Tại Công văn số 9258/BCT-KH ngày 19/9/2014 của Bộ Công thương gửi Văn phòng Chính phủ trả lời đối với các dịch vụ logistics Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã đề cập tại Công văn s
Trang 1Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
======
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Kinh Tế Đối Ngoại
ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC THỰC HIỆN CAM KẾT CỦA VIỆT NAM VỚI WTO TRONG LĨNH VỰC LOGISTICS
Họ và tên sinh viên : Lê Thị Nụ
Mã sinh viên : 1111110485 Lớp : Nga 1 - KT
Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS Trịnh Thị Thu Hương
Hà Nội, tháng 5 năm 2015
Trang 2Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC SƠ ĐỒ - BẢNG BIỂU - HÌNH VẼ
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: 3
GIỚI THIỆU CHUNG VỀ WTO VÀ CÁC CAM KẾT CỦA VIỆT NAM VỚI WTO TRONG LĨNH VỰC LOGISTICS 3
1.1 Giới thiệu chung về WTO 3
1.1.1 Bối cảnh ra đời của WTO 3
1.1.2 Mục tiêu và chức năng hoạt động của WTO 6
1.1.3 Sự gia nhập vào tổ chức WTO của Việt Nam 7
1.2 Các nguyên tắc cơ bản của WTO liên quan đến ngành dịch vụ logistics 8
1.2.1 Khái niệm logistics và dịch vụ logistics 8
1.2.2 Dịch vụ logistics trong WTO 10
1.2.3 Các nguyên tắc cơ bản của WTO liên quan đến dịch vụ logistics 12
1.3 Các cam kết của Việt Nam với WTO liên quan đến dịch vụ logistics 15
1.3.1 Dịch vụ logistics chủ yếu 16
1.3.2 Các dịch vụ logistics liên quan tới vận tải 19
1.3.3 Dịch vụ logistics liên quan khác 24
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC THỰC HIỆN CÁC CAM KẾT CỦA VIỆT NAM VỚI WTO TRONG LĨNH VỰC LOGISTICS 29
2.1 Thực trạng thực hiện các cam kết của Việt Nam với WTO liên quan tới dịch vụ logistics 30
2.1.1 Thực trạng thực hiện các cam kết 30
2.1.2 Hệ số hóa mức độ thực thi cam kết 51
2.2 Mô hình kinh tế lượng nghiên cứu ảnh hưởng của việc thực thi cam kết đến nền kinh tế 56
2.2.1 Cơ sở nghiên cứu 56
2.2.2 Mô hình hồi quy kinh tế lượng 58
2.3 Đánh giá ảnh hưởng của việc thực thi cam kết với WTO trong lĩnh vực dịch vụ logistics 65
2.3.1 Đối với nền kinh tế nói chung 65
2.3.2 Đối với từng phân ngành cụ thể của dịch vụ logistics 67
Trang 3Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
CƯỜNG VIỆC THỰC HIỆN TỐT CAM KẾT CỦA VIỆT NAM VỚI WTO
TRONG LĨNH VỰC LOGISTICS 78
3.1 Quan điểm, định hướng phát triển dịch vụ logistics trong thời gian tới 78
3.1.1 Quan điểm phát triển 78
3.1.2 Định hướng phát triển 79
3.1.3 Mục tiêu phát triển 79
3.2 Dự báo phát triển dịch vụ logistics của Việt Nam thời gian tới 80
3.2.1 Các nhân tố chính ảnh hưởng đến sự phát triển dịch vụ logistics 80
3.2.2 Dự báo về sự phát triển dịch vụ logistics thời gian tới: 85
3.3 Một số giải pháp nhằm tăng cường việc thực hiện tốt các cam kết của Việt Nam với WTO trong lĩnh vực logistics 88
3.3.1 Nhóm giải pháp từ phía nhà nước 88
3.3.2 Nhóm giải pháp từ phía doanh nghiệp cung ứng và sử dụng 94
3.3.3 Một số đề xuất khác 99
KẾT LUẬN 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO 108 PHỤ LỤC
Trang 4Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
3PL Third Party Logistics Dịch vụ logistics bên thứ 3
4PL Four Party Logistics Dịch vụ logistics bên thứ 4
BOT Built Operation Transfer Xây dựng - Vận hành - Chuyển
giao CPC Provisional Central Product
Classification Phân loại sản phẩm trung tâm DWT Dead Weight Tonnage Đơn vị đo lường vận tải an toàn EDI Electronic Data Interchange Trao đổi dữ liệu điện tử
EU European Union Liên minh Châu Âu
FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GATS General Agreement On Trade In
IMF International Monetary Fund Qũy tiền tệ quốc tế
ITO International Trade Organization Tổ chức Thương mại Quốc tế
LPI Logistics Performance Index Chỉ số năng lực quốc gia về
logistics MFN Most Favoured Nation Nguyên tắc tối huệ quốc
NT National Treatment Nguyên tắc đối xử quốc gia
PPP Public- Private- Partner Hợp tác Công - Tư
TRIMS The Agreement On Trade
-Related Investment Measures
Hiệp định về các biện pháp Đầu
tư liên quan tới Thương mại
UNESCAP
United Nations Economic And Social Commission For Asia And The Pacific
Ủy ban Kinh tế - Xã hội châu Á Thái Bình Dương Liên Hiệp Quốc USD United States Dollar Đô la Mỹ
USITC United States International Trade
Commission
Ủy ban Thương mại Quốc tế Hoa
Kỳ VCCI Viet Nam Chamber Of Commerce
And Industry
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
WB World Bank Ngân hàng Thế giới
WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại Thế giới
Trang 5Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Bảng phân loại dịch vụ logistics 11
Bảng 2.1: Bảng mức giá tối thiểu dịch vụ bốc dỡ container khu cảng Cái Mép 33
Bảng 2.2: Mức độ mở cửa của các cam kết trong dịch vụ logistics của Việt Nam 54
Bảng 2.3: Hệ số rào cản của Việt Nam trong lĩnh vực dịch vụ logistics 55
Bảng 2.4 : LPI và các chỉ số đánh giá thành phần của logistics Việt Nam 67
Bảng 2.5: Tổng hợp sản lượng vận tải thủy nội địa, giai đoạn 2006-2013 70
Bảng 2.6: Số liệu thực tế thông qua của hệ thống cảng hàng không, sân bay Việt Nam giai đoạn 2009 - 2014 71
Bảng 2.7: Chỉ số hấp dẫn của thị trường bán lẻ Việt Nam (GRDI) 74
Bảng 3.1: Dự báo khối lượng hành khách vận chuyển 85
phân theo phương thức vận tải 85
Bảng 3.2: Dự báo khối lượng hàng hoá vận chuyển 86
phân theo phương thức vận tải 86
Bảng 3.3: Một số thích nghi chiến lược cho cách doanh nghiệp logistics 96
Việt Nam 96
Bảng 3.4: Sự thay đổi trong hoạt động logistics của doanh nghiệp ứng dụng thương mại điện tử 98
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1: GDP Việt Nam giai đoạn 1980-2020 66
giai đoạn 2007 – 2014 67
Biểu đồ 2.2: Giá trị nhóm ngành vận tải kho bãi – thông tin 68
Biểu đồ 2.3: Biểu đồ sản lượng vận tải hàng hoá của đội tàu biển Việt Nam 69
Biểu đồ 2.4: Khối lượng hàng hóa vận chuyển bằng đường sắt 73
Biểu đồ 2.5: Tốc độ tăng trưởng doanh thu dịch vụ bán lẻ phân theo thành phần kinh tế giai đoạn 2000 – 2014 75
Biểu đồ 2.6: Giá trị nhóm ngành Công nghệ Thông tin – Truyền thông 76
giai đoạn 2005 – 2013 76
Biểu đồ 3.1: Tỷ trọng chi phí logistics so với GDP quốc gia (năm 2013) 83
Biểu đồ 3.2: Giá dầu thế giới giai đoạn 2010 - 2019 84
DANH MỤC HÌNH Hình 2.1: Phân phối chuẩn 63
Hình 3.1: Cấu trúc hệ thống City Logistics 104
Trang 6Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
LỜI MỞ ĐẦU
Lý do lựa chọn đề tài
Hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành một xu hướng chung cho tất cả các quốc gia trên thế giới Hòa trong xu hướng đó, Việt Nam cũng từng bước tham gia sâu rộng vào nền kinh tế thế giới Việt Nam đã chủ động ký kết các hiệp định thương mại, tham gia vào các tổ chức kinh tế toàn cầu, các diễn đàn kinh tế khu vực… Đặc biệt việc gia nhập tổ chức tổ chức thương mại thế giới WTO đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong tiến trình phát triển nền kinh tế của mình
Khi tham gia vào WTO, Việt Nam có đưa ra cam kết 11 ngành dịch vụ với
112 phân ngành, trong đó không có khái niệm “dịch vụ logistics” Các hoạt động logistics cụ thể thực tế nằm trong “các phân ngành dịch vụ hỗ trợ vận tải”, thuộc
“ngành dịch vụ vận tải” Năm 2014, theo lộ trình cam kết Việt Nam mở cửa hoàn toàn thị trường logistics, chính việc mở cửa hoàn toàn này càng làm cho cuộc cạnh tranh giữa doanh nghiệp nước ngoài và doanh nghiệp trong nước thêm phần quyết liệt Các doanh nghiệp trong nước đứng trước những khó khăn về chất lượng, về thị trường, về năng lực cạnh tranh…Đây là công việc vô cùng khó khăn và phức tạp, đòi hỏi sự thống nhất phối hợp từ các ngành, các cấp cho đến bản thân các doanh nghiệp, nhằm đảm bảo song song hai mục tiêu: thực hiện cam kết với WTO, vừa nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp Việt Nam nhằm khai thác tối đa lợi ích to lớn từ hội nhập mang lại
Rõ ràng, nếu có chiến lược và đầu tư đúng đắn, các doanh nghiệp logistics Việt Nam vẫn có cơ hội để phát triển, giành được niềm tin của các doanh nghiệp sản xuất trong và ngoài nước, trở thành người thay mặt cho chủ hàng quản lý và thực hiện các dịch vụ logistics, từ đó giành được thị phần lớn hơn trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng khốc liệt
Như vậy, nghiên cứu thực trạng và xem xét ảnh hưởng của việc thực thi các cam kết của Việt Nam với WTO trong lĩnh vực logistics, để từ đó đưa ra một số định hướng và giải pháp nhằm thúc đẩy việc thực hiện cam kết tốt hơn Chính vì
thế, tôi đã lựa chọn đề tài “Ảnh hưởng của việc thực hiện cam kết của Việt Nam với WTO trong lĩnh vực logistics” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp cho mình
Trang 7Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Mục đích nghiên cứu
Phân tích ảnh hưởng của việc thực thi cam kết đối với nền kinh tế
Đưa ra một số định hướng và giải pháp nhằm tăng cường việc thực hiện tốt cam kết trong thực tiễn ngành dịch vụ logistics
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết,
Phương pháp phân loại và hệ thống hóa lý thuyết
Phương pháp tổng hợp số liệu,lượng hóa thông qua mô hình hồi quy kinh tế lượng
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của bài là các cam kết của Việt Nam với WTO trong lĩnh vực logistics, việc thực hiện và ảnh hưởng từ việc thực hiện cam kết đó từ khi Việt Nam gia nhập WTO cho tới nay
Kết cấu đề tài
Chương I: Giới thiệu chung về WTO và các cam kết của Việt Nam với WTO trong
lĩnh vực logistics
Chương II: Thực trạng và ảnh hưởng của việc thực hiện cam kết của Việt Nam với
WTO trong lĩnh vực logistics
Chương III: Một số định hướng và giải pháp nhằm tăng cường việc thực hiện tốt
