Mục tiêu cụ thể bao gồm: - Phân tích thực trạng của hoạt động cung cấp dịch vụ viễn thông trong nước và hoạt động xuất khẩu dịch vụ viễn thông thông qua tình hình kinh doanh của một số d
Trang 1Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Chuyên ngành: Thương mại quốc tế
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH
HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU DỊCH VỤ VIỄN THÔNG
CỦA VIỆT NAM
Trang 2Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT KHẨU DỊCH VỤ VIỄN THÔNG 3
1.1 Cơ sở lý luận về viễn thông và dịch vụ viễn thông 3
1.1.1 Cơ sở lý luận về viễn thông 3
1.1.1.1 Khái niệm viễn thông 3
1.1.1.2 Vai trò của ngành viễn thông 3
1.1.2 Cơ sở lý luận về dịch vụ viễn thông 6
1.1.2.1 Khái niệm 6
1.1.2.2 Phân loại dịch vụ viễn thông 8
1.2 Cơ sở lý luận về xuất khẩu dịch vụ viễn thông 10
1.2.1 Khái niệm xuất khẩu dịch vụ viễn thông và 4 phương thức xuất khẩu dịch vụ viễn thông 10
1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu dịch vụ viễn thông 12
1.2.2.1 Nhu cầu sử dụng dịch vụ viễn thông 12
1.2.2.2 Xu hướng phát triển của ngành viễn thông trên thế giới 13
1.2.2.3 Sự hội nhập kinh tế 15
1.2.3 Vai trò của xuất khẩu dịch vụ nói chung và xuất khẩu dịch vụ viễn thông nói riêng 15
1.2.3.1 Góp phần tăng trưởng kinh tế quốc dân 15
1.2.3.2 Góp phần vào phân công lao động 17
1.3 Cam kết mở cửa thị trường viễn thông của Việt Nam 17
1.3.1 Cam kết của viễn thông Việt Nam trong ASEAN 18
1.3.2 Cam kết của viễn thông Việt Nam trong APEC 18
1.3.3 Cam kết của viễn thông Việt Nam trong Hiệp định thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ (BTA) 19
1.3.4 Cam kết của viễn thông Việt Nam trong WTO 19
1.3.4.1 Các loại dịch vụ viễn thông mà Việt Nam cam kết mở của thị trường 20 1.3.4.2 Cam kết mở cửa với nhà cung cấp nước ngoài có hạ tầng mạng 21
1.3.4.3 Cam kết với nhà cung cấp nước ngoài không có hạ tầng mạng 21
Trang 3Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
1.3.4.4 Cam kết mở cửa với nhà cung cấp nước ngoài không có hiện diện
thương mại ở Việt Nam 22
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU DỊCH VỤ VIỄN THÔNG CỦA VIỆT NAM 24
2.1 Tổng quan về sự phát triển cơ sở viễn thông trong nước 24
2.1.1 Việt Nam là một trong những quốc gia có tốc độ phát triển hạ tầng viễn thông cao nhất trong khu vực 25
2.1.2 Công nghệ sử dụng trong hoạt động cung cấp dịch vụ viễn thông không ngừng được cải tiến 27
2.1.3 Những điểm hạn chế của ngành viễn thông Việt Nam 30
2.2 Tổng quan về hoạt động xuất khẩu dịch vụ viễn thông của Việt Nam 32
2.2.1 Phương thức xuất khẩu dịch vụ viễn thông 32
2.2.1.1 Phương thức cung ứng dịch vụ qua biên giới 33
2.2.1.2 Phương thức tiêu dùng ngoài lãnh thổ 34
2.2.1.3 Phương thức hiện diện thương mại 36
2.2.2 Thị trường xuất khẩu dịch vụ viễn thông 37
2.2.2.1 Thị trường xuất khẩu dịch vụ viễn thông của Viettel Global 37
2.2.2.2 Thị trường xuất khẩu dịch vụ viễn thông của Mobiphone Global 40
2.2.3 Vai trò của xuất khẩu dịch vụ viễn thông đối với thương mại dịch vụ quốc tế 41
2.3 Phân tích năng lực cạnh tranh xuất khẩu của viễn thông Việt Nam 44
2.3.1 Yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh theo mô hình kim cương 44
2.3.2 Các chỉ tiêu phản ánh năng lực cạnh tranh xuất khẩu dịch vụ của viễn thông Việt Nam 46
2.3.3 Phân tích năng lực cạnh tranh của ngành viễn thông Việt Nam trong việc cung cấp các dịch vụ viễn thông 46
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU DỊCH VỤ VIỄN THÔNG CỦA VIỆT NAM 52
3.1 Mục tiêu và định hướng phát triển viễn thông quốc gia đến năm 2020 52
3.1.1 Quan điểm của chiến lược 52
3.1.2 Mục tiêu 53
Trang 4Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
3.1.3 Định hướng phát triển 55
3.2 Kinh nghiệm phát triển và đẩy mạnh xuất khẩu dịch vụ viễn thông của một số nước trên thế giới 57
3.2.1 Trung Quốc 57
3.2.2 Hàn Quốc 58
3.3 Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu dịch vụ viễn thông của Việt Nam 59
3.3.1 Nhóm giải pháp về cơ chế chính sách 59
3.3.1.1 Quản lý và thúc đẩy sự phát triển ngành viễn thông trong nước theo hướng tự do hóa và phù hợp với các cam kết WTO 60
3.3.1.2 Tăng cường, mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế 61
3.3.2 Các doanh nghiệp Việt Nam cần chủ động hội nhập, mở rộng thị trường 61
3.3.3 Nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp viễn thông Việt Nam 62
3.3.3.1 Phát triển và đa dạng hoá dịch vụ viễn thông 62
3.3.3.2 Phát triển công nghệ 63
3.3.3.3 Mở rộng hoạt động kinh doanh sang các lĩnh vực hỗ trợ có liên quan 64 3.3.4 Áp dụng “dùng chung cơ sở hạ tầng mạng” trong việc xuất khẩu dịch vụ viễn thông 64
3.3.5 Phát triển chất lượng nguồn nhân lực 66
3.3.5.1 Xây dựng tiêu chuẩn nghề nghiệp trong ngành viễn thông 66
3.3.5.2 Tăng cường hợp tác và trao đổi chuyên gia làm việc với các nước có ngành viễn thông phát triển 66
3.3.5.3 Xây dựng đội ngũ nhân viên tiên phong trong việc mở rộng thị trường 67
3.3.6 Học viện công nghệ Bưu chính viễn thông chuyển về dưới sự quản lý của Viettel 67
KẾT LUẬN 70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
Trang 5Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH VẼ
A DANH MỤC BẢNG
Bảng 2 1 Bảng tính giá cước của Vinaphone dành cho dịch vụ chuyển vùng quốc tế
trả trước 35
Bảng 2 2 Bảng tính giá cước của Vinaphone dành cho dịch vụ chuyển vùng quốc tế trả sau 35
Bảng 2 3 Các vùng dịch vụ chuyển vùng quốc tế trả sau của Vinaphone 36
Bảng 2 4 Xếp hạng môi trường kinh doanh các nước châu Á- Thái Bình Dương quý II/2014 49
Bảng 3 1 Một số chỉ tiêu cụ thể của ngành viễn thông Việt Nam đến năm 2015 và 2020 54
B DANH MỤC HÌNH VẼ Hình 1 1 Mối liên hệ giữa các đối tượng cung cấp dịch vụ viễn thông 7
Hình 1 2 Dự báo tổng lưu lượng dữ liệu di động của toàn cầu sử dụng hàng tháng đến năm 2019 12
Hình 1 3 Sự thay đổi về công nghệ sử dụng cho dịch vụ điện thoại di động 14
Hình 1 4 Đóng góp giá trị của xuất khẩu dịch vụ của Mỹ vào tổng giá trị xuất khẩu 2009-2013 16
Hình 2 1 Mật độ sử dụng điện thoại di động ở Việt Nam 2009-2013 25
Hình 2 2 Mật độ sử dụng Internet tại Việt Nam giai đoạn 2009-2013 26
Hình 2 3 Phát triển công nghệ di động ở Việt Nam 2004-2014 28
Hình 2 4 Tốc độ truy cập Internet một số nước châu Á quý 4/2014 31
Hình 2 5 Các quốc gia Viettel Global đã thành lập công ty con 39
Hình 2 6 Đóng góp của giá trị xuất khẩu viễn thông vào tổng giá trị xuất khẩu dịch vụ của Việt Nam 2009-2013 42
Hình 2 7 Tỷ lệ đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu dịch vụ của một số ngành năm 2013 43
Hình 2 8 Mô hình kim cương 45
Hình 2 9 Thị phần cung cấp dịch vụ Internet 47
Hình 2 10 Thị phần cung cấp dịch vụ điện thoại di động 47
Hình 2 11 Doanh thu xuất khẩu viễn thông của Việt Nam 2009-2013 48
Hình 2 12 Kết quả hoạt động kinh doanh của Viettel Global 2011-2014 50
Trang 6Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hệ thống thông tin di động thế hệ thứ 4 ADSL : Asymmetric Digital Subscriber Line
Đường dây thuê bao số bất đối xứng APEC : Asia - Pacific Economic Cooperation
Tổ chức hợp tác kinh tế châu Á- Thái Bình Dương ASEAN : Association of Southeast Asian Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á BTA : Bilateral Trade Agreement
Hiệp định thương mại Việt Nam- Hoa Kì CDMA : Code Division Multiple Access
Đa truy nhập - đa người dùng GATS : General Agreement on Trade in Services
Hiệp định chung về thương mại dịch vụ GPRS : General Packet Radio Service
Dịch vụ vô tuyến gói tổng hợp GSM :Global System for Mobile Communications
Hệ thống thông tin di động toàn cầu HSDPA : High-Speed Downlink Packet Access
Truy nhập gói đường xuống tốc độ cao ITU : International Telecommunication Union
Liên minh viễn thông quốc tế OTT : Over the top
Ứng dụng cung cấp dịch vụ dựa trên nền tảng Internet UMTS : Universal Mobile Telecommunications System
Hệ thống viễn thông di động toàn cầu
Trang 7Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
VNPT : Vietnam Posts and Telecommunications Group
Tập đoàn bưu chính viễn thông Việt Nam Wi-Fi : Wireless Fidelity
Hệ thống mạng không dây sử dụng sóng vô tuyến WiMAX : Worldwide Interoperability for Microwave Access
Hệ thống truy cập không dây băng rộng WTO : World Trade Organization
Tổ chức thương mại thế giới
Trang 8Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tính đến thời điểm hiện tại, Việt Nam đã có hơn 6 năm gia nhập WTO và đang trên lộ trình thực hiện các cam kết với tổ chức thương mại lớn nhất trên thế giới, nền kinh tế Việt Nam đã trải qua nhiều sự thay đổi đáng kể Thương mại dịch
vụ đã và đang chứng tỏ là hoạt động kinh tế đầy tiềm năng, ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong kim ngạch xuất-nhập khẩu của một quốc gia Dựa trên kinh nghiệm của các nước phát triển trên thế giới, yêu cầu đặt ra đối với Việt Nam là song song với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phải phát triển thương mại dịch vụ, trong đó mục tiêu hàng đầu là đẩy mạnh xuất khẩu dịch vụ
Theo quyết định “Phê duyệt chiến lược tổng thể phát triển khu vực dịch vụ của Việt Nam đến năm 2020” của Thủ tướng chính phủ kí năm 2011, phát triển viễn thông là nhiệm vụ tiên quyết, hàng đầu trong giai đoạn 2015-2020 Trên thực tế trong những năm gần đây, ngành viễn thông Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng trung bình 24%/năm và là quốc gia có tốc độ tăng trưởng viễn thông đứng thứ 2 châu Á
