1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hoạt động kinh doanh của tổng công ty bảo việt nhân thọ trong giai đoạn 2008 2015

75 68 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 1,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, ở Việt Nam loại hình bảo hiểm này vẫn còn khá mới mẻ, tuy mới được triển khai ở Việt Nam hơn 15 năm 1996 nhưng đã và đang phát triển nhanh chóng với mức tăng trưởng cao, có sự

Trang 1

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ SƠ ĐỒ

Bảng 2.1: Các chỉ tiêu phát triển kinh tế của Việt Nam 23

Bảng 2.2: Doanh thu phí BHNT của Bảo Việt Nhân Thọ giai đoạn 2008-2015 36

Bảng 2.3: Số tiền đầu tư của Bảo Việt Nhân Thọ qua các năm 44

Bảng 2.4: Số lượng đại lý của các công ty BHNT trên thị trường Việt Nam năm 2008-2014 49

Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức của Tổng công ty Bảo Việt Nhân Thọ 30

DANH MỤC BIỂU ĐỒ VÀ HÌNH VẼ Biểu đồ 1.1: Tháp nhu cầu của Abraham Maslow 15

Biểu đồ 2.1: Doanh thu của Bảo Việt Nhân Thọ giai đoạn 2008-2015 37

Biểu đồ 2.2: Thị phần theo doanh thu phí BHNT của Bảo Việt Nhân thọ giai đoạn 2008-2015 39

Biểu đồ 2.3: Lợi nhuận của Bảo Việt Nhân Thọ giai đoạn 2008-2015 40

Biểu đồ 2.4: Tỷ trọng doanh thu phí khai thác mới theo sản phẩm 42

Biểu đồ 2.5: Số tiền chi trả bảo hiểm của Bảo Việt Nhân Thọ qua các năm 43

Biểu đồ 2.6: Đánh giá về các chương trình thực hiện CSKH thường xuyên của Bảo Việt Nhân Thọ 50

Trang 2

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Trang 3

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ SƠ ĐỒ

DANH MỤC BIỂU ĐỒ VÀ HÌNH VẼ

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài 1

3 Đối tượng nghiên cứu và phạmvi nghiên cứu 2

4 Tình hình nghiên cứu 2

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Kết cấu luận văn 3

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ: BẢO HIỂM NHÂN THỌ, THỊ TRƯỜNG, DOANH THU, LỢI NHUẬN VÀ THỊ PHẦN CỦA BẢO HIỂM NHÂN THỌ 4

1.1 Khái quát chung về Bảo hiểm Nhân thọ 4

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của Bảo hiểm Nhân thọ 4

1.1.2 Vai trò của Bảo hiểm Nhân thọ đối với đời sống kinh tế - xã hội 8

1.1.3 Các loại hình Bảo hiểm Nhân thọ cơ bản 9

1.2 Thị trường bảo hiểm nhân thọ 11

1.2.1 Khái niệm về thị trường và thị trường Bảo hiểm Nhân thọ 11

1.2.2 Những đặc trưng cơ bản của thị trường Bảo hiểm Nhân thọ 13

1.2.3 Phân đoạn thị trường Bảo hiểm Nhân thọ 17

1.3 Khái niệm về doanh thu, lợi nhuận và thị phần của Bảo hiểm Nhân thọ 18

1.3.1 Doanh thu 18

1.3.2 Lợi nhuận 20

1.3.3 Thị phần 21

Chương 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA TỔNG CÔNG TY BẢO VIỆT NHÂN THỌ GIAI ĐOẠN 2008-2015 23

2.1 Những nhân tố tác động đến sự hình thành và phát triển của thị trường BHNT ở

Trang 4

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

2.1.1 Điều kiện kinh tế 23

2.1.2 Điều kiện văn hóa xã hội 24

2.1.3 Công nghệ thông tin 26

2.1.4 Môi trường pháp lý 26

2.2 Hoạt động kinh doanh của Tổng công ty Bảo Việt Nhân Thọ giai đoạn 2008-2015 28

2.2.1 Quá trình hình thành và phát triển 28

2.2.2 Cơ cấu tổ chức 29

2.2.3 Hệ thống sản phẩm của Bảo Việt Nhân Thọ 31

2.2.4 Quy trình khai thác của Bảo Việt Nhân Thọ 32

2.2.5 Quy trình bồi thường của Bảo Việt Nhân Thọ 34

2.2.6 Dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm 35

2.2.7 Kết quả kinh doanh của Bảo Việt Nhân Thọ giai đoạn 2008-2015 36

2.3 Nhận xét về thực trạng hoạt động của Bảo Việt Nhân Thọ giai đoạn 2008-2015 45

2.3.1 Những điểm mạnh của Bảo Việt Nhân Thọ 45

2.3.2 Những điểm yếu của Bảo Việt Nhân Thọ 48

Chương 3 GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA BẢO VIỆT NHÂN THỌ ĐẾN NĂM 2020 52

3.1 Những cơ hội và thách thức của Bảo Việt Nhân Thọ 52

3.1.1 Những cơ hội đối với Bảo Việt Nhân Thọ 52

3.1.2 Những thách thức đối với Bảo Việt Nhân Thọ 53

3.2 Chiến lược kinh doanh của Tổng Công ty Bảo Việt Nhân Thọ đến năm 2020 55 3.2.1 Xác định nhiệm vụ kinh doanh của Bảo Việt Nhân Thọ 55

3.2.2 Xác định mục tiêu phát triển của Bảo Việt Nhân Thọ 56

3.3 Một số giải pháp thúc đẩy hoạt động kinh doanh của Bảo Việt Nhân Thọ đến năm 2020 57

3.3.1 Nhóm giải pháp về quy trình khai thác và bồi thường 58

3.3.2 Nhóm giải pháp về sản phẩm 58

3.3.3 Hoàn thiện các kênh phân phối 60

3.3.4 Nâng cao dịch vụ chăm sóc khách hàng 63

Trang 5

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

KẾT LUẬN 66

PHỤ LỤC 1 67

PHỤ LỤC 2 68

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 69

Trang 6

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Bảo hiểm Nhân thọ (BHNT) ra đời sớm và đã trở nên quen thuộc đối với người dân của các nước phát triển trên thế giới Tuy nhiên, ở Việt Nam loại hình bảo hiểm này vẫn còn khá mới mẻ, tuy mới được triển khai ở Việt Nam hơn 15 năm (1996) nhưng đã và đang phát triển nhanh chóng với mức tăng trưởng cao, có sự tham gia chủ yếu của các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài trong thị trường (Bảo Minh- CMG (Dai - ichi Life), Manulife, Prudential Việt Nam, AIA, Great Eastern Việt Nam và ACE Life), đáp ứng không chỉ nhu cầu bảo hiểm – tài chính của mỗi

cá nhân, doanh nghiệp mà còn là một chế độ phúc lợi cho người lao động, giải quyết nhu cầu việc làm cho hàng trăm lao động, đóng góp nguồn thu lớn cho ngân sách Nhà nước, đẩy mạnh sự liên kết của các doanh nghiệp kinh doanh tài chính khác (Ngân hàng, bưu điện, chứng khoán…), thúc đẩy sự phát triển chung của nền kinh tế quốc dân

Với dân số hơn 85 triệu người, tỷ lệ tham gia bảo hiểm nhân thọ khoảng 8% dân số, Việt Nam được các nhà đầu tư đánh giá là một thị trường đầy tiềm năng Mặc dù là công ty ra đời sớm nhất trên thị trường Bảo hiểm Nhân thọ Việt Nam, Tổng công ty Bảo Việt Nhân Thọ (Bảo Việt Nhân Thọ) vẫn có mức doanh thu, lợi nhuận và thị phần còn chưa cao Trên cơ sở đó, việc nghiên cứu để đưa ra thực trạng hoạt động và các giải pháp thúc đẩy kinh doanh của Bảo Việt Nhân Thọ giai đoạn 2008-2015 là hết sức cần thiết có ý nghĩ về cả mặt lý luận và thực tiễn

Chính vì vậy, tôi chọn đề tài “Hoạt động kinh doanh của Tổng công ty Bảo

Việt Nhân Thọ trong giai đoạn 2008-2015” là đề tài khóa luận tốt nghiệp của

mình

2 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

Mục đích nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu thực trạng hoạt động kinh doanh của Bảo Việt Nhân Thọ (2008-2015), từ đó đề xuất giải pháp nhằm tăng trưởng doanh thu, lợi nhuận và thị phần của Tổng công ty trong giai đoạn tiếp theo Nhiệm vụ của đề tài bao gồm:

Trang 7

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

 Đề tài tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận về Bảo hiểm Nhân thọ, thị trường, doanh thu, lợi nhuận và thị phần Bảo hiểm Nhân thọ

 Hoạt động kinh doanh của một số công ty Bảo hiểm Nhân thọ trên thị trường Việt Nam trong những năm vừa qua

 Thực trạng hoạt động của Tổng công ty Bảo Việt Nhân Thọ giai đoạn 2008-2015

từ đó tìm ra vấn đề tồn tại

 Đề xuất giải pháp phát triển và mở rộng về doanh thu, lợi nhuận và thị phần của Bảo Việt Nhân Thọ trong giai đoạn tới

3 Đối tƣợng nghiên cứu và phạmvi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu: Tìm hiểu về hoạt động kinh doanh của Tổng công ty Bảo Việt Nhân Thọ trong giai đoạn 2008-2015

 Luận văn: “Giải pháp mở rộng thị phần của Tổng công ty Bảo Việt Nhân Thọ đến năm 2015”- Luận văn thạc sỹ

 Luận văn: “Đánh giá năng lực cạnh tranh của Tổng công ty Bảo Việt Nhân Thọ trong thời kỳ hậu WTO”- Luận văn thạc sỹ

 Các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Bảo Việt Nhân Thọ-PGS.TS Nguyễn Văn Định, đăng trên Tạp chí bảo hiểm (tháng 5/2005)

Các công trình nghiên cứu trên chủ yếu tập trung phân tích những cơ hội và thách thức đối với thị trường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam, thực trạng ngành Bảo hiểm nhân thọ, phân tích năng lực cạnh tranh và tác động của tự do hóa ngành dịch

vụ bảo hiểm Việt Nam và một số giải pháp tăng thị phần hay nâng cao năng lực cạnh tranh đối với Tổng công ty Bảo Việt Nhân Thọ