cam kết của Việt Nam với WTO trong lĩnh vực logistics
Để hoàn thành tốt khóa luận này, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo
đã tận tình hướng dẫn giảng dạy trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu tại trường Đại học Ngoại thương Xin chân thành cảm ơn Giáo viên hướng dẫn PGS.TS Trịnh Thị Thu Hương đã tận tình, chu đáo hướng dẫn tôi thực hiện khóa luận này
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất, song bài viết không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô giáo và bạn đọc để khóa luận được hoàn thiện hơn và có ý nghĩa thực tiễn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 15 tháng 5 năm 2015
Sinh viên
LÊ THỊ NỤ
Trang 8Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
CHƯƠNG I:
GIỚI THIỆU CHUNG VỀ WTO VÀ CÁC CAM KẾT CỦA VIỆT NAM VỚI WTO TRONG LĨNH VỰC LOGISTICS
1.1 Giới thiệu chung về WTO
1.1.1 Bối cảnh ra đời của WTO
Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) – tiền thân của tổ chức thương mại thế giới (WTO)
Sau chiến tranh Thế giới thứ II, nhằm khôi phục sự phát triển kinh tế và thương mại, hơn 50 nước trên thế giới đã tham gia đàm phán với mục tiêu thành lập một tổ chức mới điều chỉnh hoạt động hợp tác kinh tế quốc tế Ban đầu các nước dự kiến thành lập Tổ chức Thương mại Quốc tế (ITO) với tư cách là một tổ chức chuyên môn thuộc Liên hiệp quốc Tháng 2/1946, tại Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Việc làm, dự thảo Hiến chương cho Tổ chức Thương mại Quốc tế được thực hiện Theo đó, Dự thảo Hiến chương không những điều chỉnh các quy tắc thương mại thế giới mà còn mở rộng ra cả các quy định về công ăn việc làm, các hành vi hạn chế thương mại, đầu tư quốc tế và dịch vụ
Trong thời gian thảo luận thành lập Hiến chương ITO, các nước cũng tiến hành đàm phán về việc giảm và ràng buộc thuế quan đa phương Trong vòng đàm phán đầu tiên đã đưa ra được 45.000 nhân nhượng thuế quan và có ảnh hưởng đến khối lượng thương mại giá trị khoảng 10 tỷ USD, tức là khoảng 1/5 tổng giá trị thương mại thế giới Các nước cũng nhất trí áp dụng ngay lập tức và tạm thời một
số quy tắc thương mại trong Dự thảo Hiến chương ITO nhằm bảo vệ giá trị của các nhân nhượng nói trên Kết quả là các quy định thương mại và nhân nhượng thuế quan được đưa ra trong Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) Ngày 23/10/1947, 23 nước tham gia đàm phán đã ký “Nghị định về việc áp dụng tạm thời GATT” (PPA), theo đó Hiệp định GATT sẽ có hiệu lực kể từ ngày 1/1/1948 Cuối cùng tháng 3/1948, Hiến chương ITO đã được thông qua tại Hội nghị về Thương mại và Việc làm của Liên hiệp quốc tại Havana Tuy nhiên quốc hội của một số nước đã không phê chuẩn Hiến chương này Đặc biệt là quốc hội Mỹ rất phản đối Hiến chương Havana, mặc dù Chính phủ Mỹ đóng vai trò rất tích cực
Trang 9Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
trong việc nỗ lực thiết lập ITO Tháng 12/1950, Chính phủ Mỹ chính thức thông báo sẽ không vận động Quốc hội thông qua Hiến chương Havana nữa, do vậy trên thực tế, Hiến chương này không còn tác dụng Và mặc dù chỉ là tạm thời, GATT trở thành công cụ đa phương duy nhất điều chỉnh thương mại quốc tế từ năm 1948 cho đến tận năm 1995, khi Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) ra đời
Trong 47 năm tồn tại, thông qua 8 vòng đàm phán, GATT đã có những đóng góp to lớn trong tiến trình phát triển của nền kinh tế thế giới thông qua việc đảm bảo thuận lợi hóa và thúc đẩy tự do hóa thương mại Với việc giảm thuế liên tục, từ mức thuế trung bình 40% của năm 1948, đến năm 1995, mức thuế trung bình của các nước phát triển còn khoảng 4% và các nước đang phát triển còn khoảng 15% (VCCI, 2007), đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng thương mại thế giới đạt mức trung bình 4,86%/ năm trong giai đoạn 1950-1970 (Tác giả tự tổng hợp) Nếu như trong 5 vòng đàm phán đầu tiên GATT tập trung chủ yếu vào việc cắt giảm thuế quan thì từ vòng đàm phán Kanedy, GATT đã mở rộng dần sang các lĩnh vực thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ và kết quả là sau vòng đàm phán cuối cùng đã cho ra đời một tổ chức mới thay thế cho GATT - Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Số lượng các bên tham gia cũng tăng nhanh, cho tới trước khi Tổ chức WTO được thành lập vào ngày 1/1/1995, GATT đã có 124 bên ký kết và đang tiếp nhận 25 đơn xin gia nhập
Sự ra đời của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)
Mặc dù đã đạt được những thành công lớn trong tiến trình hoạt động của mình, tuy nhiên đến cuối những năm 80, đầu những năm 90, trước những biến chuyển của tình hình thương mại quốc tế và sự phát triển của khoa học - kỹ thuật, GATT đã bắt đầu tỏ ra những bất cập, không theo kịp tình hình
Thứ nhất, những thành công của GATT trong việc giảm và ràng buộc thuế
quan ở mức thấp cùng với một loạt các cuộc suy thoái kinh tế trong những năm 70
và 80 đã thúc đẩy các nước tạo ra các loại hình bảo hộ phi thuế quan khác nhau để đối phó với hàng nhập khẩu, đồng thời nhiều hình thức hỗ trợ và trợ cấp mới xuất hiện trong thời gian này Bên cạnh đó các thỏa thuận song phương được ký kết nhằm dàn xếp thị trường giữa các chính phủ Tây Âu và Bắc Mỹ, những biến đổi này gây ảnh hưởng và mất đi những giá trị mà việc giảm thuế quan mang lại cho
Trang 10Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
thương mại quốc tế Trong khi đó phạm vi của GATT không cho phép đề cập một cách cụ thể và sâu rộng đến các vấn đề này
Thứ hai, đến những năm 80, GATT không còn thích ứng với tình hình thực
tiễn của thế giới Khi GATT được thành lập năm 1948, Hiệp định này chủ yếu điều tiết thương mại hàng hóa hữu hình Từ đó đến nay thương mại quốc tế đã phát triển nhanh chóng, mở rộng sang cả lĩnh vực thương mại dịch vụ như ngân hàng, bảo hiểm, vận tải, du lịch, xây dựng, đầu tư, sở hữu trí tuệ… Các loại hình thương mại dịch vụ này ngày càng phát triển và nhân rộng, trở thành một bộ phận quan trọng của thương mại quốc tế, đòi hỏi một cơ chế điều tiết mới, có mức độ điều chỉnh rộng rãi và đương thời
Thứ ba, trong một số lĩnh vực của thương mại hàng hóa, GATT còn bộc lộ
những lỗ hổng cần phải được cải thiện Ví dụ trong nông nghiệp và hàng dệt may, các cố gắng tự do hóa thương mại đã không đạt được thành công như dự định Kết quả là còn rất nhiều ngoại lệ với các quy tắc chung trong hai lĩnh vực thương mại này
Thứ tư, về mặt cơ cấu tổ chức và cơ chế giải quyết tranh chấp, GATT cũng
tỏ ra nhiều mặt bất cập GATT chỉ là một hiệp định, việc tham gia dựa trên tình thần
tự nguyện Trong khi đó thương mại quốc tế ở những năm 80 và 90 đòi hỏi phải có một tổ chức thường trực, có nền tảng pháp lý vững chắc để đảm bảo thực thi các hiệp định, quy định chung của thương mại quốc tế Về hệ thống giải quyết tranh chấp, GATT chưa có một cơ chế điều tiết thủ tục tố tụng chặt chẽ, không đưa ra một thời gian biểu nhất định, do đó các vụ việc tranh chấp khi đưa ra giải quyết thường
bị kéo dài và gặp nhiều khó khăn trong việc đảm bảo công bằng giữa các bên liên quan Để thúc đẩy hoạt động thương mại quốc tế một cách hiệu quả, việc cải tiến và hoàn thiện hệ thống này là điều cấp thiết
Những yếu tố trên, kết hợp với một số nhân tố khác đã thuyết phục các bên tham gia GATT cần phải có nỗ lực để củng cố và mở rộng hệ thống thương mại đa phương Từ năm 1986 đến 1994, Hiệp định GATT và các hiệp định phụ trợ của GATT đã được các nước thảo luận sửa đổi và cập nhật để thích ứng với điều kiện thay đổi của môi trường thương mại thế giới Hiệp định GATT 1947, cùng với các quyết định đi kèm và một vài biên bản giải thích khác đã hợp thành GATT 1994
Trang 11Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Một số hiệp định riêng biệt cũng đạt được trong các lĩnh vực như Nông nghiệp, Dệt may, Trợ cấp, Tự vệ và các lĩnh vực khác, cùng với GATT 1994, chúng tạo thành các yếu tố của các Hiệp định Thương mại đa phương về Thương mại Hàng hóa Vòng đàm phán Uruguay cũng thông qua một loạt các quy định mới điều chỉnh thương mại Dịch vụ và Quyền Sở hữu Trí tuệ liên quan đến thương mại Một trong những thành công lớn nhất của vòng đàm phán Uruguay là việc các nước đã cho ra Tuyên bố Marrakesh thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO, bắt đầu đi vào hoạt động từ ngày 1/1/1995
1.1.2 Mục tiêu và chức năng hoạt động của WTO
1.1.2.1 Mục tiêu của WTO
Mục tiêu của WTO được nêu ra ở lời nói đầu của Hiệp định thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO Hiệp định thành lập WTO đã kế thừa những giá trị cốt lõi từ Hiệp định GATT 1947, đồng thời bổ sung và hoàn thiện để đề xuất ra những mục tiêu cụ thể cho tiến trình hoạt động của mình:
Một là, thúc đẩy tăng trưởng thương mại hàng hóa và dịch vụ trên thế giới phục vụ cho sự phát triển, ổn định, bền vững và bảo vệ môi trường
Hai là, thúc đẩy sự phát triển các thể chế thị trường, giải quyết các bất đồng
và tranh chấp thương mại giữa các nước thành viên trong khuôn khổ của hệ thống thương mại đa phương, phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của Công pháp quốc tế bảo đảm cho các nước đang phát triển và đặc biệt là các nước kém phát triển nhất được thu hưởng những lợi ích thực sự từ sự tăng trưởng của thương mại quốc tế, phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế của các nước này và khuyến khích các nước này ngày càng hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế thế giới
Ba là, nâng cao mức sống, tạo công ăn việc làm cho người dân các nước thành viên, bảo đảm các quyền và tiêu chuẩn lao động tối thiểu được tôn trọng
1.1.2.2 Chức năng hoạt động của WTO
