1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN MẠNG LƯỚI THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

89 40 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một trong 8 giải pháp được đề ra trong các Nghị quyết của Thành uỷ, HĐND thành phố về Phát triển KH&CN phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH và hội nhập quốc tế thành phố Hải Phòng đến năm 2020, t

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN THỊ PHƯỢNG

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN MẠNG LƯỚI THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

HÀ NỘI, 2019

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài: “Giải pháp phát triển Mạng lưới thông tin Khoa học

và Công nghệ thành phố Hải Phòng” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi và

được sự hướng dẫn khoa học của TS Trần Đắc Hiến Kết quả nghiên cứu này chưa

từng được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác cho tới thời điểm này

Hải Phòng, ngày 08 tháng 11 năm 2019 Tác giả luận văn

(Ký và ghi rõ họ tên)

Trần Thị Phượng

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN MẠNG LƯỚI THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 7

1.1 Một số vấn đề lý luận về Mạng lưới thông tin khoa học và công nghệ 7

1.2 Vai trò của Mạng lưới thông tin khoa học và công nghệ 13

1.3 Kinh nghiệm về công tác phát triển mạng lưới thông tin khoa học và công nghệ 17

Chương 2: THỰC TRẠNG MẠNG LƯỚI THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 23

2.1 Chính sách thông tin khoa học và công nghệ, phát triển mạng lưới thông tin khoa học và công nghệ 23

2.2 Mạng lưới thông tin khoa học và công nghệ thành phố Hải Phòng 26

Chương 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN MẠNG LƯỚI THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 67

3.1 Giải pháp về thể chế 67

3.2 Giải pháp về tổ chức và nhân lực 68

3.3 Giải pháp về tài chính 71

3.4 Giải pháp kết nối các nguồn lực thông tin KH&CN 73

3.5 Giải pháp về truyền thông 75

KẾT LUẬN 78

TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

KH&CN Khoa học và Công nghệ

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Nhân lực phục vụ hoạt động thông tin KH&CN của Mạng lưới 41

Bảng 2.2: Hạ tầng CNTT phục vụ hoạt động thông tin KH&CN tại các thành viên Mạng lưới 43

Bảng 2.3: Danh sách các website thành viên Mạng lưới 44

Bảng 2.4: Kinh phí bổ sung tài liệu tại các thành viên Mạng lưới 46

Bảng 2.5: CSDL thành viên Mạng lưới chia sẻ trên Cổng Mạng lưới 54

DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 1.1 Sơ đồ những mối liên hệ thông tin trong quản lý 14

Hình 2.1 Cơ cấu tổ chức Mạng lưới thông tin KH&CN Hải Phòng 27

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Từ vài thập kỷ qua, cùng với hai yếu tố năng lượng và nguyên liệu, thông tin KH&CN đã được coi là tiềm năng thứ 3 - một tiềm năng đặc biệt quan trọng, có vai trò to lớn trong việc thúc đẩy phát triển mọi hoạt động xã hội của con người Thông tin KH&CN được xem là hàng hoá đặc biệt với đặc điểm là khi được sử dụng, chúng không những không mất đi mà ngược lại càng sử dụng giá trị của chúng càng được nhân lên và hiệu quả mà chúng mang lại càng tăng Không phải ngẫu nhiên mà ngày nay người ta coi thông tin KH&CN là yếu tố nền tảng của kinh tế tri thức Nhận thức được tầm quan trọng của thông tin KH&CN, Nghị quyết Ban chấp hành Trung ương II (Khóa VIII) của Ban chấp hành Trung ương Đảng “về định hướng chiến lược phát triển KH&CN trong thời kỳ CNH, HĐH và nhiệm vụ đến năm 2000” đã nhấn mạnh một trong những biện pháp quan trọng là phải “đẩy mạnh các dịch vụ thông tin KH&CN về lãnh đạo – quản lý, NCKH và đổi mới công nghệ ở các doanh nghiệp” và “phát triển và quản lý tốt mạng lưới thu thập, xử lý thông

tin về KH&CN nước ngoài”[4]

Ở Việt Nam, việc sử dụng hiệu quả thông tin KH&CN phục vụ cho công cuộc phát triển KT-XH nước ta trong giai đoạn hiện nay là một yêu cầu cấp bách Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011-2020 được thông qua tại Nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định quyết tâm của Đảng, Nhà nước trong việc đầu tư phát triển KH&CN: “phát triển KH&CN thực sự là động lực then chốt của quá trình phát triển nhanh và bền vững”, hướng trọng tâm hoạt động KH&CN vào phục vụ CNH, HĐH, phát triển theo chiều sâu góp phần tăng nhanh năng suất, chất lượng, hiệu quả và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế Một trong những động lực để phát triển KH&CN là thông tin KH&CN, bộ phận

Trang 8

cấu thành của hệ thống khoa học Thông tin là nguồn lực của mỗi quốc gia, nước nào sở hữu được nhiều thông tin hữu ích, nước đó sẽ thành công Nhất là thông tin KH&CN đã trở thành hàng hóa để trao đổi buôn bán giữa các nước

Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động thông tin KH&CN, những năm gần đây, Hải Phòng đã có nhiều nỗ lực và thực sự đã có những thành tựu quan trọng trong phát triển hoạt động thông tin KH&CN Đề án Nhiệm vụ và giải pháp phát triển KH&CN phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH và hội nhập quốc tế thành phố Hải Phòng đến năm 2020, định hướng 2030 của

Ủy ban nhân dân trình HĐND thành phố khóa XIV tại Kỳ họp thứ 6 có nhận

định: “Hoạt động thông tin KH&CN đã được thành phố quan tâm nhiều và có những chuyển biến quan trọng, góp phần không nhỏ trong việc tuyên truyền đường lối, chủ trương, chính sách và các quy định của pháp luật về KH&CN đến với nhân dân, phổ biến tri thức, nâng cao dân trí KH&CN; cung cấp thông tin KH&CN phục vụ quản lý nhà nước, phục vụ nghiên cứu, triển khai, phục vụ sản xuất và đời sống” [24] Tuy nhiên, hoạt động thông tin KH&CN

Hải Phòng còn nhiều bất cập Một trong số đó đã được chỉ ra trong Đề án, đó

là: “tính mạng lưới, quy hoạch hệ thống để phát huy, khai thác tiềm năng thông tin còn yếu” [24] Một trong 8 giải pháp được đề ra trong các Nghị

quyết của Thành uỷ, HĐND thành phố về Phát triển KH&CN phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH và hội nhập quốc tế thành phố Hải Phòng đến năm 2020, tầm nhìn 2030 là Phát triển thông tin KH&CN mà nhiệm vụ đầu tiên của giải

pháp này là: Xây dựng mạng lưới thông tin KH&CN trên địa bàn thành phố Hải Phòng, đây là một trong những điểm nhấn trong hoạt động thông tin

KH&CN tại Hải Phòng Thực hiện nhiệm vụ đó, năm 2014 Trung tâm Thông tin KH&CN thành phố Hải Phòng được giao nhiệm vụ “Nghiên cứu xây dựng Mạng lưới Thông tin KH&CN tại Hải Phòng”, dựa trên kết quả nghiên cứu ngày 09/10/2015 Giám đốc Sở KH&CN Hải Phòng ra quyết định số

Trang 9

247/QĐ/2015 thành lập Mạng lưới thông tin KH&CN thành phố Hải Phòng (sau đây gọi tắt là Mạng lưới) với 10 thành viên là các cơ quan/đơn vị có chức năng thông tin KH&CN trên địa bàn thành phố Hải Phòng nhằm trao đổi, chia

sẻ thông tin KH&CN phục vụ công tác quản lý, nghiên cứu, giảng dạy, học

tập và phát triển KT-XH của thành phố

Từ khi thành lập đến nay, Mạng lưới đã đạt được một số thành tích đáng kể như: đã tập hợp được 10 thành viên có chức năng thông tin KH&CN trên địa bàn Hải Phòng tham gia Mạng lưới, bước đầu tạo dựng được hệ CSDL thông tin KH&CN để dùng chung cho Mạng lưới, tạo được sự gắn kết, trao đổi giữa các thành viên Mạng lưới thông qua các hoạt động hội thảo, tập huấn, giao lưu trao đổi nghiệp vụ, một số thành viên đã rất tích cực trong hoạt động chung của Mạng lưới Bên cạnh những kết quả đạt được thì Mạng lưới cũng còn một số bất cập, hạn chế ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của Mạng lưới như: công tác phát triển thành viên Mạng lưới chưa được chú trọng, chưa có quy chế hoạt động thống nhất chung của Mạng lưới, sự liên kết, trao đổi chia sẻ thông tin KH&CN và phát triển dịch vụ thông tin KH&CN giữa các thành viên còn ít quả, lợi ích mang lại từ những hoạt động của Mạng lưới còn khá hạn chế…

Vì vậy việc nghiên cứu các giải pháp phát triển Mạng lưới thông tin KH&CN thành phố Hải Phòng hiện nay là việc làm cần thiết nhằm phát triển

và nâng cao hiệu quả hoạt động của Mạng lưới, nâng cao năng lực của các đơn vị thành viên Mạng lưới đồng thời phục vụ công tác quản lý, nghiên cứu, giảng dạy, học tập và phát triển KT-XH của thành phố Hải Phòng