Tuy nhiên, chưa có một công trình nghiên cứu khoa học nào đánh giá được tổng quan về hoạt động của Tổng công ty Bảo Việt Nhân Thọ trong giai đoạn gần

Trang 8

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

đây 2008-2015 Bởi vậy nghiên cứu đề tài này nhằm đưa ra những vấn đề tồn tại trong doanh thu, lợi nhuận và thị phần của công ty Đồng thời tìm ra hướng giải pháp để thúc đẩy hoạt động kinh doanh của công ty trong giai đoạn tới là một yêu cầu cần thiết hiện nay

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp thống kê – tập hợp và phân tích mô tả số liệu: mục đích để thống kê tập hợp tài liệu và đưa ra đánh giá nhận xét Ngoài ra đề tài còn sử dụng phương pháp so sánh, khái quát hóa, phân tích, tổng hợp để nghiên cứu

6 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về: Bảo hiểm Nhân thọ, thị trường, doanh thu, lợi nhuận và thị phần Bảo hiểm Nhân thọ

Chương 2: Thực trạng hoạt động kinh doanh của Tổng công ty Bảo Việt Nhân Thọ giai đoạn 2008-2015

Chương 3: Giải pháp thúc đẩy hoạt động kinh doanh của Bảo Việt Nhân Thọ đến năm 2020

Trang 9

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ: BẢO HIỂM NHÂN THỌ, THỊ TRƯỜNG, DOANH THU, LỢI NHUẬN VÀ THỊ

PHẦN CỦA BẢO HIỂM NHÂN THỌ

1.1 Khái quát chung về Bảo hiểm Nhân thọ

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của Bảo hiểm Nhân thọ

1.1.1.1 Khái niệm

Bảo hiểm Nhân thọ (BHNT) là sự cam kết giữa người bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm, mà trong đó người bảo hiểm sẽ trả cho người tham gia (hoặc người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm) một số tiền nhất định khi có những sự kiện đã định trước xảy ra (người được bảo hiểm bị chết hoặc sống đến một thời điểm nhất định), còn người tham gia phải nộp phí bảo hiểm đầy đủ, đúng hạn Bảo hiểm Nhân thọ giải quyết những nỗi lo âu về mặt an toàn trong đời sống nhưng nó chỉ gắn liền với các biến cố liên quan đến bản thân con người như: sinh mạng, cuộc sống và tuổi thọ (Nguyễn Văn Định, 2005, tr.49)

Tuy nhiên, đứng trên góc độ pháp lý, kỹ thuật tồn tại những khái niệm khác về BHNT đó là:

 Về mặt pháp lý: BHNT là bản hợp đồng trong đó để nhận được phí bảo hiểm của người tham gia bảo hiểm (người ký kết hợp đồng) thì người bảo hiểm cam kết sẽ trả cho một người hay nhiều người thụ hưởng bảo hiểm một số tiền nhất định (đó là số tiền bảo hiểm hay một khoản trợ cấp) trong trường hợp người được bảo hiểm bị tử vong hay người được bảo hiểm sống đến một thời điểm được xác định trong hợp đồng (Thư viện Học liệu mở Việt Nam)

 Về mặt kỹ thuật: BHNT là nghiệp vụ bao hàm những cam kết mà sự thi hành những cam kết này phụ thuộc chủ yếu vào tuổi thọ của con người (Thư viện Học liệu mở Việt Nam)

Theo Luật Kinh doanh Bảo hiểm của Việt Nam (Khoản 12 – Điều 3 năm 2000) quy định: “Bảo hiểm Nhân thọ là loại nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống hoặc chết” Người được bảo hiểm và người tham gia BHNT có thể là các tổ chức, cá nhân ở các lứa tuổi khác nhau

Trang 10

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

1.1.1.2 Những đặc điểm cơ bản của Bảo hiểm Nhân thọ

a) Bảo hiểm Nhân thọ vừa mang tính tiết kiệm vừa mang tính bảo vệ tài chính

Đây là một trong những đặc điểm khác nhau cơ bản giữa BHNT với bảo hiểm Phi nhân thọ Thật vậy, mỗi người mua BHNT sẽ định kỳ nộp một khoản tiền nhỏ (gọi là phí bảo hiểm) cho Công ty Bảo hiểm, ngược lại Công ty bảo hiểm có trách nhiệm trả một số tiền lớn (gọi là số tiền bảo hiểm) cho người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm như đã thỏa thuận từ trước khi có các sự kiện bảo hiểm xảy ra Số tiền bảo hiểm (STBH) được trả khi người được bảo hiểm đạt đến một độ tuổi nhất định và được ấn định trong hợp đồng Hoặc số tiền này được trả cho thân nhân và gia đình người được bảo hiểm khi người được bảo hiểm không may bị chết sớm ngay cả khi

họ mới tiết kiệm được một khoản tiền rất nhỏ qua việc đóng phí bảo hiểm Số tiền này giúp những người còn sống trang trải những khoản chi phí cần thiết như: Thuốc men, mai táng, chi phí giáo dục cho con cái… Chính vì vậy, BHNT vừa mang tính chất tiết kiệm, vừa mang tính bảo vệ người được bảo hiểm khỏi những rủi ro tài chính Tính chất tiết kiệm thể hiện ngay ở từng cá nhân, từng gia đình một cách thường xuyên, có kế hoạch và có kỷ luật Nội dung tiết kiệm khi mua BHNT khác với các hình thức tiết kiệm khác ở chỗ: người bảo hiểm đảm bảo trả cho người tham gia bảo hiểm hay người thân của họ một số tiền rất lớn ngay cả khi họ mới tiết kiệm được một khoản tiền nhỏ Có nghĩa là, khi người được bảo hiểm không may gặp rủi

ro trong thời hạn bảo hiểm đã được ấn định, những người thân của họ sẽ nhận được những khoản trợ cấp hay STBH từ Công ty Bảo hiểm Điều đó thể hiện rõ tính chất bảo vệ tài chính cho người được bảo hiểm trước những rủi ro không lường trước được trong BHNT

b) Bảo hiểm Nhân thọ đáp ứng được rất nhiều mục đích khác nhau cho người tham

gia bảo hiểm

Trong khi các nghiệp vụ bảo hiểm Phi nhân thọ chỉ đáp ứng được một mục đích là góp phần khắc phục hậu quả rủi ro, từ đó góp phần ổn định tài chính cho người tham gia, thì BHNT ngoài mục đích đó còn đáp ứng nhiều mục đích khác Mỗi mục đích được thể hiện khá rõ trong từng loại hợp đồng Chẳng hạn, hợp đồng bảo hiểm (HĐBH) hưu trí sẽ đáp ứng nhu cầu của người tham gia những khoản trợ cấp đều đặn hàng tháng, từ đó góp phần ổn định cuộc sống của họ khi già yếu

Trang 11

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

HĐBH tử vong sẽ giúp người được bảo hiểm để lại cho gia đình một STBT khi họ

bị tử vong Số tiền này đáp ứng được rất nhiều mục đích của người quá cố như: trang trải nợ nần, giáo dục con cái, phụng dưỡng bố mẹ già… Ngoài ra, HĐBH đôi khi còn có vai trò như một vật thế chấp để vay vốn hoặc BHNT tín dụng thường được bán cho các đối tượng đi vay để họ mua xe hơi, đồ dùng gia đình hoặc dùng cho các mục đích cá nhân khác… Chính vì đáp ứng được nhiều mục đích khác nhau nên loại hình bảo hiểm này có thị trường ngày càng rộng và được rất nhiều người quan tâm

c) Thời hạn Bảo hiểm Nhân thọ thường rất dài, quan hệ giữa các bên trong mỗi hợp

đồng Bảo hiểm Nhân thọ lại rất đa dạng và phức tạp

Thời hạn trong BHNT thường kéo dài từ 5 năm trở lên Mỗi sản phẩm BHNT cũng có nhiều loại hợp đồng khác nhau, chẳng hạn BHNT hỗn hợp có các hợp đồng

5 năm, 10 năm Mỗi loại hợp đồng lại có sự khác nhau về STBH, phương thức đóng phí, độ tuổi của người tham gia… Mối quan hệ giữa các bên trong hợp đồng bảo hiểm cũng rất phức tạp Khác với các bản HĐBH Phi nhân thọ, trong mỗi HĐBH nhân thọ có thể có 4 người có liên quan: Người bảo hiểm, người được bảo hiểm, người tham gia bảo hiểm và người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm Người bảo hiểm (bên nhận bảo hiểm) là các doanh nghiệp BHNT có trách nhiệm và nghĩa vụ phải chi trả STBH theo đúng quy định trong HĐBH Người được bảo hiểm là người mà tính mạng, tình trạng sức khỏe và những sự kiện có liên quan đến tuổi thọ của họ được bảo hiểm hoặc là người giao tên tuổi của mình cho người khác đi ký HĐBH Còn người tham gia BHNT thực chất là người trực tiếp đứng ra yêu cầu bảo hiểm, thỏa thuận và kí kết hợp đồng đồng thời thực hiện nghĩa vụ nộp phí bảo hiểm Tuy nhiên, người tham gia bảo hiểm phải có đầy đủ năng lực hành vi pháp lí mà nhà nước quy định Trong hợp đồng bảo hiểm còn có người thụ hưởng quyển lợi bảo hiểm Người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm là người được hưởng STBH hoặc các khoản trợ cấp do công ty BHNT thanh toán như đã nêu trong hợp đồng Người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm do người tham gia bảo hiểm chỉ định

d) Phí Bảo hiểm Nhân thọ chịu tác động tổng hợp của nhiều nhân tố, vì vậy quá

trình định phí khá phức tạp

Trang 12

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Theo tác giả Jean – Claude Harrari: “Sản phẩm Bảo hiểm Nhân thọ không gì

hơn chính là kết quả của một tiến trình đầy đủ để đưa sản phẩm đến công chúng” Trong tiến trình này, người bảo hiểm phải bỏ ra rất nhiều chi phí để tạo nên

sản phẩm như: Chi phí khai thác, chi phí quản lý hợp đồng… Nhưng những chi phí

đó mới chỉ là một phần để cấu tạo nên giá cả sản phầm BHNT, một phần chủ yếu khác lại phụ thuộc vào:

