Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ ………***……… KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Trang 1Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
………***………
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Chuyên ngành: Kinh tế đối ngoại HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA NHẬT BẢN VÀO CÁC NƯỚC ASEAN VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM TRONG VIỆC THU HÚT FDI TỪ NHẬT BẢN
Họ và tên sinh viên : Nguyễn Phú Huy
Trang 2Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ FDI VÀ TỔNG QUAN HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI CỦA NHẬT BẢN 4
1.1 Tổng quan về FDI 4
1.1.1 Khái niệm 4
1.1.2 Đặc điểm 6
1.1.3 Phân loại 7
1.1.3.1 Theo cách thức xâm nhập 7
1.1.3.2 Theo quan hệ về ngành nghề, lĩnh vực giữa chủ đầu tư và đối tượng tiếp nhận đầu tư 7
1.1.3.3 Theo định hướng của chủ đầu tư 8
1.1.3.4 Theo định hướng của nước nhận đầu tư 8
1.1.3.5 Theo hình thức pháp lý 9
1.1.4 Các nhân tố tác động đến dòng vốn FDI 10
1.1.4.1 Các nhân tố thuộc chủ đầu tư 10
1.1.4.2 Các nhân tố thuộc nước chủ đầu tư 11
1.1.4.3 Các nhân tố thuộc nước nhận đầu tư 11
1.1.5 Tác động của FDI 15
1.1.5.1 Đối với nước chủ đầu tư 15
1.1.5.2 Đối với nước nhận đầu tư 16
1.2 Tổng quan hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Nhật Bản 20
1.2.1 Những nhân tố các động đến đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Nhật Bản 20 1.2.2 Tình hình đầu tư ra nước ngoài 23
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA NHẬT BẢN VÀO ASEAN 27
Trang 3Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
2.1 Các nhân tố tác động đến đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào các nước
ASEAN 28
2.1.1 Hệ thống pháp luật và chính sách liên quan đến FDI 28
2.1.2 Sự ổn định của môi trường chính trị - xã hội 29
2.1.3 Kinh tế vĩ mô ổn định và tăng trưởng GDP duy trì ở mức cao 29
2.1.4 Hệ thống cở sở hạ tầng kỹ thuật chưa đáp ứng nhu cầu phát triển 30
2.1.5 Trình độ lao động của lực lượng lao động 31
2.1.6 Năng lực cung ứng cao của các doanh nghiệp phụ trợ 32
2.2 Thực trạng hoạt động đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào các nước ASEAN 32 2.2.1 Quy mô đầu tư 32
2.2.2 Cơ cấu vốn đầu tư 35
2.2.2.1 Theo quốc gia đầu tư vào 35
2.2.2.2 Theo lĩnh vực đầu tư 38
2.3 Đánh giá hoạt động đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào các nước ASEAN 44
2.3.1 Thành tựu 44
2.3.2 Tồn tại và nguyên nhân 49
2.4 Bài học rút ra từ kinh nghiệm thu hút FDI của Nhật Bản vào các nước ASEAN 50
2.4.1 Kinh nghiệm chung của các nước ASEAN 51
2.4.2 Kinh nghiệm của một số nước thành viên 54
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THU HÚT FDI TỪ NHẬT BẢN VÀO VIỆT NAM DỰA TRÊN BÀI HỌC KINH NGHIỆM CỦA CÁC NƯỚC ASEAN 60
3.1 Thực trạng hoạt động đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam 61
3.1.1 Quy mô đầu tư 61
3.1.2 Cơ cấu vốn đầu tư 62
Trang 4Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
3.1.2.1 Theo ngành 62
3.1.2.2 Theo hình thức 68
3.1.2.3 Theo địa phương 69
3.1.3 Đánh giá hoạt động đầu tư của Nhật Bản vào Việt Nam 71
3.1.3.1 Thành tựu đạt được 71
3.1.3.2 Tồn tại và nguyên nhân 74
3.2 Triển vọng phát triển đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam 76
3.3 Một số giải pháp tăng cường thu hút FDI từ Nhật Bản vào Việt Nam dựa trên bài học kinh nghiệm của các nước ASEAN 78
3.3.1 Các giải pháp tổng thể 78
3.3.1.1 Nhóm giải pháp cải thiện hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật 78
3.3.1.2 Nhóm giải pháp phát triển năng lực của doanh nghiệp phụ trợ 79
3.3.1.3 Nhóm giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật và chính sách về FDI 81
3.3.1.4 Nhóm giải pháp đẩy mạnh hoạt động xúc tiến đầu tư 82
3.3.1.5 Nhóm giải pháp nâng cao nhất lượng nguồn nhân lực 83
3.3.1.6 Nhóm giải pháp cái cách thủ tục hành chính 84
3.3.2 Các giải pháp cụ thể nhằm thu hút dòng vốn FDI từ Nhật Bản 85
KẾT LUẬN 89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 90 PHỤ LỤC
Trang 5Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ASEAN Association of Southeast Asian
BT Build - Transfer Xây dựng - chuyển giao
BTO Build - Transfer - Operate Xây dựng - chuyển giao - kinh
doanh
FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài R&D Research & Development Nghiên cứu và Phát triển TNCs Transnational corporations Các công ty xuyên quốc gia
Trang 6Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Nhật Bản 2001-2014 23Bảng 2.1: Đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào các nước ASEAN giai đoạn 2001-
2014 33Bảng 2.2: Đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào các nước ASEAN giai đoạn 2001-
2004 35Bảng 2.3: Đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào các nước ASEAN giai đoạn 2005-
2010 36Bảng 2.4: Đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào các nước ASEAN tăng trưởng mạnh mẽ giai đoạn 2011-2014 37Bảng 2.5: Đầu tư trực tiếp của Nhật Bản theo ngành vào ASEAN giai đoạn 2001-2004 39Bảng 2.6: Đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào lĩnh vực chế tạo ở các nước ASEAN giai đoạn 2005-2009 41Bảng 2.7: Đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào lĩnh vực phi chế tạo ở các nước ASEAN giai đoạn 2005-2009 42Bảng 2.8: Đầu tư trực tiếp của Nhật Bản theo ngành ở các nước ASEAN giai đoạn 2010-2014 43Bảng 3.1: Đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam giai đoạn 2001-2014 62Bảng 3.2: Đầu tư trực tiếp của Nhật Bản theo ngành ở Việt Nam giai đoạn 2001-2004 63Bảng 3.3: Đầu tư trực tiếp của Nhật Bản theo ngành ở Việt Nam giai đoạn 2005-2009 65Bảng 3.4: Đầu tư trực tiếp của Nhật Bản theo ngành ở Việt Nam giai đoạn 2010-2014 67Bảng 3.5: Đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam theo hình thức đầu tư đến hết năm 2005 68
Trang 7Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1: Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Nhật Bản theo địa bàn 25 Biểu đồ 2.1: Đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào ASEAN và Trung Quốc giai đoạn 2001-2014 34 Biểu đồ 2.2: Tỷ suất lợi nhuận các dự án FDI của Nhật Bản ra nước ngoài giai đoạn 2003-2013 45
Trang 8Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam là một nước đang phát triển đặt mục tiêu đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Để thực hiện được mục tiêu đó cần một nguồn vốn không nhỏ để tạo động lực thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Trong điều kiện đất nước còn gặp nhiều khó khăn, nguồn vốn trong nước còn hạn chế thì nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) càng giữ vai trò quan trọng cho quá trình phát triển đất nước
Đối với Nhật Bản, Nhật Bản là nền kinh tế lớn thứ ba thế giới và các doanh nghiệp Nhật Bản sở hữu nguồn tài chính hùng mạnh, khoa học công nghệ tiên tiến
và kỹ thuật quản lý đạt trình độ cao Khi hiệp định Plaza được ký kết năm 1985 đồng Yên lên giá mạnh làm cho các doanh nghiệp Nhật Bản mất dần lợi thế và phải chuyển cơ sở sản xuất ra nước ngoài Kể từ đây, Nhật Bản trở thành quốc gia xuất khẩu vốn hàng đầu thế giới Tại Việt Nam, tính đến hết năm 2014, Nhật Bản là nước có tổng số vốn đầu tư trực tiếp lớn thứ hai (chỉ sau Hàn Quốc), tập trung vào những ngành quan trọng như công nghiệp chế biến, bất động sản, xây dựng góp phần chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế, tạo công ăn việc làm và tiếp thu công nghệ cao Tuy nhiên, sự hợp tác về kinh tế trong đó có hoạt động đầu tư trực tiếp từ Nhật Bản vào Việt Nam còn chưa tương xứng với tiềm năng phát triển của mối quan hệ song phương kéo dài suốt 40 năm qua
Bên cạnh đó, các nước ASEAN như Thái Lan, Philippines, Indonesia…mặc
dù có nhiều nét tương đồng với Việt Nam nhưng hiệu quả thu hút FDI từ Nhật Bản
và hiệu quả sử dụng nguồn vốn này ở các quốc gia đó cao hơn ở Việt Nam Vậy chúng ta có thể học tập được gì từ kinh nghiệm thu hút FDI từ Nhật Bản của các
nước trong khu vực? Đó là lý do em chọn đề tài: “Hoạt động đầu tư trực tiếp của
Nhật Bản vào các nước ASEAN và bài học cho Việt Nam trong việc thu hút FDI từ Nhật Bản” cho bài khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu tình hình đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào các nước ASEAN và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc thu hút nguồn vốn FDI từ Nhật Bản
Trang 9Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Lý luận chung về FDI, ưu nhược điểm và các nhân tố tác động đến việc thu hút nguồn vốn FDI
Nghiên cứu hoạt động đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào khu vực ASEAN từ
đó đánh giá và rút ra bài học kinh nghiệm
Đánh giá thực trạng đầu tư trực tiếp của các doanh nghiệp Nhật Bản vào Việt Nam và đề xuất giải pháp tăng cường thu hút FDI từ Nhật Bản trong thời gian tới
dựa trên bài học rút ra từ các nước trong khu vực ASEAN
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là tình hình đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào các nước ASEAN và việc thu hút FDI từ Nhật Bản vào Việt Nam
Pham vị nghiên cứu
Về mặt không gian: tổng thể hoạt động đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào các nước ASEAN và Việt Nam
Về mặt thời gian: bài khóa luận tập trung nghiên cứu, phân tích tài liệu, số liệu
về việc đầu tư của các doanh nghiệp Nhật Bản vào khu vực ASEAN và Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2001 đến hết năm 2014 và đề xuất giải pháp tầm nhìn đến năm 2020