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trong thời gian qua, đã có nhiều đề tài, dự án nghiên cứu về Mạng lưới thông tin và Mạng lưới thông tin KH&CN như: “Nghiên cứu mạng lưới thông tin và quản lý Nhà nước đối với hoạt động thông tin ở các nước kinh tế thị

Trang 10

trường” (tác giả: PGS.TS Nguyễn Hữu Hùng); “Chương trình và kế hoạch phát triển thông tin KH&CN nước ta giai đoạn đến năm 2020” (tác giả: TS

Tạ Bá Hưng), đề tài cấp bộ “Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn phát triển mạng thông tin tư liệu về KH&CN ở Việt Nam” (TS Tạ Bá Hưng làm chủ nhiệm), từ kết quả nghiên cứu của đề tài đã xây dựng và phát triển mạng thông tin tư liệu về KH&CN (Mạng VISTA); “Nghiên cứu xây dựng và phát triển hệ thống thông tin khoa học kỹ thuật quốc gia” (tác giả: Phạm Văn Vu);

“Nghiên cứu xây dựng cơ chế tổ chức và khai thác hiệu quả ngân hàng dữ liệu KH&CN quốc gia tại ‘Trung tâm Thông tin KH&CN quốc gia phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH” (tác giả Cao Minh Kiểm); luận văn thạc sĩ: "Chính sách phát triển mạng lưới thông tin KH&CN phục vụ nông thôn trong thời kì hội nhập" (tác giả: Trịnh Vũ Hồng Nga) đã tiến hành khảo sát mạng lưới thông tin KH&CN phục vụ nông nghiệp nông thôn tại Cục Thông tin KH&CN Quốc gia và một số trung tâm thông tin của địa phương, từ đó đề xuất chính sách phát triển mạng lưới thông tin KH&CN phục vụ nông nghiệp nông thôn đảm bảo cơ chế trao đổi thông tin mở, đa chiều, tiện dụng; luận văn thạc sĩ Kinh doanh và quản lý “Chính sách hỗ trợ phát triển Mạng lưới thông tin KH&CN cấp quốc gia tại Cục thông KH&CN quốc gia” (tác giả Phạm Thị Mỹ Bình) Tuy nhiên, các nghiên cứu trên mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu, chính sách, chương trình chung chưa có nghiên cứu nào cụ thể để đề xuất các giải pháp phát triển hoạt động Mạng lưới Thông tin KH&CN cho một địa phương cụ thể Tại các địa phương trong cả nước, thành phố Hải Phòng là nơi đầu tiên trong cả nước đã xây dựng và phát triển Mạng lưới Thông tin KH&CN với các thành viên là các tổ chức có chức năng thông tin KH&CN của địa phương

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích:

Nhằm đề xuất được những giải pháp tối ưu để phát triển (về số lượng

và chất lượng) Mạng lưới thông tin KH&CN thành phố Hải Phòng

Trang 11

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu:

Các khía cạnh của phát triển Mạng lưới thông tin KH&CN (về số lượng

Thời gian: Giai đoạn quan trắc 2015-2018

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Khảo sát thực tế: Khảo sát tại các thành viên Mạng lưới (bao gồm đầu mối tổ chức thực hiện và các thành viên) về các nội dung hoạt động của Mạng lưới và tiềm lực của các thành viên; Khảo sát học tập kinh nghiệm phát triển hoạt động thông tin KH&CN, Mạng lưới thông tin KH&CN

Phương pháp tổng hợp và phân tích thông tin, kế thừa kết quả nghiên cứu từ các công trình khoa học đã công bố có liên quan

Phương pháp thống kê: thu thập, tổng hợp, trình bày số liệu nhằm phục

vụ cho quá trình phân tích thực trạng Mạng lưới, phân tích bối cảnh sắp tới

và đề xuất giải pháp phát triển

Trang 12

Phương pháp chuyên gia: tham khảo ý kiến chuyên gia về nhu cầu thông tin KH&CN, nguyên nhân tồn tại trong Mạng lưới thông tin, giải pháp phát triển Mạng lưới

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Luận văn có ý nghĩa góp phần làm rõ hơn lý luận về Mạng lưới thông tin, Mạng lưới thông tin KH&CN Luận văn có thể làm tài liệu cho các địa phương khác trong việc xây dựng và phát triển Mạng lưới thông tin KH&CN, những giải pháp được đề xuất có thể được áp dụng để nâng cao hiệu quả hoạt động của Mạng lưới thông tin KH&CN tại Hải Phòng

7 Kết cấu của luận văn

Nội dung nghiên cứu của đề tài gồm 3 chương (không kể phần mở đầu

Trang 13

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN MẠNG LƯỚI

THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

1.1 Một số vấn đề lý luận về Mạng lưới thông tin khoa học và công nghệ

1.1.1 Thông tin khoa học và công nghệ

1.1.1.1 Thông tin

Có rất nhiều cách hiểu về thông tin, tại các từ điển cũng không có một định nghĩa thống nhất: theo từ điển Oxford English Dictionary định nghĩa thông tin là điều mà người ta đánh giá hoặc nói đến, là tri thức, tin tức; Một số

từ điển thì đơn giản đồng nhất thông tin với kiến thức–thông tin là điều mà

người ta biết, hoặc thông tin là sự chuyển giao tri thức làm tăng thêm sự hiểu biết của con người,…

Trong cuốn “Bùng nổ truyền thông”, từ Latin “Informatio”, gốc của từ hiện đại “Information” (thông tin) cho rằng, thuật ngữ thông tin có thể hiểu theo hai hướng nghĩa: thứ nhất, thông tin là nói về một hành động cụ thể để tạo ra một hình dạng; thứ hai, thông tin là nói về sự truyền đạt một ý tưởng,

một khái niệm hay một biểu tượng [19]

Theo nghĩa thông thường thì thông tin là tất cả các sự kiện, sự việc, ý tưởng, phán đoán làm tăng thêm sự hiểu biết của con người, thông tin hình thành trong quá trình giao tiếp

Theo quan điểm triết học, thông tin là sự phản ánh của tự nhiên và xã hội (thế giới vật chất) bằng ngôn từ, ký hiệu, hình ảnh…hay nói rộng hơn bằng tất cả các phương tiện tác động lên giác quan của con người

Trong hoạt động của con người thông tin được thể hiện qua nhiều hình thức như: con số, chữ viết, âm thanh, hình ảnh v.v Thông tin có nhiều mức

độ chất lượng khác nhau Các số liệu, dữ kiện ban đầu thu thập được qua điều

Trang 14

tra, khảo sát là các thông tin nguyên liệu, còn gọi là dữ liệu (data) Từ các dữ liệu đó qua xử lý, phân tích, tổng hợp sẽ thu được những thông tin có giá trị cao hơn, gọi là thông tin có giá trị gia tăng (value added information) Ở mức

độ cao hơn nữa là các thông tin quyết định trong quản lý và lãnh đạo - kết quả

xử lý của những nhà quản lý có năng lực và kinh nghiệm, các thông tin chứa đựng trong các quy luật khoa học - kết quả của những công trình nghiên cứu, thử nghiệm của các nhà khoa học và chuyên môn

Như vậy thông tin là kết quả của sự phân tích, tổng hợp và đánh giá dựa trên những dữ liệu có sẵn để phục vụ nhu cầu của người dùng tin Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động có thể chia thông tin thành các loại thông tin về chính trị, thông tin về kinh tế, thông tin văn hóa xã hội, thông tin khoa học kỹ thuật, thông tin về tự nhiên môi trường, thông tin về an ninh quốc phòng

Ở trong phạm vi nghiên cứu của Luận văn thông tin được hiểu là những số liệu, dữ kiện, tin tức được lưu giữ trên những vật mang tin khác nhau phản ánh bản chất sự vật, hiện tượng có thể được phân tích, tổng hợp

và được chuyển tải tới người tiếp nhận thông qua một phương tiện nào đó

1.1.1.2 Thông tin khoa học và công nghệ

Theo PGS TS Nguyễn Hữu Hùng trong nghiên cứu “Một số vấn đề lý

luận và thực tiễn về thông tin khoa học” nhận định rằng: khái niệm về thông tin KH&CN và hoạt động thông tin KH&CN vẫn còn trong giai đoạn tìm tòi

và sự phát triển, ở đó nhiều vấn đề lý luận vẫn chưa được hoàn toàn chấp nhận và đôi khi nhiều ý kiến vẫn còn mâu thuẫn với nhau [6,tr.3-22]

Thông tin KH&CN được định nghĩa là các “thông tin về các tài liệu, sự vật, sự kiện, hiện tượng, quá trình thu nhận được trong kết quả của công tác hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới và các hoạt động nghề nghiệp” [7]

Nghị định 159/2004/NĐ-CP ngày 31/08/2004 về hoạt động thông tin KH&CN định nghĩa “Thông tin KH&CN là các dữ liệu, số liệu, dữ kiện, tin