 Độ tuổi của người được bảo hiểm

 Tuổi thọ bình quân của con người

 Số tiền bảo hiểm

 Thời hạn tham gia

 Phương thức thanh toán

 Lãi suất đầu tư

 Tỷ lệ lạm phát và thiểu phát của đồng tiền…

Khi định giá phí BHNT, một số yếu tố phải giả định như: Tỷ lệ chết, tỷ lệ hủy

bỏ hợp đồng, lãi suất đầu tư, tỷ lệ lạm phát… Vì thế, quá trình định phí ở đây khá phức tạp, đòi hỏi phải nắm vững đặc trưng của mỗi loại sản phẩm, phân tích dòng tiền tệ, phân tích được chiều hướng phát triển của mỗi sản phẩm trên thị trường nói chung

e) Bảo hiểm Nhân thọ ra đời sớm và phát triển trong điều kiện kinh tế - xã hội nhất định

Ở các nước có nền kinh tế phát triển, BHNT đã ra đời và phát triển hàng trăm năm nay Ngược lại có một số quốc gia trên thế giới hiện nay vẫn chưa triển khai được BHNT, mặc dù người ta hiểu rất rõ vai trò và lợi ích của nó Để lý giải vấn đề này, hầu hết các nhà kinh tế đề cho rằng, cơ sở chủ yếu để BHNT ra đời và phát triển là điều kiện kinh tế - xã hội phải phát triển

Những điều kiện kinh tế như: Tốc độ tăng trưởng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sản phẩm quốc nội tính bình quân trên đầu người, mức thu nhập của dân cư, tỷ lệ lạm phát của đồng tiền, tỷ giá hối đoái

Những điều kiện xã hội bao gồm: Điều kiện về dân số, tuổi thọ bình quân của người dân, trình độ học vấn, tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh…

Trang 13

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Ngoài điều kiện kinh tế - xã hội, thì môi trường pháp lý cũng ảnh hưởng không nhỏ đến sự ra đời và phát triển của BHNT Thông thường ở các nước, luật kinh doanh bảo hiểm, các văn bản, quy định có tính pháp quy phải ra đời trước khi ngành bảo hiểm phát triển Luật bảo hiểm và các văn bản có liên quan sẽ đề cập cụ thể đến các vấn đề như: Tài chính, đầu tư, hợp đồng, thuế… Đây là những vấn đề mang tính chất sống còn cho hoạt động kinh doanh BHNT Chẳng hạn, ở một số nước phát triển như: Anh, Pháp, Đức… Nhà nước thường tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp BHNT bằng các chính sách thuế ưu đãi Mục đích là nhằm tạo ra cho các cá nhân cơ hội để tiết kiệm, tự mình lập nên quỹ hưu trí, từ đó cho phép giảm bớt phần trợ cấp từ Nhà nước Mặt khác, còn đẩy mạnh được quá trình tập trung vốn trong nền kinh tế Cũng vì mục đích trên mà một số nước Châu Á như: Ấn Độ, Hồng Kông, Singapore không đánh thuế doanh thu đối với các nghiệp vụ BHNT Sự ưu đãi này là đòn bẩy tích cực để ngành BHNT phát triển

1.1.2 Vai trò của Bảo hiểm Nhân thọ đối với đời sống kinh tế - xã hội

1.1.2.1 Đối với cá nhân và gia đình

Bảo hiểm Nhân thọ đảm bảo an toàn về tài chính cho những người phụ thuộc Người trụ cột là chỗ dựa về tài chính cũng như tinh thần cho những người thân, người phụ thuộc trong gia đình Tham gia BHNT là cách để người trụ cột thể hiện trách nhiệm với người thân bởi lẽ: giúp đảm bảo khoản chi phí tài chính để khắc phục tổn thất khi người trụ cột gặp rủi ro; giúp duy trì mức sống ổn định cho gia đình khi những rủi ro bất ngờ ập đến Đồng thời, BHNT còn đáp ứng các nhu cầu như: Quỹ tiết kiệm cho tương lai học vấn của con em, quỹ tiết kiệm lâu dài cho những kế hoạch cá nhân và gia đình… Ngoài ra, BHNT còn giúp đảm bảo vững chắc nguồn tài chính khi về hưu , thanh thản hưởng tuổi già bên con cháu và có một khoản tiền nhỏ để lo chi phí, thuốc men và hậu sự hay để lại di sản thừa kế

1.1.2.2 Đối với nền kinh tế quốc dân

Bảo hiểm Nhân thọ là một trong những kênh huy động vốn hữu hiệu để đầu tư góp phần vào việc tăng trưởng và phát triển kinh tế Với tính chất kết hợp giữa bảo hiểm và tiết kiệm, các Công ty BHNT không chỉ thực hiện chức năng bảo hiểm cho những rủi ro, mà họ còn huy động được lượng tiền nhàn rỗi nằm ở các tầng lớp dân

cư trong xã hội và các tổ chức để hình thành quỹ bảo hiểm Do thời hạn của các hợp

Trang 14

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

đồng BHNT rất dài, nên nguồn quỹ bảo hiểm ngày càng được tồn tích lại rất lớn Khi chưa sử dụng đến để chi trả tiền bảo hiểm thì quỹ BHNT là một trong những nguồn vốn đầu tư dài hạn cho nền kinh tế Bên cạnh vai trò cung cấp vốn để đầu tư, BHNT còn góp phần thực hành tiết kiệm, chống lạm phát và tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động Ngoài những người làm công ăn lương trong các doanh nghiệp BHNT, đội ngũ đại lý, mô giới BHNT cũng ngày càng đông và thực sự đã góp phần giảm tỷ lệ lao động bị thất nghiệp ở rất nhiều nước trên thế giới Theo số liệu thống kê tháng 6 năm 1998, số cán bộ làm việc trong hệ thống Bảo Việt khoảng

2000 người sau hơn một năm bắt đầu tuyển những đại lý đầu tiên và bảy tháng sau khi có chính sách hỗ trợ công tác phát triển mạng lưới đại lý Còn ở Mỹ, có gần 2 triệu lao động làm việc trong ngành BHNT, ở Hồng Kông với dân số 6 triệu người thì có tới 20000 người làm ở các công ty bảo hiểm Tại Việt Nam, tính đến thời điểm 2/11/2014, có khoảng 241.000 đại lý làm việc trong các Công ty BHNT

1.1.2.3 Đối với các tổ chức kinh tế - xã hội

Bảo hiểm Nhân thọ còn thỏa mãn được những nhu cầu cần thiết của họ trong điều kiện nền kinh tế thị trường Những nhu cầu của các tổ chức kinh tế - xã hội ở đây là: Tạo sự tự chủ về mặt tài chính, khi những người giữ các cương vị quan trọng của họ bị tử vong Một doanh nghiệp có thể mua BHNT cho những người này với số tiền bảo hiểm tương đương với chi phí mà họ phải bỏ ra để đào tạo hoặc thuê mướn Không chỉ có thế các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội với biện pháp này họ còn giữ chân và khuyến khích người lao động, đặc biệt là những người chủ chốt làm việc hết mình, gắn bó với doanh nghiệp Bởi lẽ thông qua các hợp đồng BHNT theo nhóm, doanh nghiệp có thể tạo ra sự đảm bảo cho người lao động và những người sống phụ thuộc một cuộc sống ổn định khi gặp phải rủi ro Cung cấp các khoản tiền hưu trí khi hết tuổi lao động hoặc các khoản phúc lợi bổ sung ngoài Bảo hiểm Xã hội

1.1.3 Các loại hình Bảo hiểm Nhân thọ cơ bản

BHNT đáp ứng được rất nhiều mục đích khác nhau Đối với những người tham gia mục đích chính của họ là để bảo vệ con cái và những người ăn theo tránh khỏi những nỗi bất hạnh về cái chết bất ngờ của họ hoặc tiết kiệm để đáp ứng nhu cầu tài chính trong tương lai Do vậy, người bảo hiểm đã thực hiện đa dạng hóa các sản phẩm BHNT, thực chất là đa dạng hóa các loại hợp đồng nhằm đáp ứng và

Trang 15

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

thỏa mãn tối đa nhu cầu của người tham gia bảo hiểm Trong thực tế có 3 loại hình Bảo hiểm Nhân thọ cơ bản:

1.1.3.1 Bảo hiểm trong trường hợp tử vong (bảo hiểm tử kỳ)

Bảo hiểm tử kỳ hay còn gọi là bảo hiểm sinh mạng có thời hạn: là loại hình bảo hiểm được ký kết để thanh toán quyền lợi bảo hiểm trong trường hợp người được bảo hiểm tử vong trong thời hạn bảo hiểm, quyền lợi thanh toán được trả cho người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm được chỉ định trong hợp đồng hoặc người thừa

kế hợp pháp

1.1.3.2 Bảo hiểm trong trường hợp sống (còn gọi là bảo hiểm sinh kỳ)

Thực chất của loại hình bảo hiểm này là người bảo hiểm cam kết chi trả những khoản chi đều đặn trong một khoảng thời gian xác định hoặc trong suốt cuộc đời người tham gia bảo hiểm Nếu người được bảo hiểm chết trước ngày đến hạn thanh toán thì sẽ không được chi trả bất kỳ một khoản tiền nào

1.1.3.3 Bảo hiểm Nhân thọ hỗn hợp

Loại hình Bảo hiểm Nhân thọ phổ biến nhất trên khai trên thị trường là Bảo hiểm Nhân thọ hỗn hợp Thực chất của loại hình này là bảo hiểm cả trong trường hợp người được bảo hiểm bị tử vong hay còn sống Yếu tố tiết kiệm và rủi ro đan xen nhau vì thế nó được áp dụng rộng rãi ở hầu hết các nước trên thế giới Vì kết hợp được giữa các yếu tố tiết kiệm và bảo vệ nên tạo được sự khác biệt và có lợi thế cạnh tranh so với các loại hình tài chính, tín dụng khác