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập, phân tích, tổng hợp các thông tin, tài liệu, báo cáo chính thức đã công bố của các bộ, ban ngành của Việt Nam, Nhật Bản, các nước ASEAN và các tổ chức quốc tế về các vấn đề có liên quan
Phương pháp biện chứng, kết hợp lý luận và thực tiễn
Phương pháp thống kê so sánh để làm rõ kết quả nghiên cứu
6 Bố cục khóa luận
Bài khóa luận có bố cục 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về FDI và tổng quan hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Nhật Bản
Chương 2: Thực trạng hoạt động đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào các nước ASEAN
Trang 10Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Chương 3: Giải pháp tăng cường thu hút FDI từ Nhật Bản vào Việt Nam dựa trên bài học kinh nghiệm của các nước ASEAN
Trang 11Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ FDI VÀ TỔNG QUAN HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI CỦA NHẬT BẢN 1.1 Tổng quan về FDI
1.1.1 Khái niệm
Hoạt động đầu tư quốc tế hình thành từ khi con người bắt đầu biết đến các hình thức trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia Tuy nhiên, đầu tư trực tiếp nước ngoài lại ra đời tương đối muộn vào thế kỷ 19 và ngay khi ra đời đã nhanh chóng xác lập vị trí của mình, trở thành một xu thế tất yếu trong quá trình toàn cầu hóa Cho đến nay, đã có nhiều khái niệm về FDI được đưa ra bởi các tổ chức quốc tế lớn như Quỹ Tiền tệ Thế giới (IMF), Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) và
Tổ chức Thương mại Quốc tế (WTO):
Theo IMF: FDI nhằm đạt được những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp (theo IMF, 1993, Balance of Payments Manual, The fifth edition)
Theo OECD: Đầu tư trực tiếp nước ngoài được thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp, đặc biệt là những khoản đầu tư mang lại khả năng tạo ảnh hưởng đối với việc quản lý doanh nghiệp nói trên bằng cách: thành lập hoặc mở rộng một doanh nghiệp hoặc một chi nhánh thuộc toàn quyền quản lý của chủ đầu tư; mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã có; tham gia vào một doanh nghiệp mới; cấp tín dụng dài hạn (>5 năm) (theo OECD, 2008, Detailed Benchmark Definition of Foreign Direct Investment, The forth edition)
Hai khái niệm trên nhấn mạnh đến các lợi ích dài hạn Khi tiến hành đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, chi phí bỏ ra tương đối tốn kém nên các nhà đầu tư thường nhằm đến các mục tiêu lợi ích dài hạn Muốn đạt được mục tiêu này đòi hỏi các nhà đầu tư trực tiếp phải có mối quan hệ lâu dài với doanh nghiệp nhận đầu tư và tạo mức độ ảnh hưởng đáng kể để có thể quản lý doanh nghiệp này
Khái niệm của WTO: Đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có một tài sản ở nước khác (nước nhận đầu tư) cùng
Trang 12Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
với quyền kiểm soát tài sản đó Quyền kiểm soát là dấu hiệu để phân biệt FDI với các hoạt động đầu tư khác (theo WTO, 1996, Trade and foreign investment)
Về phía Việt Nam, ngay khi tiến hành hoạt động mở cửa kinh tế và thu hút nguồn vốn từ bên ngoài đã đặt ra vấn đề cho luật pháp về việc điều hành và quản lý hoạt động của các doanh ngiệp có nguồn vốn từ bên ngoài Trong Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ban hành năm 1996 “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu
tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này” Tuy nhiên, đối với Luật Đầu tư Việt Nam 2005 dùng thay thế Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài năm 2000 và Luật khuyến khích đầu tư trong nước năm 1998 lại chỉ đưa ra các khái niệm “ Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan” (điều 3 khoản 1), “Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư” (điều 3 khoản 2) và ngay cả Luật Đầu tư 2014 cũng chỉ đưa ra khái niệm “Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư” (điều 3 khoản 14) giống như điều 3 khoản 12 của Luật Đầu tư 2005 mà không có khái niệm “đầu tư trực tiếp nước ngoài” Tuy nhiên, từ các khái niệm trên có thể hiểu: “FDI là hình thức đầu tư do nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư và tham gia kiểm soát hoạt động đầu tư ở Việt Nam hoặc nhà đầu tư Việt Nam bỏ vốn đầu tư và tham gia kiểm soát hoạt động đầu tư ở nước ngoài theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan” Thông qua các khái niệm trên có thể suy ra điểm quan trọng của FDI đó là sự dịch chuyển vốn đầu tư từ nước này sang nước khác Nước mà người chủ đầu tư định cư là nước chủ đầu tư; nước mà ở đó hoạt động đầu tư được tiến hành gọi là nước nhận đầu tư hay nước chủ nhà Đặc biệt, FDI nhấn mạnh đến quyền kiểm soát của doanh nghiệp ở quốc gia này đối với tài sản ở quốc gia khác
Tóm lại, có thể hiểu một cách khái quát FDI là một hình thức đầu tư quốc tế trong đó đầu tư của một nước đầu tư toàn bộ hay một phần đủ lớn vốn đầu tư cho một dự án ở nước khác nhằm giành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát dự án
Trang 13Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
đó [Vũ Chí Lộc (chủ biên), 2012, Giáo trình đầu tư quốc tế, NXB Đại học quốc gia
Hà Nội]
1.1.2 Đặc điểm
FDI là hình thức đầu tư nước ngoài với mục đích chính của các nhà đầu tư là nắm quyền quản lý doanh nghiệp nên hình thức đầu tư này có những đặc điểm riêng biệt:
- FDI chủ yếu là đầu tư tư nhân với mục đích hàng đầu là tìm kiếm lợi nhuận: trong luật pháp và tài liệu của nhiều nước quy định FDI là đầu tư tư nhân Một số nước khác trong đó có Việt Nam lại quy định chủ thể tham gia đầu tư trực tiếp nước ngoài ngoài tư nhân còn có thể là nhà nước Tuy nhiên, dù quy định thế nào về chủ thể thì mục đích hàng đầu, quan trọng nhất vẫn là lợi nhuận và cùng với đó nảy sinh nhiều vấn đề như chuyển giá gây thất thu ngân sách nước nhận đầu tư hay các vấn
đề về môi trường Vì vậy, các nước tiếp nhận nguồn vốn FDI đặc biệt là các nước đang phát triển cần phải đăc biệt lưu ý, xây dựng cho mình một hành lang pháp lý
đủ mạnh và các chính sách thu hút FDI hợp lý để định hướng FDI vào phục vụ mục tiêu xây dựng, phát triển kinh tế xã hội đất nước mình, tránh tình trạng FDI trở thành công cụ chỉ để phục vụ cho mục đích tìm kiếm lợi nhuận của các chủ đầu tư
- Các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một tỷ lệ vốn tối thiểu trong vốn pháp định hoặc vốn điều lệ tùy theo quy định của luật pháp từng nước để giành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát doanh nghiệp nhận đầu tư Tỷ lệ này ở các nước quy định không giống nhau Luật Mỹ quy định tỷ lệ này là 10%, Anh và Pháp
là 20%, Việt Nam là 30% đối với hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty
cổ phần Tỷ lệ vốn góp của các chủ đầu tư sẽ quy định quyền và nghĩa vụ của mỗi bên, cùng với đó là lợi nhuận và rủi ro mà mỗi chủ đầu tư được phân chia
- Chủ đầu tư tự quyết định đầu tư, chủ động trong sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về kết quả lỗ, lãi của dự án Thu nhập của doanh nghiệp phụ thuộc vào kết quả kinh doanh mà họ đầu tư Các chủ đầu tư có quyền quyết định lĩnh vực đầu tư, quy mô, cơ cấu doanh nghiệp, địa điểm, công nghệ và kỹ thuật áp dụng phù hợp với luật pháp nước nhận đầu tư; bên cạnh đó nhà đầu tư có thể chủ động trong chiến lược, tạo động lực tập trung thúc đẩy sản xuất để có lợi nhuận cao
Trang 14Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
- FDI thường kèm theo chuyển gia công nghệ cho các nước tiếp nhận đầu tư thông qua việc sử dụng các máy móc, thiết bị, bằng sáng chế, bí quyết công nghệ, cũng như các cán bộ, kỹ sư giàu kinh nghiệm…vào các dự án ở nước nhận đầu tư Bên cạnh việc tạo công ăn việc làm và nguồn thu ngân sách cho các nước nhận đầu
tư, chuyển giao công nghệ là một yếu tố vô cùng quan trọng đối với các nước đang phát triển trong việc nâng cao trình độ khoa học công nghệ, để góp phần vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đây cũng là khác biệt cũng như là ưu điểm lớn nhất của FDI so với các hoạt động đầu tư nước ngoài khác
1.1.3 Phân loại
Căn cứ vào các vấn đề liên quan đến việc đầu tư của chủ đầu tư nước ngoài lại
có các cách phân loại khác nhau như căn cứ theo cách thức xâm nhập, định hướng của chủ đầu tư, quan hệ ngành nghề và lĩnh vực giữa chủ đầu tư và doanh nghiệp nhận đầu tư, định hướng của nước nhận đầu tư và theo hình thức pháp lý
1.1.3.1 Theo cách thức xâm nhập
FDI thường bao gồm hai hình thức xâm nhập:
- Đầu tư mới (greenfield investment): Chủ đầu tư nước ngoài góp vốn để xây dựng một cơ sở sản xuất kinh doanh mới tại nước nhận đầu tư Đây là hình thức thường được các nước nhận đầu tư khuyến kích thực hiện vì giúp tăng thêm vốn, việc làm và các giá trị gia tăng
- Sáp nhập và mua lại qua biên giới (Cross-border Merger & Acquisition): Chủ đầu tư nước ngoài mua lại hoặc sáp nhập một cơ sở sản xuất kinh doanh sẵn có
ở nước nhận đầu tư Đây là hình thức được các chủ đầu tư ưa chuộng sử dụng hơn hình thức đầu tư mới vì chi phí đầu tư thấp hơn, tận dụng những lợi thế sẵn có, cơ
sở vật chất của doanh nghiệp trước đó, giảm thời gian nghiên cứu thị trường, hạn chế rủi ro và cho phép doanh nghiệp tiếp cận thị trường nhanh hơn
1.1.3.2 Theo quan hệ về ngành nghề, lĩnh vực giữa chủ đầu tư và đối tượng tiếp
nhận đầu tư
- FDI theo chiều dọc (vertical FDI): là hình thức nhằm khai thác nguyên, nhiên vật liệu hoặc để gần gũi người tiêu dùng hơn thông qua việc mua lại các kênh