Trang 15

tức, tri thức KH&CN (bao gồm khoa học tự nhiên, khoa học công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn) được tạo lập, quản lý và sử dụng nhằm mục đích cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước hoặc đáp ứng nhu cầu của

tổ chức, cá nhân trong xã hội”, ở đây việc sử dụng và quản lý thông tin KH&CN như một dịch vụ công ích, trong khi đồng nhất giữa thông tin KH&CN với tri thức KH&CN [2]

Do mục tiêu chính của Luận văn là đề xuất giải pháp nhằm phát triển Mạng lưới thông tin KH&CN nên tác giả Luận văn không đi sâu vào khảo sát, trình bày về học thuật các khái niệm cơ bản có liên quan mà tập trung đề cập các khái niệm quan trọng đã được chấp nhận một cách chính tắc, được sử dụng trong các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành ở nước ta từ khi

có Luật KH&CN năm 2013 Ở đây khái niệm thông tin KH&CN, nguồn tin KH&CN, hoạt động thông tin KH&CN được hiểu theo Nghị định số 11/2014/NĐ-CP ngày 18/02/2014 của Chính phủ về hoạt động thông tin KH&CN, các khái niệm được hiểu như sau:

“Thông tin KH&CN là dữ liệu, dữ kiện, số liệu, tin tức, được tạo ra trong các hoạt động KH&CN, đổi mới sáng tạo.”[3] Thông tin KH&CN vừa là nguồn

lực của sự phát triển, vừa là của cải, tài sản của xã hội, là yếu tố không thể thiếu trong quá trình sản sinh ra các sản phẩm KH&CN, phục vụ đắc lực cho công tác quản lý, giảng dạy, học tập, nghiên cứu và phát triển KT-XH

“Nguồn tin KH&CN là các thông tin KH&CN được thể hiện dưới dạng sách, báo, tạp chí khoa học; kỷ yếu hội nghị, hội thảo khoa học; thuyết minh nhiệm vụ, báo cáo kết quả thực hiện, ứng dụng kết quả nhiệm vụ kKH&CN; tài liệu sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; catalô công nghiệp; luận án khoa học; tài liệu thiết kế, kỹ thuật; CSDL; trang thông tin điện tử; tài liệu thống kê KH&CN; tài liệu đa phương tiện và tài liệu trên các vật mang tin khác” [3]

Trang 16

Thông tin KH&CN được thu thập từ 02 nguồn: nguồn tin KH&CN nội sinh (là nguồn tin được sản sinh dựa trên sức lực trí tuệ và vật chất của một quốc gia) và nguồn tin KH&CN ngoại sinh (chủ yếu được nhập từ nước ngoài qua mua sắm, trao đổi, hoặc biếu tặng )

“Hoạt động thông tin KH&CN là hoạt động dịch vụ KH&CN bao gồm các hoạt động liên quan đến thu thập, xử lý, phân tích, lưu giữ, tìm kiếm, phổ biến, sử dụng, chia sẻ và chuyển giao thông tin KH&CN, các hoạt động khác

có liên quan” [3] Hoạt động thông tin KH&CN phải tuân theo các nguyên tắc sau:

Chính xác, khách quan, đầy đủ, kịp thời và đáp ứng yêu cầu của tổ chức, cá nhân về chất lượng, khối lượng sản phẩm, dịch vụ thông tin KH&CN

Hiệu quả trong việc khai thác, sử dụng và quản lý thông tin KH&CN phục vụ quản lý nhà nước, phát triển KT-XH, bảo đảm an ninh, quốc phòng

và hội nhập quốc tế của đất nước

Bảo đảm quyền của các tổ chức, cá nhân được tiếp cận thông tin KH&CN phù hợp với quy định của pháp luật

Tuân thủ các quy định của pháp luật về bảo mật thông tin KH&CN Kết hợp chặt chẽ hoạt động thông tin KH&CN với hoạt động nghiệp vụ thư viện, lưu trữ, thống kê, truyền thông KH&CN

Các loại hình hoạt động thông tin KH&CN bao gồm: thu thập, cập nhật

và xử lý các dữ liệu, số liệu, dữ kiện, thông tin nhằm tạo lập và phát triển nguồn tin KH&CN; Nghiên cứu, phân tích, tổng hợp thông tin KH&CN phục

vụ cho dự báo, hoạch định chính sách, lãnh đạo, quản lý, NCKH và PTCN, sản xuất, kinh doanh và các hoạt động KT-XH khác; Phát triển hạ tầng thông tin, xây dựng CSDL, các trang thông tin và cổng thông tin điện tử về KH&CN; thiết lập, triển khai các mạng thông tin KH&CN; ứng dụng CNTT

Trang 17

và truyền thông, phương tiện kỹ thuật tiên tiến trong hoạt động thông tin KH&CN; xây dựng thư viện điện tử, thư viện số; Tìm kiếm, tra cứu, chỉ dẫn, khai thác, sử dụng thông tin KH&CN; Cung cấp, trao đổi, chia sẻ các nguồn tin KH&CN; Phổ biến thông tin, tri thức KH&CN; Các hoạt động khác có liên quan…

1.1.2 Mạng lưới thông tin khoa học và công nghệ

1.1.2.1 Khái niệm Mạng lưới

Có nhiều khái niệm về Mạng lưới:

Khái niệm mang tính vật chất (thường sử dụng trong điện, điện tử, tivi, radio, vi tính…) đề cập đến một hệ thống những mạch, dây dính với nhau và

có mối liên hệ với nhau (ví dụ: mạng lưới đường xe lửa, mạng Radio, TV…)

Khái niệm mang tính xã hội: Chỉ một nhóm mở rộng những người có cùng lợi ích hay mối quan tâm và giữa họ có sự tương tác và duy trì mối liên

hệ không chính thức với nhau để giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau (ví dụ: mạng lưới các cửa hàng, mạng lưới y tế, mạng lưới cơ sở xã hội…) Là hệ thống hỗ trợ, cung cấp một cấu trúc tạo sự thay đổi xã hội

Các mạng lưới được hình thành do có mục tiêu chung hay sở thích chung và được duy trì thông qua một số dạng giao tiếp, thông tin liên lạc Hầu hết các mạng lưới đều có mục tiêu đầu tiên là chia sẻ thông tin, trong khi một số khác có mục tiêu xa hơn là cải thiện mối quan hệ hợp tác giữa các cơ quan với nhau, bao gồm cùng lập kế hoạch, cùng triển khai hoạt động can thiệp và xây dựng chương trình làm việc chung Xây dựng mạng lưới nhằm tạo mối liên kết, dưới dạng có tổ chức, giữa những người biết nhau nhằm mục tiêu riêng biệt, trong đó người tham gia xác định là hết lòng cho mục tiêu mà không mong đợi có gì đó nhận trở lại cho mình

Như vậy ở đây mạng lưới được hiểu là một hệ thống tập hợp các tổ chức gồm nhiều cơ quan/đơn vị có một chức năng chung và cùng có mục tiêu chung

Trang 18

1.1.2.2 Mạng lưới thông tin khoa học và công nghệ

Mạng lưới thông tin là một tập hợp các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực thông tin bao gồm nhiều hình thức khác nhau, liên kết với nhau và cùng chung một mục tiêu, một định hướng cho đối tượng được cung cấp thông tin

Mạng lưới thông tin KH&CN sẽ là một tập hợp các tổ chức có cùng chức năng thông tin KH&CN với các hình thức hoạt động khác nhau được liên kết trong một hệ thống nhằm đạt mục tiêu là cung cấp được thông tin KH&CN chính xác, đầy đủ, kịp thời, đến tay người cần thông tin

Tổ chức thực hiện chức năng thông tin KH&CN là tổ chức triển khai thực hiện các hoạt động thông tin KH&CN; xây dựng, phát triển, vận hành và khai thác hạ tầng thông tin, CSDL về KH&CN

Như vậy có thể hiểu: Mạng lưới thông tin KH&CN Hải Phòng là hình thức tập hợp các cơ quan/đơn vị có chức năng thông tin KH&CN trên địa bàn thành phố Hải Phòng nhằm trao đổi, chia sẻ thông tin KH&CN phục vụ công tác quản lý, nghiên cứu, giảng dạy, học tập và phát triển KT-XH

1.1.3 Giải pháp phát triển Mạng lưới thông tin khoa học và công nghệ

Theo Từ điển Tiếng Việt “phát triển” được hiểu là quá trình vận động, tiến triển theo hướng tăng lên, ví dụ phát triển kinh tế, phát triển văn hoá, phát triển xã hội…; “giải pháp” là phương án giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó,

ví dụ tìm giải pháp tốt nhất, dùng giải pháp thương lượng để chấm dứt thương lượng, giải pháp chính trị [18]

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì “phát triển là phạm trù triết học chỉ ra tính chất của những biến đổi đang diễn ra trong thế giới Phát triển là một thuộc tính của vật chất Mọi sự vật và hiện tượng của hiện thực không tồn tại trong trạng thái khác nhau từ khi xuất hiện đến lúc tiêu vong,… nguồn gốc của phát triển là sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập” [25,tr.242]