1.1.3.4 Các sản phẩm bảo hiểm bổ trợ

Khi triển khai các loại hình BHNT, nhà bảo hiểm còn nghiên cứu và đưa ra các sản phẩm bảo hiểm bổ trợ cho hợp đồng chính nhằm đáp ứng nhu cầu của người tham gia bảo hiểm Nếu tách riêng các sản phẩm bổ trợ thì mức phí rất thấp, không đáng kể Vì vậy nếu triển khai bổ sung cho loại hình BHNT, mặc dù mức phí có tăng lên đôi chút nhưng khách hàng vẫn cảm giác mình được hưởng nhiều quyền lợi hơn vì vậy họ tham gia đông hơn Thực tế, các sản phẩm bảo hiểm bổ trợ gồm những loại chính như: bảo hiểm nằm viện và phẫu thuật, bảo hiểm tai nạn, bảo hiểm sức khỏe, hoàn phí bảo hiểm, miễn thanh toán phí khi bị tai nạn hay thương tật toàn

bộ vĩnh viễn… nhằm tăng tính hấp dẫn để thu hút người tham gia Đặc điểm chính

Trang 16

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

của sản phẩm này là khi hợp đồng chính hết hiệu lực thì các điều khoản của sản phẩm bổ trợ cũng sẽ không còn hiệu lực nữa

Mặc dù mức phí cao hơn, nhưng các hợp đồng BHNT có các điều khoản bổ sung đã đáp ứng được nhu cầu đa dạng của người tham gia bảo hiểm

1.2 Thị trường bảo hiểm nhân thọ

1.2.1 Khái niệm về thị trường và thị trường Bảo hiểm Nhân thọ

1.2.1.1 Khái niệm về thị trường

Thị trường ra đời gắn liền với nền sản xuất hàng hóa, nó là môi trường để tiến hành các hoạt động giao dịch mang tính chất thương mại của mọi doanh nghiệp công nghiệp Trong một xã hội phát triển, thị trường không nhất thiết chỉ là địa điểm cụ thể gặp gỡ trực tiếp giữa người mua và người bán mà doanh nghiệp và khách hàng có thể chỉ giao dịch, thỏa thuận với nhau thông qua các phương tiện thông tin viễn thông hiện đại Cùng với sự phát triển sản xuất hàng hóa, khái niệm thị trường ngày càng trở nên phong phú và đa dạng Có một số khái niệm phổ biến

về thị trường như sau:

Thị trường là nơi mua bán hàng hóa, là nơi gặp gỡ để tiến hành hoạt động mua bán giữa người mua và người bán1

Thị trường là sự kết hợp giữa cung và cầu, trong đó những người mua và người bán bình đẳng cùng cạnh tranh Số lượng người mua và người bán nhiều hay

ít phản ánh quy mô của thị trường lớn hay nhỏ Việc xác định nên mua hay bán hàng hóa và dịch vụ khối lượng và giá cả bao nhiêu do quan hệ cung cầu quyết định Từ đó ta thấy thị trường còn là nơi thực hiện sự kết hợp giữa hai khâu sản xuất

và tiêu dùng hàng hóa

Khái niệm thị trường hoàn toàn không tách rời khái niệm phân công lao động

xã hội Các –Mác đã nhận định: “Hễ ở đâu và khi nào có sự phân công lao động xã

hội và có sản xuất hàng hóa thì ở đó và khi ấy sẽ có thị trường Thị trường chẳng qua là sự biểu hiện của phân công lao động xã hội và do đó có thể phát triển vô cùng tận”

1 Trích dẫn nguồn http://voer.edu.vn/

Trang 17

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Thị trường theo quan điểm Marketing, được hiểu là bao gồm tất cả những khách hàng tiểm ẩn có cùng nhu cầu hay mong muốn cụ thể, sẵn sàng và có khả năng tham gia trao đổi để thỏa mãn nhu cầu và mong muốn đó

Tóm lại, thị trường được hiểu là nơi gặp gỡ giữa cung và cầu của một loại hàng hóa, dịch vụ hàng hóa hay cho một đối tác có giá trị

1.2.1.2 Khái niệm thị trường Bảo hiểm Nhân thọ

Bảo hiểm là một ngành kinh doanh đặc biệt trong xã hội Để hoạt động kinh doanh bảo hiểm nói chung và BHNT nói riêng ra đời và phát triển, cũng đòi hỏi phải có thị trường

Theo thuật ngữ bảo hiểm: Thị trường BHNT được hiểu là nơi diễn ra các hoạt động mua và bán các sản phẩm BHNT

Như vậy, cấu thành của thị trường BHNT bao gồm :

Hàng hóa của BHNT:

Khác với các loại sản phẩm khác trên thị trường, sản phẩm BHNT không tồn tại hữu hình, không có hình dáng, kích thước, trọng lượng, mà nó là loại sản phẩm dịch vụ đặc biệt, là sản phẩm vô hình và không được bảo hộ bản quyền, là loại sản phẩm liên quan đến yếu tố rủi ro nên người mua không bao giờ muốn nó xảy ra với mình để được quyền đòi trả tiền bảo hiểm Người mua sản phẩm BHNT sẽ mong muốn sự an toàn, dự phòng tài chính khi không may gặp rủi ro và thực hiện mục đích tiết kiệm để thỏa mãn các nhu cầu khác trong tương lai

Chủ thể tham gia vào thị trường BHNT bao gồm :

Người mua (khách hàng), người bán (các doanh nghiệp kinh doanh Bảo hiểm Nhân thọ) và các tổ chức trung gian bảo hiểm:

 Người mua BHNT là những tổ chức hay cá nhân có nhu cầu tham gia bảo hiểm

 Người bán bảo hiểm hay còn gọi là người bảo hiểm là các doanh nghiệp kinh doanh Bảo hiểm Nhân thọ, họ là người ký hợp đồng bảo hiểm và cam kết chi trả số tiền bảo hiểm khi có các sự kiện bảo hiểm xảy ra

 Tổ chức trung gian hay còn gọi là người môi giới, đại lý BHNT là cầu nối giữa người mua và người bán Bảo hiểm Nhân thọ

Một "Trung gian Bảo hiểm Nhân thọ" có thể hoạt động dưới hình thức đại lý hay môi giới bảo hiểm

Trang 18

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Môi giới BHNT có thể là các tổ chức hoặc cá nhân đứng ra thu xếp bảo hiểm với các Công ty Bảo hiểm Họ có thể tư vấn về các vấn đề như: Nhu cầu bảo hiểm, hợp đồng bảo hiểm, thị trường bảo hiểm, khiếu nại, kiện tụng Môi giới BHNT có thể đại diện cho cả doanh nghiệp BHNT và người mua Bảo hiểm Nhân thọ

Đại lý BHNT có thể là tổ chức hay cá nhân được doanh nghiệp BHNT ủy quyền trên cơ sở hợp đồng đại lý Đại lý bảo hiểm thay mặt doanh nghiệp bảo hiểm bán các sản phẩm bảo hiểm của doanh nghiệp và được hưởng tiền hoa hồng theo thỏa thuận

Như vậy, đại lý thường được coi là người đại diện cho doanh nghiệp Bảo hiểm Nhân thọ

1.2.2 Những đặc trưng cơ bản của thị trường Bảo hiểm Nhân thọ

1.2.2.1 Những đặc trưng chung

Giống như các loại thị trường khác, thị trường BHNT cũng có những đặc trưng chung, cụ thể như sau:

a) Trên thị trường BHNT cung và cầu luôn biến động

Cung trên thị trường BHNT chính là các sản phẩm bảo hiểm do các doanh nghiệp kinh doanh trên thị trường cung cấp để phục vụ khách hàng của mình Các doanh nghiệp tham gia kinh doanh dịch vụ bảo hiểm trên thị trường BHNT có thể tăng hoặc giảm tùy theo nhu cầu của thị trường và sức cạnh tranh Sản phẩm BHNT ngày một nhiều và ngày càng được hoàn thiện cùng với sự phát triển của nền kinh tế

- xã hội và mức sống của người dân ngày càng cao Sản phẩm BHNT luôn được cải tiến, hoàn thiện và đổi mới nhằm đáp ứng nhu cầu phong phú của thị trường

Cầu của thị trường BHNT chính là nhu cầu về bảo hiểm của dân cư, của các tổchức xã hội, của các đơn vị sản xuất và kinh doanh ngày càng được tăng lên Khi nền kinh tế xã hội phát triển thì các tổ chức kinh tế xã hội cũng phát triển theo, đời sống vật chất, tinh thần của dân cư cũng được cải thiện do đó nhu cầu đa dạng

về dịch vụ bảo hiểm cũng tăng lên Những năm đầu của thế kỷ XX trên thị trường BHNT mới chỉ có vài chục sản phẩm nhưng đến nay con số này đã lên tới hàng trăm và đã đi sâu vào đời sống kinh tế - xã hội cũng như của mọi tầng lớp dân cư

b) Giá cả của sản phẩm Bảo hiểm Nhân thọ luôn biến động và phụ thuộc vào nhiều yếu tố

Trang 19

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Trên thị trường, giá cả của sản phẩm BHNT chính là phí bảo hiểm Phí bảo hiểm là một khoản tiền mà người mua bảo hiểm phải trả cho người bán bảo hiểm để được chi trả khi có các sự kiện bảo hiểm xảy ra Phí bảo hiểm được xác định dựa trên những cơ sở chủ yếu như: số tiền bảo hiểm, số năm của một hợp đồng, tuổi của người được bảo hiểm, lãi suất kỹ thuật mà các doanh nghiệp BHNT dùng để tính phí Phí Bảo hiểm Nhân thọ từng hợp đồng của từng khách hàng cụ thể khi ký kết thì sẽ không thay đổi trong suốt thời hạn hợp đồng

Tuy nhiên, phí BHNT luôn thay đổi theo thời gian Bởi vì mỗi thời gian có xác suất rủi ro, chi phí quản lý, chi phí khai thác, lãi suất đầu tư v.v cũng khác nhau Ngoài những yếu tố trên, phí Bảo hiểm Nhân thọ còn phụ thuộc vào quy luật cạnh tranh, cung cầu trên thị trường

c) Cạnh tranh và hợp tác luôn diễn ra trên thị trường bảo hiểm nói chung và thịtrường Bảo hiểm Nhân thọ nói riêng