Trang 15Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
phân phối ở nước nhận đầu tư Thông qua đó, doanh nghiệp nhận đầu tư và chủ đầu
tư trở thành một dây chuyền thống nhất từ khâu sản xuất tới khi phân phối tới người tiêu dùng
- FDI theo chiều ngang (horizontal FDI): hoạt động FDI được tiến hành nhằm sản xuất cùng loại sản phẩm hoặc các sản phẩm tương tự như chủ đầu tư đã sản xuất
ở nước chủ đầu tư Để thành công khi sử dụng hình thức này, chủ đầu tư cần tạo ra
sự khác biệt của sản phẩm FDI theo chiều ngang thường được tiến hành nhằm mục đích tận dụng các lợi thế độc quyền hoặc độc quyền nhóm đặc biệt khi việc phát triển thị trường trong nước vi phạm luật chống độc quyền
- FDI hỗn hợp (conglomerate FDI): Doanh nghiệp chủ đầu tư và doanh nghiệp nhận đầu tư hoạt động trong các lĩnh vực, ngành nghề khác nhau Mục tiêu của hình thức này nhằm tạo ra sự đa dạng hóa trong doanh nghiệp và thường được các doanh nghiệp mạnh, có lượng tiền mặt lớn
1.1.3.3 Theo định hướng của chủ đầu tư
Tùy theo mục đích và lợi thế của chủ đầu tư mà có thể chọn lựa một trong hai hình thức sau:
- FDI phát triển (expansionary FDI): nhằm khai thác các lợi thế về quyền sở hữu của doanh nghiệp ở nước nhận đầu tư, việc mở rộng được thị trường ra nước ngoài giúp chủ đầu tư tăng doanh thu và lợi nhuận
- FDI phòng ngự (defensive FDI): là hình thức nhắm đến nguồn lao động rẻ ở các nước nhận đầu tư nhằm giảm chi phí sản xuất để có thể cạnh tranh được với các doanh nghiệp khác trên thị trường
1.1.3.4 Theo định hướng của nước nhận đầu tư
FDI có vai trò quan trọng đối với nước nhận đầu tư vì thế nước nhận đầu tư cần định hướng FDI để phù hợp với hoàn cảnh của nước mình
- FDI thay thế nhập khẩu: Hoạt động FDI này được tiến hành để hướng đến thị trường nước nhận đầu tư, cung ứng các hàng hóa, sản phẩm mà nước này trước đây phải nhập khẩu Ưu điểm của hình thức này là hàng hóa đến tay người tiêu dùng được hạn chế bớt các khoản thuế nhập khẩu, chi phí vận chuyển thông qua đó giúp giảm giá thành sản phẩm ở thị trường nước nhận đầu tư Các yếu tố như dung lượng
Trang 16Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
thị trường, các rào cản thương mại và chi phí vận tải có tác động không nhỏ đến hình thức đầu tư này
- FDI tăng cường xuất khẩu: Thị trường nhắm tới đối với hoạt động này bao gồm cả thị trường nước nhận đầu tư và các thị trường khác trên toàn thế giới Đây là hình thức đòi hỏi phải có các yếu tố đầu vào như nhân công, nguyên nhiên vật liệu được cung ứng với giá rẻ Sử dụng hình thức này có thể tận dụng tối đa các nguồn lực của cả nước nhận đầu tư và chủ đầu tư
- FDI theo định hướng khác của Chính phủ: Chính phủ nước nhận đầu tư thực hiện các biện pháp để điều chỉnh, khuyến khích hay hạn chế dòng vốn FDI chảy vào nước mình để phù hợp với các mục tiêu kinh tế và xã hội khác của đất nước Cụ thể, Chính phủ Việt Nam không cấp giấy chứng nhận đầu tư cho các dự án sử dụng lãng phí năng lượng, tài nguyên, sử dụng công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường…
1.1.3.5 Theo hình thức pháp lý
Tùy theo quy đinh của pháp luật mỗi nước, FDI lại được tiến hành theo các hình thức pháp lý khác nhau Theo Luật Đầu tư Việt Nam 2005, FDI được chia thành các hình thức pháp lý chủ yếu:
- Hợp đồng hợp tác kinh doanh: là văn bản ký kết giữa hai bên hoặc nhiều bên
để tiến hành đầu tư kinh doanh ở Việt Nam trong đó có quy định trách nhiệm chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên mà không thành lập pháp nhân mới Cả chủ đầu tư Việt Nam và chủ đầu tư nước ngoài tham hợp đồng, thực hiện quyền và nghĩa vụ với tư cách pháp nhân cũ của mình
- Doanh nghiệp liên doanh: là doanh nghiệp được thành lập tại Việt Nam trên
cơ sở một hợp đồng liên doanh được ký giữa hai hay nhiều bên bao gồm cả chủ đầu
tư Việt Nam và chủ đầu tư nước ngoài Điểm khác biệt quan trọng với hợp đồng hợp tác kinh doanh là ở đây có hình thành pháp nhân mới và là pháp nhân Việt Nam
- Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài: là doanh nghiệp được đầu tư và sở hữu bởi nhà đầu tư nước ngoài mà không có sự tham gia của chủ đầu tư Việt Nam, đồng thời hình thành pháp nhân mới mang quốc tịch Việt Nam
Ngoài các hình thức chủ yếu trên, hoạt động FDI ở Việt Nam còn được thực hiện thông qua các hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao (BT), Xây dựng - Chuyển
Trang 17Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
giao - Kinh doanh (BTO), Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao (BOT), tiến hành mua cổ phần hoặc góp vốn và mua lại, sáp nhập doanh nghiệp Các doanh nghiệp nước ngoài muốn đầu tư ở Việt Nam có thể tự do lựa chọn hình thức đầu tư phù hợp với hoàn cảnh doanh nghiệp và lĩnh vực kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật Việt Nam, được tạo điều kiện tốt nhất để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh
1.1.4 Các nhân tố tác động đến dòng vốn FDI
Một quyết định đầu tư muốn đạt được hiệu quả đều phải xem xét từ hai phía: phía chủ đầu tư và thị trường Đối với FDI cũng như vậy, khi mà thị trường nước chủ đầu tư đã trở nên chật chội, các nguồn lực thuộc môi trường kinh doanh đó gần như đã được sử dụng triệt để trong khi đó các chủ đầu tư có nguồn vốn lớn và nhu cầu tìm kiếm thêm lợi nhuận thì họ sẽ nghĩ tới việc đầu tư ra nước ngoài
1.1.4.1 Các nhân tố thuộc chủ đầu tư
Mỗi nhà đầu tư khi tiến hành hoạt động đầu tư trực tiếp ở bất kỳ nước nào thì động lực đầu tư mà họ nhắm tới là thị trường nguồn tài nguyên phong phú, các yếu
tố đầu vào giá rẻ…và đích đến cuối cùng chính là lợi nhuận Hoạt động đầu tư ra nước ngoài đòi hỏi những chi phí lớn nên việc tận dụng tối đa những lợi thế sẵn có của mình về quy mô và quyền sở hữu có tác động không nhỏ đến khả năng sinh lời của dự án
- Chủ đầu tư sở hữu những lợi thế về quyền sở hữu hay lợi thế riêng của chủ đầu tư
Nhờ vào kinh nghiệm đầu tư, các yếu tố công nghệ, năng lực quản lý, lợi thế
về quy mô và khả năng hợp tác với các doanh nghiệp khác làm cho các doanh nghiệp chủ đầu tư tạo ra được lượng vốn lớn và năng suất cận biên cao Bên cạnh
đó, các yếu tố đầu vào trong nước đã dần không còn đáp ứng được nhu cầu sản xuất cao của các công ty, tập đoàn lớn và việc dịch chuyển nguồn vốn sang các quốc gia khác trở nên cần thiết để kéo dài chu kỳ sản phẩm và nâng cao lợi nhuận Chu kỳ sản phẩm gồm 4 giai đoạn: giai đoạn thâm nhập, giai đoạn tăng trưởng, giai đoạn chín muồi và giai đoạn suy tàn Đối với các doanh nghiệp tham gia kinh doanh quốc
tế, việc kéo dài vòng đời sản phẩm giúp giảm lượng lớn chi phí, tăng hiệu quả kinh doanh
Trang 18Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
- Lợi thế nội bộ hóa của chủ đầu tư Các chủ đầu tư quyết định đầu tư ra nước ngoài khi bản thân họ nắm giữ những lợi thế đặc thù thuộc về nội bộ doanh nghiệp và FDI sẽ giúp họ tận dụng tối
đa các lợi thế của các tài sản riêng này Những lợi thế này sẽ giúp chủ đầu tư khắc phục những bất lợi, đối phó với việc thị trường nước ngoài không hoàn hảo và cho phép họ vượt qua những khó khăn khi đầu tư ở nước ngoài Các lợi thế sở hữu được chuyển giao trong nội bộ tập đoàn, các công ty đa quốc gia sẽ tìm kiếm các thị trường có nhân công giá rẻ, nguồn nguyên liệu phong phú để kết hợp tạo ra mối liên kết dọc, kết hợp mua bán nguyên liệu và thành phẩm
1.1.4.2 Các nhân tố thuộc nước chủ đầu tư
Việc đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp của nước chủ đầu tư có thuận lợi hay không có tác động không nhỏ đến những chính sách và biên pháp khuyến khích đầu tư ra nước ngoài Chính phủ tăng cường ký kết các hiệp định đầu tư, tạo các mối quan hệ song phương, đa phương giúp các doanh nghiệp dễ dàng tìm kiếm các thị trường đầu tư Bên cạnh đó, các chính sách ưu đãi thuế và tài chính, khuyến khích chuyển giao công nghệ, trợ giúp tiếp cận thị trường, hỗ trợ thông tin và trợ giúp kỹ thuật sẽ tạo điều kiện để các nhà đầu tư hoạt động thuận lợi và hiệu quả ở nước ngoài Ngược lại, các chính sách hạn chế chuyển vốn ra nước ngoài, hạn chế tiếp cận thị trường hay cấm đầu tư vào một số nước của chính phủ nước chủ đầu tư
sẽ làm ngăn cản dòng vốn FDI chảy ra bên ngoài
Xung đột thương mại với quốc gia thâm hụt cán cân thương mại: Trong trường hợp một nước có nhiều lợi thế và xuất siêu một lượng lớn hàng hóa sang một nước khác khiến cho cán cân thương mại thặng của chiều ngược lại bị thâm hụt nặng nề, các nước nhập siêu sẽ gây những sức ép nhất định để làm mất lợi thế của hàng hóa nước chủ đầu tư sản xuất trong nước khi tiến hành xuất khẩu Vì vậy, nước chủ đầu tư sẽ xuất khẩu vốn ra nước ngoài để giảm bớt căng thẳng, mở rộng sản xuất và tiếp tục bán được hàng hóa ở thị trường đó
1.1.4.3 Các nhân tố thuộc nước nhận đầu tư
Nhu cầu đầu tư ra nước ngoài của các tập đoàn lớn, các công ty xuyên quốc gia hiện nay rất lớn Việc thiếu hụt nguồn vốn để phục vụ phát triển kinh tế xã hội ở
Trang 19Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
các nước đang và chậm phát triển tạo nên sự cạnh tranh gay gắt, những cuộc chạy đua để đón đầu dòng vốn FDI từ các nước phát triển Vì vậy, tạo một môi trường đầu tư lý tưởng tại chính nước nhận đầu tư có tác động không nhỏ đến quyết định của các chủ đầu tư