Trang 19

Như vậy ở đây có thể hiểu giải pháp phát triển là phương án nhằm biến đổi hoặc làm cho biến đổi theo chiều hướng đi lên của sự vật từ thấp lên cao hơn cả về lượng và chất

Trên cơ sở kế thừa nghiên cứu của các nhà khoa học, tác giả luận văn

cho rằng phát triển Mạng lưới thông tin KH&CN Hải Phòng là sự tăng cả về lượng và chất trong sự cân đối hài hòa giữa các cơ quan/đơn vị có chức năng thông tin KH&CN trên địa bàn thành phố Hải Phòng nhằm tăng cường sự trao đổi, chia sẻ thông tin KH&CN phục vụ công tác quản lý, nghiên cứu, giảng dạy, học tập và phát triển KT-XH thành phố

1.2 Vai trò của Mạng lưới thông tin khoa học và công nghệ

1.2.1 Cung cấp thông tin KH&CN phục quản lý, giáo dục đào tạo và NCKH, phát triển KT-XH

Nghị quyết 37 NQ/TW của Bộ Chính trị về chính sách khoa học kỹ thuật ngày 20/4/1981 đã nhấn mạnh: “Công tác thông tin phải góp phần tích cực rút ngắn quá trình từ nghiên cứu đến sản xuất, nâng cao chất lượng quản

lý và lãnh đạo” Lãnh đạo, quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể lên khách thể quản lý nhằm đạt được mục đích của nhà quản lý Chủ thể ở đây là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, còn khách thể được hiểu là đội ngũ công nhân viên của cơ quan đó Trong hoạt động quản lý luôn gắn liền với thông tin Các nhà quản lý, kể cả quản lý nhà nước lẫn quản lý doanh nghiệp khi thực hiện chức năng quản lý đều cần tới nhiều loại thông tin khác nhau, bao gồm thông tin từ ngoài vào (từ môi trường) và thông tin trong nội bộ hệ thống (thông tin thống

kê, báo cáo) Bất cứ một quyết định nào thuộc lĩnh vực nào cũng đều chứa đựng một quá trình xử lý thông tin Thông tin đầy đủ, chính xác, tin cậy về sự việc và đến đúng thời điểm sẽ giúp cho người lãnh đạo có được tầm bao quát, quyết định thêm chính xác, phù hợp, tạo điều kiện quản lý tốt Thông tin KH&CN luôn là yếu tố quan trọng phục vụ NCKH và hoạch chính sách của

Trang 20

đất nước, đặc biệt là trong bối cảnh khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ngày càng có vai trò quan trọng trong phát triển KT-XH của mỗi quốc gia Theo PGS TS Trần Thị Minh Nguyệt, sơ đồ những mối liên hệ thông tin trong quản lý được biểu diễn như sau:

Hình 1.1 Sơ đồ những mối liên hệ thông tin trong quản lý

Nguồn: [17] Hoạt động KH&CN nhằm tạo ra tri thức, công nghệ, giải pháp, sản

phẩm mới, góp phần hình thành và nâng cao năng lực NCKH cho giảng viên, nghiên cứu viên, người học và nâng cao chất lượng đào tạo Ứng dụng tri thức, công nghệ mới và tạo ra phương thức, giải pháp mới phục vụ phát triển

sự nghiệp giáo dục và đào tạo, KT-XH, an ninh, quốc phòng của đất nước, góp phần tạo cơ sở cho hợp tác quốc tế về KH&CN Đóng góp và phát triển kho tàng tri thức, công nghệ của nhân loại Giáo dục, đào tạo, NCKH là hoạt động xã hội, nhằm thực hiện chức năng thông tin chuyển giao tri thức giữa các thế hệ Nhu cầu về thông tin của nhân loại ngày càng tăng, đòi hỏi thông tin sâu hơn, chính xác hơn và đa dạng hơn Nhất là trong giáo dục và đào tạo

là quá trình chuyển giao tri thức, quá trình tiếp nhận thông tin, sản xuất thông

Đối tượng quản lý

Chủ thể quản lý

Thông tin từ ngoài vào (M)

Đầu vào (V)

Đầu ra (R) Nhiễu (N)

Trang 21

tin nên đòi hỏi mọi người phải đọc nhiều, biết nhiều, nghiên cứu nhiều để cập nhật kiến thức, sản xuất thông tin

Thông tin KH&CN là nhân tố thúc đẩy kinh tế, xã hội phát triển Ngày nay, KH&CN ngày càng trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp của xã hội thì theo đó thông tin KH&CN đã trở thành nền tảng, tiền đề để phát triển KH&CN vì thông tin KH&CN là cơ sở của các phương pháp mới hoặc sản phẩm mới đưa lại lợi nhuận cho những ai sở hữu chúng Điều này được minh chứng ở quy luật phát triển KH&CN là tính kế thừa Thông tin về những thành tựu KH&CN đã có được truyền qua không gian, thời gian, được loài người tích lũy, phát triển tạo ra những tiến bộ mới, có hàm lượng trí tuệ ngày càng cao hơn, nhờ đó các thành tựu KH&CN sau luôn tiến xa hơn và phát triển hơn so với những thành tựu đã có Thông tin KH&CN cung cấp những căn cứ quan trọng, là cơ sở để các nhà quản lý đưa ra các quyết định liên quan đến hoạch định chính sách về KH&CN nói riêng và chiến lược tổng thể phát triển KT-XH nói chung

Thông tin từ CSDL quốc gia về KH&CN là nguồn thông tin chính thức phục vụ quản lý, điều hành, hoạch định chính sách về KH&CN của quốc gia,

bộ, ngành và địa phương, NCKH và PTCN, ứng dụng công nghệ của các cơ quan, tổ chức, cá nhân

Nhờ thông tin KH&CN các tổ chức và doanh nghiệp sản xuất đã giảm bớt được chi phí nghiên cứu, hạn chế rủi ro và rút ngắn được thời gian triển khai, áp dụng các tiến bộ mới một cách nhanh chóng, hiệu quả Đây là lý do giúp thông tin KH&CN trở thành một loại tài sản có giá trị thương mại cao và

là loại hàng hóa có thị trường rộng lớn, từ người nông dân đến nhà doanh nghiệp, nhà khoa học và nhà quản lý; từ nông thôn đến thành thị; từ các nước kém phát triển đến các nước phát triển đều có nhu cầu sử dụng thường xuyên

Trang 22

1.2.2 Tập hợp các cơ quan/đơn vị có chức năng thông tin khoa học

và công nghệ thành một hệ thống, tập trung nguồn lực thông tin khoa học

và công nghệ

Mạng lưới thông tin KH&CN có vai trò là nơi tập hợp các cơ quan/đơn

vị có chức năng thông tin KH&CN nhằm trao đổi, chia sẻ thông tin phục vụ công tác quản lý, nghiên cứu giảng dạy, học tập và phát triển kinh tế xã hội Hoạt động của Mạng lưới phù hợp với các quy định của pháp luật, trên cơ sở

tự ngyện, bình đẳng giữa các thành viên, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên

Mạng lưới thông tin KH&CN đóng vai trò quan trọng nhằm giải quyết những khó khăn về nguồn lực thông tin KH&CN Thông qua việc bổ sung các nguồn tin tại một đơn vị thành viên hoặc tại đơn vị đầu mối là các đơn vị thành viên khác có thể kết nối chia sẻ nguồn lực, sử dụng hiệu quả kinh phí

bổ sung tài liệu, tạo nên sức mạnh tổng hợp của thông tin KH&CN

Mạng lưới thông tin KH&CN góp phần gắn kết các tổ chức có cùng chức năng thông tin, cùng chia sẻ - khai thác nguồn tin KH&CN, nâng cao năng lực thông tin, làm phong phú nguồn lực thông tin KH&CN của các thành viên Tạo điều kiện thuận lợi dễ dàng để người dùng tiếp cận, khai thác hiệu quả nguồn lực thông tin KH&CN

1.2.3 Liên kết, trao đổi, chia sẻ thông tin KH&CN

Các thành viên trong Mạng lưới có hợp tác liên kết trao đổi, chia sẻ nguồn lực thông tin KH&CN Nhờ sự hợp tác liên kết này, người dùng có thể khai thác, sử dụng được tài nguyên của tất cả các thành viên trong hệ thống

Các thành viên sẽ xử lý chuẩn hóa các CSDL hiện có, xây dựng và tích hợp CSDL mới về thông tin KH&CN đưa vào hệ thống thông tin chung của Mạng lưới Hệ thống thông tin chung được trang bị công cụ chia sẻ thông tin, với các chức năng lập chỉ mục tập trung các CSDL, cung cấp giao diện tìm

Trang 23

kiếm thống nhất, đơn giản, cho phép người dùng tìm theo ngôn ngữ tự nhiên hoặc kết hợp các phần tử thông tin trong các trường dữ liệu cụ thể Kết quả tìm tập hợp được nhiều nguồn sẽ được phân loại và nhóm tự động, phù hợp tới người dùng

Liên kết, trao đổi, chia sẻ thông tin KH&CN giữa các đơn vị có chức năng thông tin KH&CN sẽ tạo thành hệ thống nguồn lực thông tin KH&CN phong phú, phục vụ hữu hiệu cho hoạt động nghiên cứu phát triển và đổi mới sang tạo của các nhà khoa học, cán bộ nghiên cứu - giảng dạy, sinh viên, học sinh, doanh nghiệp và cộng đồng