WTO thực hiện 5 chức năng sau:
- Thống nhất quản lý việc thực hiện các Hiệp định và thỏa thuận thương mại
đa phương và nhiều bên; giám sát, tạo thuận lợi, kể cả trợ giúp kỹ thuật cho các nước thành viên thực hiện các nghĩa vụ thương mại quốc tế của họ
Trang 12Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
- Là khuôn khổ thể chế để tiến hành các vòng đàm phán thương mại đa phương trong khuôn khổ WTO, theo quyết định của Hội nghị Bộ trưởng WTO
- Là cơ chế giải quyết tranh chấp giữa các nước thành viên liên quan đến việc thực hiện và giải thích Hiệp định WTO và các hiệp định thương mại đa phương và nhiều bên
- Là cơ chế kiểm điểm chính sách thương mại của các nước thành viên, bảo đảm thực hiện mục tiêu thúc đẩy tự do hóa thương mại và tuân thủ các quy định của WTO, Hiệp định thành lập WTO đã quy định một cơ chế kiểm điểm chính sách thương mại áp dụng chung đối với tất cả các thành viên
- Thực hiện việc hợp tác với các tổ chức kinh tế quốc tế khác như Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB) trong việc hoạch định những chính sách và dự báo về những xu hướng phát triển tương lai của kinh tế toàn cầu
1.1.3 Sự gia nhập vào tổ chức WTO của Việt Nam
Tóm tắt tiến trình đàm phán gia nhập WTO của Việt Nam (Nguồn: Bộ Tài chính)
1/1995, Việt Nam gửi đơn xin gia nhập WTO Ban công tác xem xét về việc gia nhập gia nhập của Việt Nam
8/1996: Việt Nam nộp “ Bị vong lục về chính sách thương mại”
1996: Bắt đầu đàm phán Hiệp định Thương mại song phương Hoa Kỳ (BTA)
1998 - 2000: Tiến hành 4 phiên họp đa phương với Ban Công tác về Minh bạch hóa các chính sách thương mại vào tháng 7-1998, 12-1998, 7-1999, và 11-
2000 Kết thúc 4 phiên họp, Ban công tác của WTO đã công nhận Việt Nam cơ bản kết thúc quá trình minh bạch hóa chính sách và chuyển sang giai đoạn đàm phán mở cửa thị trường
7-2000: Ký kết chính thức BTA với Hoa Kỳ
12-2001: BTA có hiệu lực
4-2002: Tiến hành phiên họp đa phương thứ 5 với Ban Công tác Việt Nam đưa ra Bản chào đầu tiên về hàng hóa và dịch vụ Bắt đầu tiến hành đàm phán song phương
2002 – 2006: Đàm phán song phương với một số thành viên có yêu cầu đàm phán, với 2 mốc quan trọng:
Trang 13Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
10-2004: Kết thúc đàm phán song phương với EU - đối tác lớn nhất
5-2006: Kết thúc đàm phán song phương với Hoa Kỳ - đối tác cuối cùng trong 28 đối tác có yêu cầu đàm phán song phương
26-10-2006: Kết thúc phiên đàm phán đa phương cuối cùng, Ban Công tác chính thức thông qua toàn bộ hồ sơ gia nhập WTO của Việt Nam Tổng cộng đã có
14 phiên họp đa phương từ tháng 7-1998 đến tháng 10-2006
7-11-2006: WTO triệu tập phiên họp đặc biệt của Đại Hội đồng tại Geneva
để chính thức kết nạp Việt Nam vào WTO Ngày 7/11/2006, Bộ trưởng Thương mại Trương Đình Tuyển và Tổng giám đốc Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Pascal Lamy đã ký vào Nghị định thư gia nhập của Việt Nam kết thúc 11 năm tiến hành hàng loạt các cuộc đàm phán song phương, đa phương và tham vấn kể từ khi
đệ đơn gia nhập vào năm 1995
11-1-2007, WTO nhận được được quyết định phê chuẩn chính thức của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam Kể từ đây, Việt Nam trở thành thành viên đầy
đủ của WTO
1.2 Các nguyên tắc cơ bản của WTO liên quan đến ngành dịch vụ logistics
1.2.1 Khái niệm logistics và dịch vụ logistics
1.2.1.1 Khái niệm logistics
Theo UNESCAP, logistics là việc quản lý dòng trung chuyển và lưu kho nguyên vật liệu, quá trình sản xuất thành phẩm và xử lý các thông tin liên quan,…
từ nơi xuất xứ tới nơi tiêu thụ cuối cùng theo yêu cầu của khách hàng
Theo Hội đồng quản trị logistics của Mỹ thì “Logistics là quá trình lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát dòng di chuyển và lưu kho nguyên vật liệu thô của hàng hóa trong quy trình, những hàng hóa thành phẩm và những thông tin có liên quan đến khâu mua sắm nguyên vật liệu cho đến khi được tiêu dùng, tất cả với mục đích thỏa mãn yêu cầu của người tiêu dùng”
Khái niệm logistics được hiểu và tiếp cận cụ thể hơn qua định nghĩa của Tiến
sĩ Hans- Dietrich Haasis - Viện kinh tế vận tải biển và logistics (Đức), logistics trong đó bao gồm các thành phần:
- Cấu trúc cơ bản: Gồm cảng biển, cảng hàng không, cảng đa phương thức…
- Các thể chế tham gia: Hải quan, quản lý cảng, các Bộ ngành, các Tổ chức hành chính công…
Trang 14Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
- Dịch vụ logistics: Dịch vụ vận tải, dịch vụ giao nhận vận tải hàng hóa, kho bãi, các công ty 3PL/4PL
- Kiến thức logistics: Tư vấn, trung tâm nghiên cứu, Học viện và trường Đại học
1.2.1.2 Khái niệm dịch vụ logistics
Luật Thương mại Việt Nam 2005 (Điều 233) định nghĩa: “ Dịch vụ logistics
là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao”
Như vậy có thể thấy rằng logistics là một chu trình tổng hợp từ giai đoạn tiền sản xuất tới khi hàng hóa tới tay người tiêu dùng cuối cùng Dịch vụ logistics bao gồm cả quá trình nhập nguyên nhiên vật liệu làm đầu vào cho quá trình sản xuất, sản xuất ra hàng hóa và đưa hàng hóa vào lưu thông, phân phối đến người tiêu dùng cuối cùng, cụ thể bao gồm:
- Các dịch vụ logistics chủ yếu, bao gồm: Dịch vụ bốc xếp hàng hóa, bao gồm cả hoạt động bốc xếp container; Dịch vụ kho bãi và lưu giữ hàng hóa, bao gồm
cả hoạt động kinh doanh kho bãi container và kho xử lý nguyên liệu, thiết bị; Dịch
vụ đại lý vận tải; Hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan; Dịch vụ hỗ trợ khác, bao gồm cả hoạt động tiếp nhận, lưu kho và quản lý thông tin liên quan đến vận chuyển
và lưu kho hàng hóa trong suốt các hoạt động logistics; Hoat động xử lý hàng hóa bị khách hàng trả lại, hàng hóa tồn kho, hàng hóa quá hạn, lỗi mốt và tái phân phối hàng hóa đó; Hoạt động cho thuê và thuê mua container
- Các dịch vụ logistics liên quan đến vận tải, bao gồm: Dịch vụ vận tải biển, Dịch vụ vận tải thủy nôi địa, Dịch vụ vận tải hàng không, Dịch vụ vận tải đường sắt, Dịch vụ vận tải đường bộ, Dịch vụ vận tải đường ống
- Các dịch vụ logistics liên quan khác, bao gồm: Dịch vụ kiểm tra và phân tích kỹ thuật, Dịch vụ bưu chính, Dịch vụ thương mại bán buôn, Dịch vụ thương mại bán lẻ - bao gồm cả hoạt động quản lý hàng lưu kho, thu gom tập hợp, phân loại hàng hóa, phân phối lại và giao hàng, các dịch vụ hỗ trợ vận tải khác
Trang 15Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
1.2.2 Dịch vụ logistics trong WTO
Trong các phân ngành dịch vụ của WTO không có mục riêng về “dịch vụ logistics”, mà chỉ có một số hoạt động (phân ngành) của ngành dịch vụ logistics thuộc nhóm dịch vụ hỗ trợ vận tải Mặc dù nhiều thành viên WTO ký các cam kết thuộc Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ (GATS) trong nhiều phân đoạn riêng biệt của dịch vụ logistics như đại lý thu cước, thu xếp giao nhận và các thủ tục cho hàng hóa bao gồm cả thủ tục hải quan, kho bãi, chuyển phát nhanh và dịch vụ vận tải, thì một danh sách chính thức kiểm tra cụ thể đối với các dịch vụ logistics hiện nay chưa có sẵn Hướng dẫn thường được các thành viên WTO sử dụng là Danh sách phân loại ngành dịch vụ (W/120), được lập dựa trên hệ thống Bảng phân loại dịch vụ tạm thời của LHQ (CPC) Uỷ ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ (USITC) đã tập hợp và phân loại danh sách các dịch vụ thuộc dịch vụ logistics như sau:
Trang 16Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Bảng 1.1: Bảng phân loại dịch vụ logistics
Dịch vụ giao nhận và thủ tục cho hàng hóa 741
Dịch vụ đại lý thu cước vận tải 748
Các dịch vụ hỗ trợ vận tải đường biển 745
Dich vụ vận tải đường hàng không Vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không 732 Dịch vụ cho thuê máy bay có người điều khiển 734
Trang 17Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Dịch vụ bán lẻ lương thực, thực phẩm 631 Dịch vụ bán lẻ hàng phi lương thực 632 Kinh doanh phương tiện có động cơ 6311 Kinh doanh phụ tùng, bộ phận phương tiện có động cơ 6313 Kinh doanh xe máy và xe trượt tuyết và các phụ tùng bộ
Dịch vụ tư vấn quản lý và các hoạt động liên quan Dịch vụ tư vấn quản lý tổng thể 86501 Dịch vụ tư vấn quản lý marketing 86503 Dịch vụ tư vấn quản lý sản xuất 86505
Dịch vụ bất động sản bao gồm bán và cho thuê 821 Dịch vụ truyền thông tin và dữ liệu Dịch vụ truyền thông tin và dữ liệu 7523
(Nguồn: USITC, Final report an investigation into the measures affecting the
integration of ASEAN priority sectors- The Case of Logistics)
1.2.3 Các nguyên tắc cơ bản của WTO liên quan đến dịch vụ logistics
Các cam kết của Việt Nam với WTO không có một mục riêng về ngành dịch
vụ logistics mà chỉ có một số hoạt động (phân ngành) của ngành dịch vụ logistics
Vì vậy, các nguyên tắc cơ bản của WTO đối với thương mại dịch vụ sẽ là nguyên
Trang 18Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
tắc chung áp dụng cho ngành dịch vụ logistics WTO hoạt động dựa trên một hệ thống các Hiệp định và quy định phức tạp Hệ thống này là những văn bản pháp lý điều chỉnh hầu hết các lĩnh vực thương mại quốc tế Tuy vậy, tất cả các văn bản đó đều được xây dựng trên cơ sở năm nguyên tắc cơ bản của WTO
1.2.3.1 Công khai minh bạch hóa các chính sách liên quan tới dịch vụ
Một nguyên tắc cơ bản của WTO là các thành viên có nghĩa vụ đảm bảo tính
ổn định và có thể dự đoán được trong thương mại quốc tế Để đảm bảo nguyên tắc này, các thành viên WTO có nghĩa vụ phải minh bạch hóa các quy định thương mại của mình, phải thông báo mọi biện pháp đang áp dụng và ràng buộc chúng (tức là cam kết sẽ không thay đổi theo chiều hướng bất lợi cho thương mại, nếu thay đổi phải được thông báo, tham vấn và bù trừ hợp lý)
