tăng lên 124 vụ, tăng gấp 20 lần Trong vòng 21 năm VIAC giải quyết trung bình

40 vụ/năm Số vụ tranh chấp bằng trọng tài tăng lên là dấu hiệu cho thấy trọng tài

đã dần trở nên phổ biến, thể hiện sự quan tâm của các doanh nghiệp cũng như sự tin tưởng vào lựa chọn trọng tài (Vũ Ánh Dương, 2015)

Bảng 2.1 Tỷ lệ tranh chấp có yếu tố nước ngoài tại VIAC

(Đơn vị: %)

Tranh chấp không có yếu

Tranh chấp có yếu tố nước

(VIAC, 2014)

Trang 37

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Qua bảng trên ta thấy tỷ lệ vụ tranh chấp có yếu tố nước ngoài được giải quyết tại VIAC đã tăng lên từ 46,2% năm 2012 đến 48,5% năm 2013 Cho thấy các doanh nghiệp xuất nhập khẩu đang có dần sử dụng trọng tài thay thế cho tòa án trong giải quyết tranh chấp thương mại Đồng thời thể hiện sự phổ biến hơn của phương thức trọng tài đối với các giao dịch quốc tế

Tuy nhiên số lượng vụ việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài tại Việt Nam so với Tòa án hoặc các trung tâm trọng tài quốc tế trong khu vực như Hội đồng Trọng tài Kinh tế và Thương mại quốc tế Trung Quốc (CIETAC) là 1060 vụ trong năm

2012 (CIETAC, 2013) hay Trung tâm Trọng tài thương mại quốc tế Singapore với

222 vụ năm 2014 (SIAC, 2014), hoạt động trọng tài ở nước ta vẫn còn chưa thực sự hiệu quả Nguyên nhân của việc doanh nghiệp vẫn chưa sử dụng trọng tài rộng rãi được cho rằng là do việc hiểu biết về pháp luật nói chung và về trọng tài nói riêng của doanh nghiệp vẫn còn hạn chế Một số doanh nghiệp biết đến trọng tài thì lại chưa tin tưởng vào hoạt động của tổ chức trọng tài trong nước mà lại tìm tới trọng tài nước ngoài

Một nguyên nhân quan trọng khiến doanh nghiệp tỏ ra thiếu tin tưởng về hoạt động trọng tài tại Việt Nam đó là vấn đề hủy quyết định trọng tài Rất nhiều vụ việc doanh nghiệp không đồng tình với quyết định của trọng tài liền gửi đơn lên tòa án để yêu cầu hủy án Điều này ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của hoạt động trọng tài trong nước cũng như hoạt động của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu

2.2 Quy định của pháp luật Việt Nam về hủy phán quyết của trọng tài thương mại

Hiện nay tại Việt Nam, văn bản quy phạm pháp luật về vấn đề hủy phán quyết trọng tài thương mại gồm có:

 Bộ Luật tố tụng dân sự số 24/2004/QH11 ngày 15/06/2014 quy định về các thủ tục tố tụng dân sự, thẩm quyền của tòa án, đặc biệt là các thủ tục về việc thi hành và công nhận bản án của tòa án nước ngoài, phán quyết của trọng tài nước ngoài và các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài

 Bộ Luật dân sự số 33/2005/QH11 ngày 14/06/2005 quy định về các quyền và nghĩa vụ của công dân, trách nhiệm của công dân trong các hợp đồng

Trang 38

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

 Luật thi hành án dân sự có hiệu lực từ 01/07/2009 quy định về việc thi hành các quyết định dân sự của tòa án

 Luật Trọng tài thương mại có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2011 quy định các vấn đề liên quan đến trọng tài thương mại

 Nghị định số 63/2011/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trọng tài thương mại hiệu lực thi hành kể từ ngày 20/09/2011 Nghị định này chủ yếu quy định về cách thức đăng kí và hoạt động của các trung tâm trọng tài

 Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án Nhân dân tối cao về hướng dẫn thi hành một số quy định Luật trọng tài thương mại có hiệu lực từ ngày 02/07/2014 Nghị định này giải thích và hướng dẫn thực hiện một số quy định trong Luật Trọng tài thương mại

Đối với các vụ việc xảy ra trước năm 2011, sử dụng Pháp lệnh trọng tài thương mại số 08/2003/PL-UBTVQH11 có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2003 đến 01/01/2011 Pháp lệnh Trọng tài thương mại là tiền thân của Luật Trọng tài thương mại, chủ yếu quy định các vấn đề liên quan đến tố tụng trọng tài

2.2.1 Căn cứ hủy phán quyết trọng tài

Luật Trọng tài thương mại (Luật TTTM) năm 2010, chương XI, Điều 68 quy định về căn cứ hủy phán quyết trọng tài như sau:

1 Tòa án xem xét việc hủy phán quyết trọng tài khi có đơn yêu cầu của một bên

2 Phán quyết trọng tài bị hủy nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Không có thoả thuận trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu;

b) Thành phần Hội đồng trọng tài, thủ tục tố tụng trọng tài không phù hợp với thoả thuận của các bên hoặc trái với các quy định của Luật này;

c) Vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài; trường hợp phán quyết trọng tài có nội dung không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài thì nội dung đó bị huỷ;

d) Chứng cứ do các bên cung cấp mà Hội đồng trọng tài căn cứ vào đó để ra phán quyết là giả mạo; Trọng tài viên nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của một bên tranh chấp làm ảnh hưởng đến tính khách quan, công bằng của phán quyết trọng tài;