1.3 Kinh nghiệm về công tác phát triển mạng lưới thông tin khoa học và công nghệ

1.3.1 VinaREN - Mạng Nghiên cứu và Đào tạo Việt Nam (Vietnam Research andEducation Network)

Mạng Nghiên cứu và Đào tạo Việt Nam được - VinaREN Cục Thông tin KH&CN Quốc gia xây dựng duy trì và phát triển VinaREN là một bộ phận quan trọng của hạ tầng thông tin cho nghiên cứu và đào tạo của Việt Nam VinaREN chính thức khai trương toàn quốc năm 2008, từ đó đến nay VinaREN đã không ngừng phát triển và mở rộng, khẳng định và xứng đáng với vai trò là Mạng nghiên cứu và đào tạo Quốc gia của Việt Nam

Trước năm 2016, VinaREN có 6 Trung tâm vận hành mạng (NOC), kết nối hơn 60 mạng thành viên, bao gồm hơn một trăm viện nghiên cứu, trường đại học, các tổ chức hoạt động khoa học, trung tâm thông tin tư liệu, bệnh viện lớn tại 11 tỉnh và thành phố trong cả nước Hiện nay VinaREN được quy hoạch lại còn 3NOC với NOC quốc gia đặt tại Cục Thông tin KH&CN quốc gia và 02 NOC khu vực còn lại đặt tại các Trung tâm dữ liệu của nhà cung cấp dịch vụ mạng ở TP Hồ Chí Minh và Đà Nẵng Băng thông kết nối giữa các NOC hiện nay như sau: Hà Nội – Hồ Chí Minh: 01 Gbps; Hà Nội – Đà

Trang 24

Bộ KH&CN là cơ quan chủ quản của VinaREN Cục Thông tin KH&CN Quốc gia là cơ quan thực hiện hiện chức năng quản lý VinaREN Cục Thông tin KH&CN Quốc gia đã thành lập Trung tâm quản lý Mạng VinaREN sau này là Trung tâm Cơ sở dữ liệu quốc gia về KH&CN Đây là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Cục có chức năng quản lý và phát triển Mạng VinaREN, kết nối khu vực và quốc tế, kết nối và duy trì kết nối VinaREN với các đầu mối thông tin KH&CN tại các Bộ, ngành, địa phương Các hoạt động chủ yếu của VinaREN bao gồm: Dịch vụ tính toán lưới (grid computing); dịch

vụ E-learning; dịch vụ y tế từ xa; thu thập dữ liệu, tính toán phục vụ dự báo thời tiết và cảnh báo thiên tai; dịch vụ hội nghị truyền hình trực tuyến; dịch vụ thông tin KH&CN; hoạt động nghiên cứu KH&CN; hoạt động hợp tác quốc tế; hoạt động đào tạo; hoạt động hội thảo quốc tế…

VinaREN có đường truyền kết nối quốc tế Hà Nội – HongKong tốc độ cao với dung lượng 01 Gbps Qua kênh quốc tế này VinaREN đã kết nối vào

Trang 25

được các mạng tiên tiến trên thế giới như: APAN (Asia Pacific Advanced Network), GÉANT (pan-European data network for the research and education community, của châu Âu), mạng Internet2 và với các mạng nghiên cứu và đào tạo quốc gia của các nước trên thế giới Đường kết nối quốc tế này

đã tạo điều kiện thuận lợi để cộng đồng nghiên cứu và đào tạo Việt Nam kết nối mạng tốc độ và hiệu năng cao với các trung tâm nghiên cứu và đào tạo trên thế giới nhằm chia sẻ thông tin KH&CN, thúc đẩy các hoạt động hợp tác trong nghiên cứu và đào tạo (thông qua công tác đào tạo qua mạng, y học từ

xa, tính toán lưới, dự báo thời tiết và ứng phó với biến đổi khí hậu, v.v…)

Ưu điểm: VinaREN đã kết nối với hầu hết các đơn vị nghiên cứu và đào tạo quan trọng trong cả nước Các trung tâm vận hành của mạng VinaREN hoạt động tốt, duy trì hoạt động ổn định của mạng trục quốc gia Hoạt động ứng dụng trên VinaREN được mở rộng và tăng cường Hoạt động nghiên cứu, đào tạo, hướng dẫn, hỗ trợ kỹ thuật được ứng dụng hiệu quả Việc chia sẻ và khai thác thông tin KH&CN được triển khai rộng khắp Hoạt động quốc tế đi vào chiều sâu

Nhược điểm: Tuy đã được kết nối với mạng nhưng hoạt động ứng dụng của nhiều thành viên còn hạn chế, chưa phát huy được vai trò cỉa VinaREN đối với công tác nghiên cứu và đào tạo Nhiều thành viên còn thụ động trong việc tổ chức, khai thác, ứng dụng VinaREN Chất lượng đường truyền còn chưa thực sự

ổn định ở một số mạng thành viên

1.3.2 STINET - Mạng liên kết nguồn lực thông tin khoa học và công nghệ thành phố Hồ Chí Minh (Science & Technology Information Network)

Mạng liên kết nguồn lực thông tin KH&CNtThành phố Hồ Chí Minh được

tổ chức thực hiện theo Quyết định số 6770/QĐ-UBND ngày 27/12/2016 do UBND thành phố Hồ Chí Minh phê duyệt Được chính thức triển khai từ năm

2018, đề án liên kết nguồn lực thông tin KH&CN được thực hiện với mong muốn tạo ra CSDL mở về thông tin KH&CN, nhằm phục vụ cho hoạt động tra cứu,

Trang 26

tham khảo trong nghiên cứu, học tập, phát triển KT-XH

Mạng liên kết hướng đến mục tiêu phát triển, làm phong phú nguồn lực thông tin KH&CN phục vụ hoạt động nghiên cứu phát triển và đổi mới sáng tạo của các nhà khoa học, cán bộ nghiên cứu - giảng dạy, sinh viên, học sinh, doanh nghiệp và cộng đồng; tạo điều kiện thuận lợi, dễ dàng để người dùng tiếp cận, khai thác hiệu quả nguồn lực thông tin KH&CN trên địa bàn

Nguồn lực thông tin trên Hệ thống được tạo lập do sự liên kết giữa các thành viên trên tinh thần hợp tác, tự nguyện bao gồm thông tin về kết quả thực hiện nhiệm vụ KH&CN, sách, giáo trình nội bộ, luận văn, luận án, tạp chí chuyên ngành KH&CN, tài liệu hội thảo,

Tính đến tháng 05/2019, đã có hơn 20 đơn vị chính thức tham gia Hệ thống liên kết nguồn lực thông tin KH&CN, giúp tạo ra CSDL mở phục vụ cho công tác nghiên cứu, học tập gồm: Sở KH&CN thành phố Hồ Chí Minh, Trung tâm Thông tin và Thống kê KH&CN thành phố Hồ Chí Minh, Viện Nghiên cứu phát triển thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Sài Gòn, Đại học Công nghệ, Đại học Công nghệ Sài Gòn, Đại học Tài nguyên và Môi trường, Đại học Ngân hàng, Đại học Sư phạm Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Quốc tế, Đại học Kinh tế Luật, Thư viện Trung tâm – Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, Thư viện Khoa học tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh …

Hệ thống cho phép tra cứu, truy cập đến các tài liệu toàn văn được chia

sẻ tại các đơn vị thành viên theo cơ chế mở và không thu phí

Hiện nay người dùng có thể truy cập hơn 15.000 tài liệu toàn văn và hơn 145.000 biểu ghi thư mục, bao gồm các thể loại như: sách, bài trích, luận

án - luận văn, đề tài NCKH, doanh nghiệp KHCN

Mạng liên kết nguồn lực thông tin KH&CN thành phố Hồ Chí Minh tuy mới thành lập nhưng đã liên kết được nhiều đơn vị tham gia với nguồn

Trang 27

thông tin chia sẻ tương đối lớn nhất là các thông tin toàn văn Tuy nhiên các đơn vị tham gia với hình thức ký kết hợp tác liên kết chia sẻ nguồn lực thông tin KH&CN chưa có tổ chức hệ thống mang tính ràng buộc và cơ chế hoạt động cụ thể

1.3.3 Những kinh nghiệm có thể áp dụng tại Mạng lưới Thông tin KH&CN thành phố Hải Phòng

- Cần tập hợp được đông đảo các đơn vị, tổ chức có cùng chức năng thông tin KH&CN tại địa phương vào Mạng lưới để huy động sức mạnh của nguồn lực thông tin

- Nguồn lực thông tin cần đa dạng, bổ sung thường xuyên và được tổ chức một cách khoa học, đẩy mạnh nguồn thông tin số hóa

- Cần có tổ chức hệ thống mang tính ràng buộc và cơ chế hoạt động cụ thể cho Mạng lưới

- Việc liên kết chia sẻ và khai thác thông tin KH&CN cần được triển khai rộng khắp