Ngoài ra, WTO cũng yêu cầu các nước hạn chế sử dụng hạn ngạch và các biện pháp hạn chế số lượng khác Nhiều hiệp định của WTO còn yêu cầu các chính phủ phải công khai các chính sách và thông lệ trong nước hoặc thông báo các chính sách đó với WTO Chính sách thương mại của các nước được giám sát thường xuyên bởi cơ chế rà soát Chính sách thương mại của WTO
1.2.3.2 Nguyên tắc tối huệ quốc (Most favoured nation- MFN)
Theo nguyên tắc MFN, các thành viên WTO không được phân biệt đối xử giữa nhà cung cấp dịch vụ và dịch vụ được cung cấp của đối tác thành viên này với đối tác thành viên khác Đây là nghĩa vụ bắt buộc của các nước thành viên Tuy nhiên, nguyên tắc MFN có một số ngoai lê sau:
Theo cam kết riêng của từng nước trong WTO: Đây là trường hơp nước gia nhập thành công trong một đàm phán miễn thực hiện nghĩa vụ này trong một số dịch vụ hoặc trường hợp cụ thể trong một số năm
Theo các Thỏa thuận khu vực hoặc các Hiệp định thương mại tự do: các cam kết trong những Văn kiện này được ưu tiên áp dụng (và do đó các nước thành viên những Thỏa thuận hay Hiệp định này có thể cho nhau hưởng đối xử ưu đãi ở mức cao hơn so với các nước thành viên WTO không tham gia Thỏa thuận hay Hiệp định này)
Trang 19Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
1.2.3.3 Nguyên tắc đối xử quốc gia (National treatment – NT)
Trong khi nguyên tắc MFN yêu cầu một thành viên không được pháp áp dụng đối xử phân biệt giữa các thành viên thì nguyên tắc NT yêu cầu một nước phải đối xử bình đẳng và công bằng giữa nhà cung cấp dịch vụ và dịch vụ được cung cấp trong nước với nhà cung cấp dịch vụ và dịch vụ được cung cấp của các nước thành viên WTO Theo nhận định của VCCI trong ấn phẩm “Hiệp định GATS và biểu cam kết dịch vụ”, đối với thương mại dịch vụ, mức độ cam kết mở cửa còn dè dặt
và nhiều hạn chế trong từng ngành dịch vụ đối với từng thành viên Vì vậy, nguyên tắc NT áp dụng rất hạn chết, phân biệt đối xử giữa nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài với nhà cung cấp dịch vụ trong nước còn tồn tại ở nhiều mức độ khác nhau
1.2.3.4 Thương mại ngày càng tự do hơn thông qua đàm phán
WTO đảm bảo thương mại giữa các quốc gia ngày càng tự do hơn thông qua quá trình đàm phán hạ thấp các hàng rào thương mại để thúc đẩy buôn bán Để thực hiện nguyên tắc này WTO đảm nhận chức năng là diễn đàn đàm phán thương mại
đa phương để các nước có thể liên tục thảo luận về vấn đề tự do hóa thương mại Kể
từ năm 1948 đến nay, GATT, mà nay là WTO, đã tiến hành 8 vòng đàm phán để giảm thuế quan, dỡ bỏ các hàng rào phi thuế quan và mở cửa thị trường Vòng đàm phán thứ 9 (vòng Doha) hiện đang được thực hiện với một chương trình nghị sự sâu rộng, đề cập đến 7 nhóm vấn đề gồm nông nghiệp, dịch vụ, sản phẩm phi nông nghiệp, chống bán phá giá, thương mại và môi trường và các vấn đề mới đưa ra như nhà đầu tư, chính sách cạnh tranh… Vòng Doha được hy vọng là một bước đi tích cực nhằm tự do hóa thương mại toàn cầu một cách toàn diện và sâu sắc hơn nữa
1.2.3.5 Thúc đẩy cạnh tranh công bằng
WTO là một tổ chức tiêu biểu cho “thương mại tự do”, song hệ thống WTO trên thực tế vẫn cho phép áp dụng thuế quan và một số hình thức bảo hộ với những trường hợp đặc biệt khác Theo VCCI (Chương trình hỗ trợ kỹ thuật hậu gia nhập WTO - The beyond WTO program) thì “có thể nói rằng WTO là một hệ thống các nguyên tắc nhằm thúc đầy cạnh tranh tự do, công bằng và không bị bóp méo Tất cả các hiệp định của WTO như Hiệp định về nông nghiệp, dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ đều nhằm mục tiêu tạo một môi trường cạnh tranh ngày càng bình đẳng hơn giữa các quốc gia”
Trang 20Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Đồng thời trong WTO, ¾ số thành viên là các nước đang phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi, nên WTO cũng khuyến khích phát triển cải cách kinh tế, dành những điều kiện đối xử đặc biệt và khác biệt cho các quốc gia này, với mục tiêu đảm bảo sự tham gia sâu rộng hơn của họ vào hệ thống thương mại đa phương Thực hiện nguyên tắc này WTO dành cho các nước đang phát triển, các nền kinh tế chuyển đổi những linh hoạt và ưu đãi nhất định trong việc thực thi các hiệp định, đồng thời chú ý đến trợ giúp kỹ thuật cho các nước này
1.3 Các cam kết của Việt Nam với WTO liên quan đến dịch vụ logistics
Các cam kết trong WTO được xác định riêng với từng phương thức cung cấp dịch vụ Theo VCCI, có 4 phương thức cung cấp dịch vụ chủ yếu: Cung cấp dịch vụ qua biên giới; Tiêu dùng dịch vụ ở nước ngoài; Hiện diện thương mại; Hiện diện thể nhân
Phương thức 1 (Phương thức cung cấp dịch vụ qua biên giới): Là phương thức theo đó dịch vụ được cung cấp từ lãnh thổ của một nước thành viên này sang lãnh thổ của một nước thành viên khác
Phương thức 2 (Phương thức tiêu dùng dịch vụ ở nước ngoài): Là phương thức theo đó người tiêu dùng của một nước thành viên di chuyển sang lãnh thổ của một nước thành viên khác để tiêu dùng dịch vụ
Phương thức 3 (Phương thức hiện diện thương mại): Là phương thức theo đó nhà cung cấp dịch vụ của một nước thành viên thành lập các hình thức hiện diện như công ty 100% vốn nước ngoài, công ty liên doanh, chi nhánh… trên lãnh thổ của một thành viên khác để cung cấp dịch vụ
Phương thức 4 (Phương thức hiện diện thể nhân): Là phương thức theo đó thể nhân cung cấp dịch vụ của một thành viên di chuyến sang lãnh thổ của một thành viên khác để cung cấp dịch vụ
Như đã trình bày, theo phân loại các ngành/phân ngành dịch vụ của WTO thì không có khái niệm dịch vụ logistics Các hoạt động logistics cụ thể thực tế nằm trong các ngành: Dịch vụ vận tải, Dịch vụ kinh doanh, Dịch vụ bưu chính viễn thông, Dịch vụ phân phối Có thể nói, dịch vụ logistics xuất hiện ở rất nhiều ngành trong tổng thể nền kinh tế Chính vì vậy, nhằm mục đích kiểm soát và điều chỉnh các hoạt động liên quan đến dịch vụ logistics, Chính phủ đã ban hành Nghị định
Trang 21Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
140/2007NĐ-CP ngay sau khi Việt Nam gia nhập WTO Nghị định đã đưa ra cách phân loại dịch vụ logistics gồm có: Các dịch vụ logistics chủ yếu, Các dịch vụ logistics liên quan đến vận tải, Các dịch vụ logistics liên quan khác Cách phân loại này phù hợp với Biểu cam kết dịch vụ của Việt Nam với WTO, tuy nhiên, chưa thể hiện được những loại hình dịch vụ logistics mới, hiện đại trong điều kiện hiện nay (Đặng Đình Đào, 2011, tr.85)
- Dịch vụ đại lý vận tải hàng hóa
- Các dịch vụ thực hiện thay mặt cho chủ hàng, bao gồm các hoạt động: kiểm tra vận đơn; dịch vụ môi giới vận tải hàng hóa; giám định hàng hóa; dịch vụ lấy mẫu và xác định trọng lượng; dịch vụ nhận hàng; dịch vụ chuẩn bị chứng từ vận tải
1.3.1.1 Dịch vụ xếp dỡ container
Theo cam kết kể từ khi gia nhập WTO, muốn đầu tư để cung cấp dịch vụ xếp
dỡ container tại Việt Nam, các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài cung phải thiết lập liên doanh với đối tác Việt Nam trong đó phần vốn góp của bên nước ngoài không quá 50% Việt Nam có thể không cho phép các liên doanh này cung cấp các dịch vụ xếp dỡ container tại các sân bay
1.3.1.2 Dịch vụ kho bãi (CPC 742)
Theo cam kết gia nhập WTO, để đầu tư cung cấp dịch vụ kho bãi container (bao gồm dịch vụ lưu kho container, nhằm chất hàng vào/dỡ hàng ra, sửa chữa và chuẩn bị container sẵn sàng cho việc gửi hàng), các nhà đầu tư nước ngoài phải thiết lập liên doanh với đối tác Việt Nam và tỷ lệ góp vốn của phía nước ngoài không vượt quá 51%
Kể từ ngày 11/1/2014, các nhà đầu tư nước ngoài có thể lập liên doanh với đối tác Việt Nam mà không bị hạn chế vốn của phía nước ngoài trong liên doanh hoặc lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
Trang 22Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
1.3.1.3 Dịch vụ đại lý vận tải hàng hóa (CPC 748)
Trong cam kết, Dịch vụ đại lý vận tải hàng hóa được định nghĩa “bao gồm cả dịch vụ giao nhận hàng hóa Các dịch vụ này bao gồm các hoạt động tổ chức và điều hành các hoạt động chuyên chở hàng hóa thông qua việc tìm kiếm dịch vụ vận tải và các dịch vụ liên quan, chuẩn bị chứng từ và cung cấp thông tin kinh doanh”
Theo cam kết, kể từ ngày gia nhập cho phép thành lập liên doanh trong đó tỷ
lệ vốn nước ngoài không được vượt quá 51% Sau 7 năm kể từ ngày gia nhập: Không hạn chế
Tại Công văn số 9258/BCT-KH ngày 19/9/2014 của Bộ Công thương gửi Văn phòng Chính phủ trả lời đối với các dịch vụ logistics Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã đề cập tại Công văn số 4057/UBND-ĐT đã khẳng định là đối với dịch vụ kho bãi (CPC 742), đại lý vận tải hàng hóa (CP 748) "Biểu cam kết dịch
vụ của Việt Nam trong WTO quy định về lộ trình mở cửa thị trường không hạn chế, ngoại trừ khi gia nhập cho phép thành lập liên doanh với phần vốn góp của nước ngoài không vượt quá 51% Sau 7 năm kể từ ngày gia nhập: Không hạn chế Theo cam kết nêu trên, hạn chế về thành lập liên doanh và hạn chế về tỷ lệ vốn nước ngoài sẽ được xóa bỏ sau 7 năm kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO"