Đó là những nỗ lực cải thiện môi trường viễn thông trong nước, bằng chứng là Việt Nam phá bỏ thành công môi trường kinh doanh dịch vụ viễn thông độc quyền, mức phổ cập điện thoại di động đạt trên 100% và phổ cập Internet là 37% Tuy nhiên, trước thềm hội nhập quốc tế cả về chiều sâu và rộng, nhiệm vụ đặt ra là cần đưa dịch vụ viễn thông của Việt Nam đi xa hơn nữa và phát triển thị trường ở các quốc gia khác bằng việc xuất khẩu dịch vụ viễn thông Hiện nay, đã có một số tập đoàn viễn thông Việt Nam mở rộng thị trường thành công và đạt được những thành tích đáng ghi nhận; tuy nhiên không thể phủ nhận rằng năng lực cạnh tranh của dịch vụ viễn thông của Việt Nam trên thị trường quốc tế chưa đủ mạnh
Trước thực tế viễn thông Việt Nam còn đang gặp nhiều khó khăn trong quá trình xuất khẩu dịch vụ viễn thông ra những thị trường lớn, tác giả chọn đề tài:
“Thực trạng và giải pháp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu dịch vụ viễn thông của Việt Nam”
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu dịch vụ viễn thông của Việt Nam, dựa trên tình hình hoạt động cung cấp
Trang 9Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
dịch vụ viễn thông trong nước và những xu hướng phát triển viễn thông trên thế giới Mục tiêu cụ thể bao gồm:
- Phân tích thực trạng của hoạt động cung cấp dịch vụ viễn thông trong nước
và hoạt động xuất khẩu dịch vụ viễn thông thông qua tình hình kinh doanh của một
số doanh nghiệp tiêu biểu
- Phân tích năng lực cạnh tranh xuất khẩu của ngành viễn thông Việt Nam
- Đề ra phương hướng và các giải pháp thúc đẩy hoạt động xuất khẩu dịch vụ viễn thông của Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vấn đề xuất khẩu dịch vụ viễn thông của Việt Nam, tuy nhiên đề tài chỉ tập trung phân tích hoạt động kinh doanh bao gồm sản xuất và xuất khẩu của một số doanh nghiệp tiêu biểu, trong giai đoạn kể từ khi ngành viễn thông Việt Nam phá bỏ kinh doanh độc quyền
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, diễn giải, quy nạp để nghiên cứu Ngoài ra còn kết hợp với các phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
5 Kết cấu của đề tài
Ngoài các phần lời mở đầu, kết luận, danh mục bảng và hình, danh mục các chữ cái viết tắt, đề tài có kết cấu 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về xuất khẩu dịch vụ viễn thông
Chương 2: Thực trạng hoạt động xuất khẩu dịch vụ viễn thông của Việt Nam
Chương 3: Giải pháp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu dịch vụ viễn thông của Việt Nam
Cuối cùng, tác giả xin chân thành cảm ơn:
- ThS Trần Bích Ngọc, người thầy đã tận tình chỉ bảo và đồng hành cùng tác
giả trong suốt quá trình lên ý tưởng đề tài, xây dựng đề cương và triển khai các luận điểm, luận cứ Cô cũng dành nhiều sự quan tâm, góp ý cả về nội dung và hình thức cho bài khóa luận này
- Các thầy cô trong khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế đã tạo mọi điều kiện
để bài khóa luận được triển khai và hoàn thành đúng kế hoạch
Trang 10Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT KHẨU
DỊCH VỤ VIỄN THÔNG 1.1 Cơ sở lý luận về viễn thông và dịch vụ viễn thông
1.1.1 Cơ sở lý luận về viễn thông
1.1.1.1 Khái niệm viễn thông
Thuật ngữ “Viễn thông” được Edourard Estaunie đưa ra lần đầu tiên vào năm
1904 Trong tiếng anh, viễn thông là Telecommunication được ghép bởi 2 từ tele (từ xa) và communication (liên lạc), như vậy có thể hiểu một cách khái quát: mục đích của viễn thông là giữ liên lạc từ nơi này đến nơi khác Bản thân viễn thông là một nhánh con của truyền thông bởi nếu truyền thông là việc truyền thông tin từ nơi này đến nơi khác thì nó bao gồm truyền thông tin bằng cách cơ học (Bưu chính) và truyền thông tin bằng tín hiệu (Viễn thông)
Trong bảng phân ngành của mình, Tổ chức thương mại thế giới (WTO) định nghĩa: “Viễn thông là tất cả sự chuyển tải, truyền dẫn hoặc thu phát các ký hiệu, tín hiệu, chữ viết, âm thanh, hình ảnh, giọng nói, dữ liệu thông qua các dây dẫn, sóng
vô tuyến, cáp quang, các phương tiện vật lý hoặc các hệ thống điện tử khác”
Còn theo điều 3.1 Luật Viễn thông Việt Nam 2009, “Viễn thông là việc gửi, truyền, nhận và xử lý ký hiệu, tín hiệu, số liệu, chữ viết, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng thông tin khác bằng đường cáp, sóng vô tuyến điện, phương tiện quang học và phương tiện điện từ khác”
Ngày 7/5/1994, theo quyết định số 91/TTg của Thủ tướng chính phủ, Tổng công ty Bưu chính – viễn thông chuyển sang thuộc quyền sở hữu của Nhà nước và ngày nay trở thành tập đoàn viễn thông VNPT Năm 2003 đánh dấu bước chuyển mình mạnh mẽ của ngành viễn thông Việt Nam khi có sự chuyển đổi từ ngành kinh doanh độc quyền sang cạnh tranh tất cả các loại hình dịch vụ Theo đó, ranh giới giữa bưu chính và viễn thông ngày càng được phân định rạch ròi và viễn thông chính thức trở thành một trong những ngành kinh tế trọng điểm của quốc gia, hoạt động dưới sự chỉ đạo của Bộ Công nghệ thông tin và truyền thông Việt Nam
1.1.1.2 Vai trò của ngành viễn thông
Sở dĩ gọi viễn thông là một ngành đặc biệt vì viễn thông vừa là một ngành kinh tế vừa là ngành kĩ thuật và dịch vụ Các doanh nghiệp và Nhà nước có thể kinh
Trang 11Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
doanh các dịch vụ, thiết bị viễn thông nhằm tạo ra nguồn thu góp phần vào tăng trưởng kinh tế quốc dân Lợi nhuận mà ngành này tạo ra cũng giống như kết quả từ hoạt động kinh doanh một loại hàng hóa Tuy nhiên không mang tính chất mua đứt-bán đoạn như mua-bán hàng hóa mà sản phẩm của ngành viễn thông chính là sự truyền tải, truyền dẫn thông tin, kí hiệu còn liên đới đến nhiều ngành nghề khác Cơ
sở hạ tầng của ngành viễn thông cần chi phí đầu vào rất lớn, thời gian thu hồi vốn lâu và cần đầu tư tối đa chất xám của con người Viễn thông tiêu tốn nhiều nguồn lực của nền kinh tế nhưng mỗi quốc gia bắt buộc phải xây dựng và phát triển ngành này vì những vai trò to lớn của nó đối với sự phát triển nhân loại trong dài hạn Cụ thể như sau:
a) Viễn thông là ngành thuộc kết cấu hạ tầng của nền kinh tế
Tại thời điểm trước Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam, viễn thông chỉ được xem là ngành phục vụ Ngày nay, quan điểm về vai trò của ngành viễn thông đã thay đổi, vai trò phục vụ đã được thay thế bằng vai trò của ngành kết cấu hạ tầng nền kinh tế, thể hiện ở việc viễn thông tạo điều kiện truyền tải thông tin phục vụ sản xuất và thúc đẩy các hoạt động kinh doanh, viễn thông đẩy nhanh tốc
độ nền kinh tế Việt Nam chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, thay đổi cơ cấu kinh tế và cơ chế quản lý sản xuất Nhìn chung, tầm quan trọng của viễn thông thể hiện ở tầm quan trọng của mức độ cập nhật thông tin Thông tin giống như một miếng bánh mà người nào đến trước sẽ được ăn trước Trong tài chính, thông tin chính là kho báu, phải mua mới có được và có được thông tin chính xác thì mỗi quyết định đầu tư có thể mang lại lợi nhuận gấp hàng chục lần Trong cuộc sống hàng ngày, thông tin về dự báo thời tiết đã giúp cho con người chống chọi bản lĩnh hơn và phòng chống được tai họa, thiên tai không mong muốn Thông tin cũng là sự gắn kết Việt Nam với thế giới, thực hiện các hoạt động đầu tư kinh doanh quốc tế cũng như giao lưu văn hóa, văn nghệ Như vậy có thể thấy, vai trò của viễn thông thể hiện ở mọi khâu trong nền kinh tế, tác động len lỏi đến từng ngành và thực tế là
để một quốc gia phát triển thì bắt buộc phải phát triển viễn thông
b) Viễn thông là một ngành kinh tế và góp phần phát triển kinh tế-xã hội của đất nước
Sở dĩ gọi viễn thông là một ngành kinh tế vì ngoài vai trò phục vụ xã hội, viễn thông còn là ngành kinh doanh đem lại lợi nhuận cao, đóng góp vào GDP chung của
Trang 12Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
cả nước Năm 2013, doanh thu của các dịch vụ viễn thông đạt 7.373,99 triệu đô la
Mỹ, đưa viễn thông trở thành một trong những ngành dịch vụ có tốc độ tăng trưởng cao nhất Ngoài ra sự phát triển của viễn thông đã và đang thúc đẩy sự phát triển của nhiều ngành kinh tế khác, ví dụ như sự ra đời các ngành công nghiệp dịch vụ thông tin có hàm lượng trí tuệ cao, có giá trị gia tăng cao như: tư vấn, thiết kế, bảo trì, bảo dưỡng các hệ thống thông tin, đào tạo từ xa, y tế từ xa, thương mại điện tử, giao dịch tài chính qua mạng máy tính Từ kinh nghiệm của các nước phát triển cho thấy, trong tương lai, những ngành này sẽ trở thành những ngành công nghiệp hàng đầu ở Việt Nam, tạo điều kiện công ăn việc làm cho hàng triệu lao động có trình độ, nhờ vậy, tỷ trọng đóng góp vào GDP của khối ngành dịch vụ sẽ tăng và thúc đẩy việc cải cách các ngành công nghiệp khác
Mặt khác, viễn thông hiện đại có tác động mạnh mẽ đến quá trình chuyển đổi
cơ cấu sản xuất và cơ cấu kinh tế xã hội, thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Trong những năm vừa qua, cùng với tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ của viễn thông, cơ cấu nền kinh tế Việt Nam đang có xu hướng dịch chuyển theo hướng công nghiệp hóa, thể hiện ở số lao động làm việc trong lĩnh vực công nghiệp
và dịch vụ không ngừng tăng lên Năm 2013; 32% số lao động Việt Nam làm việc trong lĩnh vực dịch vụ; 21,2% làm việc trong lĩnh vực công nghiệp, xây dựng; còn lại 46,8% làm việc trong lĩnh vực nông, lâm, thủy sản Sự chuyển dịch tích cực này đưa nền kinh tế Việt Nam tiến gần đến nền kinh tế thị trường và trong tương lai là nền kinh tế tri thức Bên cạnh những giá trị kinh tế, viễn thông phát triển sẽ đưa các giá trị văn hoá tinh thần đến nông thôn, miền núi, hải đảo, nâng cao mức sống nông dân, nông thôn Viễn thông là kênh liên lạc chính giữa chính phủ và nhân dân khắp các vùng miền, nâng cao tinh thần đoàn kết dân tộc và củng cố bản sắc văn hóa đã