Giống như các thị trường khác, trên thị trường bảo hiểm sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp khách hàng, lợi nhuận, thị phần cũng diễn ra gay gắt và quyết liệt Cạnh tranh trên nhiều khía cạnh với nhiều thủ thuật, bởi lẽ sản phẩm bảo hiểm là không có bảo hộ bản quyền và dễ bắt chước cho nên các doanh nghiệp bảo hiểm thường tập trung vào kinh doanh các sản phẩm được thị trường chấp nhận bằng cách cải tiến, hoàn thiện sản phẩm đó hơn các doanh nghiệp khác, bằng cách quảng cáo sâu rộng, hấp dẫn để thu hút khách hàng, bằng cách giảm phí, tăng tỷ lệ hoa hổng để giành giật khách hàng, chiếm lĩnh thị trường Thực tế này được chứng minh rất rõ ở Việt Nam khi thị trường bảo hiểm chuyển từ độc quyền sang cạnh tranh với nhiều doanh nghiệp thuộc nhiều thành phần kinh tế tham gia

Trên thị trường bảo hiểm, cùng với sự cạnh tranh là sự hợp tác giữa các doanh nghiệp bảo hiểm Cạnh tranh càng mạnh thì hợp tác càng phát triển Hợp tác thường diễn ra giữa các doanh nghiệp lớn có thế mạnh để hòa hoãn, cùng phát triển tránh gây thiệt hại cho nhau Hợp tác có thể diễn ra giữa các doanh nghiệp nhỏ với doanh nghiệp lớn để tăng sức mạnh, đảm bảo an toàn trong cạnh tranh và thêm đổng minh trong cạnh tranh Hợp tác còn là nhu cầu đối với những thị trường bảo hiểm mới hình thành và phát triển trước thị trường thế giới đã ổn định và hợp tác cũng là xu hướng của hội nhập và toàn cầu hoá

Trang 20

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

d) Thị phần của các doanh nghiệp Bảo hiểm Nhân thọ luôn thay đổi

Mỗi doanh nghiệp bảo hiểm đều có những chiến lược và nỗ lực riêng để khai phá thị trường, và chiếm lĩnh thị phần Thị phần càng lớn chứng tỏ vị thế của doanh nghiệp càng cao, sức cạnh tranh và hiệu quả cạnh tranh của doanh nghiệp càng mạnh Trên thị trường BHNT thị phần của các doanh nghiệp luôn thay đổi hoặc do

số lượng doanh nghiệp tham gia vào thị trường thay đổi, cũng có thể do chiến lược giữ vững và phát triển thị phần của từng doanh nghiệp tập trung vào thay đổi chiến lược kinh doanh, chiến lược marketing, chiến lược sản phẩm, chiến lược giá cả, phát triển thương hiệu, quan hệkhách hàng

1.2.2.2 Những đặc trưng riêng có của thị trường Bảo hiểm Nhân thọ

a) Thị trường Bảo hiểm Nhân thọ chịu sự tác động trực tiếp của những điều kiện kinh tế - xã hội, trình độ dân trí và mức sống của các tầng lớp dân cư

Điều kiện kinh tế - xã hội phải kể đến đó là: Tốc độ tăng trưởng và ổn định của nền kinh tế, cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, cơ cấu các ngành kinh tế, cơ cấu dân số… Một khi kinh tế - xã hội phát triển thì trình độ dân trí sẽ ngày càng được nâng cao và mức thu nhập của người dân sẽ ngày càng được cải thiện và chỉ có như vậy mới phát sinh nhu cầu Bảo hiểm Nhân thọ Tháp nhu cầu của Abraham Maslow_ một nhà tâm lý học nổi tiếng đã phản ánh được nhu cầu của mọi người trong xã hội

Biểu đồ 1.1 : Tháp nhu cầu của Abraham Maslow

Theo tháp nhu cầu của Abraham Maslow, nhu cầu đầu tiên và quan trọng nhất,

cơ bản nhất của con người là nhu cầu sinh lý hay còn gọi là nhu cầu vật chất tối thiểu (ăn, mặc, ở, đi lại,…) Một khi nhu cầu này chưa được đáp ứng thì các nhu

Trang 21

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

cầu khác của con người chưa được coi trọng Chỉ khi con người đáp ứng và thỏa mãn các nhu cầu tối thiểu thì họ mới quan tâm đến các nhu cầu khác cao hơn Do vậy, khi điều kiện kinh tế - xã hội thấp kém, thu nhập của người dân còn thấp và chưa trang trải các nhu cầu sinh lý thì dẫu họ có nhận thức được vai trò của Bảo hiểm Nhân thọ cũng không thể quan tâm đến việc tham gia BHNT

Vì thế, điều kiện kinh tế - xã hội và mức sống của người dân là nhân tố tác động trực tiếp đến nhu cầu bảo hiểm và thị trường Bảo hiểm Nhân thọ Ở những nước có nền kinh tế phát triển, con người ý thức hơn trong vấn đề phải đối mặt với

ốm đau, bệnh tật và các loại rủi ro Cho nên, nhu cầu bảo hiểm nói chung và Bảo hiểm Nhân thọ nói riêng thường rất cao, bởi họ mong muốn được đảm bảo trên nhiều phương diện Một ví dụ điển hình tại các nước phát triển là Mỹ và Nhật Bản,

tỷ lệ người tham gia Bảo hiểm Nhân thọ lên đến 90% Trái lại, ở các nước kém phát triển ngoài lý do thu nhập chi phối, người dân nhận thức không đầy đủ về rủi ro và hậu quả của rủi ro nên nhu cầu Bảo hiểm nhân thọ ở những nước này rất thấp và thị trường Bảo hiểm Nhân thọ không phát triển Tại Việt Nam, tính đến nay tỷ lệ người tham gia Bảo hiểm Nhân thọ vẫn duy trì ở mức 8% năm 2014

b) Thị trường Bảo hiểm Nhân thọ có dung lượng khách hàng lớn

Khách hàng của thị trường Bảo hiểm Nhân thọ phải kể đến đó là: người được bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm Người được bảo hiểm nhân thọ bao gồm mọi lứa tuổi khác nhau không phân biệt nam, nữ, dân tộc, quốc tịch… Còn người tham gia bảo hiểm nhân thọ có thể là người được bảo hiểm và cũng có thể họ tham gia ký kết hợp đồng cho người thân hoặc những người có quan hệ với họ

Hơn nữa, Bảo hiểm Nhân thọ là loại hình bảo hiểm con người tùy theo nhu cầu và khả năng tài chính, một người có thể tham gia nhiều loại sản phẩm BHNT khác nhau, thậm chí một loại sản phẩm họ có thể ký kết nhiểu hợp đồng ở nhiều Công ty Bảo hiểm Nhân thọ cùng một lúc và như vậy dung lượng khách hàng của thị trường Bảo hiểm Nhân thọ là rất lớn

c) Thị trường Bảo hiểm Nhân thọ là thị trường dịch vụ tài chính

Khác với các loại hình bảo hiểm khác, thời hạn có hiệu lực của hợp đồng BHNT thường rất dài (tối thiểu 5 năm), cho nên nó chịu sự tác động rất lớn của yếu

tố lạm phát Theo quy luật chung, nếu nền kinh tế phát triển ổn định, lạm phát được

Trang 22

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

kiểm soát chặt chẽ, thì quá trình phát triển của thị trường sẽ rất ổn định Ngược lại, nếu lạm phát cao thì thị trường sẽ chịu tác động lớn Khác với bảo hiểm phi nhân thọ, Bảo hiểm Nhân thọ có yếu tố tiết kiệm, trong đó thời hạn bảo hiểm dài nên người dân rất quan tâm tới vấn đề lạm phát Trong những thời kỳ nền kinh tế kém phát triển lạm phát cao người dân ít quan tâm đến việc tham gia Bảo hiểm Nhân thọ

Thị trường Bảo hiểm Nhân thọ là thị trường dịch vụ tài chính, nên thị trường BHNT còn chịu nhiều sự kiểm tra và giám sát rất chặt chẽ của Nhà nước Nhà nước

có thể can thiệp khá sâu vào các hoạt động của doanh nghiệp BHNT Bên cạnh đó, Nhà nước không những quyết định sản phẩm Bảo hiểm Nhân thọ được phép kinh doanh trên thị trường, mà còn kiểm tra, giám sát rất chặt chẽ việc trích lập dự phòng phí Bảo hiểm Nhân thọ, quản lý số hợp đồng BHNT của các công ty bảo hiểm

1.2.3 Phân đoạn thị trường Bảo hiểm Nhân thọ

Thị trường bảo hiểm rất đa dạng và phong phú, người ta có thể đưa ra các tiêu thức khác nhau để phân đoạn từng khúc thị trường tùy theo mục đích nghiên cứu Song điều cốt lõi của phân đoạn thị trường là nhằm phục vụ cho việc khai thác, thâm nhập thị trường, thu hút khách hàng để nâng cao thị phần, đạt hiệu quả trong kinh doanh Thị trường BHNT thường được phân đoạn theo các tiêu thức sau đây:

1.2.3.1 Phân đoạn theo địa lý

Nhằm chia thị trường theo nhu cầu và sở thích của người dân theo từng địa phương khác nhau như thị trường BHNT trong nước, thị trường BHNT quốc tế Ngay thị trường BHNT trong nước cũng có thể chia ra thị trường vùng, tỉnh…

1.2.3.2 Phân đoạn theo nhân khẩu học

Đây là phương pháp phân đoạn thị trường tiên tiến và tổng hợp Phương pháp này dựa trên cơ sở về tuổi, giới tính, quy mô gia đình, thu nhập, nghề nghiệp, trình

độ văn hóa hay tôn giáo, dân tộc… Những yếu tố này là cơ sở thông dụng nhất để phân biệt nhóm khách hàng này với nhóm khách hàng khác, bởi vì nhu cầu, mong muốn và mức độ sử dụng một loại sản phẩm của các nhóm có sự khác nhau Chẳng hạn, nữ giới luôn có ý thức tiết kiệm và quan tâm rất nhiều đến việc giáo dục con cái, vì vậy sản phẩm BHNT An Sinh Giáo dục rất phù hợp với họ Hoặc những người có thu nhập cao, họ rất quan tâm đến các sản phẩm BHNT trọn đời, bởi đây