Đối với dịch vụ đại lý vận tải hàng hóa, theo quy định tại Điểm 6, Khoản 3, Điều 5 Nghị định số 140/2007/NĐ-CP ngày 5/9/2007 thì "nhà đầu tư nước ngoài được thành lập công ty liên doanh, trong đó tỷ lệ vốn của nhà đâu tư nước ngoài không quá 51% và kể từ năm 2014, được thành lập công ty liên doanh không hạn chế tỷ lệ vốn góp của nhà đâu tư nước ngoài" Như vậy, hiện nay, quy định của Nghị định nói trên đối với dịch vụ đại lý vận tải hàng hóa là chưa phù hợp với quy định của Biểu cam kết dịch vụ trong WTO Theo Nghị quyết số 71/2006/QH11 ngày 29/11/2006 của Quốc hội phế chuẩn Nghị định thư gia nhập Hiệp định thành lập tổ chức Thương mại thế giới (WTO) của Việt Nam quy định : "Trong trường hợp quy định của pháp luật Việt Nam không phù hợp với quy định của Hiệp định này, Nghị định thư và các tài liệu kèm theo thì áp dụng quy định của Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới, Nghị định thư và các tài liệu đính kèm" Như vậy, quy định trong Nghị định 140/2007/NĐ-CP về việc thành lập công ty kinh doanh dịch vụ đại lý vận tải hàng hóa sẽ không còn phù hợp với quy định của Biểu
Trang 23Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
cam kết trong WTO Tức là đến nay cho phép thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài kinh doanh dịch vụ đại lý vận tải
1.3.1.4 Dịch vụ thông quan
Theo định nghĩa của cam kết, dịch vụ thông quan có tên gọi khác là “dịch vụ môi giới hải quan” là các hoạt động bao gồm việc thay mặt một bên khác thực hiện các thủ tục hải quan liên quan tới xuất khẩu, nhập khẩu hoặc quá cảnh hàng hóa, dù dịch vụ này là hoạt động chính hay chỉ là một phần bổ sung thông thường trong hoạt động chính của nhà cung cấp dịch vụ Luật Hải quan và nghị định số 154/2005/NĐ-CP ngày 15/12/2005 và theo giải thích trong biểu cam kết trên có thể hiểu đây là “dịch vụ khai thuê hải quan”
Theo biểu cam kết, các nhà đầu tư nước ngoài phải thiết lập liên doanh với đối tác Việt Nam Trong liên doanh, tỷ lệ vốn góp của phía nước ngoài không vượt quá 51% Kể từ ngày 11/1/2012, các nhà đầu tư nước ngoài có thể lập liên doanh với đối tác Việt Nam mà không bị hạn chế vốn của phía nước ngoài trong liên doanh
1.3.1.5 Các dịch vụ khác thay mặt cho chủ hàng
Trong cam kết có chú thích các dịch vụ khác bao gồm những hoạt động sau:
- Kiểm tra vận đơn
- Dịch vụ môi giới vận tải hàng hóa
Trang 24Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Về phương thức hiện diện thương mại, Việt Nam cho phép kể từ khi gia nhập các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài chỉ được cung cấp dịch vụ thông qua thành lập liên doanh với đối tác Việt nam trong đó tỷ lệ vốn của bên nước ngoài không quá 49% Sau 3 năm kể từ khi gia nhập, hạn chế này sẽ là 51% 4 năm sau đó hạn chế vốn này sẽ được bãi bỏ Cần lưu ý sự quy định chặt chẽ của cam kết: “ 4 năm sau đó hạn chế vốn này sẽ được bãi bỏ” Như vậy sau 7 năm gia nhập, hạn chế
về tỷ lệ vốn nước ngoài trong liên doanh sẽ được xóa bỏ, tuy nhiên điều kiện về thành lập liên doanh vẫn tiếp tục được áp dụng Công văn số 9258/BCT-KH ngày 19/9/2014 của Bộ Công thương đã xác nhận điều này
1.3.2 Các dịch vụ logistics liên quan tới vận tải
1.3.2.1 Dịch vụ vận tải biển
* Dịch vụ vận tải biển
Việt Nam không đưa ra bất cứ hạn chế nào về mở cửa thị trường và đối xử quốc gia Điều đó có nghĩa là các nhà cung cấp dịch vụ vận tải nước ngoài không bị hạn chế về số lượng nhà cung cấp dịch vụ, số lượng dịch vụ và giá trị dịch vụ khi vận chuyển hàng hóa quốc tế vào Việt Nam và từ Việt Nam đi; được đối xử như các chủ tàu Việt Nam chuyên chở hàng hóa quốc tế
Các chủ tàu chủ hàng Việt Nam (những người sử dụng dịch vụ) được phép
sử dụng dịch vụ của chủ tàu ở nước ngoài để chuyên chở hàng hóa của mình hoặc mình thuê chở cho chủ hàng trong và ngoài nước
Việc thành lập công ty cung cấp dịch vụ vận tải biển của nước ngoài tại Việt Nam được chia làm 2 loại hiện diện thương mại:
Thành lập Công ty vận tải khai thác đội tàu mang cờ quốc tịch Việt Nam
Việt Nam đã cam kết: sau 2 năm kể từ ngày Việt Nam gia nhập WTO (tức là
từ 11/1/2009), các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài được phép thành lập công ty liên doanh với phần vốn góp của phía nước ngoài không vượt quá 49% vốn pháp định của liên doanh Thuyền viên nước ngoài được phép làm việc trên các tàu mang
cờ quốc tịch Việt Nam (hoặc được đăng ký ở Việt Nam) thuộc sở hữu của các doanh nghiệp liên doanh tại Việt Nam nhưng không vượt quá 1/3 tổng số định biên của tàu Thuyền trưởng hoặc thuyển phó thứ nhất phải là công dân Việt Nam
Trang 25Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Mục đích của hạn chế này đối với các nước đang phát triển là nhằm hạn chế tàu biển nước ngoài vận chuyển hàng nội địa, nhưng mặt khác lại không khuyến khích tàu nước ngoài đăng ký treo cờ quốc gia khi gia nhập WTO
Các hình thức hiện diện thương mại khác để cung cấp dịch vụ vận tải biển quốc tế, ngoài việc thành lập công ty vận tải biển khác khai thác đội tàu mang quốc tịch Việt Nam
Cam kết định nghĩa: “ Các hình thức hiện diện thương mại khác là khả năng
để các công ty vận tải biển nước ngoài thực hiện các hoạt động ở Việt Nam liên quan tới hàng hóa do công ty đó chuyên chở và cần thiết để cung cấp dịch vụ vận tải khép kín cho khách hàng của mình, trong đó vận tải biển quốc tế là công đoạn chính
và do công ty vận tải biển liên quan cung cấp”
Theo cam kết, ngay sau khi gia nhập WTO các công ty vận tải biển nước ngoài có thể thành lập liên doanh ở Việt Nam theo hình thức hiện diện thương mại khác trên đây với 51% sở hữu nước ngoài Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chỉ được thực hiện các hoạt động dưới đây: Bán và tiếp thị dịch vụ vận tải biển thông qua giao dịch trực tiếp với khách hàng, từ niêm yết giá tới lập chứng từ hóa đơn; Đại diện cho chủ hàng; Cung cấp các thông tin kinh doanh theo yêu cầu; Chuẩn bị tài liệu liên quan đến chứng từ vận tải bao gồm cả chứng từ hải quan hoặc các chứng từ khác liên quan đến xuất xứ và đặc tính của hàng hóa vận chuyển; Cung cấp dịch vụ vận tải biển bao gồm cả dịch vụ vận tải nội địa bằng tàu mang cờ quốc tịch Việt Nam để cung cấp dịch vụ vận tải khép kín
Sau 5 năm kể từ ngày gia nhập, các công ty vận tải biển nước ngoài có thể thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài Điều đó có nghĩa là từ năm 2012, các công ty vận tải biển nước ngoài có thể thành lập doanh nghiệp ở Việt Nam với vốn hoàn toàn của mình, không cần liên doanh Sau 5 năm kể từ ngày gia nhập WTO, doanh nghiệp được phép thực hiện các hoạt động sau: Thay mặt công ty tổ chức cho tàu vào cảng hoặc tiếp nhận hàng khi có yêu cầu; Đàm phán và ký hợp đồng vận tải đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa liên quan tới hàng hóa do công ty vận chuyển
Trang 26Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Cam kết cũng quy định số lượng liên doanh do các công ty vận tải biển nước ngoài được phép thành lập tại thời điểm gia nhập không được vượt quá 5 Sau đó cứ
2 năm một sẽ cho phép thêm 3 liên doanh, sau 5 năm kể từ khi gia nhập sẽ không hạn chế số lượng liên doanh
Về hiện diện thể nhân ta chưa có cam kết, ngoại trừ cam kết sàn Trong cam kết sàn của Việt Nam có quy định cho phép thể nhân di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp (ví dụ: người của công ty mẹ của APL- NOL ở Singapore sang làm việc tại công ty 100% vốn hoặc liên doanh ở Việt Nam), bao gồm nhà quản lý, giám đốc điều hành và chuyên gia đã được doanh nghiệp nước ngoài tuyển dụng trước đó ít nhất 1 năm, được nhập cảnh và lưu trú trong thời gian ban đầu là 3 năm theo hợp đồng lao động
* Các dịch vụ hỗ trợ vận tải biển
- Dịch vụ xếp dỡ container (CPC 7411)
Theo CPC 7411 thì dịch vụ xếp dỡ container là “dịch vụ được cung cấp đối với hàng hóa trong thùng hàng đặc biệt Bao gồm các dịch vụ của phương tiện làm hàng ở cảng trên cơ sở thu phí hoặc hợp đồng cho tất cả các phương thức vận tải kể
cả dịch vụ xếp dỡ hàng hóa (tức là xếp, dỡ hàng container của tàu tại cảng biển)” Trong cam kết của Việt Nam còn giải thích thêm “Có thể dành riêng một số khu vực để cung cấp các dịch vụ công hoặc áp dụng thủ tục cấp phép tại các khu vực này”
Về hiện diện thương mại, Việt Nam đã cam kết khi gia nhập WTO, theo đó công ty nước ngoài được phép thành lập công ty liên doanh với phần vốn góp của bên nước ngoài không quá 50% Công ty này khi hoạt động được đối xử như công
ty Việt Nam, không có sự phân biệt đối xử
- Dịch vụ thông quan
Việt Nam chỉ đưa ra hạn chế vốn góp pháp định của doanh nghiệp nước ngoài Theo đó, khi gia nhập WTO, bên nước ngoài được thành lập liên doanh trong
đó tỷ lệ vốn góp không quá 51% Sau 5 năm, cho phép thành lập liên doanh trong
đó không hạn chế vốn sở hữu của phía nước ngoài
- Dịch vụ kho bãi container
Trang 27Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Trong cam kết không nêu CPC mà có định nghĩa: “Dịch vụ kho bãi container
là các hoạt động bao gồm lưu kho công-ten-nơ, dù ở khu vực cảng hay trong nội địa, nhằm chất hàng vào ra sửa chữa và chuẩn bị công- ten- nơ sẵn dàng cho việc gửi hàng”
Theo cam kết, Việt Nam sẽ không hạn chế đối với nhà cung cấp dịch vụ kho bãi container, ngoại trừ kể từ khi gia nhập WTO, có thể thành lập doanh nghiệp liên doanh, tuy nhiên tỷ lệ vốn góp của phía nước ngoài không quá 51% 7 năm sau khi gia nhập, không hạn chế tỷ lệ này
- Dịch vụ hỗ trợ vận tải biển chưa cam kết trong WTO
Tham gia vào WTO, Việt Nam không cam kết mở cửa thị trường dịch vụ Đại
lý tàu biển và Dịch vụ lai dắt, tuy nhiên hai dịch vụ này lại được điều chỉnh bằng Nghị định số 30/2014/NĐ-CP ngày 14/4/2014
Theo đó, tổ chức cá nhân nước ngoài được thành lập công ty liên doanh kinh doanh dịch vụ đại lý tàu biển và kinh doanh dịch vụ lai dắt, trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài không vượt quá 49% tổng số vốn điều lệ của doanh nghiệp
1.3.2.2 Dịch vụ vận tải đường thủy nội địa
Dịch vụ vận tải thủy nội địa gồm có Dịch vụ vận tải hành khách (CPC 7221)