- Môi trường chính trị - xã hội Đây là yếu tố quan trọng mà một công ty, tập đoàn xem xét liệu có nên đầu tư vào một quốc gia nào đó hay không Sự bất ổn về chính trị - xã hội làm ảnh hưởng đến sự vận hành bình thường của quốc gia Sự ổn định của yếu tố này có tác động không nhỏ đến tâm lý người dân và các nhà đầu tư Bất kể những sự bất ổn về chính trị - xã hội nào như chiến tranh, đảo chính, bạo động, khủng bố, nội chiến…đều không cho thấy sự đảm bảo an toàn nào cho nhà đầu tư và tài sản của họ Không những khó có thể thu hút nguồn vốn FDI từ bên ngoài, mỗi sự không ổn định của yếu tố này có thể sẽ dẫn đến việc dòng vốn từ trong nước chảy ra bên ngoài để tìm kiếm cơ hội đầu tư hấp dẫn hơn
Xung đột về chính trị giữa hai quốc gia sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động FDI qua lại giữa hai nước này Tiêu biểu là mối quan hệ Trung – Nhật đang ngày càng xấu đi, mặc dù Trung Quốc từng được coi là thiên đường cho các nhà đầu tư nhưng hiện nay đang xảy ra một cuộc di cư tập thể của các doanh nghiệp Nhật Bản
ra khỏi quốc gia đông dân nhất thế giới này sang các quốc gia Đông Nam Á trong
đó có Việt Nam
- Mức độ ổn định kinh tế vĩ mô và tiềm năng tăng trưởng GDP Các yếu tố thuộc kinh tế vĩ mô như mức độ lạm phát, cán cân thanh toán, lãi suất ngân hàng, tỷ giá hối đoái sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tài sản của nhà đầu tư ngay khi bắt đầu tiến hành đầu tư Khi nhà đầu tư bước vào một thị trường, họ phải đem nguồn vốn bằng ngoại tệ quy đổi ra nội tệ, và bất kỳ sự biến động bất lợi nào của các yếu tố này sẽ làm số vốn đầu tư giảm sút Vì vậy, ổn định kinh tế vĩ mô có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc huy động và sử dụng vốn nước ngoài, tạo ra
sự an tâm và kích thích các nhà đầu tư nước ngoài tham gia thị trường
Quy mô và tốc độ tăng trưởng GDP cho thấy dung lượng thị trường và tiềm năng phát triển của một nền kinh tế trong tương lai Khi một nhà đầu tư nhắm đến một thị trường, trước tiên mục tiêu của họ thường sẽ chính là thị trường đó, sau đó
Trang 20Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
mới nghĩ tới việc xuất khẩu Một giá trị GDP lớn phần nào cho thấy khả năng sản suất, mức độ tiêu dùng và tâm lý lạc quan của người dân đối với kinh tế nước nhà Người tiêu dùng chi tiêu nhiều, khả năng chi trả tốt cùng với đó là nhu cầu cao về vật chất và tinh thần góp phần hấp dẫn các nhà đầu tư Giá trị và tốc độ tăng trưởng GDP cao cho thấy khả năng cạnh tranh của nền kinh tế so với các nước trong cùng khu vực và trên thế giới
- Hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật Kết cấu cơ sở hạ tầng gồm tổng thể các hạng mục đường sá, mạng lưới giao thông vận tải, kho tàng, bến bãi, trường học, bệnh viện, hệ thống thông tin liên lạc
Sự phát triển của yếu tố này tác động không nhỏ đến sự thuận lợi trong đầu tư và kinh doanh Hệ thống giao thông, cảng biển, đường bộ, đường sắt, sân bay, kho chứa hàng quốc tế được phân bổ khắp cả nước, đạt các tiêu chuẩn cao phục vụ không nhỏ nhu cầu di chuyển, vận chuyển hàng hóa, nguyên vật liệu giúp giảm thiểu chi phí trung chuyển và các rủi ro gặp phải Một quốc gia được trang bị một
hệ thống thông tin liên lạc viễn thông đồng bộ, bưu điện hoạt động liên tục, có khả năng chuyền tải lớn, bảo mật cao, hệ thống ngân hàng hoàn thiện đảm bảo an toàn thông tin, bí mật nội bộ, chuyển tiền hiệu quả góp phần tạo thuận lợi trong kinh doanh
- Trình độ lao động của lực lượng lao động và giá cả lao động phổ thông Lực lượng lao động là nguồn lực vô cùng quan trọng tham gia sản xuất, kinh doanh và góp phần quản lý doanh nghiệp Một lực lượng lý tưởng gồm dồi dào các lao động phổ thông có tay nghề có thể trực tiếp đứng máy, sản xuất và bộ phận có chuyên môn cao, lao động cao cấp đảm nhận những vị trí quan trọng, chuyên trách
để đảm bảo việc kinh doanh được tiến hành hiệu quả và xuyên suốt Dù nhà đầu tư
có sở hữu công nghệ và nguồn lực mạnh mà thị trường lao động nước chủ nhà không cung ứng được lao động chất lượng thì doanh nghiệp cũng không hoạt động được Dòng vốn vì thế mà bị ứ đọng và dần thu hẹp lại
Ở nước chủ đầu tư, trong điều kiện chi phí sản xuất tăng cao trong đó tiền lương của lao động phổ thông ở mức cao cũng là một yếu tố góp phần nâng giá thành sản phẩm lên Do vậy, nhiều nhà đầu tư đặc biệt là nhà đầu tư hoạt động trong
Trang 21Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
các lĩnh vực chế tạo khi tìm kiếm thị trường đầu tư sẽ chọn giá lao động là một yếu
tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của mình
- Năng lực cung ứng của các doanh nghiệp phụ trợ Một tập đoàn, công ty đa quốc gia dù là có mạnh đến đâu nhưng cũng không thể hoạt động một mình mà không có sự hỗ trợ và cung ứng của các công ty khác đặc biệt ở nước nhận đầu tư Hệ thống các doanh nghiệp phụ trợ giúp nhà đầu tư nước ngoài giảm tối đa các chi phí, tránh việc đầu tư dàn trải vừa tốn kém mà không đem lại hiệu quả Nếu CNPT không phát triển sẽ khiến các công ty lắp ráp và những công ty sản xuất sản phẩm cuối cùng phải phụ thuộc nhiều vào đầu vào nhập khẩu, làm tăng chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm do phải chịu thêm các chi phí vận chuyển, bảo hiểm, hải quan… Ngoài ra, những doanh nghiệp này còn phải đối mặt với nhiều rủi ro khác như tiến độ, thời gian giao hàng… Ngày nay, khi môi trường đầu tư ngày càng trở nên thông thoáng và không có nhiều sự khác biệt về chính sách hỗ trợ giữa các nước cạnh tranh thì việc đa dạng các công ty phụ trợ có tác động không nhỏ đến quyết định của các nhà đầu tư
- Hệ thống pháp luật, chính sách khuyến khích thu hút FDI Một lực cản vô hình từ phía nước nhận đầu tư mà các nhà đầu tư không phải lúc nào cũng lường trước được đó là hệ thống pháp luật và thủ tục hành chính Đôi khi hệ thống pháp luật phức tạp, thủ tục hành chính rườm rà, răc rối khiến cho các chủ đầu tư nước ngoài bị chậm tiến độ đầu tư và chậm chí là không lấy được giấy phép đầu tư Một bộ máy hành chính hiệu quả phải thống nhất, gọn nhẹ; thủ tục đơn giản; cán bộ hành chính nhiệt tình và có chuyên môn; đường lối chính sách nhất quán, có định hướng lâu dài
Các chính sách của Chính phủ nước nhận đầu tư có thể tác động trực tiếp như quy định về việc thành lập và hoạt động, các tiêu chuẩn đối xử với FDI, cơ chế hoạt động của các doanh nghiệp này trên thị trường hoặc gián tiếp đến hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp FDI như các chính sách về tiền tệ, thuế, tỷ giá hối đoái, chính sách thương mại, chính sách tư nhân hóa, chính sách liên quan đến cơ cấu ngành, vùng…
Khi các nhà đầu tư đem tiền đi đầu tư luôn tính toán được và mất khi chọn một thị trường, địa điểm đầu tư Những ưu đãi mà Nhà nước và địa phương nơi nhà đầu
Trang 22Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
tư tiến hành kinh doanh sẽ góp phần không nhỏ giúp nhà đầu tư sớm ổn định kinh doanh và thu về lợi nhuận Không phải nơi nào cũng được thiên nhiên ưu đãi cho những thứ hoàn hảo nhưng cải thiện những yếu tố chủ quan, nâng cao năng lực cạnh tranh của môi trường đầu tư thể hiện thiện chí to lớn của chính quyền nước nhận đầu tư với những người đi kiếm tìm lợi nhuận từ bên ngoài
Nói tóm lại, hiện nay ở nhiều nơi trên thế giới nguồn vốn đang dư thừa và nhu cầu đầu tư trực tiếp ra nước ngoài vô cùng lớn Tuy nhiên, việc dòng vốn FDI sẽ chảy đến đâu, vào khu vực hay quốc gia nào phụ thuộc rất nhiều vào chính các quốc gia muốn thu hút dòng vốn đó Liệu rằng những yếu tố thuộc môi trường đầu tư đã thực sự tốt để thỏa mãn nhu cầu và làm hài lòng các nhà đầu tư? Không ngừng cải thiện các yếu tố đó tạo ra sự an tâm và an toàn đầu tư là chìa khóa xây dựng lòng tin
về một thiên đường sản sinh lợi nhuận
1.1.5 Tác động của FDI
Từ khi ra đời cho đến nay, FDI luôn khẳng định vai trò của mình trong hoạt động đầu tư quốc tế Không phải ngẫu nhiên mà FDI đang không ngừng phát triển Hình thức đầu tư này có tác động không nhỏ đến lợi ích của cả chủ đầu tư, nước chủ đầu tư và đặc biệt là nước nhận đầu tư
Về phía các nhà đầu tư, họ đi trên hành trình mà mục tiêu cuối cùng là tối đa hóa lợi nhuận Các công ty luôn tìm kiếm những nơi mà việc sản xuất và kinh doanh thuận lợi nhất Khi mà trong nước đã trở nên quá chật chội, tràn ngập hàng hóa của cả doanh nghiệp và các đối thủ cạnh tranh, FDI là phương thức hữu hiệu để chủ đầu tư vươn ra thế giới và xác lập vị thế ở các thị trường khác nhờ vào các lợi thế sẵn có
1.1.5.1 Đối với nước chủ đầu tư
Việc các công ty thuộc nước chủ đầu tư đầu tư ra nước ngoài để thu lợi nhuận không chỉ có lợi cho riêng doanh nghiệp mà còn đem lại nhiều lợi ích cho đất nước của họ Nhờ vào quá trình mở rộng sản xuất kinh doanh ở nước nhận đầu tư, chủ đầu tư tạo nên tầm ảnh hưởng của mình đối với nền kinh tế - xã hội đó, xây dựng quan hệ và thiện cảm đối với đất nước và người dân nơi họ đầu tư Từ đó, doanh nghiệp dần trở thành cầu nối về kinh tế giữa hai nước, xây dựng quan hệ hợp tác và
Trang 23Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
thông qua đó, nước chủ đầu tư bành chướng sức mạnh về kinh tế và nâng cao uy tín chính trị trên trường quốc tế
Đối với nhiều nền kinh tế phát triển, FDI là một biến pháp hữu hiệu giúp ổn định kinh tế vĩ mô Khi mà nền kinh tế phát triển quá nóng, năng suất lao động cao, hàng hóa trong nước sản xuất ra ồ ạt vượt quá mức cầu người dân dẫn đến khủng hoảng kinh tế và hiện tượng giảm phát xảy ra Để ngăn cản tình trạng này, các Chính phủ tiến hành các biện pháp khuyến khích doanh nghiệp xuất khẩu vốn, mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa, góp phần giảm áp lực cho nền kinh tế, kéo dài chu kỳ phát triển của đất nước