Tiểu kết chương

Như vậy, thông tin KH&CN với vai trò là nhu cầu không thể thiếu của mọi người, mọi tổ chức, mọi quốc gia, cùng với các hoạt động thông tin đi kèm của nó đã khẳng định vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh

tế, văn hóa xã hội của đất mước Đặc biệt, trong hệ thống thông tin KH&CN

có mạng lưới thông tin KH&CN với nguồn thông tin thời sự, đầy đủ, chính xác, đa dạng với cơ chế trao đổi thông tin đa chiều thuận lợi, ứng dụng công nghệ 4.0 trong hoạt động thông tin KH&CN là một đề xuất mới nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin ngày càng tăng của người dùng trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay

Trang 28

Từ kinh nghiệm phát triển mạng thông tin KH&CN tại một số nơi có thể thấy nhu cầu trao đổi, chia sẻ thông tin KH&CN hiện nay qua ứng dụng CNTT, qua môi trường mạng là rất lớn, là xu thế tất yếu hiện nay, nhất là việc ứng dụng cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 trong mọi hoạt động của đời sống KT-XH

Trong chương 1, tác giả đã nghiên cứu làm rõ các khái niệm cơ bản về phát triển, thông tin, thông tin KH&CN, hoạt động thông tin KH&CN, mạng lưới thông tin KH&CN Trên cơ sở đó, luận văn đã nghiên cứu, nhận diện và xác định được mạng lưới thông tin KH&CN và việc phát triển mạng lưới thông tin KH&CN

Trang 29

Chương 2 THỰC TRẠNG MẠNG LƯỚI THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

2.1 Chính sách thông tin khoa học và công nghệ, phát triển mạng

lưới thông tin khoa học và công nghệ

Chính sách thông tin KH&CN tại Việt Nam được hình thành từ những

năm 1950 của thế kỷ XX, hoạt động này có vai trò quan trọng cho sự phát

triển khoa học, công nghệ và KT-XH của đất nước Năm 1961 Phòng Thông

tin Khoa học và Kỹ thuật thuộc Ủy ban Khoa học Nhà nước được thành lập

Nhằm tăng cường các hoạt động thông tin KH&CN ở Việt Nam nhà nước đã

ban hành nhiều chính sách pháp luật như:

Quyết định 133/QĐ ngày 2/4/1985 của Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật

Nhà nước nay là Bộ KH&CN; Nghị quyết 89/CP của Chính phủ ngày

4/5/1972 về việc tăng cường công tác thông tin khoa học kỹ thuật đây là một

căn cứ quan trọng để các tỉnh thành phố làm căn cứ thành lập các Trung tâm

thông tin KH&CN phục vụ công tác nghiên cứu và phát triển

Nghị quyết về KH&CN trong sự nghiệp đổi mới của Bộ Chính trị ban

hành ngày 30/3/1991 đã nêu “Xây dựng hệ thống thông tin hiện đại về

KH&CN, kịp thời cung cấp thông tin mới cho các cơ quan lãnh đạo và quản

lý, các cơ quan nghiên cứu, các cơ sở sản xuất Tham gia hệ thống thông tin

khoa học thế giới Dành một quỹ ngoại tệ thích đáng để mua các tư liệu thông

tin cần thiết từ nước ngoài, nhất là từ những nước có trình độ phát triển cao”

Hội đồng bộ trưởng ra chỉ thị về công tác thông tin KH&CN ngày

04/4/1991 đã nhấn mạnh:

Nhiệm vụ của hệ thống thông tin KH&CN là phải thường xuyên bám sát

và phục vụ cho việc xây dựng và thực hiện chiến lược và các kế hoạch phát

triển KT-XH, hoạch định các chủ trương, chính sách về KT-XH, đối ngoại, an

Trang 30

ninh, quốc phòng của cả nước cũng như của từng ngành, từng địa phương, phục vụ thông tin cho các cơ quan NCKH, triển khai kỹ thuật và công nghệ; đồng thời cung cấp thông tin cho mọi cơ sở và cá nhân có nhu cầu

Các cơ quan thông tin KH&CN cần phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng, tăng cường việc phổ biến rộng rãi các kiến thức KH&CN, giới thiệu kinh nghiệm và các mô hình ứng dụng thành tựu khoa học, tiến bộ kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất và đời sống xã hội có hiệu quả cao, nhằm đẩy mạnh phong trào lao động sáng tạo của quần chúng và góp phần nâng cao dân trí

Ngày 31/8/2004, chính phủ đã ban hành nghị định 159/2004/NĐ-CP về công tác thông tin KH&CN, trong đó đề cập khái niệm “Mạng lưới các tổ chức dịch vụ thông tin KH&CN” thay cho “Hệ thống thông tin KH&CN Quốc gia”

Điều 68 Luật KH&CN 2013 Quy định: “Nhà nước đầu tư xây dựng, khuyến khích tổ chức, cá nhân tài trợ cho việc xây dựng hạ tầng thông tin, CSDL quốc gia và thống kê về KH&CN hiện đại nhằm bảo đảm thông tin đầy

đủ, chính xác, kịp thời về hoạt động KH&CN trong nước và thế giới”

Ngày 18/02/2014 Chính Phủ ban hành Nghị định 11/2014/NĐ-CP về hoạt động thông tin KH&CN nêu rõ định hướng Quốc gia về phát triền nguồn tin KH&CN và đây thực sự là chỗ dựa cho việc phát triển hoạt động thông tin KH&CN trong cả nước Tại Nghị định này đã quy đinh rõ hệ thống các tổ chức thực hiện chức năng thông tin KH&CN Trong đó nhấn mạnh “Tổ chức thực hiện chức năng đầu mối thông tin KH&CN quốc gia là tổ chức phục vụ quản lý nhà nước, công tác NCKH và PTCN và là đầu mối liên kết của mạng

lưới các tổ chức thực hiện chức năng thông tin KH&CN trên toàn quốc” Và

tổ chức thực hiện chức năng thông tin KH&CN cấp tỉnh có nhiệm vụ phát triển “mạng thông tin KH&CN của địa phương”

Trang 31

Ngày 26/06/2018 Bộ KH&CN ra Quyết định số 1785/QĐBKHCN về ban hành điều lệ tổ chức và hoạt động của Cục thông tin KH&CN Quốc gia Ngoài ra còn một số văn bản khác liên quan như: Luật sở hữu trí tuệ, Luật công nghệ cao, Nghị định 30/206/NĐ-CP về thống kê KH&CN, Thông tư 14/2014/TT-KHCN quy định về việc thu thập, đăng ký, lưu giữ và công bố thông tin về nhiệm vụ KH&CN…

Tại Hải Phòng, ngày 07/10/2013 UBND thành phố Hải Phòng ra quyết định số 1965/QĐ-UBND về việc phê duyệt Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ thành phố Hải Phòng đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 với mục tiêu: KH&CN thực sự là động lực quan trọng nhất để nâng cao sức mạnh tổng hợp thành phố trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh Nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế thành phố, thúc đẩy kinh tế tri thức, bảo vệ môi trường sinh thái, ứng phó với tác động của biến đổi khí hậu nước biển dâng

Xây dựng và phát triển Hải Phòng trở thành trung tâm ứng dụng, chuyển giao KH&CN của vùng duyên hải Bắc bộ và của cả nước trong lĩnh vực khoa học biển, khoa học môi trường vào năm 2030” Một trong các giải pháp thực hiện Chiến lược đó là phải phát triển thông tin KH&CN gồm: xây dựng nguồn lực thông tin và phát triển các CSDL về KH&CN, phát triển dịch vụ thông tin, xây dựng và phát triển mạng lưới thông tin KH&CN trên địa bàn thành phố, tăng cường tuyên truyền phổ biến tri thức KH&CN Đề án Nhiệm

vụ và giải pháp phát triển KH&CN phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH và hội nhập quốc tế thành phố Hải Phòng đến năm 2020, định hướng 2030 của Ủy ban nhân dân trình Hội đồng nhân dân thành phố khóa XIV tại Kỳ họp thứ 6

nhận định: “Hoạt động thông tin KH&CN đã được thành phố quan tâm nhiều

và có những chuyển biến quan trọng, góp phần không nhỏ trong việc tuyên truyền đường lối, chủ trương, chính sách và các quy định của pháp luật về

Trang 32

KH&CN đến với nhân dân, phổ biến tri thức, nâng cao dân trí KH&CN; cung cấp thông tin KH&CN phục vụ quản lý nhà nước, phục vụ nghiên cứu, triển khai, phục vụ sản xuất và đời sống”.