và Dịch vụ vận tải hàng hóa (CPC 7222) Tham gia WTO, Việt Nam cam kết kể từ ngày gia nhập, các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài chỉ được cung cấp dịch vụ thông qua việc thành lập liên doanh với đối tác Việt Nam trong đó vốn góp của phía nước ngoài không được vượt quá 49% tổng vốn pháp định
1.3.2.3 Dịch vụ vận tải hàng không
WTO không điều chỉnh dịch vụ hàng không thuần túy (tức là dịch vụ chuyên chở khách và hàng hóa) Điều này có nghĩa là Việt Nam không bị ràng buộc gì khi gia nhập WTO liên quan đến các dịch vụ này Vì vậy các hãng hàng không nước ngoài có thể hoạt động, cung cấp dịch vụ vận chuyển hàng không tại Việt Nam theo các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam
Tuy nhiên WTO điều chỉnh một số dịch vụ liên quan tới vận tải hàng không (thuộc phạm vi của Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ - GATS) và Việt Nam
đã đưa ra cam kết mở cửa cho những lĩnh vực này với các điều kiện sau:
Trang 28Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Dịch vụ bán và tiếp thị các sản phẩm hàng không: Các hãng hàng không
nước ngoài được phép cung cấp dịch vụ tại Việt Nam thông qua văn phòng bán vé của mình hoặc các đại lý tại Việt Nam (không quy định hình thức hiện diện thương mại cụ thể)
Dịch vụ đặt chỗ, giữ chỗ bằng máy tính: Việt Nam không hạn chế đối với
phương thức cung cấp qua biên giới, sử dụng dịch vụ ở nước ngoài hay hiện diện thương mại của dịch vụ giữ chỗ bằng máy tính, ngoại trừ nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài phải sử dụng mạng viễn thông công cộng dưới sự quản lý của nhà chức trách viễn thông Việt Nam
Dịch vụ bảo dưỡng và sửa chữa máy bay (CPC 8868): Kể từ ngày
11/1/2007, Việt Nam cho phép thành lập liên doanh trong đó phần vốn góp của phía nước ngoài không được vượt quá 51% Sau 5 năm kể từ khi gia nhập (tức là ngày 11/1/2012), cho phép thành lập doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài
1.3.2.4 Dịch vụ vận tải đường sắt
Gia nhập WTO, Việt Nam cam kết cho các nhà cung cấp nước ngoài được cung cấp dịch vụ vận tải hàng hóa thông qua việc thành lập lien doanh với đối tác Việt Nam trong đó phần vốn góp từ phía nước ngoài không được vượt quá 49% tổng vốn pháp định
Trước thời điểm gia nhập WTO, ngành đường sắt chưa mở cửa cho đầu tư nước ngoài Như vậy về nguyên tắc, kể từ sau 11/1/2007, thị trường đường sắt Việt Nam sẽ có sự cạnh tranh hơn do có nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài đổ vào
1.3.2.5 Dịch vụ vận tải đường bộ
Dịch vụ vận tải đường bộ mà Việt Nam cam kết với WTO gồm có: Dịch vụ vận tải hành khách (mãi CPC 7121+7122) và Dịch vụ vận tải hàng hóa (CPC 7123) Theo đó, kể từ ngày gia nhập, các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài được cung cấp dịch
vụ vận tải hàng hóa và vận tải hành khách thông qua hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc liên doanh trong đó tỷ lệ bốn góp của phía nước ngoài không quá 49% Biểu cam kết cũng quy định cụ thể, 100% lái xe của liên doanh phải là công dân Việt Nam
Cam kết cũng chỉ ra sau 3 năm kể từ ngày 11/1/2007 tủy theo nhu cầu thị trường, được phép thành lập liên doanh để cung cấp dịch vụ vận tải hàng hóa, trong
đó tỷ lệ vốn góp của phía nước ngoài không được vượt quá 51%
Trang 29Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
1.3.3 Dịch vụ logistics liên quan khác
1.3.3.1 Dịch vụ kiểm tra và phân tích kỹ thuật (CPC 8676)
Dịch vụ kiểm tra và phân tích kỹ thuật (CPC 8676 ngoại trừ việc kiểm định
và cấp giấy chứng nhận cho phương tiện vận tải) Theo biểu cam kết, Việt Nam cho phép sau 3 năm kể từ khi Việt Nam các nhà cung cấp dịch vụ tư nhân được tham gia kinh doanh dịch vụ mà trước đó không có sự cạnh tranh của khu vực tư nhân do các dịch vụ này được cung cấp để thực hiện thẩm quyền của chính phủ, cho phép thành lập liên doanh trong đó không hạn chế vốn nước ngoài
Sau 5 năm kể từ khi cho phép các nhà cung cấp dịch vụ tư nhân được tham gia kinh doanh dịch vụ này, Việt Nam cam kết không hạn chế Cam kết cũng lưu ý
rõ, vì lý do an ninh quốc gia, việc tiếp cận một số khu vực địa lý có thể bị hạn chế
1.3.3.2 Dịch vụ bưu chính
Khi tham gia hội nhập, Việt Nam có cam kết về phân ngành Các dịch vụ chuyển phát (CPC 7512) - thuộc ngành các dịch vụ thông tin Theo Quyết định số 22/2007-QĐ/BBCVT, Dịch vụ chuyển phát nằm trong nhóm “Dịch vụ bưu chính”
Cam kết đưa ra định nghĩa về dịch vụ chuyển phát nhanh là dịch vụ thu gom, chia chọn, vận chuyển và phát trong nước và quốc tế: Thông tin dưới dạng văn bản, thể hiện dưới bất kỳ hình thức vật lý nào (thông tin dưới dạng văn bản, bao gồm cả lai ghép và thông tin quảng cáo trực tuyến) các kiện (bao gồm cả sách và ca-ta-lô)
và các hàng hóa khác trừ các trường hợp sau:
- Các văn bản có giá cước dịch vụ thấp hơn 10 lần giá cước của một bức thư tiêu chuẩn gửi trong nước ở nấc khối lượng đầu tiên hoặc thấp hơn 9 Đô la Mỹ (USD) khi gửi quốc tế
- Tổng khối lượng các vật phẩm (cho 01 lần chuyển phát) trên 2000 gam Các công ty chuyển phát nhanh và dịch vụ chuyển phát nhanh nước ngoài sẽ được đối xử bình đẳng với Bưu chính Việt Nam trong việc cung cấp các dịch vụ mà Việt Nam đã cam kết mở cửa Biểu cam kết cũng quy định các nhà đầu tư nước ngoài chỉ có thể cung cấp dịch vụ chuyển phát nhanh trên thị trường Việt Nam dưới hình thức hiện diện sau:
Trang 30Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
- Doanh nghiệp liên doanh với đối tác Việt Nam cung cấp dịch vụ chuyển phát (có thể phải tuân thủ điều kiện vốn nước ngoài không quá 51% kể từ ngày 11/1/2007 cho đến ngày 11/1/2012)
- Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài để cung cấp dịch vụ chuyển phát kể từ ngày 11/1/2012
1.3.3.3 Dịch vụ thương mại bán buôn (CPC 622) và bán lẻ (CPC 631)
Theo biểu cam kết dịch vụ, dịch vụ thương mại bán buôn và dịch vụ thương mại bán lẻ nằm trong ngành Dịch vụ phân phối Về hình thức cung cấp qua biên giới, Việt Nam chưa cam kết, tuy nhiên ngoại trừ không hạn chế đối với:
- Phân phối các sản phẩm phục vụ nhu cầu cá nhân
- Phân phối các chương trình phần mềm máy tính hợp pháp phục vụ nhu cầu
cá nhân hoặc vì mục đích thương mại
Về hình thức hiện diện thương mại, biểu cam kết quy định, nhà đầu tư nước ngoài phải thành lập liên doanh với đối tác Việt Nam với số vốn góp của phía nước ngoài không được vượt quá 49% Kể từ ngày 1/1/2008, hạn chế vốn góp 49% này
sẽ bị xóa bỏ Kể từ ngày 1/1/2009, không hạn chế
Kể từ ngày gia nhập, công ty có vốn đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực phân phối sẽ được phép cung cấp dịch vụ bán buôn và bán lẻ tất cả các sản phẩm sản xuất tại Việt Nam và các sản phẩm nhập khẩu hợp pháp vào Việt Nam, ngoại trừ: xi măng và clinke; lốp (trừ lốp máy bay); giấy; máy kéo; phương tiện cơ giới; oto con
và xe máy; sắt thép thiết bị nghe nhìn; rượu; phân bón Kể từ ngày 1/1/2009, bổ sung thêm quyền phân phối dịch vụ bán buôn bán lẻ máy kéo, phương tiện cơ giới; oto con và xe máy Trong vòng 3 năm kể từ ngày gia nhập, xóa bỏ hạn chế với tất
cả các sản phẩm phân phối (miễn là sản phẩm đó được sản xuất tại Việt Nam hoặc nhập khẩu hợp pháp vào Việt Nam)
Việc thành lập các cơ sở bán lẻ (ngoài cơ sở thứ nhất) sẽ được xem xét trên
cơ sở kiểm tra nhu cầu kinh tế (số lượng các nhà cung cấp dịch vụ đang hiện diện trong một khu vực địa lý, sự ổn định của thị trường và quy mô địa lý)
Trang 31Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
1.3.3.4 Một số dịch vụ chưa phân nhóm trong Nghị định
Căn cứ vào Biểu cam kết dịch vụ của Việt Nam với WTO và Bảng phân loại dịch vụ logistics vủa Ủy ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ (USITC), khi tham gia hội nhập Việt Nam đã cam kết mở cửa một số ngành dịch vụ, tuy nhiên chưa đề cập tới trong Nghị định 140/2007/NĐ-CP, gồm có:
Dịch vụ đại lý hưởng hoa hồng (CPC 621)
Theo biểu cam kết dịch vụ và Cam kết WTO về phân phối – logistics (trang 9), Việt Nam đã cam kết về dịch vụ đại lý hưởng hoa hồng (CPC 621) tương tự như đối với dịch vụ bán buôn và dịch vụ bán lẻ Theo đó, kể từ ngày gia nhập, công ty
có vốn đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực phân phối sẽ được phép cung cấp dịch đại
lý hoa hồng đối với tất cả các sản phẩm sản xuất tại Việt Nam và các sản phẩm nhập khẩu hợp pháp vào Việt Nam, ngoại trừ: Xi măng và clinke; lốp (trừ lốp máy bay); giấy; máy kéo; phương tiện cơ giới; ô tô con và xe máy; sắt thép thiết bị nghe nhìn; rượu; phân bón Kể từ ngày 1/1/2009, bổ sung thêm quyền phân phối thông qua dịch vụ đại lý hoa hồng đối với các sản phẩm máy kéo, phương tiện cơ giới; oto con và xe máy Sau 3 năm kể từ ngày gia nhập, xóa bỏ hạn chế với tất cả các sản phẩm phân phối (miễn là sản phẩm đó được sản xuất tại Việt Nam hoặc nhập khẩu hợp pháp vào Việt Nam)
Dịch vụ xử lý dữ liệu (CPC 843)
Theo biểu cam kết của Việt Nam với WTO, dịch vụ xử lý dữ liệu (CPC 843) nằm trong ngành Các dịch vụ kinh doanh, phân ngành Máy tính và các dịch vụ liên quan Theo Cam kết về kinh doanh (trang 17), Việt Nam cho phép các doanh nghiệp nước ngoài được cung cấp các dịch vụ xử lý dữ liệu tại Việt Nam dưới các hình thức hiện diện sau:
- Lập văn phòng đại diện (không được trực tiếp thực hiện các hoạt động sinh lời);
- Lập liên doanh với đối tác Việt Nam (không bị hạn chế vốn nước ngoài trong liên doanh) để cung cấp dịch vụ cho tất cả các loại khách hàng;
- Lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài với điều kiện chỉ được cung cấp dịch vụ cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam; từ 11/1/2009, các doanh nghiệp này mới được cung cấp dịch vụ cho mọi khách hàng tại Việt Nam
Trang 32Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