có từ ngàn đời nay
c) Viễn thông góp phần bảo vệ an ninh, chính trị quốc gia
Nhiệm vụ của ngành viễn thông là truyền tải tín hiệu, thông tin trong đó bao gồm cả các thông tin về an ninh, quốc phòng, đối nội, đối ngoại của một quốc gia Trong nghị định số: 25/2011/NĐ-CP “Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một
số điều của luật viễn thông” ban hành bởi chính phủ Việt Nam ngày 06/04/2011 có quy định rõ “Công trình viễn thông quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia là
Trang 13Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
công trình viễn thông có tầm quan trọng đặc biệt đối với hoạt động của toàn bộ mạng viễn thông quốc gia và ảnh hưởng trực tiếp đến việc phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng của đất nước, bao gồm:
- Công trình hệ thống truyền dẫn viễn thông quốc tế, đường dài liên tỉnh;
- Công trình hệ thống quản lý, điều khiển, định tuyến, chuyển mạch viễn thông quốc tế, đường dài liên tỉnh và khu vực;
- Công trình hệ thống truyền dẫn, phát sóng tín hiệu phát thanh, truyền hình toàn quốc, khu vực và tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương”
Có thể thấy các công trình quy định ở trên đều thuộc cơ sở hạ tầng của ngành viễn thông Việc phát triển cơ sở hạ tầng viễn thông có ảnh hưởng to lớn đến sự bảo mật thông tin, tin tức nội bộ; nhất là khi những thông tin đó liên quan đến an ninh quốc gia, chủ quyền đất nước Đặc biệt, khi Việt Nam ngày càng tham gia hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế thế giới, đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu dịch vụ và thiết bị viễn thông, cùng với việc xây dựng, lắp đặt các công trình hệ thống truyền dẫn trên nước bạn thì việc đảm bảo an ninh quốc phòng từ ngành viễn thông là tối quan trọng và bức thiết
1.1.2 Cơ sở lý luận về dịch vụ viễn thông
1.1.2.1 Khái niệm
Theo Pháp lệnh bưu chính viễn thông ban hành bởi Quốc hội Việt Nam 2002, dịch vụ viễn thông là dịch vụ truyền kí hiệu, tín hiệu, số liệu, chữ viết, âm thanh, hình ảnh hoặc các dạng khác của thông tin giữa các điểm kết nối thông qua mạng viễn thông
Theo điều 3.7 Luật Viễn thông Việt Nam 2009, “Dịch vụ viễn thông là dịch vụ gửi, truyền, nhận và xử lý thông tin giữa hai hoặc một nhóm người sử dụng dịch vụ viễn thông, bao gồm dịch vụ cơ bản và dịch vụ giá trị gia tăng” Trong đó:
- Dịch vụ viễn thông cơ bản là: dịch vụ truyền đưa thông tin tức thời qua mạng viễn thông (bao gồm cả mạng Internet) mà không làm thay đổi loại hình và nội dung thông tin
- Dịch vụ viễn thông giá trị gia tăng là: dịch vụ làm tăng thêm giá trị thông tin của người sử dụng dịch vụ bằng cách hoàn thiện loại hình, nội dung thông tin hoặc cung cấp khả năng lưu trữ, khôi phục thông tin đó
Trang 14Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Ngày 18/05/2012, theo thông tư số: 05/2012/TT-BTTTT, dịch vụ viễn thông
đã có sự phân chia lại, bổ sung thêm dịch vụ viễn thông cộng thêm: là dịch vụ tăng thêm tính năng, tiện ích cho người sử dụng dịch vụ viễn thông, là một phần không tách rời và được cung cấp cùng với các dịch vụ viễn thông cơ bản và giá trị gia tăng Tổng hợp chung lại thì dịch vụ viễn thông là dịch vụ gửi dịch vụ gửi, truyền, nhận và xử lý thông tin giữa hai hoặc một nhóm người sử dụng dịch vụ viễn thông, bao gồm dịch vụ cơ bản, dịch vụ giá trị gia tăng và dịch vụ cộng thêm
Trong quá trình cung cấp dịch vụ viễn thông đến tay người tiêu dùng, có 3 chủ thể liên quan: nhà cung cấp mạng viễn thông, nhà cung cấp dịch vụ và người tiêu dùng Trong sơ đồ mối liên hệ giữa các đối tượng cung cấp dịch vụ viễn thông dưới đây có thể thấy, các nhà mạng viễn thông có vai trò cung cấp hạ tầng mạng cho các nhà cung cấp dịch vụ, sau đó các nhà cung cấp dịch vụ triển khai cung cấp dịch vụ viễn thông đến tay người tiêu dùng Ở Việt Nam, có nhiều các nhà mạng viễn thông cũng chính là nhà cung cấp dịch vụ viễn thông như Viettel, VNPT, Gtel Mobile, Vietnam Mobile Cước viễn thông mà khách hàng phải trả bù đắp cho 2 khoản chi phí: chi phí xây dựng, lắp đặt mạng và chi phí phục vụ như chăm sóc khách hàng, giải đáp, khuyến mại
Hình 1 1 Mối liên hệ giữa các đối tượng cung cấp dịch vụ viễn thông
Nguồn: Học viện công nghệ bưu chính viễn thông, 2007, “Tổng quan về viễn
thông”
Cung cấp hạ tầng mạng
Nhà cung cấp dịch
vụ
Yêu cầu hạ tầng mạng
Trang 15Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
1.1.2.2 Phân loại dịch vụ viễn thông
Theo quy định tại Điều 9 Nghị định số 25/2011/NĐ-CP ngày 06 tháng 4 năm
2011 của Chính phủ, các dịch vụ viễn thông được phân vào 2 nhóm chính đó là: dịch vụ viễn thông cơ bản và dịch vụ viễn thông giá trị gia tăng Tuy nhiên, đến ngày 18 tháng 05 năm 2012, theo yêu cầu của Cục trưởng cục Viễn thông thì các dịch vụ viễn thông ngoài các nhóm dịch vụ cơ bản và dịch vụ giá trị gia tăng thì còn
bổ sung thêm nhóm dịch vụ cộng thêm Cụ thể, trong thông tư phân loại các dịch vụ viễn thông số: 05/2012/TT-BTTTT, dịch vụ viễn thông được phân theo các nhóm
sau đây:
- Dịch vụ viễn thông cơ bản là dịch vụ truyền đưa thông tin tức thời qua mạng viễn thông (bao gồm cả mạng Internet) mà không làm thay đổi loại hình và nội dung thông tin; bao gồm: dịch vụ điện thoại (thoại, fax, truyền số liệu trong băng thoại); dịch vụ truyền số liệu; dịch vụ nhắn tin; dịch vụ truyền hình ảnh; dịch vụ hội nghị truyền hình; dịch vụ kênh thuê riêng; dịch vụ kết nối Internet; dịch vụ mạng riêng ảo và các dịch vụ viễn thông cơ bản khác theo quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông
- Dịch vụ viễn thông giá trị gia tăng là dịch vụ làm tăng thêm giá trị thông tin của người sử dụng dịch vụ bằng cách hoàn thiện loại hình, nội dung thông tin hoặc cung cấp khả năng lưu trữ , khôi phục thông tin đó; bao gồm: dịch vụ thư điện tử; dịch vụ thư thoại; dịch vụ fax gia tăng giá trị; dịch vụ truy nhập Internet, gồm dịch
vụ truy nhập Internet băng hẹp có tốc độ tải thông tin xuống thấp hơn 256 kb/s và dịch vụ truy nhập Internet băng rộng có tốc độ tải thông tin xuống từ 256 kb/s trở lên và các dịch vụ viễn thông giá trị gia tăng khác theo quy định của Bộ Thông tin
và Truyền thông;
- Dịch vụ viễn thông cộng thêm bao gồm: dịch vụ hiển thị số chủ gọi; dịch vụ giấu số gọi; dịch vụ bắt số; dịch vụ chờ cuộc gọi; dịch vụ chuyển cuộc gọi; dịch vụ chặn cuộc gọi; dịch vụ quay số tắt và các dịch vụ viễn thông cộng thêm khác theo quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông
Ngoài ra, dịch vụ viễn thông có thể được phân loại theo các tiêu chí sau đây: a) Theo đặc điểm công nghệ, phương thức truyền dẫn của mạng viễn thông
Trang 16Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Dịch vụ viễn thông cố định bao gồm dịch vụ viễn thông cố định mặt đất, dịch vụ viễn thông cố định vệ tinh Trong đó:
Dịch vụ viễn thông cố định mặt đất là dịch vụ viễn thông được cung cấp thông qua mạng viễn thông cố định mặt đất, bao gồm:
- Dịch vụ nội hạt: gửi, truyền, nhận và xử lý thông tin trong cùng phạm vi một tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
- Dịch vụ đường dài trong nước: gửi, truyền, nhận và xử lý thông tin ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khác nhau;
- Dịch vụ quốc tế: gửi, truyền, nhận và xử lý thông tin qua biên giới quốc gia Dịch vụ viễn thông cố định vệ tinh là dịch vụ viễn thông được cung cấp thông qua mạng viễn thông cố định vệ tinh
Dịch vụ viễn thông di động bao gồm:
- Dịch vụ viễn thông di động mặt đất là dịch vụ viễn thông được cung cấp thông qua mạng viễn thông di động mặt đất, bao gồm: Dịch vụ thông tin di động mặt đất; dịch vụ trung kế vô tuyến; dịch vụ nhắn tin
- Dịch vụ viễn thông di động vệ tinh là dịch vụ viễn thông được cung cấp thông qua mạng viễn thông di động vệ tinh
- Dịch vụ viễn thông di động hàng hải là dịch vụ viễn thông được cung cấp thông qua hệ thống đài bờ, đài tàu, đài vô tuyến điện đặt trên phương tiện nghề cá
để bảo đảm liên lạc cho người sử dụng dịch vụ trên tàu, thuyền
- Dịch vụ viễn thông di động hàng không là dịch vụ viễn thông được cung cấp thông qua hệ thống đài mặt đất, đài máy bay để bảo đảm liên lạc cho người sử dụng dịch vụ trên máy bay
b) Theo hình thức thanh toán giá cước
- Dịch vụ trả trước là dịch vụ mà người sử dụng dịch vụ viễn thông thanh toán giá cước sử dụng dịch vụ trước khi sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận giữa hai bên;
- Dịch vụ trả sau là dịch vụ mà người sử dụng dịch vụ viễn thông thanh toán giá cước sử dụng dịch vụ sau khi sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận giữa hai bên
c) Theo phạm vi liên lạc
- Dịch vụ nội mạng là dịch vụ gửi, truyền, nhận và xử lý thông tin giữa những người sử dụng dịch vụ của cùng một mạng viễn thông;
Trang 17Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
- Dịch vụ liên mạng là dịch vụ gửi, truyền, nhận và xử lý thông tin giữa những người sử dụng dịch vụ của các mạng viễn thông khác nhau Các mạng viễn thông khác nhau là các mạng viễn thông khác loại của cùng một doanh nghiệp viễn thông hoặc các mạng viễn thông của các doanh nghiệp viễn thông khác nhau
1.2 Cơ sở lý luận về xuất khẩu dịch vụ viễn thông
1.2.1 Khái niệm xuất khẩu dịch vụ viễn thông và 4 phương thức xuất khẩu dịch
vụ viễn thông