FDI giải quyết công ăn việc làm cho một số lao động khi cùng chủ đầu ra ra nước ngoài làm việc Ở những dự án đầu tư mới, các chuyên gia ở nước chủ nhà thiếu hụt và không đáp ứng được nhu cầu công việc, chủ đầu tư sẽ đưa cán bộ sang
để hướng dẫn và vận hành ban đầu Thù lao của những người này vì vậy mà được nâng cao
FDI tránh được việc khai thác quá mức nguồn lực trong nước như tài nguyên, khoáng sản tự nhiên không có khả năng tái tạo Đồng thời những ngành nghề gây ô nhiễm môi trường qua con đường FDI được đưa ra nước ngoài
Bên cạnh những ưu điểm, nước chủ đầu tư phải chấp nhận những bất lợi mà hoạt động đàu tư này đem lại như từ vị thế nước xuất khẩu trở thành nước nhập khẩu; cán cân thanh toán quốc tế và sự ổn định của đồng tiền bị ảnh hưởng; cùng với đó là việc các doanh nghiệp chuyển cơ sở ra nước ngoài làm giảm cầu lao động trong nước và gia tăng tình trạng thất nghiệp
1.1.5.2 Đối với nước nhận đầu tư
Tích cực
- Đối với nhiều quốc gia, đặc biệt là các nền kinh tế đang phát triển có tỷ lệ tích lũy thấp, tiết kiệm phục vụ đầu tư không đủ đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước, FDI trở thành một kênh bổ sung, chuyển giao vốn, công nghệ và khả năng quản lý
Hầu hết ở các nước đang và chậm phát triển, năng lực sản xuất, kỹ năng quản
lý còn yếu kém cùng với đó là cơ sở hạ tầng kỹ thuật nghèo nàn, lạc hậu dẫn đến năng suất lao động thấp, hàng hóa kém chất lượng không thể cạnh tranh với hàng
Trang 24Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
hóa khác trên thị trường quốc tế Không có bước đột phá thì nền kinh tế đó khó có thể thoát khỏi vòng luẩn quẩn và dần tụt hậu so với thế giới Công nghệ chính là trung tâm, chìa khóa cho quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Công nghệ là yếu tố sống còn đưa một đất nước trở thành nước công nghiệp Công nghệ -
kỹ thuật theo chân các nhà đầu tư đến nước nhận đầu tư bao gồm cả những công nghệ bị cấm xuất theo con đường ngoại thương Những công nghệ tiên tiến, hiện đại
có thể làm thay đổi bộ mặt của một nền sản xuất, chuyển từ sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, thủ công sang quy mô công nghiệp
Nguồn vốn có thể được sở hữu thông qua nhiều cách như tiết kiệm hay đi vay Tuy nhiên, việc sản xuất trong nước còn kém hiệu quả thì tích lũy cao là điều xa xỉ hay việc vay nợ tiềm ẩn nhiều rủi ro Những khoản nợ vay với lãi cao, quản lý và đầu tư kém hiệu quả khiến con nợ tiếp tục tìm kiếm các khoản vay mới để bù đắp trong ngắn hạn Những điều kiện cho vay dần ngặt nghèo hơn, và chu kỳ cứ thế tiếp diễn đẩy con nợ vào vòng xoáy nợ nần: vay – nợ - vay mới – nợ tăng – tiếp tục vay mới khác… Lạm phát xảy ra và ngân sách bị thâm hụt Trả nợ sẽ ngốn hết các khoản chi ngân sách phục vụ đầu tư và phát triển Trường hợp xấu nhất có thể xảy
ra đó là bị vỡ nợ Khắc phục điều này, FDI bổ sung nguồn vốn cần thiết, dồi dào phục vụ trực tiếp phát triển kinh tế, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Thông qua đầu tư và chuyển giao công nghệ, chủ đầu tư đào tạo và nâng cao năng lực quản lý và tay nghề cho lao động và chuyên gia địa phương Được học tập
và làm việc trong một môi trường chuyên nghiệp giúp người lao động địa phương cải tiến và hoàn thiện nhiều kỹ năng – điều mà các lao động trong nước đang rất thiếu Bên cạnh đó, lĩnh vực giáo dục, đào tạo và dạy nghề nước nhận đầu tư cũng
sẽ cải thiện đáng để để đáp ứng nhu cầu tuyển dụng ngày càng cao từ phía các chủ đầu tư nước ngoài
- FDI giúp nước nhận đầu tư tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu Khi mà năng lực sản xuất trong nước còn hạn chế, hàng hóa sản xuất ra đáp ứng hạn chế các tiêu chuẩn quốc tế, các doanh nghiệp FDI trở thành một cầu nối kinh tế giữa doanh nghiệp trong nước với nước ngoài Các công ty đa quốc gia nhờ
sở hữu tiềm lực vốn có, kinh nghiệm kinh doanh quốc tế sẽ tận dụng những lợi thế ở
Trang 25Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
nước nhận đầu tư để sản xuất ra những sản phẩm có khả năng cạnh tranh trên trường quốc tế Kết hợp với các doanh nghiệp bản địa tạo thành một mối liên kết chung, phân công lao động khu vực giúp tăng năng suất lao động địa phương Thông qua đó, hàng hóa khi tiến hành xuất khẩu mang nhiều lợi thế, kéo theo việc
mở rộng thị trường và tăng cường năng lực xuất khẩu
- FDI tạo công ăn việc làm cho lao động địa phương Không những trực tiếp
sử dụng lao động trong doanh nghiệp, cơ sở của mình, các doanh nghiệp FDI thông qua việc thúc đẩy các doanh nghiệp địa phương cũng gián tiếp tạo ra công ăn việc làm Nhờ làm ăn tốt mà những lao động trong các doanh nghiệp FDI thường có thu nhập cao hơn và đời sống được nâng cao
- FDI góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực Ở hầu hết các nước đang và chậm phát triển, ngành nông nghiệp luôn chiếm tỷ trọng cao FDI thường được đầu tư vào công nghiệp kỹ thuật cao và dịch vụ kéo theo những sự chuyển dịch của lao động, vốn, cơ cấu sản phẩm vào những ngành có tỷ suất lợi nhuận cao đóng góp đáng kể vào tăng thu ngân sách, tăng trưởng GDP và ổn định
xã hội Về phương diện quốc tế, nó giải quyết sự mất cân đối trong cơ cấu lãnh thổ, phát huy tối đa lợi thế từng địa phương, đưa các khu vực nghèo đói giảm nghèo và phát triển kinh tế
- FDI đóng góp đáng kể vào ngân sách Nhà nước thông qua các khoản thuế đóng góp hàng năm của các doanh nghiệp nước ngoài
Tiêu cực Bên cạnh việc sở hữu nhiều ưu điểm, FDI cũng tồn tại những bất cập mà nhiều quốc gia đang gặp phải Vì mục tiêu số một của các doanh nghiệp nước ngoài chính
là lợi nhuận nên những doanh nghiệp này thường lợi dụng những sở hở, yếu kém trong quản lý của Chính phủ nước sở tại để thực hiện các hoạt động gian lận, trốn thuế, vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường
Một tình trạng chung ở nhiều nước đang phát triển có luật pháp chưa chặt chẽ
và hoàn thiện đó là việc chuyển giá của các doanh nghiệp FDI Với lợi thế sở hữu mạng lưới sản xuất và phân phối ở khắp nơi trên thế giới, các doanh nghiệp này dễ dàng chuyển lợi nhuận từ quốc gia đánh thuế thu nhập cao sang các thiên đường thuế Trong nhiều năm liền bất chấp những ưu đãi mà Chính phủ nước nhận đầu tư
Trang 26Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
dành cho, họ liên tục chây ỳ và báo lỗ gây thất thu đáng kể ngân sách Nhà nước Trong khi đó lợi nhuận được chuyển ra nước ngoài và làm giàu cho tư bản cũng như nước chủ đầu tư Đồng thời điều này tạo ra những hệ lụy xấu tác động đến các doanh nghiệp FDI khác và nền kinh tế
Không phải lúc nào công nghệ mà các nhà đầu tư nước ngoài mang đến cũng mới và được cập nhật liên tục Ở nhiều dự án, máy móc công nghệ được chuyển giao đã nằm ở giai đoạn cuối của chu kỳ sản phẩm Nghĩa là thời gian sử dụng của công nghệ đó không còn dài và sẽ sớm bị thay thế bởi những công nghệ khác tiên tiến hơn Cùng với đó, các nước đang phát triển tiếp nhận đầu tư luôn ở trong tình trạng phụ thuộc vào công nghệ của những nước phát triển, luôn ở tình thế của kẻ đi sau và không chủ động trong việc phát triển khoa học – công nghệ
FDI giúp nước chủ đầu tư tránh được việc sử dụng quá mức tài nguyên thiên nhiên, gây ô nhiễm môi trường thì những hậu quả này bị đẩy qua cho nước nhận đầu tư Nhằm mục tiêu phát triển kinh tế, nhiều Chính phủ tiếp nhận đầu tư ồ ạt vào
cả những ngành khai thác các nguồn tài nguyên không có khả năng tái tạo và nguy
cơ tác động xấu đến môi trường Chính sự đánh đổi mục tiêu dài hạn cho mục tiêu ngắn hạn này đã gây ra nhiều hệ lụy buộc nhiều quốc gia đã phải dần thay đổi chính sách thu hút đầu tư
Sự xuất hiện của các doanh nghiệp nước ngoài giết chết nhiều công ty trong nước Nhờ nắm giữ nhiều sức mạnh về vốn, công nghệ và bí quyết kinh doanh, doanh nghiệp FDI dễ dàng sử dụng các chính sách giá hay marketing để chiếm lĩnh thị trường Nếu các doanh nghiệp trong nước không phản ứng kịp sẽ mất dần thị phần và bị đào thải Điều này không những tác động đến kinh tế vĩ mô mà dài hạn còn ảnh hượng đến tiêu dùng của người dân
Nếu không có sự định hướng rõ ràng, FDI đầu tư nhiều vào những ngành có tỷ suất lợi nhuận cao gây ra mất cân đối ngành, gia tăng khoảng cách giàu nghèo trong
xã hội và sự tăng trưởng kinh tế sẽ bị phụ thuộc vào nguồn vốn FDI từ bên ngoài Tính hai mặt tích cực và tiêu cực luôn song hành tồn tại trong cùng một thực thể FDI sở hữu nhiều ưu điểm để đưa nó trở thành hình thức đầu tư quốc tế hàng đầu hiện này nhưng cùng với đó cũng ẩn chứa nhiều nguy cơ Tùy từng thời điểm
và điều kiện mỗi nước mà mức độ thể hiện của các mặt này khác nhau Để phát huy
Trang 27Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
tối đa ưu điểm và khắc phục hiệu quả nhược điểm của FDI, các quốc gia cũng như doanh nghiệp tham gia kinh tế quốc tế cần có sự chuẩn bị tốt nhất và chủ động trong chính sách phát triển của mình
1.2 Tổng quan hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Nhật Bản
Nhật Bản sau Chiến tranh Thế giới thứ Hai, từ một đất nước bị tàn phá nặng