- Lập chi nhánh để cung cấp dịch vụ cho các khách hàng tại Việt Nam (với điều kiện chỉ lập sau ngày 11/1/2010 và trưởng chi nhánh phải là người thường trú tại Việt Nam)
Nhà cung cấp dịch vụ xử lý dữ liệu nước ngoài không có hiện diện thương mại tại Việt Nam cũng có thể cung cấp dịch vụ này cho khách hàng Việt Nam (cung cấp qua biên giới) Việt Nam cam kết không đặt ra các điều kiện về hoạt động riêng đối với nhà đầu tư nước ngoài so với nhà đầu tư trong nước
Dịch vụ tư vấn quản lý (CPC 865)
Dịch vụ tư vấn quản lý nằm trong ngành Dịch vụ kinh doanh, phân ngành Các dịch vụ kinh doanh khác Theo VCCI (Cam kết về dịch vụ kinh doanh, tr.25), Việt Nam cho phép các nhà đầu tư nước ngoài cung cấp dịch vụ tư vấn quản lý tại Việt Nam dưới các hình thức sau:
- Lập văn phòng đại diện;
- Lập liên doanh với đối tác Việt Nam (không hạn chế phần vốn góp của phía nước ngoài trong liên doanh);
- Lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài;
- Lập chi nhánh (chỉ sau ngày 11/1/2010 và với điều kiện trưởng chi nhánh phải là người thường trú tại Việt Nam)
Các doanh nghiệp nước ngoài hoạt động trong lĩnh vực này không có hiện diện thương mại tại Việt Nam như nêu ở trên cũng được phép cung ứng dịch vụ tư vấn quản lý cho khách hàng tại Việt Nam (thông qua phương thức cung cấp qua biên giới)
Dịch vụ truyền thông tin và dữ liệu (CPC 7523)
Dịch vụ truyền thông tin và dữ liệu bao gồm nhiều hạng mục nhỏ, được quy định trong biểu cam kết, thuộc ngành Dịch vụ bưu chính viễn thông, phân ngành Dịch vụ viễn thông (Biểu cam kết về dịch vụ, trang 26):
- Dịch vụ viễn thông cơ bản gồm có: dịch vụ truyền số liệu chuyển mạch gói, dịch vụ truyền số liệu chuyển mạch kênh, dịch vụ Telex, dịch vụ Telegraph, dịch vụ thuê kênh riêng),
Trang 33Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
- Dịch vụ viễn thông giá trị gia tăng gồm có: thư điện tử, thư thoại, thông tin trực tuyến và truy cập lấy thông tin từ cơ sở dữ liệu, trao đổi dữ liệu điện tử (EDI), các dịch vụ facsimile gia tăng giá trị bao gồm lưu trữ và chuyển, lưu trữ và khôi phục),
Theo đó, Việt Nam cam kết đối với dịch vụ viễn thông có hạ tầng mạng như sau: + Đối với Dịch vụ viễn thông cơ bản, nhà đầu tư nước ngoài chỉ được phép đầu tư để cung cấp dịch vụ ở Việt Nam dưới các hình thức: hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc doanh nghiệp liên doanh với đối tác Việt Nam (là nhà khai thác dịch vụ Việt Nam đã được cấp phép trong lĩnh vực đó) với điều kiện vốn góp tối đa phía nước ngoài không quá 49% vốn pháp định của liên doanh
+ Đối với Dịch vụ viễn thông giá trị gia tăng, các nhà đầu tư nước ngoài chỉ được phép đầu tư để cung cấp dịch vụ ở Việt Nam dưới các hình thức: hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc doanh nghiệp liên doanh với đối tác Việt Nam (là nhà khai thác dịch vụ Việt Nam đã được cấp phép trong lĩnh vực đó) với điều kiện vốn góp tối đa phía nước ngoài không quá 50% vốn pháp định của liên doanh
Bên cạnh đó, Việt Nam cũng cam kết mở cửa thị trường dịch vụ viến thông không có hạ tầng mạng cho các nhà đầu tư nước ngoài theo 2 hình thức: hợp đồng hợp tác kinh doanh và Liên doanh với nhà khai thác Việt Nam với điều kiện đối tác Việt Nam phải là nhà cung cấp đã được cấp phép trong lĩnh vực dịch vụ tương ứng, với tỷ lệ vốn góp tối đa của phía nước ngoài là 51% vốn pháp định của liên doanh (kể từ 11/1/2010, bên nước ngoài được phép tự do chọn đối tác khi thành lập liên doanh và được phép nâng mức vốn góp liên doanh lên 65%)
Trang 34Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
CHƯƠNG II:
THỰC TRẠNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC THỰC HIỆN
CÁC CAM KẾT CỦA VIỆT NAM VỚI WTO
TRONG LĨNH VỰC LOGISTICS
Gia nhập WTO là bước tiến quan trọng trong tiến trình mở cửa nền kinh tế đất nước và hội nhập kinh tế toàn cầu, là cơ hội lớn để Việt Nam khai thác tối đa những lợi ích mà quá trình hội nhập mang lại nhằm phát triển đất nước một cách toàn diện Hội nhập WTO, đồng nghĩa với việc chúng ta đã tham gia vào thị trường chung lớn nhất trên thế giới, nơi diễn ra mọi hoạt động giao thương về hàng hóa và dịch vụ đa dạng nhất Các cam kết mà Việt Nam đã ký với WTO có hiệu lực thực hiện đến nay được hơn 8 năm Việc thực thi các cam kết đặc biệt trong lĩnh vực dịch vụ logistics đã có tác động lớn tới nền kinh tế xã hội nước ta
Ngay sau khi gia nhập WTO, ngày 27/2/2007, Chính phủ đã ra Nghị quyết số 16/2007/NQ-CP ban hành Chương trình Hành động của Chính phủ nhằm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (Khóa X) về một số chủ trương, chính sách lớn
để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững trước bối cảnh Việt Nam là thành viên của WTO, đồng thời giao nhiệm vụ cho các bộ, ngành và địa phương trong giai đoạn hội nhập kinh tế sâu rộng Chương trình Hành động thể hiện sự chủ động và quyết tâm cao của Chính phủ trong việc tối ưu hóa cơ hội từ việc gia nhập WTO, nhằm thực hiện tốt nhất công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong thời gian tới Trong tám năm qua, nhìn chung Việt Nam đã thực hiện đày đủ và nghiêm túc các cam kết gia nhập WTO, đặc biệt trong lĩnh vực dịch vụ logistics Ta đã xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản pháp quy quan trọng điều chỉnh các hoạt động liên quan đến dịch vụ logistics nhằm tiến gần hơn với những quy định của WTO, qua đó cải thiện môi trường pháp lý và khung chính sách, tăng cường tính hấp dẫn của môi trường kinh doanh và đầu tư trong nước
Văn bản pháp quy, trong đó hoạt động logistics lần đầu được đề cập tới là Luật Thương mại 2005 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua vào tháng 6/2005 và chính thức có hiệu lực vào tháng 1/2006, thay thế bổ
Trang 35Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
sung cho Luật Thương mại 1997 Luật Thương mại 2005 đã đưa ra những quy định liên quan tới dịch vụ logistics tại Mục 4, từ Điều 233 đến Điều 240 Các điều đề cập tới logistics bao gồm nội dung về khái niệm dịch vụ logistics, điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics, quyền và nghĩa vụ của khách hàng, các trường hợp miễn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics khi cầm giữ hàng hóa của khách hàng Với sự ra đời của Luật Thương mại 2005, cùng với các quy định có liên quan tới lĩnh vực dịch vụ logistics đã góp phần nào đáp ứng yêu cầu của quá trình hội nhập của Việt Nam Mặc dù, khái niệm về dịch vụ logistics và những quy định điều chỉnh hoạt động logistics trong Luật Thương mại 2005 còn chưa đầy đủ, tuy nhiên sự ra đời của Luật Thương mại 2005 đã tạo hành lang pháp lý quan trọng, phản ánh sự thay đổi nhận thức cơ bản ở Việt Nam về dịch vụ logistics Đây cũng là tiền đề cần thiết để xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản pháp quy sau 11/1/2007- thời điểm Việt Nam chính thức bắt tay vào công cuộc thực hiện cam kết với WTO
2.1 Thực trạng thực hiện các cam kết của Việt Nam với WTO liên quan tới
dịch vụ logistics
2.1.1 Thực trạng thực hiện các cam kết
2.1.1.1 Tình hình thực thi các cam kết liên quan tới dịch vụ logistics nói chung
Năm 2007, nhằm thực thi Luật Thương mại 2005 hiệu quả hơn, đồng thời với quan điểm nhanh chóng thực hiện cam kết trong WTO nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics tại Việt Nam, Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị định 140/2007/NĐ-CP ngày 5/9/2007 hướng dẫn chi tiết thi hành Luật Thương mại về điều kiện kinh doanh dịch vụ và trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics Nghị định này được áp dụng đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics ở Việt Nam và các tổ chức cá nhân khác có hoạt động liên quan đến logistics Văn bản này đã hỗ trợ và tạo điều kiện cho việc thực hiện các cam kết cụ thể của Việt Nam về dịch vụ logistics trong WTO khá nhiều, cụ thể
ở việc định nghĩa và phân loại rõ ràng dịch vụ logistics Qua cách phân loại đó cũng
Trang 36Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
nêu rõ các điều kiện kinh doanh dịch vụ tương ứng với từng phân nhóm và chỉ rõ cơ chế quản lý nhà nước đối với hoạt động này Cụ thể:
Về phân loại dịch vụ logistics: Cách phân loại theo Nghị định này đã có bước tiến bộ rõ rệt so với quan điểm, nhận định chung cũng như tình hình thực tế các hoạt động logistics tại Việt Nam thời điểm đó Nghị định còn quy định thêm về phân nhóm các dịch vụ liên quan khác, nhằm phản ánh đầy đủ toàn diện hơn về bức tranh tổng thể dịch vụ logistics sẽ hướng tới và phát triển mạnh mẽ trong tương lai, giúp các doanh nghiệp kinh doanh tại Việt Nam tiến gần hơn nữa đến dịch vụ logistics đúng nghĩa đang được vận hành trên thế giới
Về quy định điều kiện kinh doanh: Nghị định cũng nêu chi tiết các điều kiện kinh doanh đối với từng phân nhóm dịch vụ và đối tượng riêng biệt Có thể thấy, với nền tảng của Luật Thương mại 2005 cùng với căn cứ trong cam kết của Việt Nam với WTO, Nghị định đã đi sát và phù hợp với đinh hướng thực hiện đúng cam kết đã ký
Về giới hạn trách nhiệm: Nghị định còn giải thích về giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics để các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân
có liên quan đến hoạt động này hiểu rõ hơn về hoạt động cũng như các quy định do Chính phủ ban hành điều chỉnh hoạt động logistics tại Việt Nam
Về mặt quản lý nhà nước: theo như Nghị định “Bộ Công thương chịu trách nhiệm chung trước Chính phủ thực hiện việc quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics Các Bộ: Giao thông vận tải, Công thương, Thông tin