Quy định về thương mại hàng hóa trong hiệp định GATT bắt đầu có hiệu lực năm 1945 nhưng mãi đến năm 1995, quy định về thương mại hàng hóa GATS mới được thông qua Điều này cho thấy, thương mại dịch vụ mới chỉ được công nhận trong nhiều năm trở lại đây Trước đây, quan điểm về dịch vụ nghiêng về tính chất phục vụ, mục đích của dịch vụ chỉ là đáp ứng một nhu cầu nào đó trong khâu sản xuất, trao đổi hàng hóa Nhưng sau này khi dịch vụ phát triển cả về chất lượng lẫn phạm vi lĩnh vực hoạt động thì con người bắt đầu công nhận tính thương mại của
nó Sự giao thoa giữa nền kinh tế các quốc gia khác nhau là điều kiện để thương mại dịch vụ quốc tế ra đời Hiểu một cách khái quát nhất, thương mại dịch vụ quốc tế là
sự trao đổi về dịch vụ giữa pháp nhân hoặc thể nhân trong nước với pháp nhân hoặc thể nhân nước ngoài vì mục đích thương mại
Thực tế, GATS không đưa ra khái niệm cụ thể về thương mại dịch vụ quốc tế, nhưng có đưa ra 4 phương thức cung ứng thương mại dịch vụ quốc tế như sau:
- Phương thức 1 - Cung ứng qua biên giới (Cross-border supply): sự cung cấp
dịch vụ từ lãnh thổ của một nước thành viên đến lãnh thổ của bất kỳ một thành viên khác Đặc điểm của loại hình cung cấp dịch vụ này là chỉ có bản thân dịch vụ là di chuyển qua biên giới, còn người cung cấp dịch vụ không di chuyển
Ví dụ: Dịch vụ tư vấn tài chính quốc tế, khi khách hàng và tư vấn viên trao đổi
qua điện thoai, email và ở 2 quốc gia khác nhau
Áp dụng đối với thương mại dịch vụ viễn thông quốc tế: các cá nhân, tổ chức doanh nghiệp nước ngoài hoạt động tại Việt Nam muốn trao đổi, truyền dẫn thông tin, tín hiệu đến các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp ở một nước thành viên khác thì cần sử dụng đến cơ sở mạng viễn thông và dịch vụ viễn thông của Việt Nam Như vậy nhà cung ứng dịch vụ viễn thông không di chuyển, chỉ có dịch vụ viễn thông đã được di chuyển đi quốc tế
Trang 18Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
- Phương thức 2 - Tiêu dùng ngoài lãnh thổ (Consumtion abroad): sự cung cấp
dịch vụ cho người tiêu dùng của một nước thành viên trên lãnh thổ của một nước thành viên khác
Ví dụ: Các doanh nghiệp nước ngoài tiến hành hoạt động kinh doanh tại Việt
Nam có sử dụng một số loại hình dịch vụ của Việt Nam như dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm
Áp dụng đối với thương mại dịch vụ viễn thông quốc tế: Các cá nhân, tổ chức doanh nghiệp nước ngoài đến Việt Nam sinh sống, học tập, làm việc hay du lịch muốn trao đổi thông tin cần sử dụng dịch vụ viễn thông tại Việt Nam
- Phương thức 3 - Hiện diện thương mại (Commercial presence): sự cung cấp
dịch vụ do một người cung cấp dịch vụ của một nước thành viên thông qua sự hiện diện thương mại trên lãnh thổ của bất kỳ thành viên nào khác
Áp dụng đối với thương mại dịch vụ viễn thông quốc tế: Các doanh nghiệp viễn thông Việt Nam mở văn phòng đại diện tại nước ngoài để cung cấp dịch vụ viễn thông cho khách tiêu dùng là người nước ngoài
Ví dụ: VNPT có mở văn phòng đại diện để cung cấp dịch vụ viễn thông tại
Hong Kong (Trung Quốc)
- Phương thức 4 - Di chuyển của thể nhân (Movement of natural persons): sự
cung cấp dịch vụ do một người cung cấp dịch vụ của một thành viên thông qua sự hiện diện thể nhân trên lãnh thổ của bất kỳ thành viên nào khác
Ví dụ: Một giáo sư được mời sang một trường đại học ở nước ngoài để giảng
bài
Áp dụng đối với thương mại dịch vụ viễn thông quốc tế: Thực tế, việc cung cấp dịch vụ viễn thông thì không thể được thực hiện bởi một cá nhân Về phương thức này, pháp luật Việt Nam chưa có quy định rõ ràng
Xuất khẩu dịch vụ là một phần thuộc thương mại dịch vụ Dựa trên 4 phương thức cung cấp dịch vụ, xuất khẩu dịch vụ được định nghĩa như sau: Xuất khẩu dịch
vụ là hoạt động mà thể nhân hay pháp nhân của quốc gia này tiến hành cung cấp dịch vụ cho thể nhân hay pháp nhân của quốc gia khác theo 4 phương thức cung cấp dịch vụ: cung cấp qua biên giới, tiêu dùng ngoài lãnh thổ, hiện diện thương mại và hiện diện của thể nhân Tuy nhiên xuất khẩu dịch vụ viễn thông tại Việt Nam diễn
Trang 19Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
ra chủ yếu theo 3 hình thức đầu tiên, trong đó hình thức hiện diện thương mại được đánh giá là tiềm năng nhất, là con đường phát triển của viễn thông Việt Nam trong tương lai hướng tới việc mở rộng thị trường
1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu dịch vụ viễn thông
1.2.2.1 Nhu cầu sử dụng dịch vụ viễn thông
Dịch vụ viễn thông được coi là một sản phẩm mà rõ ràng sản lượng sản xuất
và xuất khẩu của nó bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi nhu cầu của người tiêu dùng Dịch
vụ viễn thông được phân ra thành nhiều loại, tuy nhiên có thể thấy hai loại hình dịch
vụ viễn thông hiện nay trở nên phổ biến và quen thuộc nhất đối với người tiêu dùng
đó là dịch vụ điện thoại di động và dịch vụ sử dụng mạng Internet Năm 2005, trên thế giới có tất cả 2,205 tỷ người sử dụng điện thoại di động và 1,024 tỷ người sử dụng Internet thì đến năm 2014 các con số trên đã lần lượt tăng lên thành 6,915 tỷ người (95,46% dân số thế giới) sử dụng điện thoại di động và 2,923 tỷ người (40,35% dân số thế giới) sử dụng Internet Sự gia tăng mạnh mẽ này phản ánh xu hướng phát triển của ngành viễn thông nói chung và thương mại dịch vụ viễn thông nói riêng trên toàn thế giới Rõ ràng, viễn thông là ngành không thể thay thế vì nhu cầu của con người trong việc trao đổi, truyền thông tin, tín hiệu là mãi mãi
Hình 1 2 Dự báo tổng lưu lượng dữ liệu di động của toàn cầu sử dụng hàng
Trang 20Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Biểu đồ trên cho thấy nhu cầu sử dụng lưu lượng dữ liệu di động của toàn cầu hàng tháng được dự đoán cho đến năm 2019 dựa theo phân tích và nghiên cứu của Cisco, tập đoàn nổi tiếng thế giới về kinh doanh thiết bị mạng Việc cung cấp lưu lượng dữ liệu di động là một trong những nhiệm vụ chính của viễn thông toàn cầu Theo dự báo, đến năm 2019, nhu cầu sử dụng dữ liệu di động toàn cầu là 24,3 Exabytes (1 EB = 109 GB), gấp hơn 9 lần so với nhu cầu sử dụng trong năm 2014 Như vậy, trong 5 năm tới, nhu cầu của toàn cầu trong việc liên lạc, trao đổi thông tin, truy cập Internet, đặc biệt với những công nghệ hiện đại hơn như kết nối 4G sẽ không ngừng tăng lên Việc nhu cầu sử dụng dịch vụ viễn thông tăng lên là một tín hiệu tốt góp phần đẩy mạnh xuất khẩu dịch vụ viễn thông trong tương lai
1.2.2.2 Xu hướng phát triển của ngành viễn thông trên thế giới
Nhìn chung, xu hướng phát triển công nghệ viễn thông của Việt Nam sẽ theo những xu hướng phát triển công nghệ tiên tiến trên thế giới như công nghệ truy nhập chuyển sang băng thông rộng và không dây, công nghệ di động chuyển lên thế
hệ 4G và xu hướng hội tụ viễn thông với truyền thông đa phương tiện
Công nghệ mạng truy nhập: Công nghệ truy nhập băng rộng ADSL và công
nghệ truy nhập không dây băng rộng (WIFI và WiMAX) sẽ phát triển mạnh
Công nghệ thông tin di động: Mạng thông tin di động thế hệ thứ 4 (4G) sẽ
phát triển và sẽ sử dụng hoàn toàn chuyển mạch gói
Hội tụ công nghệ viễn thông, phát thanh truyền hình và Internet: Các hệ thống
truyền hình cáp/số sẽ được huy động tối đa cung cấp dịch vụ truy nhập Internet băng rộng Các công nghệ mới sẽ cho phép cung cấp có hiệu quả các dịch vụ phát thanh, truyền hình và đa phương tiện qua mạng Viễn thông và Internet
Nhìn chung, ngành viễn thông Việt Nam đã làm rất tốt công tác đầu tư phát triển công nghệ, đưa viễn thông Việt Nam tiếp cận với trình độ của thế giới Tuy nhiên, các công nghệ Việt Nam có được chủ yếu do mua hoặc nhận chuyển giao từ đối tác nước ngoài Hoạt động nghiên cứu phát triển khoa học công nghệ trong nước mới chỉ đạt được một số kết quả khiêm tốn, cần đầu tư và khuyến khích nhiều hơn nữa
Trang 21Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Nguồn: Tổng hợp từ Cisco VNI Mobile 2015 Cũng theo dự đoán của Cisco đến năm 2019, cùng với sự bùng nổ của nhu cầu
sử dụng dữ liệu di động thì nhu cầu sử dụng dịch vụ kết nối cũng có sự thay đổi ngoạn mục, khi mà người dân ngày càng ưu tiên sử dụng công nghệ cao Cụ thể, nhu cầu sử dụng dịch vụ kết nối 4G sẽ tăng lên và chiếm 68% tổng lưu lượng dữ liệu di động toàn cầu Ngược lại với dịch vụ kết nối 2-2.5G, nhu cầu sử dụng sẽ tối thiểu dần, chỉ chiếm 2% tổng lưu lượng
Ngoài ra, riêng đối với Việt Nam, hiện nay mức độ phổ biến điện thoại đi động đạt trên 100%, cho thấy mức độ phổ biến này đã bão hòa Giá thành của dịch
vụ cơ bản sẽ giảm đến mức thấp nhất do sự cạnh tranh giành giật khách hàng giữa các nhà mạng, lợi nhuận thu được từ việc cung cấp các dịch vụ cơ bản là không cao Việt Nam có thể chọn cách mở rộng thị trường bằng cách xuất khẩu dịch vụ viễn thông sang các thị trường mới, như cách mà Viettel đã áp dụng rất thành công đối với một số quốc gia châu Phi với ngành viễn thông còn yếu kém, chưa có đối thủ cạnh tranh nhưng rất tiềm năng Song song với đó, để dịch vụ viễn thông của Việt Nam có thể cạnh tranh với dịch vụ viễn thông của các quốc gia phát triển khác về
Hình 1 3 Sự thay đổi về công nghệ sử dụng cho dịch vụ điện thoại di động
Trang 22Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
chất lượng và giá cả, trong tương lai Việt Nam sẽ phát triển dịch vụ giá trị gia tăng
và ứng dụng công nghệ tiên tiến hiện đại
1.2.2.3 Sự hội nhập kinh tế