Trang 23

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

là những sản phẩm đáp ứng được các nhu cầu giữ gìn tài sản và khởi nghiệp kinh doanh của con em họ

1.2.3.3 Phân đoạn theo tâm lý người tiêu dùng

Cách phân đoạn này là dựa vào đặc tính của các tầng lớp dân cư trong xã hội Tầng lớp xã hội là một trong những yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến nhu cầu và sở thích trong tiêu dùng sản phẩm Vì vậy, trong kinh doanh, các doanh nghiệp thường quan tâm đến thiết kế sản phẩm và dịch vụ hướng theo nhu cầu của từng tầng lớp, tạo ra những sản phẩm phù hợp với yêu cầu của từng tầng lớp để thu hút khách hàng Có những tâm lý người tiêu dùng phổ biến như sau:

 Tâm lý người cao tuổi: Họ không muốn sống phụ thuộc vào con cái và phúc lợi xã hội nên các sản phẩm niên kim nhân thọ là rất phù hợp với họ

 Tâm lý người có thu nhập cao: Họ luôn mong muốn được bảo vệ, được an toàn khi phải đối mặt với những bệnh hiểm nghèo như: Ung thư, thần kinh, tim mạch…

 Tâm lý người có thu nhập trung bình: Họ luôn muốn tiết kiệm cho các kế hoạch

và dự định tương lai như xây nhà, mua xe hay cho con đi học…

Chính vì thế, các nhà BHNT luôn đa dạng hóa sản phẩm bằng các điều khoản

bổ sung sẽ đáp ứng được nhu cầu của họ

1.2.3.4 Phân đoạn theo hành vi người tiêu dùng

Theo cách phân đoạn này thì khách hàng được chia thành các nhóm dựa trên kiến thức, thái độ, mức độ sử dụng và phản ứng của họ đối với một loại sản phẩm Căn cứ vào hành vi người tiêu dùng sẽ biết được sản phẩm nào được khách hàng ưa chuộng, sản phẩm nào cần phải cải tiến, hoàn thiện cho phù hợp với nhu cầu của người sử dụng

Tóm lại, phân đoạn thị trường rất có ý nghĩa đối với doanh nghiệp kinh doanh nói chung và kinh doanh BHNT nói riêng Việc phân đoạn thị trường sẽ tạo cơ hội kinh doanh cho các doanh nghiệp trên từng đoạn thị trường Trong kinh doanh, các doanh nghiệp phải lựa chọn thị trường phù hợp với khả năng và tiềm lực của mình, mặt khác phải tận dụng lợi thế so sánh, phải xây dựng chiến lược kinh doanh hợp lý

để chiếm lĩnh thị trường, tiêu thụ sản phẩm nhằm đạt mục đích trong kinh doanh

1.3 Khái niệm về doanh thu, lợi nhuận và thị phần của Bảo hiểm Nhân thọ 1.3.1 Doanh thu

Trang 24

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

1.3.1.1 Khái niệm về doanh thu

Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam Chuẩn mực số 14: “Doanh thu và thu nhập

khác” quy định : “ Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu

được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm phát triển vốn chủ sở hữu”

Doanh thu của doanh nghiệp bao gồm doanh thu bán hàng, doanh thu cung cấp dịch vụ, hoạt động tài chính và các hoạt động bất thường

1.3.1.2 Doanh thu Bảo hiểm Nhân thọ

Doanh thu phí bảo hiểm của các công ty Bảo hiểm Nhân thọ gồm:

 Doanh thu phí gốc: là tổng số tiền thu về phí bảo hiểm gốc từ các hợp đồng BHNT được ký kết với người được bảo hiểm trong kỳ báo cáo

 Doanh thu nhận tái bảo hiểm: là tổng số tiền thu về phí nhận tái bảo hiểm và thu khác từ công ty nhượng tái bảo hiểm

 Thu hoa hồng nhượng tái bảo hiểm: Khoản thu hoa hồng do công ty nhận tái bảo hiểm chuyển nhượng do đã khai thác hợp đồng giúp công ty nhận tái bảo hiểm và thu bồi thường

 Thu khác hoạt động kinh doanh BHNT gồm:

 Thu nhận tái bảo hiểm: phản ánh thu khác của các hoạt động nhận tái bảo hiểm trong kỳ báo cáo

 Thu nhượng tái bảo hiểm: phản ánh doanh thu khác của hoạt động nhượng bảo hiểm trong kỳ báo cáo

 Thu khác: Phản ánh doanh thu các hoạt động khác của bảo hiểm như: thu giám định, đánh giá rủi ro, thu xét bồi thường, thu đòi người thứ 3, thu hoa hồng đại lý…

Cách xác định doanh thu thuần:

Trang 25

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Doanh thu thuần = Doanh thu phí gốc + Doanh thu nhận tái bảo hiểm – Các khoản giảm trừ ± tăng (giảm) dự phòng phí, dự phòng toán học + Thu hoa hồng nhượng tái bảo hiểm + Thu khác của hoạt động bảo hiểm

Trong đó, dự phòng toán học là khoản chênh lệch giữa giá trị hiện tại của số tiền bảo hiểm và số tiền hiện tại của phí bảo hiểm sẽ thu được trong tương lai, được

sử dụng để trả tiền bảo hiểm đối với những trách nhiệm đã cam kết khi xảy ra sự kiện bảo hiểm

1.3.2 Lợi nhuận

1.3.2.1 Khái niệm của lợi nhuận

Mục tiêu truyền thống và quan trọng của một chủ công ty theo lý thuyết là đạt tối đa lợi nhuận và giả thuyết này rất vững chắc Tuy nhiên có rất nhiều quan điểm khác nhau về lợi nhuận:

Theo quan điểm của các nhà kinh tế học cổ điển trước Marx: “Cái phần trội

lên nằm trong giá bán so với chi phí sản xuất là lợi nhuận”

Theo Karl Marx cho rằng: “Giá trị thặng dư hay cái phần trội lên trong toàn

bộ giá trị của hàng hóa trong đó lao động thặng dư chính là lao động không được trả công của công dân đã được vật hóa thì được gọi là lợi nhuận”

Nhà kinh tế học hiện đại P.A.Samuelson và W.D.Nordhaus thì định nghĩa

rằng: “Lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa tổng thu nhập của một công ty và tổng

chi phí”

Tóm lại, lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng của các hoạt động sản xuất kinh doanh, là chỉ tiêu chất lượng đánh giá hiệu quả kinh tế các hoạt động của doanh nghiệp Từ góc độ của nhà quản trị tài chính doanh nghiệp có thể thấy rằng:

Lợi nhuận của doanh nghiệp là khoản tiền chênh lệch giữa thu nhập (income) và chi phí (expenses) mà doanh nghiệp bỏ ra để đạt được thu nhập từ các hoạt động của doanh nghiệp đưa lại

1.3.2.2 Lợi nhuận Bảo hiểm Nhân thọ

Hoạt động kinh doanh BHNT bao gồm kinh doanh bảo hiểm gốc, kinh doanh tái bảo hiểm (bao gồm nhượng và nhận tái bảo hiểm) và các hoạt động trung gian bảo hiểm khác liên quan như đại lý bảo hiểm, giám định tổn thất v.v… Đây là hoạt động thực hiện chức năng và nhiệm vụ chủ yếu của DNBH Về mặt lý thuyết chung,

Trang 26

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

lợi nhuận từ hoạt động chính phải chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ lợi nhuận của doanh nghiệp Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh BHNT là khoản chênh lệch giữa doanh thu trừ đi chi phí của hoạt động kinh doanh bảo hiểm gốc và tái bảo hiểm

Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh BHNT xác định theo công thức:

Lợi nhuận kinh

doanh BHNT =

Doanh thu hoạt động kinh doanh BHNT

kinh doanh BHNT Chi phí hoạt động

 Chi phí hoạt động kinh doanh BHNT bao gồm:

 Chi phí từ hoạt động bảo hiểm: chi phí hợp đồng mới, chi phí quản lý hợp đồng, chi phí thu phí, chi phí bồi thường bảo hiểm…

 Chi phí từ hoạt động tài chính

 Chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp

Công thức tính thi phần theo Doanh số:

TPds = Doanh số bán hàng của Doanh nghiệp/ Tổng doanh số của toàn thị trường

Công thức tính thị phần theo sản phẩm:

TPsp = Số sản phẩm bán được của Doanh nghiệp/ Tổng sản phẩm tiêu thụ của thị trường

1.3.3.2 Thị phần Bảo hiểm Nhân thọ

Trong hoạt động kinh doanh Bảo hiểm Nhân thọ với nhiều doanh nghiệp bảo hiểm khác nhau, thị phần mà các doanh nghiệp chiếm lĩnh cũng căn cứ theo hai tiêu chí cơ bản: số hợp đồng Bảo hiểm Nhân thọ mà Công ty Bảo hiểm Nhân thọ khai

Trang 27

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

thác được so với tổng số hợp đồng toàn thị trường tại một thời điểm nào đó, ngoài

ra, thị phần mà các doanh nghiệp Bảo hiểm Nhân thọ chiếm lĩnh còn được tính theo tiêu chí Tổng doanh thu phí Bảo hiểm Nhân thọ hàng năm

Công thức tính thị phần theo Tổng doanh thu phí bảo hiểm (năm):

TPdt = Doanh thu phí bảo hiểm hàng năm của Doanh nghiệp/ Tổng doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường trong năm đó

Công thức tính thị phần theo HĐ bảo hiểm cố hiệu lực (tại một thời điểm):

TPhđ = Số hợp đồng có hiệu lực tại một thời điểm của Doanh nghiệp/ Tổng số hợp đồng có hiệu lực tại một thời điểm của toàn thị trường

Trang 28

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Chương 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA TỔNG CÔNG TY BẢO VIỆT NHÂN THỌ GIAI ĐOẠN