nề nay trở thành nền kinh tế lớn thứ ba thế giới và thứ hai châu Á Từ năm 1955 đến năm 1971, kinh tế Nhật Bản có sự phát triển thần kỳ với tốc độ tăng trưởng trung bình ngày càng tăng: 1955-1960: 8,5%/năm, 1961-1965: 9,8%/năm, 1966-1971: 11,2%, GNP năm 1970 đạt 199,8 tỷ USD tăng hơn 8,3 lần so với 23,9 tỷ USD của năm 1955 GNP/đầu người đạt 6270 USD năm 1969 Tổng kim ngạch ngoại thương tăng 25 lần trong 20 năm (1950-1970) Dự trữ ngoại tệ từ 1,8 tỷ USD năm 1960 tăng lên 15 tỷ USD năm 1971 (theo Hội Thanh niên và Sinh viên Việt Nam tại Nhật Bản - VYSA, Tổng quan kinh tế Nhật Bản sau chiến tranh) Sự tăng trưởng của Nhật Bản được ví như truyền thuyết trong lịch sự phát triển không chỉ của riêng nước này mà của cả thế giới Các công ty và tập đoàn mang quốc tịch Nhật Bản phát triển không ngừng và liên tục mở rộng sản xuất ra nước ngoài tiêu biểu như Sony, Honda, Toyota… Đây đều là những tập đoàn hàng đầu thế giới trong lĩnh vực của mình Để có sự vươn mình mạnh mẽ ra thế giới như vậy, Chính phủ, doanh nghiệp và người dân Nhật Bản đã nỗ lực và có những chính sách hiệu quả để khắc
phục các điểm yếu và phát huy thế mạnh đất nước
1.2.1 Những nhân tố các động đến đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Nhật Bản
Kinh tế Nhật Bản chịu tác động bởi nhiều phía và quyết định đầu tư của các doanh nghiệp Nhật Bản cũng bị ảnh hưởng từ nhiều phía Cả doanh nghiệp và Chính phủ Nhật Bản đều đã có những định hướng nhất định về việc chuyển hướng đầu tư ra bên ngoài để đối phó với những bất lợi
- Đồng Yên lên giá: Kinh tế Nhật Bản phát triển thần kỳ (1955-1971) tạo ra
lượng của cải vật chất dồi dào phục vụ xuất khẩu trực tiếp sang Tây Âu và Mỹ Kinh tế Mỹ và Tây Âu vì thế gặp nhiều khó khăn, cán cân thương mại thâm hụt trực tiếp với Nhật Bản Xung đột thương mại xảy ra và các nước này liên kết lại gây áp lực buộc Nhật Bản tăng giá đồng Yên nhằm cứu vãn nền kinh tế đặc biệt là Mỹ Kết
Trang 28Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
quả Hiệp định Plaza được ký kết năm 1985 giữa 5 nước Mỹ, Nhật Bản, Anh, Đức
và Pháp đẩy tỷ giá JPY/USD tăng 51% trong vòng 2 năm sau đó Từ một đất nước phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu, Nhật Bản mất đi thế mạnh, sản xuất ngưng trệ khiến kinh tế Nhật Bản gặp nhiều khó khăn Để gia tăng sức cạnh canh, các công ty Nhật Bản đua nhau tìm kiếm những địa điểm đầu tư mới nổi ổn định hơn để xây dựng cơ
sở sản xuất, tạo ra làn sóng FDI mạnh mẽ của Nhật Bản
Việc đồng Yên tăng giá đồng nghĩa với việc người dân Nhật Bản giàu lên một cách tương đối Lượng tiền mà họ đem ra nước ngoài đầu tư cũng tăng lên tương ứng, vì vậy các nhà đầu tư Nhật Bản có thể mua được nhiều tài sản hơn trên khắp thế giới và khiến cho việc đầu tư ra nước ngoài trở nên dễ dàng hơn
- Tác động của các doanh nghiệp đến môi trường: Đất nước Nhật Bản đất
chật người đông, tài nguyên nghèo nàn 73% diện tích Nhật Bản là núi trong đó có nhiều núi lửa và hàng năm xảy ra hàng trăm trận động đất Dân cư đông đúc (335 người/km2), thiếu thốn đầu vào buộc Nhật Bản phải tiêu tốn hàng trăm tỷ USD mỗi năm để nhập khẩu nhiên liệu, kim loại, lương thực, thực phẩm… Mặt khác, sự phát triển thần kỳ giai đoạn 1955-1971 khiến môi trường sống bị ô nhiễm nghiêm trọng Bệnh hen xuyễn có nguyên nhân từ các nhà máy công nghiệp lọc dầu, bệnh Mizumata do ô nhiễm thủy ngân, bệnh Itai-Itai do ô nhiễm cadmium… Những vấn
đề này đặt ra cho Chính phủ Nhật Bản phải có những biện pháp để đưa bớt các nhà máy ô nhiễm ra nước ngoài
- Các doanh nghiệp Nhật Bản sở hữu nhiều thế mạnh thuận lợi cho việc
đầu tư ra nước ngoài: Điều đầu tiên chính là các công ty Nhật Bản nắm trong tay
những kỹ thuật hiện đại nhất của thế giới Sản phẩm của họ luôn đảm bảo tính bền đẹp, thân thiện người dùng Sự lao động cần cù, ham học hỏi để liên tục tạo ra cái mới của các kỹ sư và chuyên gia Nhật Bản đã tạo nên một nền khoa học và công nghệ mang thương hiệu Nhật nổi tiếng khắp thế giới Ngoài ra, các doanh nghiệp Nhật Bản sở hữu tiềm lực tài chính hùng mạnh cùng với kinh nghiệm quản lý tiên tiến Tất cả các yếu tố này đã giúp các doanh nghiệp FDI đến từ Nhật Bản không mấy khó khăn để tạo chỗ đứng vững chắc ở các thị trường mà họ đầu tư vào
- Chính sách hỗ trợ từ phía Chính phủ Nhật Bản: Để hỗ trợ các doanh
nghiệp đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, Nhật Bản đã tiến hành tự do hóa đầu tư ra
Trang 29Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
nước ngoài, thực hiện các chính sách mở cửa đầu tư ra nước ngoài theo lộ trình chắc chắn và có tính toán Các doanh nghiệp được khuyến khích đầu tư nước ngoài là những doanh nghiệp có tiềm lực tài chính hùng hậu, quy mô sản xuất lớn và cần mở rộng phạm vi ảnh hưởng ra bên ngoài để tăng năng lực sản xuất cho nền kinh tế trong nước Mục tiêu của Nhật Bản là tận dụng những cơ hội tốt nhất để tăng khả năng sản xuất và xuất khẩu hàng hóa bao gồm cả xuất khẩu từ trong nước, xuất khẩu tại chỗ ở nước nhận đầu tư và xuất sang nước thứ ba tránh việc chuyển đổi sang FDI quá mức làm rỗng nền kinh tế và gia tăng nguy cơ thất nghiệp
Nhật Bản thành lập nhiều công cụ hỗ trợ đắc lực các nhà đầu tư đầu tư ra nước ngoài như: Tổ chức Xúc tiến Thương mại Nhật Bản – JETRO đảm nhận vai trò xúc tiến tìm kiếm thị trường, thông qua Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản – JBIC
hỗ trợ tài chính để triển khai các dự án đầu tư, hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng cho nước nhận đầu tư thông qua nguồn viện trợ ODA của Chính phủ Nhật Bản và hỗ trợ bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư thông qua quan hệ cấp Chính phủ và các hiệp định song phương, đa phương đã ký kết với các nước trên thế giới
Trong những năm cuối của thế kỷ trước, các tập đoàn lớn là động lực cho sự phát triển của Nhật Bản, xây dựng mạng lưới sản xuất, kinh doanh và tạo tầm ảnh hưởng trên toàn cầu Tuy nhiên đến năm 2014, theo bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam, các doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm đến 99% tổng số doanh nghiệp của Nhật Bản, 38.000 doanh nghiệp hạng trung có số vốn từ 100 triệu đến 1 tỷ yên Cùng với việc hỗ trợ các tập đoàn lớn, Chính phủ Nhật Bản tiến hành tập trung vào các doanh nghiệp tầm trung mở rộng sản xuất, kinh doanh ra nước ngoài Chính phủ Nhật Bản tuyển chọn những chuyên gia đang làm việc tại các công ty thương mại, sản xuất tinh thông và am hiểu việc triển khai hoạt động tại nước ngoài Thông qua Tổ chức xúc tiến thương mại Nhật Bản (JETRO), Chính phủ cử những nhân viên này tới các công ty hạng trung (có doanh số dưới 100 tỷ yên/năm và số nhân viên dưới 1000 người) để hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng chiến lược xuất khẩu, thu thập thông tin về thị trường nước ngoài, tạo dựng quan hệ giao dịch và xử lý các vấn đề liên quan tới hoạt động ký kết hợp đồng với doanh nghiệp nước ngoài
Nhờ có sự hỗ trợ của Chính phủ Nhật Bản mà hầu hết các doanh nghiệp hiện đang đầu tư ở nước ngoài gặp nhiều thuận lợi Theo Sách Trắng doanh nghiệp vừa
Trang 30Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
và nhỏ của Nhật Bản năm 2014, có đến 48% doanh nghiệp vừa và nhỏ nước này cho nhu cầu mở rộng đầu tư ra nước ngoài và yêu cầu được hỗ trợ về vốn, thông tin
về môi trường đầu tư nước ngoài
1.2.2 Tình hình đầu tư ra nước ngoài
Trong giai đoạn 2001-2014, hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài có nhiều biến động tùy theo tình hình kinh tế thế giới và Nhật Bản Những năm đầu của thế
kỷ XXI, FDI của Nhật Bản ra thế giới giảm hoặc tăng không nhiều (tăng trưởng âm hoặc chỉ 7.63% năm 2004) do kinh tế Nhật Bản dần phục hồi sau giai đoạn khủng hoảng kinh tế năm 1997-1998 Các nhà đầu tư Nhật Bản lạc quan hơn về tình hình kinh tế đất nước nên có sự chuyển hướng đầu tư vào trong nước Những năm sau đó chứng kiến sự tăng trưởng mạnh của dòng vốn FDI từ Nhật Bản ra nước ngoài (hai năm đạt mức trên 46% và tiêu biểu là 78% nâng vốn FDI lên 130.801 triệu USD vào năm 2008)
Bảng 1.1: Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Nhật Bản 2001-2014
Nguồn: Thống kê đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, JETRO, Nhật Bản Nguyên nhân là do khủng hoảng kinh tế toàn cầu và kinh tế Nhật Bản cũng chịu tác động không nhỏ Lần đầu tiên từ năm 2000, kinh tế Nhật Bản lâm vào tình trạng tồi tệ như vậy Đồng Yên liên tục tăng giá so với đồng đô la Mỹ Tăng trưởng
cả năm chỉ đạt 0,35% (năm 2001), thấp hơn rất nhiều so với mức 2,2% năm 2007
Năm Giá trị
(triệu USD)
Tăng giảm (%)
Trang 31Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
(theo kushnirs.org) Theo tài chính Nhật Bản, lần đầu tiên từ năm 1980, cán cân thương mại bị thâm hụt, mức thâm hụt lên tới 725,3 tỷ yên Có đến 11.333 công ty phá sản Kinh tế trong nước khó khăn buộc các nhà đầu tư Nhật Bản chuyển dòng vốn ra bên ngoài
Sau giai đoạn khủng hoảng kinh tế năm 2008, kinh tế Nhật Bản có dấu hiệu phục hồi sau nhiều gói kích thích được Chính phủ Nhật Bản bơm vào nền kinh tế để cứu doanh nghiệp Sau một năm đầy khó khăn, các doanh nghiệp cố gắng để trụ lại
và dù không phá sản thì tài sản cũng giảm đi đáng kể cùng với việc kinh tế Nhật Bản khá hơn đã làm dòng vốn hai năm tiếp đó giảm mạnh (lần lượt là 42,93% và 23,34%) Tuy nhiên, sự hồi phục kinh tế đó không bền vững cùng với đó là thảm họa kép động đất, sóng thần năm 2011 đã đẩy kinh tế Nhật Bản vào cuộc khủng hoảng kinh tế một lần nữa Bên cạnh đó, việc nợ công của Nhật Bản tăng cao gấp 2 lần GDP buộc Chính phủ phải tăng thuế tiêu dùng từ 5% lên 8% càng làm kinh tế Nhật Bản và các doanh nghiệp thêm khó khăn Tất yếu xảy ra một cuộc tháo chạy tập thể của dòng vốn FDI ra nước ngoài với mức tăng tưởng của dòng vốn là 90,15% Những năm sau đó (2012-2014), dòng vốn FDI của Nhật Bản ra nước ngoài có sự tăng giảm không quá nhiều ở mức giao động khoảng 10%/năm