Sự hội nhập kinh tế quốc tế được xem như là một trong những đòn bẩy quan trọng thúc đẩy thương mại quốc tế nói chung và thương mại dịch vụ nói riêng Việt Nam đã trở thành thành viên của nhiều tổ chức thương mại thế giới, thiết lập nhiều mối quan hệ song phương và đa phương Điều này đã thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Việt Nam nhiều năm qua Với ngành viễn thông, theo cam kết Việt Nam kí kết với WTO, thị trường Việt Nam sẽ mở cửa đối với một số dịch vụ viễn thông, dành cho các doanh nghiệp nước ngoài những ưu đãi, đối xử tương tự với doanh nghiệp viễn thông trong nước, theo đúng nguyên tắc National Treatment đã cam kết Ngược lại, các quốc gia khác cũng phải dành cho doanh nghiệp viễn thông Việt Nam những ưu đãi, đối xử như vậy Điều này đã mở một cánh cửa cho các doanh nghiệp Việt Nam tiến hành xuất khẩu dịch vụ viễn thông sang nước bạn
thông nói riêng
1.2.3.1 Góp phần tăng trưởng kinh tế quốc dân
Thương mại và dịch vụ góp phần thúc đẩy sản xuất, lưu thông, phân phối hàng hóa, thúc đẩy thương mại hàng hóa phát triển trong phạm vi quốc gia cũng như quốc tế Thật vậy, thương mại dịch vụ chính là cầu nối giữa các yếu tố “đầu vào” và
“đầu ra” trong quá trình sản xuất hàng hóa, tiêu thụ sản phẩm Buôn bán quốc tế, đặc biệt là buôn bán hàng hóa sẽ lưu hành như thế nào nếu không có dịch vụ vận tải? Dịch vụ thanh toán? Các dịch vụ ngân hàng cũng cho phép khâu thanh toán được diễn ra một cách có hiệu quả, giúp cả hai bên xuất khẩu và nhập khẩu đạt được mục đích trong quan hệ buôn bán Các dịch vụ viễn thông, thông tin cũng có vai trò hỗ trợ cho các hoạt động thương mại trong việc kích cầu, rút ngắn thời gian
ra quyết định mua hàng của người tiêu dùng Các dịch vụ như dịch vụ đại lý, buôn bán, bán lẻ giữ vai trò trung gian kết nối giữa người sản xuất với người tiêu dùng; đồng thời góp phần đẩy nhanh quá trình tiêu thụ hàng hóa, rút ngắn thời gian hàng hóa lưu thông, giúp các nhà sản xuất nhanh chóng thu hồi vốn để đầu tư tái sản
Trang 23Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
xuất Như vậy, dịch vụ có ảnh hưởng mạnh mẽ tới các hoạt động thương mại hàng hóa
Trong quá trình CNH - HĐH đất nước, thương mại dịch vụ đã trở thành yếu tố quan trọng trong quá trình sản xuất là bởi vì nhu cầu về dịch vụ xuất phát từ chính các nhà sản xuất khi họ nhận thấy rằng, để có thể tồn tại trong sự cạnh tranh khốc liệt ở cả thị trường nội địa và thị trường nước ngoài, phải đưa nhiều hơn các yếu tố dịch vụ vào trong quá trình sản xuất để hạ giá thành và nâng cao chất lượng như dịch vụ khoa học, kỹ thuật công nghệ
Hình 1 4 Đóng góp giá trị của xuất khẩu dịch vụ của Mỹ vào tổng giá trị xuất
khẩu 2009-2013
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp từ số liệu của Trademap Database (2015)
Biểu đồ trên phản ánh sự đóng góp giá trị của xuất khẩu dịch vụ vào tổng giá trị xuất khẩu (bao gồm xuất khẩu dịch vụ và xuất khẩu hàng hóa) ở Mỹ giai đoạn 2009-2013 Mỹ là một trong những quốc gia có nền kinh tế phát triển nhất thế giới,
có nhiều kinh nghiệm trong việc phát triển dịch vụ Tại Mỹ, xuất khẩu dịch vụ luôn đóng góp tỷ trọng lớn vào tổng giá trị xuất khẩu, chiếm khoảng 30% Trong giai đoạn 2009-2013, giá trị xuất khẩu dịch vụ của Mỹ tăng lên đều đặn Theo báo cáo của bộ lao động Mỹ, ngành dịch vụ đã mang lại cơ hội việc làm cho 80% người dân Còn ở Việt Nam, thương mại dịch vụ đang ngày càng được quan tâm chú trọng, giá trị xuất khẩu tăng đều đặn tuy nhiên tỷ lệ đóng góp vào tổng kim ngạch
30,4
29,5 29,7
30,2
27,5 28,0 28,5 29,0 29,5 30,0 30,5 31,0 31,5 32,0 32,5 33,0
0 500.000 1.000.000
%
Trang 24Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
xuất khẩu chưa cao Thương mại dịch vụ ở Việt Nam sẽ rất tiềm năng và đem lại hiệu quả kinh tế cao nếu chúng ta có những chính sách, chiến lược đúng đắn trong tương lai
1.2.3.2 Góp phần vào phân công lao động
Sự tăng trưởng của các ngành thương mại và dịch vụ còn là động lực cho sự phát triển kinh tế, cũng như có tác động tích cực đối với phân công lao động xã hội Nền kinh tế càng phát triển thì thương mại dịch vụ càng phong phú, đa dạng Hiện nay, sự phát triển thương mại dịch vụ phản ánh trình độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Người ta thấy rằng, trình độ phát triển kinh tế của một nước càng cao thì
tỷ trọng của dịch vụ trong cơ cấu ngành kinh tế nước đó càng lớn Dịch vụ phát triển sẽ thúc đẩy phân công lao động xã hội và chuyên môn hóa, tạo điều kiện cho lĩnh vực sản xuất khác phát triển
Thông qua mua bán hàng hóa, dịch vụ trên thị trường, khả năng tiêu dùng, nâng cao mức tiêu thụ và hưởng thụ của cá nhân và doanh nghiệp cũng tăng lên góp phần thúc đẩy sản xuất, mở rộng thị trường lao động và phân công lao động trong
xã hội
Trong xu thế hội nhập quốc tế, thị trường trong nước sẽ liên hệ chặt chẽ với thị trường nước ngoài thông qua hoạt động ngoại thương, điều này nếu dịch vụ và thương mại phát triển mạnh mẽ, phong phú, đa dạng chắc chắn sẽ mở rộng được thị trường thu hút các yếu tố đầu vào, đầu ra của thị trường Chính vì điều này, thương mại dịch vụ thực sự là cầu nối gắn kết giữa thị trường trong nước với thị trường ngoài nước, phù hợp với xu thế hội nhập và mở cửa ở nước ta hiện nay
1.3 Cam kết mở cửa thị trường viễn thông của Việt Nam
Cũng giống như các ngành kinh tế khác, khi tham gia vào thương mại quốc tế, viễn thông Việt Nam cũng đạt được những lợi ích nhất định Mặc dù so với thế giới, viễn thông Việt Nam khá khiêm tốn về cơ sở hạ tầng mạng, trình độ lao động và cải tiến công nghệ nhưng không vì lí do đó mà quá trình hội nhập kinh tế thế giới bị trì trệ Hội nhập kinh tế quốc tế vừa tạo ra nhiều khó khăn cũng đồng thời thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp trong nước, phải phát triển để cạnh tranh với các đối thủ nước ngoài, phải phát triển để mở rộng thị trường tìm kiếm nguồn lợi nhuận lớn hơn Đó là lý do mà hiện nay Việt Nam là thành viên của nhiều tổ chức viễn
Trang 25Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
thông trên thế giới với những cam kết mở cửa thị trường viễn thông nhất định, như liên minh viễn thông quốc tế ITU, tổ chức viễn thông ITSO, diễn đàn hợp tác kinh
tế châu Á- Thái Bình Dương APEC, tổ chức thương mại thế giới WTO và Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á ASEAN Dù mức độ cam kết mở cửa thị trường viễn thông khác nhau nhưng tất cả đều vì chung mục đích: tự do thương mại hóa, không phân biệt đối xử, công bằng, minh bạch và công khai
Các cam kết mở cửa viễn thông nằm trong Hiệp định khung của ASEAN về thương mại dịch vụ - AFAS Trong hiệp định khung này, các quốc gia thành viên cũng cần phải tuyệt đối tuân thủ nguyên tắc đối xử quốc gia và chế độ đãi ngộ tối huệ quốc như trong WTO Cũng giống như thương mại dịch vụ trong GATS, các nước thành viên trong ASEAN phải cam kết mức độ mở của theo từng phương thức cung cấp dịch vụ viễn thông Theo đó, Việt Nam cam kết mở cửa không hạn chế đối với 3 phương thức đầu tiên: cung cấp dịch vụ qua biên giới, tiêu dùng ngoài lãnh thổ và hiện diện thương mại
Riêng với phương thức hiện diện thương mại, Việt Nam cho phép các doanh nghiệp nước ngoài tham gia vào việc cung cấp các dịch vụ giá trị gia tăng bao gồm: dịch vụ điện tử, thư thoại, telex, điện báo, truyền số liệu chuyển mạch gói, truyền số liệu chuyển mạch kênh, dịch vụ Fascimile, truy cập và xử lý dữ liệu trực tuyến…nhưng việc cung cấp phải dựa trên hợp đồng hợp tác kinh doanh với các doanh nghiệp Việt Nam, không được phép liên doanh hay thành lập các hiện diện thương mại
Năm 1998, Việt Nam chính thức trở thành thành viên của APEC, tập trung vào 3 vấn đề: tự do hoá thương mại, tạo thuận lợi cho thương mại và đầu tư, hợp tác kinh tế kỹ thuật thông qua các chương trình hành động tập thể và chương trình hành động quốc gia của từng thành viên Mục tiêu của APEC nhằm xây dựng nên một diễn đàn kinh tế mở, nhằm xúc tiến các biện pháp kinh tế, thúc đẩy thương mại và đầu tư giữa các nền kinh tế thành viên trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện Do đó, các cam kết mở cửa viễn thông của Việt Nam dựa trên nguyên tắc hoàn toàn tự nguyện, đảm bảo phù hợp với lộ trình phát triển kinh tế của đất nước Mức độ cam kết
Trang 26Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
không mang tính ràng buộc cao nhưng phải đảm bảo không được giảm bớt mức độ
tự do hóa đã cam kết Năm 2002, Việt Nam cam kết sẽ tiến tới mở cửa hoàn toàn viễn thông vào năm 2020, tuân theo các nguyên tắc cơ bản của WTO như chế độ đãi ngộ tối huệ quốc
Nam- Hoa Kỳ (BTA)
Hiệp định thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ được kí kết được xem là một bước tiến lớn của Việt Nam trên con đường gia nhập WTO Các cam kết của Việt Nam
về viễn thông trong hiệp định này cũng được xem là cơ sở cam kết của Việt Nam trong GATS Cụ thể, theo BTA mà Việt Nam tham gia kí kết vào ngày 13/07/2000,
có hiệu lực từ 10/12/2001 thì Việt Nam cam kết mở cửa không hạn chế đối với phương thức tiêu dùng ngoài lãnh thổ Riêng đối với:
- Phương thức cung cấp dịch vụ qua biên giới: Các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông Hoa Kỳ chỉ được phép kí kết hợp tác và khai thác đối với các nhà khai thác chạm cổng của Việt Nam
- Phương thức hiện diện thương mại: Sau 2 năm kể từ khi hiệp định kí kết (đối với Internet là 3 năm), các doạnh nghiệp Hoa Kỳ có thể cung cấp dịch vụ viễn thông chỉ khi kí hợp đồng hợp tác liên doanh với các doanh nghiệp Việt Nam với số vốn góp không vượt quá 40% đối với dịch vụ viễn thông cơ bản và 50% đối với dịch vụ viễn thông giá trị gia tăng