2008 – 2015

2.1 Những nhân tố tác động đến sự hình thành và phát triển của thị trường BHNT ở Việt Nam

2.1.1 Điều kiện kinh tế

Kể từ năm 1996, khi Bảo Việt triển khai sản phẩm BHNT đầu tiên cho đến nay, tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam tiếp tục phát triển và ổn định sau những năm đầu mở cửa và cải cách Mặc dù, kinh tế - xã hội nước ta năm 2014 diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới phục hồi chậm sau suy thoái toàn cầu: chỉ số lạm phát cao, chỉ số CPI tăng và rủi ro liên quan tới nợ xử lý nợ xấu ngân hàng, tình trạng trị trệ chưa khởi sắc của thị trường bất động sản, tình hình ngân sách khó khăn… là những thách thức lớn đối với nền kinh tế Tuy nhiên, kinh tế tăng trưởng

và thu nhập dân cư ổn định là điều kiện hết sức quan trọng cho sự phát triển của thị trường BHNT

Mức tăng trưởng GDP (%)

GDP bình quân đầu người (USD)

Thu nhập bình quân đầu người (USD)

Trang 29

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Số liệu bảng 2.1 cho thấy, nếu như năm 2000 GDP của Việt Nam chỉ là 31172,5 triệu USD thì đến năm 2010 con số này đạt đến 110686,0 gấp 3 lần so với năm 2000 sau 10 năm phát triển Hơn thế, năm 2014 vừa qua tổng sản phẩm quốc nội (GDP) đạt được 184 tỷ USD tương đương với 3.937.856 tỷ đồng tăng 5.98% so với năm 2013 Mức tăng trưởng này cao hơn mức tăng 5,25% của năm 2012 và 5,42% của năm 2013 cho thấy dấu hiệu tích cực của nền kinh tế Với mức tăng trưởng như vậy, Việt Nam trở thành nước có tốc độ tăng trưởng GDP cao thứ 2 thế

giới (sau Trung Quốc)

2.1.1.2 Thu nhập dân cư

Trình độ dân trí và mức sống dân cư ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của thị trường Bảo hiểm Nhân thọ Điều đó được minh chứng ở các nước phát triển hoặc đang phát triển, khi trình độ của người dân ngày càng được nâng cao, mức sống dân

cư được đảm bảo thì Bảo hiểm Nhân thọ mới xuất hiện và có cơ hội phát triển Trong những năm gần đây, thu nhập của người Việt Nam được cải thiện đáng

kể Khi vào năm 1988, tức là cách đây 1/4 thế kỷ, Việt Nam mới đạt 86 USD, là một trong vài chục nước có thu nhập bình quân đầu người thấp nhất thế giới Hiện tại năm 2014, GDP bình quân đầu người Việt Nam đã đạt đến ngưỡng 2.028 USD/người/năm tương đương với 169 USD/tháng cho thấy một sự chuyển biến lớn trong mức sống và thu nhập của người dân Từ một nước có thu nhập thấp, năm

2010 Việt Nam đã chuyển vị thế sang nhóm nước có thu nhập trung bình (thấp) Mức tăng thu nhập GDP bình quân đầu người tính bằng USD theo tỷ giá hối đoái bình quân đạt 15%/năm

2.1.2 Điều kiện văn hóa xã hội

2.1.2.1 Dân số

Là một trong những quốc gia có dân số đông nhất thế giới, Việt Nam có tiềm năng rất lớn về BHNT Mặc dù trong những năm gần đây dân số nước ta tiếp tục tăng, nhưng tốc độ tăng đã được kiểm soát, luôn thấp hơn 1,5% (theo số liệu Tổng cục thống kê_GSO) Đến nay, quy mô dân số đã đạt mức 90,73 triệu người Nước ta

là một trong những nước đông dân nhất thế giới: đứng thứ 3 khu vực Đông Nam Á, thứ 8 Châu Á và giữ vị trí thế 14 trên thế giới Thế nhưng số người tham gia BHNT mới khoảng hơn 7 triệu người, chiếm khoảng 8% dân số, so với các nước trong khu

Trang 30

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

vực và trên thế giới thì tỷ lệ này còn rất khiêm tốn Chẳng hạn ở Mỹ và Nhật Bản tỷ

lệ người tham gia BHNT trên dân số là 90%, tỷ lệ này ở Singapore là 50%, tại Maylaysia là 10%2

Một điều đáng chú ý, cơ cấu dân số Việt Nam thuộc nhóm dân số trẻ với 52% triệu người trong độ tuổi lao động, chiếm hơn 60% tổng dân số, tuổi thọ trung bình không ngừng được cải thiện từ 50 tuổi trong những năm 1960 tăng lên 72 tuổi năm

2005 Với cơ cấu như vậy, Việt Nam trở thành quốc gia có nguồn lao động dồi dào

và là tiềm năng lớn cho sự phát triển kinh tế của nước ta

Theo tính toán của Liên hợp quốc độ tuổi từ 0 đến 24 chiếm 70,3% dân số

2005 và giảm còn 64% năm 2010 và dự đoán năm 2020 là 54,6% Cũng theo dự báo của cơ quan này dân số Việt Nam sẽ đạt khoảng 100 triệu vào năm 2020 Với dân

số đông và trẻ, Việt Nam được đánh giá là một thị trường tiềm năng để phát triển sản phẩm Bảo hiểm Nhân Thọ3

2.1.2.2 Giáo dục

Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn về giáo dục trong những năm gần đây Trước hết, chúng ta đã hoàn thành Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDG) về phổ cập giáo dục tiểu học trước năm 2015 Hơn nữa, Việt Nam đã xây dựng được một hệ thống giáo dục đầy đủ các cấp học ở mọi vùng, miền với nhiều loại hình trường lớp với số lượng học sinh các cấp ngày một tăng Năm học 2004-

2005, đã có 22 triệu học sinh, sinh viên theo học trong hơn 37000 cơ sở giáo dục – đào tạo Điều đó cho thấy trình độ dân trí của nước ta ngày càng tăng Thực tế này cho thấy truyền thống hiếu học của dân tộc ta và cũng cho thấy tiềm năng của BHNT trong những năm tới đối với các sản phẩm bảo hiểm dành riêng cho lứa tuổi học đường, bảo hiểm đến tuổi trưởng thành, bảo hiểm an sinh giáo dục

2.1.2.3 Văn hóa

Việt Nam là một nước ở phương Đông, chịu ảnh hưởng to lớn của Nho giáo, gia đình và tình cảm ruột thịt luôn được người Việt Nam hết sức coi trọng Với tinh thần tương thân, tương ái, lá lành đùm lá rách, chia sẻ ngọt bùi, mỗi người dân Việt Nam luôn sẵn lòng chia sẻ những khó khăn mà đồng bào phải gánh chịu Chính nét

2 Trích dẫn Báo Lao Động số 159 B.C

3 Nguồn: Điều tra Lao động - Việc làm năm 2010, Tổng cục thống kê

Trang 31

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

đặc trưng văn hóa này sẽ là một yếu tố quan trọng để tạo nên một thị trường BHNT hết sức hấp dẫn tại Việt Nam Bởi vì, BHNT là sự biểu lộ sự sâu sắc trách nhiệm và tình thương bao la đối với người dân và gia đình Hơn nữa, người Việt Nam còn có nét đặc trưng về tính cách đó là tiết kiệm, luôn dành dụm để đảm bảo cuộc sống cho mình và người thân trong tương lai Trong khi đó, BHNT là một công cụ hữu hiệu,

là giải pháp mới để thực hiện những nhu cầu thiết thực này của người dân

2.1.3 Công nghệ thông tin

Thế kỷ XXI có thể nói là thế kỷ của khoa học kỹ thuật, với sự ra đời của hàng loạt các phát minh sáng chế, làm cho lĩnh vực khoa học kỹ thuật có những phát triển nhảy vọt Sự phát triển của khoa học kỹ thuật đã thúc đẩy các nền kinh tế của các quốc gia phát triển với một tốc độ nhanh chưa từng có Khoa học kỹ thuật đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp của nền kinh tế Nhờ có sự phát triển của khoa học kỹ thuật mà BHNT tiếp cận với người dân ngày càng nhanh và dễ dàng hơn Các sản phẩm BHNT được tìm hiểu không chỉ trên các phương tiện truyền thông như tivi, báo chí mà còn được biết đến rộng rãi trên Internet qua báo mạng, facebook hay các trang báo điện tử Đó là một lợi thế giúp BHNT ngày càng trở nên gần gũi với người dân Việt Nam

2.1.4 Môi trường pháp lý

Mặc dù trong những năm gần đây thị trường bảo hiểm Việt Nam đã tăng trưởng ở mức hai con số sau khi Việt Nam mở cửa thị trường và gia nhập Tổ Chức Thương Mại Quốc tế (WTO) năm 2007, nhưng các doanh nghiệp bảo hiểm đang phải vật lộn với những bất ổn kinh tế vĩ mô cũng như các thay đổi về mặt pháp lý của Việt Nam gần đây Bất kể những trở ngại này, nhu cầu về bảo hiểm tiếp tục tăng và Việt Nam hiện nay có 29 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ và 17 doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ hoạt động dưới sự quản lý của Cục Quản lý và Giám Sát Bảo Hiểm (ISA) trực thuộc Bộ Tài Chính (MOF)

Chính phủ và MOF hiện đang tiến hành tái cơ cấu lĩnh vực bảo hiểm thông qua việc ban hành một loạt văn bản mới tạo ra khung pháp lý chặt chẽ hơn cho các doanh nghiệp bảo hiểm và khách hàng Đến năm 1993, với sự ra đời của Nghị định 100CP của Chính phủ đã tạo tiền đề pháp lý quan trọng cho sự phát triển của thị

Trang 32

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

trường bảo hiểm Việt Nam nói chung và thị trường Bảo hiểm Phi nhân thọ Việt Nam nói riêng

Nhận thức rõ tầm quan trọng của việc duy trì thị trường phát triển lành mạnh,

ổn định và bền vững, Bộ Tài Chính đã có nhiều nỗ lực để tiếp tục hoàn thiện môi

trường pháp lý về kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam Ngày 09/12/2000 Luật kinh

doanh bảo hiểm đã được Quốc hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

thông qua Sau đó vào ngày 24 tháng 11 năm 2010, Quốc Hội Việt Nam đã sửa đổi Luật Bảo Hiểm và có hiệu lực vào ngày 1 tháng 7 năm 2011 Trên cơ sở đó, Chính Phủ ban hành Nghị Định số 123/2011/NĐ-CP ngày 28 tháng 12 năm 2011 hướng dẫn thi hành Luật Bảo Hiểm Sửa Đổi Gần đây MOF đã ban hành Thông Tư số 124/2012/TT-MOF ngày 30 tháng 7 năm 2012 (Thông tư 124) về việc kinh doanh bảo hiểm và Thông Tư số 125/2012/TT-MOF ngày 30 tháng 7 năm 2012 (Thông