Về cơ cấu khu vực, tỷ lệ phân bổ nguồn vốn ở các khu vực khác nhau không giống nhau để phù hợp với từng mục đích cụ thể Kể từ khi hiệp ước Plaza được ký kết năm 1985, hàng hóa được sản xuất ở Nhật Bản mất đi lợi thế của mình buộc các doanh nghiệp Nhật Bản phải tiến hành đầu tư trực tiếp sang các nước trước đây vốn
là thị trường xuất khẩu chủ lực như Bắc Mỹ và Châu Âu Hai khu vực này luôn chiếm một tỷ lệ đáng kể trong cơ cấu FDI của Nhật Bản cho bến tận bây giờ Tuy nhiên, kể từ những năm đầu của thế kỷ XXI khi mà khu vực châu Á có sự vươn mình mạnh mẽ, kinh tế tăng trưởng ổn định, môi trường đầu tư thông thoáng và nhiều ưu đãi thì dòng vốn FDI của Nhật Bản được dịch chuyển dần sang khu vực này và gia tăng không ngừng
Trang 32Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Biểu đồ 1.1: Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Nhật Bản theo địa bàn
Nguồn: Báo cáo thương mại và đầu tư toàn cầu JETRO 2014
Cơ cấu FDI ra nước ngoài theo ngành của Nhật Bản có nhiều biến động và thay đổi liên tục Theo số liệu được thể hiện trong phụ lục 1, trong vòng 14 năm, có
6 năm đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào lĩnh vực chế tạo có giá trị lớn hơn lĩnh vực phi chế tạo Bốn năm đầu, sự khác biệt về đầu tư giữa hai lĩnh vực là không quá lớn, tối đa chỉ 10% Những năm 2005-2007, FDI phần lớn vào các ngành công nghiệp chế tạo đặc biệt là các lĩnh vực sản xuất thiết bị vận tải, thiết bị điện tử, dược phẩm
và hóa chất Đây là 3 ngành trọng điểm tận dụng tối đa thế mạnh công nghệ của các doanh nghiệp Nhật Bản, đồng thời có thể sử dụng nhân công giá rẻ từ các nước nhận đầu tư và luôn có tỷ trọng chiếm trên 50% tổng giá trị của các ngành công nghiệp chế tạo Tuy nhiên những năm sau đó có sự chuyển dịch cơ cấu sang các ngành phi chế tạo Năm 2008, FDI của Nhật Bản đạt mức kỷ lục 85.533 triệu USD chiếm 65,39% và đến năm 2010 cùng với sự suy giảm của dòng vốn FDI, đầu tư trực tiếp vào lĩnh vực phi chế tạo cũng giảm đáng kể xuống còn 39.420 triệu USD tuy nhiên tỷ trọng vẫn là 68,89% do ngành chế tạo có mức giảm sâu hơn Trước khi mất vị trí nền kinh tế thứ hai thế giới vào tay Trung Quốc vào năm 2010, Nhật Bản bên cạnh nổi tiếng về công nghệ tiên tiến còn sở hữu nguồn tài chính hùng mạnh Trong khi đó ở nhiều nước ngành tài chính chưa phát triển, đó là cơ sở để các tập đoàn Nhật Bản tập trung nguồn vốn FDI vào ngành tài chính ở nước ngoài Tiêu biểu năm 2008, FDI của Nhật Bản ra nước ngoài vào ngành tài chính và bảo hiểm đạt mức 52.243 triệu USD tức chiếm đến 40% tổng dòng vốn FDI của Nhật Bản cả
0 20,000 40,000 60,000 80,000 100,000 120,000 140,000 160,000
2001 02 03 04 05 06 07 08 09 10 11 12 13 14
triệu USD
năm
Châu Âu Khu vực khác Thế giới
Trang 33Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
năm 2008 Đén năm 2014 chứng kiến sự đảo chiều trong đầu tư của Nhật Bản khi các ngành thuộc lĩnh vực chế tạo lại chiếm giá trị lớn hơn với 58,69% trong tổng giá trị đầu tư
Nhìn chung dòng vốn FDI của Nhật Bản chứng kiến xu hướng tăng trong giai đoạn 2001-2014 Nhu cầu đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp Nhật Bản là rất lớn Không chỉ tạo nên sức mạnh cho nền kinh tế lớn thứ ba thế giới, dòng vốn từ các doanh nghiệp này còn trở thành động lực để đưa các khu vực khác tiến lên Đây là dòng vốn chất lượng và vô cùng hữu ích với các nước đang phát triển nói chung và các nước ASEAN nói riêng, trong đó có Việt Nam
Trang 34Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA NHẬT BẢN VÀO ASEAN
Kể từ khi được thành lập ngày 8/8/1967 với ý tưởng hình thành một Hiệp hội quy tụ tất cả các quốc gia Đông Nam Á, ASEAN được xem là mô hình hợp tác khu vực thành công trên thế giới, là điểm tựa vững chắc cho ổn định địa - chính trị ở châu Á ASEAN là khu vực năng động với hơn 600 triệu dân, vị trí địa lý thuận lợi với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt 5%/năm Các nước ASEAN có sự hợp tác nhiều mặt cả về chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh, kinh tế Các nước thành viên ASEAN luôn phấn đấu vì mục tiêu chung dựa trên nguyên tắc đồng thuận để giải quyết các vấn đề đe dọa dẫn đến xung đột và bất ổn an ninh khu vực
Quan hệ hợp tác giữa các nước ASEAN dựa trên ba trụ cột chính để hướng đến cộng đồng ASEAN vào 31/12/2015: Cộng đồng Chính trị - An ninh (APSC), Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) và Cộng đồng Văn hóa – Xã hội ASEAN (ASCC) Cộng đồng khi hình thành hứa hẹn sẽ tạo ra một sự kết nối sâu rộng hơn nữa, không chỉ góp phần thúc đẩy kinh tế thương mại, mà cả giao lưu văn hóa giữa người dân các nước
Không những tạo dựng quan hệ hợp tác giữa các nước trong Hiệp hội, ASEAN được xác định là một cộng đồng mở với bên ngoài ASEAN luôn chủ trương xây dựng quan hệ hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với các đối tác và phát huy vai trò trung tâm của mình trong các mối quan hệ đó ASEAN có quan hệ hợp tác tốt đẹp với các nước như Trung Quốc, Nga, Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ, Hàn Quốc hay Australia Trong đó, quan hệ đối thoại ASEAN – Nhật Bản là một trong những mối quan hệ lâu bền nhất ASEAN và Nhật Bản thiết lập quan hệ ngoại giao không chính thức từ năm 1973 và sự hợp tác đó không ngừng được củng cố, tiến bộ đáng
kể, trải dài trên nhiều lĩnh vực Việc ký kết “Tuyên bố Tokyo về Quan hệ đối tác ASEAN-Nhật Bản Năng động và Lâu dài trong Thiên niên kỷ mới" tại Hội nghị Cấp cao kỷ niệm ASEAN-Nhật Bản (Tokyo, Nhật Bản, tháng 12/2003) thực sự đã tạo nên bước đột phá và khẳng định mối quan hệ hợp tác bền vững giữa hai bên Trong đó, quan hệ hợp tác kinh tế được tạo dựng lâu bền Nhật Bản là một trong những nước đầu tư trực tiếp nhiều nhất vào khu vực ASEAN, góp phần không nhỏ vào quá trình phát triển đất nước và hội nhập quốc tế của các quốc gia này Các
Trang 35Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
nước ASEAN sở hữu những nguồn lực, nhân tố khác biệt và một thị trường lý tưởng cho các nhà đầu tư đến từ Nhật Bản
2.1 Các nhân tố tác động đến đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào các nước ASEAN
2.1.1 Hệ thống pháp luật và chính sách liên quan đến FDI
Các nước ASEAN có những đặc điểm riêng về lịch sử, truyền thống, địa lý, thành phần dân cư, trình độ phát triển kinh tế, chính trị, tôn giáo nên mỗi nước đều xây dựng cho mình một thế thống pháp luật mang nhiều nét riêng Thái Lan, Việt Nam, Lào, Campuchia, Indinesia và Philippines tiếp nhận hệ thống pháp luật theo dòng Civil law (hệ thống pháp luật Pháp - Đức) trong khi đó các nước Malaysia, Singapore, Brunei, Myanmar và ngay cả Philippines chịu ảnh hưởng của dòng Common law (hệ thống pháp luật Anh – Mỹ) Bên cạnh đó, dòng phát luật XHCN cũng có những tác động nhất định đến các nước ASEAN sau chiến tranh thế giới thứ II như Việt Nam, Lào Tuy nhiên dù phát triển cho mình hệ thống nào thì các nước ASEAN vẫn luôn cố gắng để tạo ra môi trường thông thoáng nhất, có những chính sách và cơ chế để thu hút FDI từ bên ngoài đặc biệt là dòng vốn FDI đầy tiềm năng từ Nhật Bản
Ở các nước ASEAN, hoạt động xúc tiến đầu tư được hết sức chú trọng Ở Malaysia, hoạt động xúc tiến đầu tư được làm thường xuyên dưới nhiều hình thức rất đa dạng, phong phú và được thực hiện dưới nhiều cấp độ khác nhau Cơ quan chuyên trách quản lý hoạt động xúc tiến đầu tư là MIDA, hoạt động xúc tiến đầu tư được tiến hành đa dạng nhưng vẫn được quản lý thống nhất nên tránh được tình trạng xúc tiến đầu tư tràn lan, không có mục tiêu rõ ràng hay chồng chéo giữa các tổ chức tham gia vận động đầu tư Theo báo cáo môi trường kinh doanh của Ngân hàng Thế giới – WB, thời gian làm thủ tục để hoàn thành nộp thuế trung bình của các nước ASEAN-6 là 171 giờ/năm (trong đó Indonesia 259 giờ, Thái Lan 264 giờ, Philippines 193 giờ, Malaysia 133 giờ và Singapore chỉ là 82 giờ), thấp hơn mức trung bình của khu vực châu Á Thái Bình Dương (208 giờ), thời gian xuất khẩu là
14 ngày và thời gian nhập khẩu là 13 ngày Điều đó cho thấy các nước ASEAN đã
Trang 36Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
có những chính sách và cơ chế hiệu quả để tạo ra môi trường đầu tư thuận lợi nhất cho các nhà đầu tư
2.1.2 Sự ổn định của môi trường chính trị - xã hội
Trong tình hình chính trị an ninh thế giới có nhiều biến động, các quốc gia thuộc ASEAN thể hiện tinh thần đoàn kết và chung tay xây dựng một cộng đồng hòa bình, ổn định, tăng cường sức mạnh để đối phó với các thách thức nhằm đóng góp cho thịnh vượng chung của khu vực Mặc cho tình hình bất ổn ở biển Đông và những biến động chính trị ở Thái Lan, ASEAN vẫn được coi là một trong những khu vực có nền chính trị - xã hội ổn định hàng đầu thế giới Về chỉ số nhận diện tham nhũng (CPI) năm 2014, một số nước ASEAN xếp hạng cao như: Singapore hạng 7 với 84/100 điểm, Malaysia xếp thứ 50, Thái Lan và Phillipines cùng đứng ở
vị trí 85 trên tổng số 174 quốc gia được đánh giá Không chỉ tạo mỗi quan hệ khăng khít giữa các thành viên, ASEAN còn tạo dựng quan hệ với nhiều đối tác trong khuôn khổ đối thoại và hợp tác khu vực như các Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF), ASEAN + 3 (APT), Hội nghị Cấp cao Đông Á (EAS) và hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM Plus) đảm bảo an ninh không chỉ cho khu vực mà trên toàn thế giới