Tham gia vào WTO -tổ chức thương mại lớn nhất trên thế giới đặt ra cho nền kinh tế Việt Nam nhiều cơ hội và thách thức Chặng đường 11 năm với hơn 200 cuộc đàm phán song phương và đa phương đầy khó khăn, phức tạp đã đưa Việt Nam trở thành thành viên thứ 150, cũng đồng nghĩa với việc chúng ta cần tuân thủ cam kết đã thỏa thuận, trong đó có cam kết về mở cửa thị trường viễn thông Việt Nam Bản thân viễn thông là một ngành huyết mạch của nền kinh tế nên Việt Nam chưa thể mở cửa hoàn toàn như một số nhóm ngành dịch vụ khác Vì vậy, Việt Nam cần có những bước đi từ từ, vững chắc và phù hợp với năng lực phát triển của chính quốc gia mình Mức độ cam kết của Việt Nam trong GATS nhiều hơn trong BTA
Trang 27Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
và có quy định rõ ràng không chỉ theo phương thức cung cấp mà còn theo đặc điểm của nhà mạng
1.3.4.1 Các loại dịch vụ viễn thông mà Việt Nam cam kết mở của thị trường
Trong GATS, Việt Nam cam kết mở cửa đối với các dịch vụ viễn thông cụ thể như sau:
- Các dịch vụ viễn thông cơ bản: dịch vụ thoại, dịch vụ truyền số liệu chuyển mạch gói, dịch vụ truyền số liệu chuyển mạch kênh, dịch vụ telex, dịch vụ telegraph, dịch vụ Facsimile, dịch vụ thuê kênh riêng và các dịch vụ khác
- Các dịch vụ giá trị gia tăng: Thư điện tử, thư thoại, thông tin trực tuyến và
truy cập lấy thông tin từ cơ sở dữ liệu, trao đổi dữ liệu điện tử, các dịch vụ facsimile gia tăng giá trị, bao gồm lưu trữ và chuyển, lưu trữ và khôi phục , chuyển đổi mã và
giao thức thông tin trực tuyến và xử lý dữ liệu (bao gồm xử lý giao dịch), dịch vụ Truy nhập Internet IAS (dịch vụ cung cấp truy nhập Internet cho khách hàng đầu cuối)
Ngoài ra, dựa theo nguyên tắc đối xử quốc gia (NT), các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông nước ngoài ở Việt Nam còn được hưởng một số quyền giống như nhà cung cấp dịch vụ trong nước như sau:
- Truy nhập và sử dụng dịch vụ và hệ thống viễn thông công cộng để truyền dẫn thông tin trong nước và qua biên giới (bao gồm liên lạc trong phạm vi công ty
và các giao dịch qua biên giới giữa các bộ phận của công ty đặt ở các nước khác (mạng riêng các công ty, tập đoàn đa quốc gia);
- Mua hoặc thuê và gắn thiết bị đầu cuối hoặc các thiết bị khác để kết nối với
hệ thống và dịch vụ viễn thông cho mục đích công cộng nói chung
Liên quan đến thủ tục hành chính, Việt Nam Việt Nam chấp thuận cam kết đảm bảo với các doanh nghiệp, các nhà đầu tư nước ngoài nộp đơn xin cấp phép trong lĩnh vực viễn thông một số điều, trong đó điều quan trọng nhất là thủ tục và
Trang 28Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
điều kiện cấp phép không giữ vai trò như một rào cản độc lập đối với tiếp cận thị trường (không cản trở quá mức cần thiết)
Sự mở cửa các dịch vụ viễn thông của Việt Nam còn phụ thuộc vào việc nhà cung cấp có cơ sở hạ tầng mạng hay không Trong cam kết gia nhập WTO của Việt Nam, nhà cung cấp dịch vụ không có hạ tầng mạng được hiểu là nhà cung cấp dịch
vụ không sở hữu dung lượng truyền dẫn và phải thuê dung lượng từ nhà khai thác,
sở hữu dung lượng đó (bao gồm cả dung lượng cáp quang biển) Một nhà cung cấp không có hạ tầng mạng được phép sở hữu các trang thiết bị viễn thông trong phạm
vi trụ sở hoạt động của mình và tại các điểm cung cấp dịch vụ công cộng được cho
phép Nhà cung cấp có hạ tầng mạng là nhà cung cấp sở hữu dung lượng truyền dẫn
và băng tần
1.3.4.2 Cam kết mở cửa với nhà cung cấp nước ngoài có hạ tầng mạng
Đối với các dịch vụ viễn thông cơ bản, nhà đầu tư nước ngoài chỉ được phép đầu tư để cung cấp dịch vụ ở Việt Nam dưới các hình thức:
- Hợp đồng hợp tác kinh doanh; hoặc
- Doanh nghiệp liên doanh với đối tác Việt Nam (là nhà khai thác dịch vụ Việt Nam đã được cấp phép trong lĩnh vực đó) với điều kiện vốn góp tối đa của phía nước ngoài không quá 49% vốn pháp định của liên doanh
Đối với các dịch vụ viễn thông gia tăng giá trị, các nhà đầu tư nước ngoài chỉ được phép đầu tư để cung cấp dịch vụ ở Việt Nam dưới các hình thức:
- Hợp đồng hợp tác kinh doanh; hoặc
- Doanh nghiệp liên doanh với đối tác Việt Nam (là nhà khai thác dịch vụ Việt Nam đã được cấp phép trong lĩnh vực đó) với điều kiện tỷ lệ vốn góp nước ngoài trong liên doanh không quá 50%
1.3.4.3 Cam kết với nhà cung cấp nước ngoài không có hạ tầng mạng
Gia nhập WTO, Việt Nam cam kết mở cửa thị trường dịch vụ viễn thông không có hạ tầng mạng cho các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào theo các hình thức sau:
- Hợp đồng hợp tác kinh doanh;
- Liên doanh với nhà khai thác Việt Nam với điều kiện đối tác Việt Nam phải
là nhà cung cấp đã được cấp phép trong lĩnh vực dịch vụ tương ứng, và tỷ lệ vốn
Trang 29Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
góp tối đa của phía nước ngoài là 51% vốn pháp định của liên doanh (kể từ 11/1/2010, bên nước ngoài được phép tự do lựa chọn đối tác khi thành lập liên doanh và được phép nâng mức vốn góp lên mức 65% vốn pháp định của liên doanh)
- Riêng đối với dịch vụ mạng riêng ảo (VPN) mà một số đối tác lớn có mối quan tâm đặc biệt, được cung cấp trên hạ tầng mạng do Việt Nam kiểm soát, bên nước ngoài được tự do lựa chọn đối tác liên doanh ngay sau khi gia nhập và được phép tham gia vốn tối đa ở mức 70% vốn pháp định của liên doanh
Theo cam kết gia nhập WTO, Việt Nam cho phép các bên của các hợp đồng hợp tác kinh doanh trong lĩnh vực viễn thông trước đây được ký mới thỏa thuận hiện tại hoặc chuyển sang hình thức doanh nghiệp với những điều kiện không kém thuận lợi hơn những điều kiện họ đang được hưởng Việt Nam cam kết trong các liên doanh viễn thông thì bên nào nắm 51% vốn điều lệ của liên doanh sẽ nắm quyền kiểm soát trong việc quản lý liên doanh
Ngoài ra, các doanh nghiệp nước ngoài được kết nối dung lượng cáp quang biển (dung lượng hai chiều) của các tuyến cáp quang biển mà Việt Nam là thành viên, với các trạm cập bờ của Việt Nam và bán dung lượng truyền dẫn này cho các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông quốc tế có hạ tầng mạng (như VNPT, VIETTEL,
VP Telecom) được cấp phép tại Việt Nam Kể từ ngày 11/1/2008, các doanh nghiệp nước ngoài được phép bán dung lượng nêu trên cho các nhà cung cấp dịch vụ mạng riêng ảo VPN và dịch vụ kết nối Internet IXP quốc tế được cấp phép (như FPT, VNPT, VIETTEL, VP Telecom)
1.3.4.4 Cam kết mở cửa với nhà cung cấp nước ngoài không có hiện diện thương
mại ở Việt Nam
Với các doanh nghiệp viễn thông nước ngoài không có hiện diện thương mại tại Việt Nam, phương thức cung cấp các dịch vụ viễn thông quốc tế cho các khách hàng tại Việt Nam là phương thức cung cấp dịch vụ qua biên giới
Về phương thức này đối với dịch vụ viễn thông, Việt Nam cam kết như sau:
- Đối với dịch vụ hữu tuyến và di động mặt đất: nhà cung cấp dịch vụ viễn
thông ở nước ngoài phải thông qua thoả thuận thương mại với pháp nhân được
Trang 30Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
thành lập tại Việt Nam và được cấp phép cung cấp dịch vụ viễn thông quốc tế tại Việt Nam để tiếp cận khách hàng tại Việt Nam;
- Đối với dịch vụ vệ tinh, kể từ ngày 11/1/2007 nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài được chỉ được cung cấp dịch vụ cho một nhóm hạn chế khách hàng (ví dụ
khách hàng kinh doanh ngoài biển, các cơ quan chính phủ, các cơ quan ngoại giao của nước ngoài ); từ 11/1/2010, các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông ở nước ngoài
sẽ được mở rộng loại đối tượng khách hàng tại Việt Nam (thêm nhóm khách hàng là các công ty đa quốc gia)
Ngoài ra, sau 3 năm gia nhập gia nhập WTO, Việt Nam cho phép các công ty
đa quốc gia được sử dụng dịch vụ vệ tinh của nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài không có hiện diện thương mại ở Việt Nam
Tổng kết lại, viễn thông là ngành kinh tế-kĩ thuật thuộc kết cấu hạ tầng của nền kinh tế, và nhiệm vụ phát triển viễn thông là nhiệm vụ tiên quyết hàng đầu đặt
ra cho Việt Nam trên con đường hiện thực hóa nền kinh tế tri thức, cải tiến công nghệ thông tin Dịch vụ viễn thông có những đặc điểm riêng biệt so với các loại hình dịch vụ thông thường khác Để thực hiện mục tiêu này, nhiệm vụ đặt ra cho ngành viễn thông là xây dựng, ổn định tốc độ phát triển của ngành viễn thông trong nước đồng thời đẩy mạnh việc xuất khẩu dịch vụ viễn thông Hai nhiệm vụ này có mối quan hệ qua lại, tương hỗ cho nhau và cần được tiến hành song song Sự kiện Việt Nam gia nhập WTO và cam kết mở cửa thị trường viễn thông theo hiệp định GATS, đặt ra nhiều mối quan tâm cho các doanh nghiệp liên quan đến các phương thức thương mại dịch vụ Trong bối cảnh hội nhập, việc lựa chọn phương thức nào cũng nằm trong chiến lược xuất khẩu của các doanh nghiệp
Trang 31Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU DỊCH VỤ
VIỄN THÔNG CỦA VIỆT NAM 2.1 Tổng quan về sự phát triển cơ sở viễn thông trong nước
Như đã biết viễn thông là ngành kết cấu hạ tầng đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Cơ sở viễn thông bao gồm hạ tầng viễn thông và chất lượng dịch
vụ viễn thông phát triển là động lực thúc đẩy mọi ngành nghề kinh tế trong xã hội tăng năng suất và hiệu quả làm viêc; thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam tiến gần hơn với nền kinh tế tri thức Hiện nay, cơ sở viễn thông Việt Nam đã được xây dựng trên mọi vùng miền tổ quốc, đưa công nghệ thông tin đến với mọi nhà Về mặt chính trị, sự phát triển này là công cụ để Nhà nước quản lý và bảo vệ an ninh quốc phòng, chủ quyền lãnh thổ; còn về kinh tế, khi Việt Nam đang tham gia tích cực vào cộng đồng quốc tế thì sự phát triển ổn định cơ sở viễn thông trong nước chính là nguồn lực đẩy mạnh xuất khẩu
Theo mô hình đàn nhạn bay được nhà kinh tế học Nhật Bản Akamatsu
Kaname khởi xướng đầu tiên từ những năm 1930 (Akamatsu, Kaname (1962), A Historical Pattern of Economic Growth in Developing Countries, The Developing