Tư 125) hướng dẫn chi tiết về chế độ tài chính đối với doanh nghiệp bảo hiểm Vào ngày 18 tháng 9 năm 2012, Bộ Trưởng Bộ Tài Chính Việt Nam đã ban hành Quyết Định số 2330/QĐ- MOF về việc phê duyệt kế hoạch trển khai thực hiện các giải pháp phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam trong giai đoạn 2011 -2015

Kế hoạch này bao gồm nhiều vấn đề trong đó bao gồm đề án tái cấu trúc doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam và phân loại các doanh nghiệp bảo hiểm thành bốn nhóm chính

Nhìn chung, khung pháp lý về kinh doanh bảo hiểm đã được hình thành tương đối hoàn chỉnh, từng bước đi vào cuộc sống và phát huy được những tác dụng tích cực của nó Hệ thống các văn bản pháp quy này đáp ứng được yêu cầu phát triển thị trường bảo hiểm và là công cụ quan trọng giúp cho việc quản lý thị trường bảo hiểm phát triển an toàn, hiệu quả Đề án tái cấu trúc ngành bảo hiểm vừa được công bố gần đây đã cho thấy MOF đã thấy được những điểm hạn chế của ngành bảo hiểm hiện nay và đang cố gắng để kiểm tra và giám sát hoạt động này nhằm đạt được sự quản lý hiệu quả hơn đối với doanh nghiệp bảo hiểm, vì lợi ích doanh nghiệp bảo hiểm cũng như của khách hàng4

4 Nguồn: Công ty Luật Frasers- Bản tin pháp luật tháng 1 năm 2013

Trang 33

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

2.2 Hoạt động kinh doanh của Tổng công ty Bảo Việt Nhân Thọ giai đoạn 2008-2015

 Năm 1997: Bảo Việt đã bước qua sự lạ lẫm rụt rè của năm 1996, thay vào đó là những bước đi ngày một tự tin và vững chắc Một loạt các phong trào tổ chức giới thiệt về Bảo hiểm Nhân thọ diễn ra mạnh mẽ tại các hội nghị lớn ở trường học, cơ quan, bệnh viện,… trên khắp cả nước Đồng thời người dân Hà Nội cũng biết đến Bảo hiểm Nhân thọ qua loa phát thanh của 36 phường nội thành Kết quả là năm

1997, Bảo Việt Nhân Thọ hoàn thành 270,8% kế hoạch của năm, số hợp đồng khai thác gấp 12 lần năm 1996

 Năm 2000: Thành lập 27 Công ty Bảo hiểm Nhân Thọ tại các tỉnh

 Năm 2001: Với mô hình quản lý hiệu quả Bảo Việt được tổ chức BVQI cấp chứng nhận ISO 9001:2000, thể hiện chất lượng quản lý đạt tiêu chuẩn quốc tế Tiếp tục thành lập 32 Công ty và Chi nhánh Bảo hiểm Nhân thọ tại các tỉnh còn lại

 Năm 2003 – 2004: Bảo Việt tách 2 Tổng Công ty hạch toán độc lập đó là Tổng công ty Bảo hiểm Nhân thọ Việt Nam (gọi tắt là Bảo Việt Nhân Thọ), với số vốn điều lệ là 1500 tỷ đồng và Tổng công ty Bảo hiểm Việt Nam (Gọi tắt là Bảo Việt Việt Nam) với số vốn điều lệ là 900 tỷ đồng

 Ngày 23/01/2008: Tập đoàn Bảo Việt chính thức ra mắt; đồng thời công bố thành lập các công ty con do Tập đoàn Bảo Việt đầu tư 100% vốn: Tổng công ty Bảo hiểm Bảo Việt, Tổng công ty Bảo Việt Nhân Thọ, Công ty Quản lý Quỹ Bảo Việt

 Ngày 07/02/2010: Tập đoàn Bảo Việt đạt cúp “Thương hiệu uy tín – sản phẩm chất lượng vàng được người tiêu dùng Việt Nam bình chọn năm 2010”

Trang 34

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

 Ngày 09/10/2010: Tổng Giám đốc Bảo Việt Nhân thọ - Ông Nguyễn Đức Tuấn nhận giải thưởng “100 doanh nhân tiêu biểu – Cúp Thánh Gióng 2010”

 Ngày 30/06/2011: BVNT hoàn thành tập trung hóa công tác tài chính kế toán Đây là bước ngoặt quan trọng đánh dấu sự trưởng thành và thay đổi lớn về chất, hứa hẹn sự tăng trưởng về lượng của BVNT

 Ngày 19/12/2013: Tăng vốn điều lệ lên 2,000.000.000 tỷ đồng Việt Nam, trở thành doanh nghiệp dẫn đầu thị trường bảo hiểm nhân thọ về quy mô vốn

Sau hơn 50 năm xây dựng và phát triển, Bảo Việt luôn tự hào là một doanh nghiệp lâu đời nhất, lớn nhất và giữ vai trò chủ đạo trên thị trường bảo hiểm Việt Nam

2.2.2 Cơ cấu tổ chức

 Sơ đồ tổ chức của Tổng công ty Bảo Việt Nhân Thọ

Trang 35

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức của Tổng công ty Bảo Việt Nhân Thọ

Trang 36

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

 Chức năng và nhiệm vụ của các phòng ban

Qua sơ đồ trên có thể thấy đây là dạng tổ chức theo kiểu trực tuyến – chức năng Theo đó, Tổng giám đốc là người phụ trách chung, trực tiếp chỉ đạo hai phó Tổng giám đốc, Ban giám đốc công ty thành viên, phòng nghiên cứu phát triển kinh doanh, phòng tài chính kế toán, phòng tổ chức cán bộ và Tổng giám đốc chịu trách nhiệm trước Tập đoàn Bảo Việt về toàn bộ hoạt động kinh doanh của BVNT Hai phó tổng giám đốc phụ trách từng mảng công việc và chỉ đạo gián tiếp đến các công

ty thành viên về từng mảng công việc của mình: Một phó tổng giám đốc phụ trách công tác quản lý và đào tạo đại lý, phát triển đại lý và quản lý trung tâm thông tin của toàn hệ thống; một Phó tổng giám đốc phụ trách công tác Marketing, phát triển sản phẩm, quản lý nghiệp vụ, quản lý rủi ro và quản lý công tác văn phòng

Quan hệ giữa các Phó tổng giám đốc, Giám đốc công ty thành viên và các phòng ban là quan hệ phối hợp, các Phó tổng giám đốc, Giám đốc công ty thành viên, các phòng ban phải báo cáo trực tiếp hoặc gián tiếp và tham mưu cho cấp trên trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan

2.2.3 Hệ thống sản phẩm của Bảo Việt Nhân Thọ

Qua 19 năm phát triển, hệ thống sản phẩm của Bảo Việt Nhân Thọ ngày một

đa dạng hơn, đáp ứng được nhu cầu phong phú của khách hàng Các mảng sản phẩm đã chiếm lĩnh được hầu hết các nhu cầu mà mọi người mong muốn bảo vệ và tiết kiệm:

 An Hưởng Điền Viên

 Sản phẩm Bảo hiểm Liên kết chung

 An Phát Trọn Đời

 An Phát Hưng Gia

 An Phát Bảo Gia

 An Sinh Giáo Dục

Trang 37

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

 Sản phẩm bổ trợ

 An Tâm Toàn Mỹ

 An Tâm Sống Khỏe

 An Tâm Hạnh Phúc

 Bảo hiểm trợ cấp nằm viện

 Bảo hiểm tử vong và thương tật toàn bộ vĩnh viễn

 Bảo hiểm miễn đóng phí

 Các sản phẩm khác

Là 1 trong 3 doanh nghiệp có giỏ sản phẩm phong phú và có tính chất cạnh tranh nhất hiện nay với 43 sản phẩm, sản phẩm liên kết chung của Bảo Việt Nhân Thọ được đánh giá là hấp dẫn nhất thị trường 2014 Sản phẩm này cùng với những sản phẩm khác đã mang lại doanh thu khai thác mới ấn tượng ước xấp xỉ 2.100 tỷ đồng, đạt tốc độ tăng trưởng 31,5%, cao hơn nhiều so với mức tăng trưởng của thị trường

2.2.4 Quy trình khai thác của Bảo Việt Nhân Thọ

 Xác định khách hàng tiềm năng, tiếp cận, giới thiệu và tư vấn bảo hiểm

Đây là nội dung đầu tiên và cũng là nội dung quan trọng nhất trong quy trình khai thác một sản phẩm bảo hiểm nhân thọ Cán bộ khai thác phải xác định được nhóm đối tượng khách hàng tiềm năng của mình để có thể giới thiệu bảo hiểm nhân thọ, tư vấn cho họ cũng như kích thích tâm lý để khách hàng đưa ra quyết định mua bảo hiểm

Một khách hàng tiềm năng cần tìm phải có các đặc điểm sau:

 Sở hữu đối tượng có thể bảo hiểm được

 Có khả năng tài chính

 Có nhu cầu về bảo hiểm

 Cán bộ khai thác có thể tiếp xúc được

 Kê khai phiếu thông tin khách hàng, in mô tả quyền lợi bảo hiểm

Sau khi xuất hiện nhu cầu bảo hiểm của khách hàng, cán bộ khai thác sẽ kê khai phiếu thông tin khách hàng Nội dung cơ bản của phiếu này bao gồm các thông tin như: tên, tuổi, giới tính của người được bảo hiểm, người tham gia… Mục đích của công việc này là tạo cơ sở cho khách hàng tìm hiểu quyền lợi bảo hiểm trước khi tham gia

Ngày đăng: 18/05/2020, 08:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w