Tất cả các văn bản trên đã tạo nên một hành lang pháp lý cho hoạt động thông tin KH&CN phát triển, là tiền đề cho việc hình thành và phát triển mạng lưới thông tin KH&CN

2.2 Mạng lưới thông tin khoa học và công nghệ thành phố Hải Phòng

2.2.1 Hoàn cảnh ra đời của Mạng lưới

Nhằm triển khai thực hiện Nghị quyết của Thành ủy, HĐND thành phố

về phát triển KH&CN, thực hiện Chiến lược phát triển KH&CN thành phố Hải Phòng đến năm 2020, định hướng đến năm 2030, UBND thành phố đã phê duyệt các chương trình KH&CN có mục tiêu, trọng điểm phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH và hội nhập quốc tế thành phố Hải Phòng đến năm 2020, trong đó có Chương trình tăng cường tiềm lực KH&CN thành phố Hải Phòng đến năm 2020 (Quyết định số 1861/QĐ-UBND ngày 25/9/2013 của UBND thành phố Hải Phòng) Trong số các nhiệm vụ cụ thể của Chương trình có nhiệm vụ xây dựng và thực hiện đề án “Nghiên cứu xây dựng Mạng lưới

thông tin KH&CN tại Hải Phòng”

Xuất phát từ thực tế trên địa bàn thành phố Hải Phòng đang có nhiều tổ chức thông tin KH&CN, tuy nhiên cho tới thời điểm năm 2014, giữa các tổ chức này hầu như chưa có bất kỳ mối liên kết, hợp tác nghiệp vụ về hoạt động thông tin-tư liệu cũng như cơ chế hợp tác, kết nối và chia sẻ các nguồn lực thông tin KH&CN giữa các tổ chức thông tin KH&CN trên địa bàn thành phố Hải Phòng Thực hiện nhiệm vụ được Sở KH&CN giao, Trung tâm Thông tin KH&CN thành phố Hải Phòng đã triển khai nghiên cứu và đề xuất các nhiệm

vụ, giải pháp hình thành và xây dựng Mạng lưới thông tin KH&CN trên địa bàn thành phố Hải Phòng Việc xây dựng hệ thống các tổ chức thực hiện chức

Trang 33

năng thông tin KH&CN trên địa bàn thành phố có sự gắn kết về pháp lý, nâng cao năng lực thông tin KH&CN, hình thành Mạng lưới thông tin KH&CN Hải Phòng là hết sức cần thiết

Ngày 09/10/2015 Giám đốc Sở KH&CN thành phố Hải Phòng ra quyết định số 247/QĐ-SKHCN về việc thành lập Mạng lưới thông tin KH&CN

thành phố Hải Phòng Dưới sự chứng kiến của đại diện Cục Thông tin

KH&CN quốc gia, Sở KH&CN cùng một số Viện, trường trên địa bàn thành phốMạng lưới chính thức ra mắt ngày16/10/2015

Theo đó Mạng lưới có cơ quan chỉ đạo điều hành là Sở KH&CN, có đầu mối tổ chức thực hiện là Trung tâm Thông tin KH&CN thành phố Hải Phòng

(Sau đây gọi là Trung tâm Thông tin KH&CN) và các thành viên

Hình 2.1 Cơ cấu tổ chức Mạng lưới thông tin KH&CN Hải Phòng

30%

40%

Tổ chức KH&CN Viện nghiên cứu

Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động Mạng lưới năm 2018

Các thành viên của Mạng lưới gồm:

(1) Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn,

(2) Sàn Giao dịch Công nghệ và Thiết bị,

(3) Viện Tài nguyên và Môi trường biển,

Trang 34

(4) Viện Y học biển,

(5) Viện nghiên cứu Hải sản,

(6) Trung tâm TT-TV trường đại học Y dược Hải Phòng,

(7) Thư viện trường Đại học Hàng hải,

(8) Trung tâm TT-TV trường Đại học Hải Phòng,

(9) Trung tâm TT-TV trường Đại học Dân lập Hải Phòng

2.2.2 Cơ cấu tổ chức của Mạng lưới

2.2.2.1 Cơ quan chỉ đạo điều hành và đầu mối tổ chức thực hiện hoạt động của Mạng lưới

Cơ quan chỉ đạo điều hành Mạng lưới là Sở KH&CN Hải Phòng Sở KH&CN Hải Phòng giao Trung tâm Thông tin KH&CN quản lý, tổ chức thực hiện các hoạt động của Mạng lưới, định kỳ báo cáo kết quả hoạt động về Sở KH&CN

Đầu mối tổ chức thực hiện hoạt động của Mạng lưới là Trung tâm Thông tin KH&CN (tổ chức thực hiện chức năng đầu mối thông tin KH&CN cấp tỉnh của Hải Phòng), được quy định tại quyết định số 1764/QĐ-UBND ngày 12/09/2013 của UBND thành phố Hải Phòng, hoạt động theo sự chỉ đạo của

Sở KH&CN Đầu mối tổ chức thực hiện hoạt động Mạng lưới có trách nhiệm: Điều phối, tổ chức thực hiện hoạt động của Mạng lưới, là cầu nối giữa các thành viên Mạng lưới; Hướng dẫn, hỗ trợ về kinh nghiệm, giải pháp nghiệp

vụ trong hoạt động thông tin KH&CN tới thành viên Mạng lưới; Xây dựng và quản lý nguồn lực thông tin chung của Mạng lưới, chủ trì hoạt động liên kết, chia sẻ, chỉ dẫn thông tin và triển khai các dịch vụ thông tin khi có yêu cầu; Triển khai các hoạt động, dịch vụ thông tin KH&CN trong Mạng lưới; Hướng dẫn đào tạo, kết nối để các thành viên Mạng lưới tham gia các lớp tập huấn nghiệp vụ liên quan đến hoạt động thông itn KH&CN; Tuyên truyền phổ biến tri thức KH&CN

Trang 35

Trung tâm Thông tin KH&CN là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc

Sở KH&CN Trung tâm có chức năng thông tin tuyên truyền, thông tin tư liệu, thống kê KH&CN, chuyên trách CNTT của Sở và ngành KH&CN

Nhiệm vụ của Trung tâm Thông tin KH&CN bao gồm:

Về thông tin tuyên truyền: Tổ chức các hoạt động thông tin tuyên truyền

về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong lĩnh vực KH&CN; Tuyên truyền, phổ biến tri thức KH&CN, góp phần đưa tri thức KH&CN vào phục vụ sản xuất, đời sống và nâng cao dân trí; Tuyên truyền về kết quả và hoạt động KH&CN; Biên soạn, xuất bản và phát hành các ấn phẩm thông tin KH&CN; Cung cấp các sản phẩm và dịch vụ thông tin tuyên truyền, phổ biến KH&CN theo yêu cầu Tổ chức hoặc tham gia tổ chức các hội nghị, hội thảo, tọa đàm, hội chợ, triển lãm KH&CN và các sự kiện KH&CN khác; Tổ chức và thực hiện các dịch vụ đào tạo, hướng dẫn nghiệp vụ; nghiên cứu, ứng dụng KH&CN trong lĩnh vực thông tin tuyên truyền, phổ biến tri thức KH&CN; Quản lý, vận hành, cập nhật, duy trì hoạt động của cổng thông tin điện tử KH&CN, cổng thông tin điện tử thành phần của Sở trong hệ thống cổng thông tin điện tử của thành phố

Về thông tin tư liệu: Tổ chức xây dựng, phát triển, cập nhật, quản lý, lưu

giữ và khai thác hệ thống thông tin tư liệu KH&CN, hệ thống CSDL KH&CN của thành phố; Tổ chức thực hiện tra cứu, xử lý, phân tích, tổng hợp và cung cấp thông tin tư liệu KH&CN phục vụ công tác lãnh đạo và quản lý Tổ chức khai thác, sử dụng hệ thống thông tin tư liệu, CSDL thông tin KH&CN; Cung cấp các sản phẩm và dịch vụ thông tin tư liệu KH&CN theo yêu cầu; Tổ chức và thực hiện các nhiệm vụ đào tạo, hướng dẫn nghiệp vụ; nghiên cứu, ứng dụng KH&CN trong lĩnh vực thông tin tư liệu Tổ chức, xây dựng mạng

lưới thông tin KH&CN trên địa bàn thành phố

Trang 36

Về thống kê KH&CN: Tổ chức thu thập, tổng hợp, dự báo, phân tích

thông tin thống kê KH&CN theo yêu cầu và kế hoạch của Bộ KH&CN và UBND thành phố; Tham gia và tổ chức thực hiện các cuộc điều tra, thống kê KH&CN theo kế hoạch được phê duyệt; Tổ chức xây dựng CSDL thống kê KH&CN; Cung cấp thông tin, số liệu, dữ liệu thống kê KH&CN phục vụ công tác lãnh đạo, quản lý của thành phố; Hướng dẫn, bồi dưỡng chuyên môn

và nghiệp vụ về thống kê KH&CN; Tổ chức và thực hiện các nhiệm vụ

nghiên cứu, ứng dụng KH&CN trong lĩnh vực thống kê KH&CN

Về chuyên trách CNTT: Xây dựng kế hoạch, đề án, dự án ứng dụng

CNTT của Sở, ngành trình phê duyệt và tổ chức thực hiện; Quản lý, bảo trì, bảo dưỡng hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật CNTT phục vụ cho hoạt động của