Economies, Tokyo, Preliminary Issue No 1.), xét dưới góc độ vĩ mô, ngành viễn thông trên toàn thế giới là một đàn nhạn được dẫn dắt bởi những con đầu đàn như
Mỹ, Nhật Bản hay Hàn Quốc với công nghệ tiên tiến nhất, thì vị trí của Việt Nam là
ở nửa phía sau của đàn nhạn, đang dẫn dắt những con đi sau đó Dưới góc độ vi mô
là các doanh nghiệp viễn thông Việt Nam, thị trường nội địa chính là con nhạn đầu đàn, theo sau đó là nhiều thị trường được mở rộng khác Do đó, để thúc đẩy xuất khẩu dịch vụ viễn thông của các doanh nghiệp Việt Nam trước tiên cần đẩy mạnh
sự phát triển của cơ sở viễn thông trong nước Thực tế, thị trường trong nước được xem như là thị trường mẹ, cung cấp vốn, công nghệ và nguồn nhân lực cho những thị trường được mở rộng sau này Trong những năm vừa qua, ngành viễn thông Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng tự hào, là nền tảng vững chắc thúc đẩy xuất khẩu; nhưng vẫn còn đó nhiều khiếm khuyết, làm giảm năng lực cạnh tranh của dịch vụ viễn thông Việt Nam trên trường quốc tế
Trang 32Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
2.1.1 Việt Nam là một trong những quốc gia có tốc độ phát triển hạ tầng viễn
thông cao nhất trong khu vực
Theo ITU, chúng ta có thể đánh giá hiện trạng phát triển hạ tầng viễn thông Việt Nam qua một số các chỉ tiêu như mật độ điện thoại, internet Cụ thể:
a) Mật độ điện thoại di động
Từ năm 2009 đến 2013, doanh thu dịch vụ di động luôn chiếm tỷ lệ đóng góp nhiều nhất vào doanh thu dịch vụ viễn thông (năm 2013 chiếm 69%) và gấp nhiều lần so với doanh thu dịch vụ cố định (năm 2013 gấp 11 lần) Thực tế, do thay đổi trong nhu cầu sử dụng, dịch vụ cố định đang có xu hướng giảm dần và sẽ còn tiếp tục giảm trong tương lai Vì vậy, khi đánh giá mật độ điện thoại tại thị trường Việt Nam, chỉ tiêu về mật độ điện thoại di động sẽ giúp phản ánh một cách chính xác nhất
Hình 2 1 Mật độ sử dụng điện thoại di động ở Việt Nam 2009-2013
Nguồn: Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam, 2014, Sách trắng Việt Nam 2014
Kể từ thị thị trường viễn thông Việt Nam thoát khỏi tình trạng độc quyền, nhiều doanh nghiệp gia nhập thị trường tạo điều kiện giảm liên tục giá cước viễn thông Trước đây, điện thoại là một món đồ xa xỉ thì giờ đây ở Việt Nam trung bình một người đã sở hữu hơn 1 thuê bao di động Từ năm 2009-2013, số người sử dụng điện thoại di động đã tăng từ 98.223.980 người lên đến 123.735.557 người Viettel hiện đang là doanh nghiệp có thị phần di động lớn nhất (43,48%), theo sau là
113,4 127,68
144,19 148,33
137,93
020406080100120140160
Trang 33Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Mobiphone (31,78%) và Vinaphone (17,45%) Nhìn chung, thị trường dịch vụ di động trong nước vẫn đang nằm trong tầm kiểm soát của các doanh nghiệp Việt Nam
Theo báo cáo của diễn đàn kinh tế thế giới 2014 về công nghệ thông tin, năm
2012 tính theo số người sử dụng di dộng/100 dân, Việt Nam đứng thứ 23 trên thế giới về mật độ sử dụng điện thoại di động và đứng thứ 2 khu vực Đông Nam Á sau Singapore (mật độ là 152.1 điện thoại/100 dân)
b) Mật độ sử dụng Internet
Tương tự như mật độ di động thì mật độ sử dụng Internet là một trong những chỉ số quan trọng trong việc đánh giá sự phát triển viễn thông 1 quốc gia Tại Việt Nam, với khoảng 85 triệu dân số, chủ yếu sinh sống tại các khu vực rừng núi với địa hình xa xôi, hiểm trở thì việc phổ cập Internet là một điều vô cùng khó khăn và tốn nhiều thời gian Dưới sự chỉ đạo của Bộ Thông tin và Truyền thông trên con đường phổ cập Internet, các doanh nghiệp viễn thông đang có sự đầu tư tích cực về
cơ sở mạng lưới cùng với chính sách truyền thông đưa Internet về tận các làng bản
Hình 2 2 Mật độ sử dụng Internet tại Việt Nam giai đoạn 2009-2013
Nguồn: Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam, 2014, Sách trắng Việt Nam 2014
Biểu đồ trên phản ánh sự tăng trưởng không ngừng của mức độ phổ biến Internet tại Việt Nam Từ năm 2009 đến 2013, độ phổ cập Internet tăng từ 26,55% lên 37% (tương đương 8,65%/năm) Năm 2013, Việt Nam có tất cả 33.191.166
3,71 4,2
22,48 22,64
24,93 26,55
Trang 34Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
người sử dụng Internet Ngoài ra, song song với tốc độ tăng trưởng Internet thì đang
có sự chuyển biến tích cực về khả năng truy cập Cụ thể, có rất nhiều cách thức để truy cập Internet: thông qua hệ thống cáp truyền hình, cáp quang, mạng di động 3G hay mạng xDSL Sự đa dạng về dịch vụ đáp ứng nhu cầu khác nhau của người tiêu dùng Khái niệm băng thông (bandwidth) đại diện cho tốc độ truyền dữ liệu của một đường truyền, hay chuyên môn hơn, là độ rộng (width) của một dải tần số mà các tín hiệu điện tử chiếm giữ trên một phương tiện truyền dẫn Nói theo cách khác, băng thông phản ánh số lượng dữ liệu có thể truyền tải trong cùng 1 đơn vị thời gian Rõ ràng, băng thông càng lớn thì tốc độ đường truyền càng tăng (với cùng số lượng người truy cập) Tại Việt Nam, năm 2013 đã có khoảng 60% số người sử dụng Internet dùng băng thông rộng (tăng khoảng 7 lần so với năm 2009), và trong tương lai Việt Nam sẽ phổ cập băng thông rộng trên mọi vùng miền của Tổ quốc
2.1.2 Công nghệ sử dụng trong hoạt động cung cấp dịch vụ viễn thông không
ngừng được cải tiến
Trên bản đồ kinh tế thế giới hiện nay, công nghệ được xem là vũ khí lợi hại nhất mà một quốc gia có thể đem ra so sánh với các quốc gia còn lại Trong sản xuất, công nghệ là xương sống, quyết định trực tiếp đến chất lượng sản phẩm Đối với viễn thông, công nghệ sử dụng là vũ khí lôi kéo khách hàng, tăng năng lực cạnh tranh và cải tiến công nghệ chính là góp 50% vào công cuộc nâng cao chất lượng dịch vụ Mặt khác, nếu như những chỉ số như mật độ điện thoại, Intenet cho thấy sự tăng trưởng về chiều ngang của ngành viễn thông Việt Nam thì chỉ số chất lượng dịch vụ phản ánh sự phát triển về chiều sâu Thực tế là ngành viễn thông Việt Nam
để phát triển bền vững thì phải phát triển cả về chiều ngang và chiều sâu, hay nói cách khác cần phải cải tiến công nghệ
Cụ thể, các nhà mạng Việt Nam đang rất nỗ lực trong việc ứng dụng công nghệ cao Cho đến năm 2014, tỷ lệ số thuê bao sử dụng công nghệ 2G (chỉ cung cấp dịch vụ thoại cơ bản bao gồm gọi điện và nhắn tin) đang có xu hướng giảm dần Ngược lại, mạng di động 3G (cung cấp dịch vụ thoại cơ bản, dịch vụ ngoài thoại: tải
dữ liệu, gửi Email, tin nhắn nhanh, hình ảnh và dịch vụ truy cập Internet) đang ngày càng được sử dụng phổ biến và chiếm tỷ lệ cao (22% năm 2014) với sự cập nhật công nghệ không ngừng từ UMTS đến CDMAx Năm 2009, mạng di động 3G
Trang 35Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
chính thức được đưa vào sử dụng ở Việt Nam, được đánh giá là sự kiện công nghệ thông tin tiêu biểu nhất của năm và vào khoảng tháng 6/2015 tới đây, mạng 4G sẽ đưa vào sử dụng, người tiêu dùng có thể được tận hưởng chất lượng dịch vụ di động cao hơn rất nhiều, cụ thể với tốc độ đường truyền có thể tăng lên đến 10 lần
Hình 2 3 Phát triển công nghệ di động ở Việt Nam 2004-2014
Nguồn: Mobile Monday Vietnam (2014), “Fact, Figures and Forecast for the
Vietnam Mobile Market”
Trong đó:
- CDMA1X, CDMA2000EV-DO: các tiêu chuẩn công nghệ di động họ 3G, sử
dụng kỹ thuật truy cập kênh CDMA, để gửi thoại, dữ liệu và dữ liệu báo hiệu giữa các điện thoại di động và trạm gốc
- CDMAOne : Đa truy nhập (đa người dùng) phân chia theo mã, thuê bao của
mạng di động CDMA chia sẻ cùng một giải tần chung thuộc công nghệ thông tin di động 3G
- HSDPA : Truy nhập gói đường xuống tốc độ cao, là một bước tiến nhằm
nâng cao tốc độ và khả năng của mạng di động tế bào thế hệ thứ ba UMTS HSDPA đôi khi còn được biết đến như là một công nghệ thuộc thế hệ 3.5G
- UMTS : Hệ thống viễn thông di động toàn cầu, là một trong các công nghệ di động 3G ( Third Generation), UMTS đôi khi còn được gọi là 3GSM
- GPRS: Dịch vụ vô tuyến gói tổng hợp, một dịch vụ dữ liệu di động dạng gói
dành cho những người dùng GSM và điện thoại di động IS-136
Trang 36Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
- EDGE: đôi khi còn gọi là Enhanced GPRS (EGPRS), là một công nghệ di
động được nâng cấp từ GPRS cho phép truyền dữ liệu với tốc độ cao cho người dùng cố định hoặc di chuyển
- GSM : Hệ thống thông tin di động toàn cầu thuộc thế hệ thứ hai (2G), được
sử dụng phổ biến trên thế giới nhờ khả năng phủ sóng rộng khắp nơi
Đặc biệt với 2 sự kiện quan trọng:
- Ngày 19/4/2008, VINASAT-1 được phóng lên quỹ đạo với 20 bộ phát đáp (8 bộ băng tần C, 12 bộ băng tần Ku) với độ phủ sóng toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, ngoài ra Vinasat-1 còn phủ sóng ở Nhật Bản, miền đông Trung Quốc, bán đảo Triều Tiên, Ấn Độ, các nước Đông Nam Á, Úc, biển Đông và một phần Myanma
- Ngày 16 tháng 5 năm 2012, Vệ tinh VINASAT-2 với số bộ phát đáp: 30 (36 MHz/bộ) gồm 24 bộ khai thác thương mại và 6 bộ dự phòng, khả năng truyền dẫn: tương đương 13.000 kênh thoại/Internet/truyền số liệu hoặc khoảng 150 kênh truyền hình đã được phóng thành công VINASAT 2 có độ phủ sóng toàn lãnh thổ Việt Nam và 1 số khu vực Đông Nam Á như Lào, Campuchia, Thái Lan và một phần Myanmar