Trang 39

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

đ) Phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam

Theo đó, căn cứ hủy phán quyết trong tài chính là nguyên nhân dẫn tới phán quyết trọng tài bị hủy theo pháp luật Đây cũng là một trong những điều khoản quy định phức tạp và gây mâu thuẫn nhất về vấn đề hủy phán quyết trọng tài thương mại Để làm rõ điều này, cần đi sâu vào phân tích các căn cứ hủy phán quyết theo quy định của Việt Nam

2.2.1.1 Yêu cầu của một bên về hủy phán quyết trọng tài

Khi một trong các bên đương sự có yêu cầu hủy phán quyết của trọng tài thương mại, cần phải trình đơn lên tòa án Tòa án sẽ có trách nhiệm xem xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài theo khoản 1 Điều 68 của Luật TTTM

Về điểm này, Luật TTTM đã có điểm khác biệt so với Pháp lệnh Trọng tài thương mại trước đây Theo Pháp lệnh, “Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được quyết định trọng tài, nếu có bên không đồng ý với quyết định trọng tài thì có quyền làm đơn gửi Toà án cấp tỉnh nơi Hội đồng Trọng tài ra quyết định trọng tài, để yêu cầu huỷ quyết định trọng tài.” Đây là một trong những quy định gây nhiều ảnh hưởng phức tạp nhất đến các phán quyết của trọng tài thương mại trong giai đoạn chưa ban hành Luật TTTM Bởi lẽ, các doanh nghiệp chỉ vì lý do

“không đồng ý với quyết định trọng tài” là gửi đơn yêu cầu tòa án xin hủy phán quyết Trong khi đó, pháp luật các nước trên thế giới và công ước New York đều quy định phán quyết của trọng tài mang tính chung thẩm, các bên không có quyền kháng cáo và có sự ràng buộc thi hành đối với mỗi bên Quy định này của Pháp lệnh trọng tài thương mại đã khiến cho việc xin hủy phán quyết trọng tài xảy ra một cách tùy tiện của các doanh nghiệp Một khi đã lựa chọn trọng tài để giải quyết tranh chấp phát sinh thì các doanh nghiệp phải chấp nhận thi hành phán quyết trọng tài Trong khi đó một số doanh nghiệp chỉ cần không đồng ý với quyết định đó là lại gửi đơn lên Tòa án xin hủy gây nhiều ảnh hưởng không tốt đến hoạt động trọng tài trong và ngoài nước

Luật TTTM đã khắc phục được thiếu sót khi quy định các bên chỉ có thể yêu cầu hủy phán quyết trọng tài nếu có đủ căn cứ để chứng minh được rằng Hội đồng trọng tài đã ra phán quyết thuộc một trong các trường hợp hủy phán quyết trọng tài Quy định này đã giảm thiểu số lượng đơn xin hủy phán quyết không có căn cứ của

Trang 40

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

các doanh nghiệp, đảm bảo sự ổn định về luật pháp cho sự phát triển của các trung tâm trọng tài tại Việt Nam

2.2.1.2 Thỏa thuận trọng tài vô hiệu

Khoản 2a, Điều 14 Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP quy định: “Không có

thoả thuận trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu” là thỏa thuận trọng tài thuộc

một trong các trường hợp quy định tại Điều 6 và Điều 18 Luật TTTM và hướng dẫn tại các điều 2, 3 và 4 Nghị quyết này Điều 6 Luật TTTM: “Trong trường hợp các bên tranh chấp đã có thoả thuận trọng tài mà một bên khởi kiện tại Toà án thì Toà

án phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp thoả thuận trọng tài vô hiệu hoặc thoả thuận trọng tài không thể thực hiện được”

Trọng tài chỉ được giải quyết tranh chấp thương mại khi giữa các bên có thỏa thuận trọng tài Thỏa thuận trọng tài là sự đồng ý của cả hai bên về việc lựa chọn trọng tài là cơ quan giải quyết tranh chấp phát sinh Thỏa thuận trọng tài có thể lập trước hoặc sau khi có tranh chấp Hình thức thỏa thuận trọng tài có thể được đặt trong hợp đồng thương mại hoặc nằm trong một thỏa thuận riêng Tuy nhiên, dù dưới hình thức nào thì thỏa thuận trọng tài vẫn độc lập với hợp đồng, tức là việc thay đổi, gia hạn, hủy bỏ hợp đồng, hợp đồng vô hiệu hay không thể thực hiện được cũng không làm mất hiệu lực của thỏa thuận trọng tài Như vậy nếu một trong các bên không thể đưa ra được chứng cứ xác thực bằng văn bản để xác minh rằng hai bên có thỏa thuận trọng tài thì có thể coi rằng không có thỏa thuận trọng tài và phán quyết trọng tài đó sẽ bị hủy

Thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được xảy ra khi các bên đã có thỏa

thuận giải quyết tranh chấp tại một trung tâm trọng tài cụ thể nhưng trung tâm này

đã chấm dứt hoạt động; các trường hợp bất khả kháng xảy ra mà các trung tâm trọng tài hay các trọng tài viên được lựa chọn không thể thựa hiện giải quyết tranh chấp đó; trọng tài viên hoặc trung tâm trọng tài từ chối chỉ định giải quyết của các bên; quy tắc tố tụng của các bên lựa chọn khác với quy tắc tố tụng của trung tâm trọng tài do các bên lựa chọn mà không thể thỏa thuận được quy tắc tố tụng khác thay thế

Điều 18 Luật TTTM quy định về việc thoả thuận trọng tài bị coi là vô hiệu nếu xảy ra một trong các trường hợp sau:

Ngày đăng: 18/05/2020, 08:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w