Nếu như trước đây Trung Quốc là quốc gia thu hút FDI hàng đầu từ Nhật Bản thì giai đoạn gần đây dòng vốn này đã chuyển dần sang khu vực ASEAN Bên cạnh những yếu tố kinh tế, căng thẳng chính trị giữa hai cường quốc hàng đầu thế giới này mà tiêu biểu là liên tiếp những hoạt động phản đối Nhật Bản diễn ra ở Trung Quốc đã gây khó khăn cho hoạt động sản xuất và kinh doanh của các nhà đầu tư Nhật Bản Do vậy, các doanh nghiệp Nhật Bản đã rời bỏ Trung quốc để tìm đến khu vực ổn định hơn và có tiềm năng hơn là các nước ASEAN Ngoài ra, ASEAN và Nhật Bản luôn là đối tác và có quan hệ đối thoại tốt đẹp trên nhiều lĩnh vực không chỉ về chính trị mà còn an ninh, văn hóa, xã hội, kinh tế và hợp tác phát triển
2.1.3 Kinh tế vĩ mô ổn định và tăng trưởng GDP duy trì ở mức cao
ASEAN nằm ở khu vực rất năng động của thế giới với vị trí địa lý thuận lợi, trung chuyển về đường biển giữa châu Á và châu Âu, đồng thời cũng dễ dàng giao lưu thương mại với châu Mỹ Theo vụ ASEAN – Bộ Ngoại Giao Việt Nam, năm
Trang 37Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
2013 GDP khu vực ASEAN đạt 1.850 tỷ USD với tốc độ tăng trưởng trung bình trên 5%/năm cung với dung lượng thị trường rộng lớn với hơn 600 triệu dân Tổng kim ngạch thương mại của ASEAN đã đạt trên 1 nghìn tỷ USD với 4 đối tác chính chiếm trên 70% trao đổi thương mại là Mỹ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc và nội bộ các nước ASEAN Trong đó, Nhật Bản là bạn hàng lớn thứ ba của ASEAN với tốc
độ tăng trưởng thương mại hai chiều hầng năm đạt 16% và đồng thời cũng là nhà đầu tư lớn thứ hai ở ASEAN Thâm hụt thương mại dịch vụ của ASEAN đã dần được cải thiện đáng kể, giảm từ 22 tỷ USD năm 2005 xuống còn 9 tỷ USD năm
2011 [theo Ban thư ký Hiệp hội các nước Đông Nam Á, 2012, báo cáo Hệ thống Theo dõi Tiến bộ Cộng đồng ASEAN (ACPMS)]
Bên cạnh đó, mức sống của người dân không ngừng nâng cao và sức mua cũng được cải thiện đáng kể Thu nhập bình quân đầu người của nhiều nước vốn là nước nghèo như Việt Nam, Campuchia, Lào đã vượt qua mức thu nhập thấp (Việt Nam 1.910,5 USD/người/năm, Lào 1.660,7 USD/người/năm) tiêu biểu những nước
có thu nhập cao như Singapore 23.574 USD/người/năm (2003) tăng lên 55.182,5 USD/người/năm (2013), Malaysia 4.427,5 USD/người/năm (2003) sau 10 năm đạt mức 10.538,1 USD/người/năm (theo Ngân hàng Thế giới - WB) Mặc dù có sự chênh lệch về thu nhập và mức sống giữa các nước trong khu vực tuy nhiên khoảng cách này đang dần được thu hẹp Tiến tới khi cộng đồng kinh tế ASEAN được thành lập hứa hẹn sẽ là cơ sở để các nước tạo nên khu vực ổn định, thịnh vượng, giảm bớt đói nghèo và phát triển đồng đều
2.1.4 Hệ thống cở sở hạ tầng kỹ thuật chưa đáp ứng nhu cầu phát triển
Bước vào thế kỷ XXI với tư thế là những nước đang phát triển, các nước ASEAN dường như chỉ chú trọng vào thu hút đầu tư và phát triển kinh tế mà quên
đi việc xây dựng cơ sở hạ tầng Vì vậy, Ngân hàng Châu Á - ADB đã có những cảnh báo về cơ sở hạ tầng các nước ASEAN như Philippines, Indonesia, Việt Nam hay Myanmar đang tụt hậu và không đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế So với năm khủng hoảng tài chính 1997, các nước ASEAN thu hút được 38 tỷ USD đầu tư tư nhân vào lĩnh vực cơ sở hạ tầng thì con số này năm 2010 chỉ đạt mức 25
tỷ USD Hiện nay các nước ASEAN chỉ dành khoảng 4% GDP cho phát triển cơ sở
Trang 38Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
ASEAN chỉ có 10 km đường giao thông và 0,25 km đường sắt/1.000 người, thấp hơn nhiều so với 200 km đường giao thông và 5 km đường sắt/1.000 người ở các nước thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) Tại sân bay quốc tế Ninoy Aquino ở Manila, thủ đô của Philippines, công trình hạ tầng không những lạc hậu cũ kỹ mà còn không có quy hoạch, giữa 3 nhà ga không có hệ thống xe đưa đón hoặc hệ thống băng di chuyển kết nối Việc đi lại trong nhà ga do hành khách tự
“đáp xe” Các nước Đông Nam Á khác như Campuchia và Indonesia cũng tồn tại bất cập như mật độ mạng lưới giao thông công cộng quá thấp Tại Indonesia, xây dựng cơ sở hạ tầng như cầu đường, cảng, công trình điện lực đều không theo kịp tốc
độ tăng trưởng kinh tế Cũng theo ADB, ước tính trung bình mỗi năm các nước ASEAN phải chi khoảng 60 tỷ USD/năm cho cho cơ sở hạ tầng tới tận năm 2020 thì mới theo kịp được trình độ hạ tầng cơ sở của các nước OECD Tuy nhiên con số này là điều không quốc gia nào có thể đáp ứng Để duy trì mức tăng trưởng kinh tế 5%/năm trong dài hạn và nâng cao năng lực thu hút FDI từ bên ngoài đặc biệt là Nhật Bản, các quốc gia ASEAN cần có biện pháp cải thiện vấn đề này
2.1.5 Trình độ lao động của lực lượng lao động
Các nước ASEAN ngoại trừ Singapore đều là những nước đang phát triển với lao động hoạt động trong ngành nông nghiệp vẫn chiếm đáng kể đặc biệt là các nước Việt Nam, Lào và Campuchia có đến trên 70% người trong độ tuổi lao động thuộc ngành nông – lâm – ngư nghiệp Bên cạnh đó, kỹ thuật canh tác còn hạn chế cùng với việc thu hút nguồn vốn cho phát triển nông nghiệp gặp nhiều khó khăn nên năng suất lao động rất thấp Trong lĩnh vực công nghiệp, phần lớn lao động vẫn là lao động sản xuất chế tạo trong những ngành cần sử dụng nhiều lao động Ngoài ra năng suất lao động giữa các nước cũng không đồng đều Singapore có năng suất lao động cao nhất với mức lương trung bình 3.547 USD/người/tháng năm 2014, Malaysia 609 USD/người/tháng trong khi đó trình độ lao động thấp hơn ở một số nước như Việt Nam hay Campuchia nhưng bù lại chi phí nhân công rẻ tương ứng
181 USD/người/tháng và 121 USD/người/tháng Đây là lý do mà các nước ASEAN thường thu hút FDI từ bên ngoài đặc biệt của Nhật Bản vào các ngành công nghiệp chế tạo cần nhiều lao động Điều này được lý giải bởi trình độ giáo dục ở các nước
có sự khác nhau đáng kể Singapore là quốc gia có nền giáo dục phát triển nhất khi
Trang 39Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
có đến 3 trường nằm trong top 50 trường đại học tốt nhất thế giới, trong đó trường Đại học Quốc gia Singapore đứng đầu châu Á
2.1.6 Năng lực cung ứng cao của các doanh nghiệp phụ trợ
Với lợi thế về nhân công và mục đích tận dụng tối đa lợi thế đó, một số nước ASEAN đã phát triển rất tốt ngành CNPT ví dụ như các nước Thái Lan, Malaysia
và Indonesia Thái Lan đã có những biện pháp từ khá sớm và được đánh giá rất thành công trong phát triển nhiều ngành CNPT phục vụ cho nhu cầu sản xuất của các doanh nghiệp FDI nói chung và các doanh nghiệp đến từ Nhật Bản nói riêng như Toyota, Honda, Hitachi, Panasonic để góp phần biến Thái Lan trở thành cứ điểm sản xuất nhiều mặt hàng xuất khẩu Cụ thể, Thái Lan năm 2011 có 16 công ty nước ngoài hoạt động trong lĩnh vực sản xuất xe hơi thì nước này có tới 1.700 công
ty nội địa cung cấp phụ tùng cho các doanh nghiệp đó khiến cho tỷ lệ nội đia hóa ngành xe hơi của Thái Lan đạt 70-80% Bên cạnh đó, một số nước chưa thực sự coi trọng ngành CNPT làm khả năng thu hút FDI bị hạn chế đáng kể như Việt Nam hay Myanmar
2.2 Thực trạng hoạt động đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào các nước ASEAN
Những nhân tố tác động FDI từ phía các nước ASEAN đang dần được cải thiện làm hấp dẫn các nhà đầu tư đến từ Nhật Bản Dòng vốn đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào các nước ASEAN đã có những chuyển biến tích cực cả về quy mô và
cơ cấu ngành đầu tư Những chuyển biến này góp phần không nhỏ vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và kiến thiết đất nước của khu vực Đông Nam Á
2.2.1 Quy mô đầu tư
Bước sang thế kỷ XXI, các nước phát triển cung cấp nguồn vốn FDI lớn đang dần chuyền hướng đầu tư sang các nước đang phát triển và Nhật Bản cũng theo xu thế đó chọn ASEAN là cứ điểm quan trọng để tiến hành đầu tư sản xuất Nhìn chung, dòng vốn FDI của Nhật Bản vào các nước ASEAN có sự gia tăng từ đầu thế
kỷ XXI cho đến nay
Trang 40Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Bảng 2.1: Đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào các nước ASEAN giai đoạn 2001-2014
năm (triệu USD) Giá trị Tăng giảm
(%)
Tỷ trọng trên tổng FDI của Nhật Bản(%)
Dòng vốn FDI những năm 2001-2004 của Nhật Bản vào các nước ASEAN suy giảm (giảm sâu năm 2002 với mức giảm -38,26% và tiếp tục chững lại năm
2003 với mức -0,35%) cùng với xu hướng giảm hoặc không tăng trưởng nhiều của tổng thể dòng vốn FDI của Nhật Bản ra nước ngoài Những năm sau đó có sự tăng trưởng rõ nét với 18,64% năm 2004 và đặc biệt là 81,15% năm 2005 để nâng tổng
số vốn của Nhật Bản vào các nước này năm 2005 lên con số 5 tỷ USD Tuy nhiên
có một điều khác lạ chính là vào năm 2008, khi mà dòng vốn FDI của Nhật Bản ra toàn cầu tăng mạnh mẽ lên mức cao nhất trong lịch sử thì dòng vốn này vào các nước ASEAN lại giảm sau nhiều năm tăng trưởng Điều này được lý giải là do khủng hoảng kinh tế năm 2008, hàng hóa thuộc các ngành công nghiệp chế tạo sản xuất ra có lượng tiêu thụ kém và các doanh nghiệp Nhật Bản chuyển hướng sang lĩnh vực phi chế tạo – lĩnh vực mà các nước ASEAN không có nhiều lợi thế
Những năm tiếp theo chứng kiến những biến động trái chiều của dòng vốn này Trong khi năm 2011, FDI của Nhật Bản vào khu vực ASEAN có mức tăng đột biến 120% nâng số vốn của các doanh nghiệp Nhật Bản vào ASEAN lên 19.645