Sở; Bảo đảm kỹ thuật và tổ chức thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn, an

ninh thông tin, giải quyết, khắc phục sự cố máy tính và các sự cố liên quan đến an toàn, an ninh thông tin trên mạng máy tính của Sở; Bảo đảm kỹ thuật, duy trì hoạt động của hệ thống CSDL, cổng thông tin điện tử và các hệ thống CNTT khác của Sở và ngành; Tổ chức hướng dẫn, bồi dưỡng, tập huấn nâng cao trình độ và kỹ năng về CNTT cho đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ KH&CN của Sở, ngành Tổ chức và thực hiện việc nghiên cứu, ứng dụng,

dịch vụ, tư vấn, đào tạo về CNTT đối với các tổ chức, cá nhân có nhu cầu Các nhiệm vụ khác: Quản lý tổ chức bộ máy, cán bộ, công chức, viên

chức, lao động hợp đồng và tài chính, tài sản theo quy định của pháp luật; Thực hiện chế độ báo cáo về hoạt động của Trung tâm với Giám đốc Sở và Cục trưởng Cục Thông tin KH&CN quốc gia; Các nhiệm vụ khác do Giám

đốc Sở giao

Ngày 24/10/2014, theo sự chỉ đạo của UBND thành phố Hải Phòng (tại văn bản số 7866/UBND-VX ngày15/102014), Sở KH&CN thành phố Hải Phòng đã có văn bản số 486/SKHCN-TTTT chỉ định Trung tâm Thông tin

Trang 37

KH&CN là tổ chức thực hiện chức năng đầu mối thông tin KH&CN cấp tỉnh của thành phố Hải Phòng

2.2.2.2 Thành viên của Mạng lưới

a) Thành viên Mạng lưới là tổ chức thực hiện chức năng thông tin KH&CN thuộc các trường đại học

Trên địa bàn thành phố có 04 trường đại học Tất cả các trường đại học đều có tổ chức thực hiện chức năng thông tin KH&CN, bao gồm:

- Thư viện trường Đại học Hàng hải Việt Nam,

- Trung tâm TT-TV trường Đại học Y Dược Hải Phòng,

- Trung tâm TT-TV trường Đại học Dân lập Hải Phòng,

- Trung tâm TT-TV trường Đại học Hải Phòng

Thành viên Mạng lưới là Trung tâm TT-TV, Thư viện các trường Đại học đều có chức năng tham mưu, tư vấn giúp Hiệu trưởng quản lý, tổ chức hoạt động TT-TV phục vụ công tác học tập, NCKH, các học động thông tin, văn hóa khác của học sinh, sinh viên, công chức, viên chức, người lao động trong Trường; quảng bá các hoạt động của trường và các đơn vị có liên quan Các tổ chức này thực hiện chức năng thư viện và thông tin KH&CN chủ yếu phục vụ nội bộ cán bộ giảng viên và học sinh của trường là chính Nhiệm vụ chủ yếu tại các tổ chức này là thực hiện việc thu thập, lưu trữ, xử lý, bảo quản, khai thác nguồn tài nguyên của thư viện và đảm bảo an toàn thông tin phục vụ hoạt động học tập, giảng dạy, nghiên cứu, quản lý của nhà trường; Tổ chức, quản lý và phát triển các dịch vụ thông tin tư liệu trong nhà trường; Tổ chức phục vụ, hướng dẫn người dùng tin khai thác, tìm kiếm, sử dụng hiệu quả nguồn tài liệu và sản sản phẩm dịch vụ TT-TV …

b Thành viên Mạng lưới các viện nghiên cứu của Trung ương đóng trên địa bàn Hải Phòng

Có 03 viện nghiên cứu của Trung ương đóng trên địa bàn Hải Phòng là

Trang 38

Viện Nghiên cứu Hải sản, Viện Tài nguyên và Môi trường Biển, Viện Y học Biển Cả 3 đơn vị này đều không có tổ chức thực hiện chức năng thông tin KH&CN riêng biệt, tuy nhiên đều có một bộ phận nghiệp vụ được giao đảm nhiệm chức năng thông tin KH&CN như một nhiệm vụ, cụ thể:

Viện Nghiên cứu Hải sản giao cho Phòng Phòng Kế hoạch - Khoa học; Viện Tài nguyên và Môi trường Biển giao cho Phòng Tư liệu và Viễn thám; Viện Y học Biển giao cho Phòng Kế hoạch - Tổng hợp;

Các bộ phận này có nhiệm vụ thu thập, lưu giữ, khai thác thông tin KH&CN, kết quả NCKH và PTCN của đơn vị; tổ chức, phối hợp tổ chức các hội nghị, hội thảo khoa học,…

c Thành viên Mạng lưới các tổ chức KH&CN của địa phương

Đối với các với các tổ chức KH&CN của địa phương, có 02 tổ chức trực thuộc Sở KH&CN có tổ chức thực hiện chức năng thông tin KH&CN Đó là:

Sàn Giao dịch công nghệ và thiết bị: có Phòng Thông tin công nghệ

Biên soạn các tài liệu, ấn phẩm về công nghệ và chuyển giao công nghệ

Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn: có Phòng Thông tin - Tư liệu

Trang 39

trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn;

Xuất bản nội san Khoa học Xã hội và Nhân văn Hải Phòng

Mạng lưới

2.2.3.1 Về nguồn lực thông tin KH&CN

Nghị định số 14/2014/NĐ-CP ngày 18/2/2014 về hoạt động thông tin KH&CN quy định “Thông tin KH&CN là dữ liệu, dữ kiện, số liệu, tin tức được tạo ra trong các hoạt động KH&CN, đổi mới sáng tạo Và “Nguồn tin KH&CN là các thông tin KH&CN được thể hiện dưới dạng sách, báo, tạp chí khoa học, kỷ yếu hội nghị hội thảo khoa học, thuyết minh nhiệm vụ, báo cáo kết quả nghiên cứu, ứng dụng kết quả nhiệm vụ KH&CN, luận án khoa học, tài liệu thiết kế, kỹ thuật, CSDL, trang thông tin điện tử, tài liệu thống kê KH&CN, tài liệu đa phương tiện và tài liệu trên các vật mang tin khác”

Trong nghiên cứu này nguồn lực thông tin KH&CN được hiểu là nguồn tin KH&CN: là các thông tin KH&CN được thể hiện dưới dạng sách, báo, tạp

chí khoa học, kỷ yếu hội nghị hội thảo khoa học, thuyết minh nhiệm vụ, báo cáo kết quả nghiên cứu, ứng dụng kết quả nhiệm vụ KH&CN, luận án khoa học, tài liệu thiết kế, kỹ thuật, CSDL, trang thông tin điện tử, tài liệu thống kê KH&CN, tài liệu đa phương tiện và tài liệu trên các vật mang tin khác

Các nguồn lực thông tin KH&CN thường được thể hiện dưới các loại hình sau: thông tin thư mục, thông tin toàn văn, thông tin thông báo, thông tin

từ Internet, thông tin ở dạng ấn phẩm truyền thống, thông tin dạng số…

Trong hoạt động thông tin KH&CN, nguồn lực thông tin đóng vai trò quan trọng, là nguyên liệu đầu vào của mọi quá trình hoạt động trong hệ thống, là tài sản quý giá cho bất kỳ tổ chức nào, nó có vai trò quyết định chất lượng và hiệu quả của các quyết định Nguồn lực thông tin là cơ sở để tạo ra các sản phẩm và dịch vụ thông tin, là một trong những yếu tố cơ bản quyết

Trang 40

định chất lượng việc đáp ứng nhu cầu thông tin Nguồn lực thông tin KH&CN còn là cơ sở để trao đổi, hợp tác và chia sẻ thông tin giữa các cơ quan thông KH&CN Nếu nguồn lực thông tin được quản trị, sử dụng tốt sẽ giúp cho hoạt động KH&CN giảm được rủi ro, giảm chi phí và khuyến khích hoạt động đổi mới và sáng tạo

a Nguồn lực thông tin tại Trung tâm Thông tin KH&CN

Nguồn lực thông tin hiện tại của Trung tâm Thông tin KH&CN tính đến hết năm 2018 gồm tài liệu in ấn, tài liệu điện tử (các CSDL, trang thông tin điện tử) cụ thể:

* Tài liệu in ấn:

1.395 tên sách/2.976 bản sách bằng tiếng Việt và tiếng nước ngoài

25 tên ấn phẩm định kỳ bao gồm các báo và tạp chí với trên 47.000 bản

240 số bản tin KH&CN với hàng nghìn bản do Sở KH&CN Hải Phòng xuất bản được lưu giữ

446 báo kết kết quả thực hiện nhiệm vụ KH&CN cấp thành phố, cấp cơ sở

256 bản kỷ yếu hội nghị, hội thảo các cấp

* Tài liệu điện tử:

(1) Các CSDL:

CSDL ảnh KH&CN với 4.231 biểu ghi

CSDL sách: 1.395 biểu ghi

CSDL nhiệm vụ KH&CN đang tiến hành với trên 119 biểu ghi

CSDL báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ KH&CN với 446 biểu ghi CSDL phục vụ xây dựng nông thôn mới với 2.321 biểu ghi

CSDL Tài liệu KH&CN (bao gồm cả tài liệu dạng văn bản và tài liệu multimedia) với trên 2.985 biểu ghi

CSDL quản lý cấp giấy chứng nhận đăng ký kết quả thực hiện nhiệm vụ KH&CN với 119 biểu ghi

Ngày đăng: 17/05/2020, 18:44

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w