và Truyền thông trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm kiểm tra giám sát các hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics liên quan, bao gồm tổ chức kiểm tra, giám sát việc bảo đảm các điều kiện kinh doanh và tuân thủ các quy định pháp luật của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics trong lĩnh vực được phân công Bộ Kế hoạch và Đầu tư có trách nhiệm hướng dẫn việc đăng ký kinh doanh dịch vụ logistics theo quy định hiện hành của pháp luật” Cách tổ chức này cũng là một điểm tiến bộ so với trước đây, khi các Bộ tự do quản lý các ngành dịch vụ liên quan của mình, nhưng không có một cơ quan điều phối, tổ chức thực hiện và quản
lý chung, dẫn đến tình trạng chồng chéo, trùng lặp, mâu thuẫn giữa các quy định khác nhau của cơ quan khác nhau
Trang 37Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Ngay sau đó, ngày 10/1/2007, Thủ tướng Chỉnh phủ đã ban hành Quyết định
số 30/QĐ-TTg phê duyệt đề án Đơn giản hóa Thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà nước giai đoạn 2007-2010 và Quyết định số 07/QĐ-TTg ngày 04/1/2008 ban hành Kế hoach thực hiện Đề án 30, đưa ra một hệ thống giải pháp tổng thế, công khai, minh bạch nhằm thống kê, rà soát, đơn giản hóa thủ tục hành chính Mục tiêu của Đề án 30 nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, góp phần phòng chống tham nhũng và lãng phí Đề án
30 khẳng định quyết tâm của Chính phủ tiến hành cải cách hành chính nhà nước, tạo điều kiện tốt nhất thực hiện đúng cam kết với WTO Một trong những mục tiêu chính của Đề án là hoàn thành và công khai trên Internet cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính, mẫu đơn, mẫu tờ khai hành chính, yêu cầu hoặc điều kiện để thực hiện thủ tục hành chính và toàn bộ văn bản pháp luật có liên quan
Đối với dịch vụ logistics ngành có liên quan đến nhiều hoạt động kinh tế cần phải tuân thủ các thủ tục hành chính khác nhau Vì vậy việc cải cách thủ tục hành chính là sự hỗ trợ to lớn cho các doanh nghiệp, giúp họ tiết kiệm thời gian, chi phí
và nguồn nhân lực trong mọi hoạt động liên quan đến dịch vụ logistics
2.1.1.2 Thực thi các cam kết về dịch vụ logistics chủ yếu
Dịch vụ xếp dỡ container
Theo lộ trình cam kết WTO về mở cửa thị trường logistics, Việt Nam đã dần
mở rộng cánh cửa thị trường để các doanh nghiệp quốc tế tham gia cung cấp các dịch vụ logistics chủ yếu gồm: xếp dỡ container, dịch vụ thông quan, dịch vụ kho bãi, dịch vụ đại lý vận tải, các dịch vụ thực hiện thay cho chủ hàng Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics của nước ngoài được quyền đầu tư vốn vào dịch vụ xếp
dỡ container thông qua hình thức liên doanh với doanh nghiệp trong nước và bị hạn chế bởi tỉ lệ bốn góp không quá 50% và hạn chế hoạt động này ở sân bay
Trong vận tải đường biển, dịch vụ này hiện nay đều do các cảng biển cung cấp (cảng Hải Phòng, cảng Sài Gòn, cảng Đà Nẵng…) Các cảng biển này hầu hết thuộc Hiệp hội cảng biển Việt Nam và đã được cổ phần hóa hoặc là do công ty TNHH một thành viên nhưng nhà nước vẫn nắm giữ trên 51% vốn
Bên cạnh việc mở cửa theo đúng lộ trình cam kết, Việt Nam còn thực thi những biện pháp nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý, tạo điều kiện tốt nhất cho các
Trang 38Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
doanh nghiệp liên doanh cung cấp dịch vụ bốc dỡ container Ngày 15/7/2013, Bộ tài chính ban hành Quyết định 1661/QĐ-BTC quy định về mức giá tối thiểu dịch vụ bốc dỡ container khu vực cảng biển nước sâu Cái Mép- Thị Vải, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu Theo đó, mức giá tối thiểu dịch vụ bốc dỡ container xuất khẩu, nhập khẩu (không áp dụng đối với container trung chuyển) như sau:
Bảng 2.1: Bảng mức giá tối thiểu dịch vụ bốc dỡ container khu cảng Cái Mép
ĐVT: USD/container
.STT Tác nghiệp bốc dỡ Tàu – kho
bãi cảng hoặc ngược lại
Container 20 feet
Container 40 feet
Quyết định của Bộ tài chính nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp kinh doanh khai thác tại khu vực cảng biển nước sâu Cái Mép- Thị Vải kinh doanh có hiệu quả, khắc phục tình trạng mất cân đối cung cầu do các doanh nghiệp cảng hạ giá cước xếp dỡ container quá thấp làm thiệt hại đến lợi ích của chính doanh nghiệp, lợi ích của nhà nước, gây mất ổn định khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam Quyết định này dựa trên cơ sở đề nghị của Bộ giao thông vận tải, Hiệp hội cảng biển Việt Nam và một số doanh nghiệp kinh doanh khai thác cảng biển khu vực Cái Mép - Thị Vải, đồng thời với mục tiêu ổn định thị trường, tạo thuận lợi thương mại và cạnh tranh lành mạnh đối với các thành viên trong WTO khi tham gia hoạt động tại khu vực cảng Theo báo cáo của Bộ Giao thông Vận tải, thực hiện
Trang 39Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
việc áp dụng mức giá tối thiểu bước đầu đã mang lại lợi ích cho doanh nghiệp cảng Sản lượng bốc dỡ container của các cảng trong 10 tháng đầu năm 2014 đã tăng đáng
kể, doanh thu tăng thêm 9.85 triệu USD (tương đương 206,76 tỷ đồng) so với trước khi áp dụng giá tối thiểu (Tổng công ty hàng hải Việt Nam, 2014)
Và trên thực tế, từ sau thời điểm quyết định áp sàn giá dịch vụ xếp dỡ container, nhiều doanh nghiệp khai thác cảng tại khu vực Cái Mép – Thị Vải đã bù đắp được toàn bộ giá thành dịch vụ bốc dỡ container và một phần chi phí đầu tư cảng (Thanh Bình, 2014) Với tính hiệu quả của cơ chế bình ổn này, Bộ tài chính cũng cho biết trong năm 2015 sẽ tiếp tục thí điểm cơ chế bình ổn giá sang nhiều địa điểm cảng container khác, nhằm từng bước hoàn thiện môi trường kinh doanh khu cảng biển nói riêng và môi trường kinh tế Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập nói chung
Dịch vụ thông quan
Từ khi gia nhập WTO cho đến nay, nước ta đã mở cửa cho các doanh nghiệp nước ngoài đủ điều kiện được hoạt động ngang bằng với các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp liên doanh Việc thực hiện dịch vụ thông quan ở Việt Nam hiện nay được cung cấp rất đa dạng bởi nhiều loại hình công ty khác nhau Từ doanh nghiệp trong nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài đều được phép cung cấp dịch vụ và trên thực tế việc cung cấp dịch vụ diễn ra rất sôi nổi trong thị trường dịch vụ logistics Điều này chứng tỏ lộ trình cam kết mở cửa dịch vụ này được thực hiện tốt và triệt để
Ngày 16/2/2011 Chính phủ đã ban hành Nghị định Số 14/2011/NĐ-CP Quy định về điều kiện đăng ký hoạt động của đại lý làm thủ tục hải quan, theo đó quy định cụ thể những điều kiện để thành lập đai lý hải quan, nhằm tiêu chuẩn hóa những thủ tục thông quan hàng hóa ra vào lãnh thổ Việt Nam Đồng thời, Nghị định cũng quy định những hoạt động của đại lý hải quan: Ký hợp đồng bằng văn bản với chủ hàng; Yêu cầu chủ hàng cung cấp đầy đủ, chính xác các chứng từ và thông tin cần thiết cho việc làm thủ tục hải quan của từng lô hàng xuất khẩu, nhập khẩu; Thực hiện các công việc về thủ tục hải quan theo thỏa thuận ghi trong hợp đồng; Thực hiện các công việc sau khi được ủy quyền theo thỏa thuận ghi trong hợp đồng; Chịu trách nhiệm trước pháp luật trong trường hợp thực hiện không đúng những công
Trang 40Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
việc được ủy quyền, khai không đúng thông tin và chứng từ liên quan do chủ hàng cung cấp
Luật Hải quan được Quốc hội thông qua ngày 23/6/2014 vừa qua, được thi hành kể từ ngày 1/1/2015, thay thế cho Luật Hải quan số 29/2001/QH10 và Luật số 42/2005/QH11 sửa đổi bổ sung đã có một số quy định mới, phù hợp với quan điểm của ngành Hải quan trong tiến trình hội nhập WTO – Chuyên nghiệp, minh bạch và hiệu quả Theo đó, Việt Nam thực hiện cơ chế một cửa quốc gia trong hoạt động nghiệp vụ hải quan, cho phép người khai hải quan gửi thông tin, chứng từ điện tử để thực hiện thủ tục hải quan và thủ tục của cơ quan quản lý nhà nước liên quan đến hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thông qua một hệ thống thông tin tích hợp Thứ hai,
áp dụng nguyên tắc quản lý rủi ro trong kiểm tra, giám sát hải quan, kiểm tra sau thông quan nhằm giảm thiểu thời gian cho việc kiểm tra hàng hóa mà vẫn đảm bảo mức độ kiểm soát tốt nhất Thứ ba, quy định về việc xác định trước mã số, xuất xứ, trị giá hải quan của hàng hóa trước khi làm thủ tục hải quan nhằm tạo thuận lợi thương mại, giảm chi phí tuân thủ, giúp cơ quan Hải quan tăng hiệu quả quản lý khi thực hiện thủ tục thông quan cho hàng hoá xuất nhập khẩu, hạn chế các trường hợp tranh chấp giữa doanh nghiệp và cơ quan Hải quan về việc áp mã, xác định giá tính thuế, xuất xứ hàng hoá khi làm thủ tục thông quan Điểm mới thứ tư, đó là về thời hạn cơ quan hải quan làm thủ tục hải quan: Hoàn thành việc kiểm tra hồ sơ chậm nhất là 02 giờ làm việc kể từ thời điểm cơ quan hải quan tiếp nhận đầy đủ hồ sơ hải quan; Hoàn thành việc kiểm tra thực tế hàng hóa chậm nhất là 08 giờ làm việc kể từ thời điểm người khai hải quan xuất trình đầy đủ hàng hóa cho cơ quan hải quan Trường hợp lô hàng có số lượng lớn, nhiều chủng loại hoặc việc kiểm tra phức tạp thì Thủ trưởng cơ quan hải quan nơi làm thủ tục hải quan quyết định việc gia hạn thời gian kiểm tra thực tế hàng hóa, nhưng thời gian gia hạn tối đa không quá 02 ngày Để tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu, cơ quan hải quan thực hiện thủ tục hải quan đối với hàng hóa cả vào ngày lễ, ngày nghỉ và ngoài giờ làm việc nếu điều kiện thực tế của địa bàn hoạt động hải quan cho phép
Mô hình hải quan điện tử cũng là một trong những điểm nổi bật trong công
cuộc hiện đại hóa ngành Hải quan của Chính phủ Từ giữa năm 2005, mô hình hải quan điện tử VNACCS/VCIS đã được Tổng cục Hải quan thí điểm và đến 1/8/2011