Cả hai VINASAT-1 và VINASAT-2 là vệ tinh viễn thông địa tĩnh, sau khi phóng lên có thể cung cấp dịch vụ đường truyền vệ tinh để phát triển các dịch vụ ứng dụng như dịch vụ thoại, truyền hình, thông tin di động, truyền số liệu, Internet, các dịch vụ đào tạo và y tế từ xa, truyền tin cho ngư dân trên biển, dự báo thời tiết, đảm bảo an ninh quốc phòng Đặc biệt cung cấp đường truyền thông tin cho các trường hợp khẩn cấp như thiên tai, bão lụt, đường truyền cho các vùng sâu, vùng xa, hải đảo mà các phương thức truyền dẫn khác khó vươn tới được Dự báo, hai vệ tinh này có thể cung cấp đủ dung lượng vệ tinh cho Việt Nam đến năm 2020 Một lần nữa, việc phóng thành công 2 vệ tinh đã giúp Việt Nam thể hiện quyền làm chủ trong không gian, góp phần bảo vệ an toàn trong việc truyền dẫn thông tin mạng và duy trì sự ổn định tốc độ đường truyền Ngoài ý nghĩa kinh tế, việc phóng vệ tinh Vinasat-1 còn khẳng định chủ quyền của Việt Nam trong không gian vào nâng vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế Nhờ đó, Việt Nam trở thành nước thứ 93 trên thế giới và nước thứ 6 trong khu vực Đông Nam Á có vệ tinh riêng bay vào quỹ đạo
Trang 37Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
2.1.3 Những điểm hạn chế của ngành viễn thông Việt Nam
Có sự tiến bộ về công nghệ nhưng không thể không nhắc đến những yếu kém của các nhà mạng và các nhà cung cấp dịch vụ Cụ thể theo như kết quả dự án Khảo sát mức độ hài lòng của người dùng 3G tại 3 thành phố Hà Nội - Đà Nẵng - TP.HCM được thực hiện bởi Báo Bưu điện Việt Nam cùng Nielsen và các đối tác năm 2013, đã có 5 nhóm yếu tố được đưa ra để đo độ hài lòng của người dùng 3G là: Kết nối và chất lượng mạng; Danh tiếng của nhà mạng; Cước phí và chương trình khuyến mãi; Gói cước; Dịch vụ khách hàng Trong đó:
- Đối với nhóm yếu tố Kết nối và chất lượng mạng: 92% người dùng 3G tham gia khảo sát cho rằng tốc độ đường truyền là yếu tố thành phần quan trọng nhất Thế nhưng, chỉ có 55% người dùng cảm thấy hài lòng về tốc độ đường truyền mà mình
sử dụng trong năm 2012 (thấp hơn nhiều so với tỷ lệ 64% của năm 2011) Có tới 26% người dùng không hài lòng và 19% người dùng rất không hài lòng về tốc độ đường truyền 56% người dùng 3G vẫn đang mong muốn nhà mạng cải thiện hơn nữa tốc độ kết nối và chất lượng của mạng
- Với nhóm Danh tiếng nhà mạng: 84% người dùng 3G đánh giá cao về độ tin cậy của các nhà mạng và 75% rất hài lòng về mức độ sáng tạo của nhà mạng
- Với nhóm Cước phí và chương trình khuyến mãi: người dùng cho rằng giá cước của các nhà mạng đang ngang bằng nhau 66% người dùng 3G hài lòng về giá cước 79% người dùng hài lòng về việc tính cước chính xác Tuy nhiên, vẫn còn tới 22% người dùng chưa hài lòng với các chương trình khuyến mãi mà họ nhận được
- Với nhóm Gói cước: hơn 40% khách hàng chưa hài lòng về mức độ phù hợp của các gói cước và gần 40% khách hàng cho rằng vẫn chưa có nhiều gói cước 3G được triển khai
- Về nhóm Dịch vụ khách hàng: 14% người dùng không hài lòng về các chương trình chăm sóc khách hàng; nhiều người chưa hài lòng về khả năng phản hồi và trình độ hiểu biết của nhân viên, cũng như thông tin về dịch vụ 3G trên website của nhà mạng
Một điểm đáng chú ý khác trong kết quả khảo sát công bố này là tỷ lệ khách hàng cam kết sử dụng lâu dài dịch vụ 3G của các nhà mạng đã giảm từ 71% của
Trang 38Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
năm 2011 xuống còn 64% năm 2012 Trong khi đó, tỷ lệ khách hàng rời bỏ (chuyển mạng/không sử dụng dịch vụ) lại tăng từ 4% lên 6%
Viễn thông Việt Nam mới nổi trong khoảng 10 năm trở lại đây, đã đạt được những thành tựu nhất định nhưng không vì vậy mà chúng ta quên đi vị trí của mình trên bản đồ viễn thông thế giới Bản khảo sát trên lấy ý kiến trực tiếp từ phía người tiêu dùng Việt, còn biểu đồ so sánh dưới đây cho thấy cái nhìn của thế giới đối với chất lượng dịch vụ tại Việt Nam, cụ thể là tốc độ truy cập Internet
Hình 2 4 Tốc độ truy cập Internet một số nước châu Á quý 4/2014
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ website: http://www.statista.com/
Tại châu Á, Việt Nam là một trong những quốc gia có tốc độ truy cập Internet thấp nhất, vào khoảng 2,7 Mbps, chỉ đứng trên Indonesia, Ấn Độ và Philippines và kém xa so với các quốc gia phát triển như Nhật Bản và Hàn Quốc Hiện nay xuất hiện rất nhiều ngành nghề trong xã hội xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ thông qua con đường Internet Tốc độ truy cập thấp gây thiệt hại nhiều cho doanh nghiệp, thời gian truy cập xã hội phải bỏ ra bị độn lên rất nhiều Có nhiều yếu tố tác động đến tốc độ truy cập, trong đó có yêu cầu về công nghệ Năm 2010, mạng di động 4G đã bắt đầu đưa vào sử dụng tại Hàn Quốc, và dự báo năm 2017, Hàn Quốc sẽ cải tiến lên mạng 5G; Trung Quốc và Malaysia là 2 quốc gia rất gần Việt Nam cũng bắt đầu ứng dụng công nghệ di động 4G năm 2013, trong khi ở Việt Nam thời điểm hiện tại, người tiêu dùng chưa có cơ hội trải nghiệm công nghệ tiên tiến này Sự thật là Việt Nam
22,2 16,8
15,2 11,7
10,6 7,1
4,1 3,4 2,7 2,7
2 1,9
Trang 39Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
đang trên con đường cải tiến công nghệ nhưng mức độ cập nhật về tiến bộ khoa học thì chưa theo kịp thế giới
Sự không cập nhật về tiến bộ khoa học công nghệ đã là một trở ngại rất lớn trong việc nâng cao sự canh trạnh của chất lượng dịch vụ viễn thông Việt Nam trên thị trường quốc tế, thiết nghĩ nếu dịch vụ phục vụ khách hàng còn yếu kém thì một ngày không xa chính những khách hàng Việt Nam sẽ rời bỏ ngành viễn thông nước mình mà chuyển sang sử dụng dịch vụ viễn thông của các đối tác nước ngoài với chất lượng tốt hơn về mọi mặt Hơn nữa, hiện nay, Việt Nam cho phép các công ty nước ngoài đầu tư vào viễn thông Việt Nam với tỷ lệ góp vốn 49% và không có gì đảm bảo chắc chắn rằng trong tương lai Việt Nam sẽ không mở cửa hoàn toàn ngành viễn thông, do đó cuộc chiến không còn là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nước mà chính là sự cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài
2.2 Tổng quan về hoạt động xuất khẩu dịch vụ viễn thông của Việt Nam
2.2.1 Phương thức xuất khẩu dịch vụ viễn thông
Viễn thông là ngành thuộc kết cấu hạ tầng quốc gia, có vai trò đặc biệt quan trọng với kinh tế, chính trị và an ninh quốc phòng của quốc gia đó Vậy nên không
dễ dàng để một quốc gia, đặc biệt là các nước thuộc khối đang và chậm phát triển
mở cửa hoàn toàn thị trường viễn thông của họ cho các doanh nghiệp nước ngoài Theo cam kết với WTO, Việt Nam đã và đang mở cửa với một số dịch vụ viễn thông với số vốn góp kiên doanh của các nhà đầu tư nước ngoài bị giới hạn Như vậy các doanh nghiệp nước ngoài là thành viên WTO hoàn toàn có thể kinh doanh các dịch vụ viễn thông ở Việt Nam theo đó Việt Nam đã cam kết và ngược lại, các doanh nghiệp Việt Nam có thể xuất khẩu và kinh doanh các dịch vụ viễn thông này tại nước bạn Cụ thể đó là một số loại hình dịch vụ viễn thông như sau:
- Các dịch vụ viễn thông cơ bản: dịch vụ thoại, dịch vụ truyền số liệu chuyển mạch gói, dịch vụ truyền số liệu chuyển mạch kênh, dịch vụ telex, dịch vụ telegraph, dịch vụ Facsimile, dịch vụ thuê kênh riêng và các dịch vụ khác
- Các dịch vụ giá trị gia tăng: Thư điện tử, thư thoại, thông tin trực tuyến và truy cập lấy thông tin từ cơ sở dữ liệu, trao đổi dữ liệu điện tử, các dịch vụ facsimile
gia tăng giá trị, bao gồm lưu trữ và chuyển, lưu trữ và khôi phục, chuyển đổi mã và
giao thức thông tin trực tuyến và xử lý dữ liệu (bao gồm xử lý giao dịch), dịch vụ
Trang 40Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Truy nhập Internet IAS (dịch vụ cung cấp truy nhập Internet cho khách hàng đầu cuối)
Đó là những dịch vụ viễn thông mà Việt Nam cam kết; còn thực tế, các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu các loại hình dịch vụ viễn thông nào còn phụ thuộc vào thị trường nhập khẩu Trên thực tế, Việt Nam đã mang các dịch vụ viễn thông ra nước ngoài từ khá sớm Như đã đề cập ở trên, có 4 phương thức tiến hành thương mại dịch vụ tuy nhiên đối với viễn thông, thực tế Việt Nam chỉ tham gia theo ba phương thức đầu tiên Trong bảng chú giải các thuật ngữ của WTO, hiện diện thương mại bao gồm văn phòng đại diện, chi nhánh và công ty con chịu sự quản lý một phần hoặc toàn phần của công ty mẹ Các ví dụ của Mobiphone Global mở văn phòng đại diện ở một số quốc gia hay Viettel Global thực hiện hoạt động liên doanh, thành lập công ty con ở nước ngoài đều nằm trong một trong bốn phương thức thương mại dịch vụ mà GATS đã quy định
2.2.1.1 Phương thức cung ứng dịch vụ qua biên giới
Phương thức cung ứng dịch vụ qua biên giới là phương thức cơ bản và phổ biến nhất Muốn truyền đạt, trao đổi tín hiệu, thông tin từ quốc gia này sang quốc gia khác thì nhất thiết cần sử dụng hạ tầng viễn thông hay là cơ sở mạng viễn thông đặt tại hai quốc gia đó Ví dụ như một người ở Anh muốn gọi điện cho người thân ở Việt Nam thì cần sử dụng đường truyền tín hiệu của doanh nghiệp viễn thông tại Việt Nam, cũng có nghĩa là người Anh đang tiêu dùng dịch vụ viễn thông của Vieeth Nam Hay nói cách khác doanh nghiệp nước Việt Nam đang xuất khẩu dịch
vụ viễn thông sang Anh bằng phương thức cung cấp dịch vụ qua biên giới Phương thức này không đem lại cho doanh nghiệp xuất khẩu lợi nhuận tối đa do phải chia sẻ lợi nhuận với đối tác nước ngoài
Từ việc các doanh nghiệp viễn thông phải cơ sở hạ tầng để cung cấp dịch vụ cho người tiêu dùng trên khắp thế giới, khái niệm data roaming- là tính năng cho phép bạn có kết nối dữ liệu khi di chuyển vào vùng mà nhà mạng của bạn không có sóng, phải chuyển sang "dùng nhờ" sóng của nhà mạng khác ra đời Data roaming đang được sử dụng rộng rãi trên thế giới, phục vụ cho khách du lịch, công tác nước ngoài Hiện nay mức giá cước roaming của nhà mạng Vinaphone áp dụng với các cuộc gọi quốc tế bao gồm Anh, Mỹ, Canada về Việt Nam là 17.000 đồng/phú, cước