1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về hợp đồng đại lý thương mại cho thương nhân nước ngoài – thực tiễn thực hiện tại Công ty Cổ phần Phòng cháy chữa cháy Thăng Long

44 69 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 95,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có thể liệt kê một số tài liệu tiêu biểu sau:  Nhóm các luận văn, luận án Luận văn Thạc sĩ “Pháp luật Việt Nam về hợp đồng đại lý”, Khoa Luật Trường Đại học Quốc gia Hà Nội của tác giả

Trang 1

MỤC LỤC

MỤC LỤC i

DANH MỤC BẢNG BIỂU iv

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài 1

2 Tổng quan công trình nghiên cứu liên quan 2

3 Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu 3

4 Đối tượng, mục tiêu, phạm vi nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Kết cấu khóa luận tốt nghiệp 5

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HỢP ĐỒNG ĐẠI LÝ THƯƠNG MẠI CHO THƯƠNG NHÂN NƯỚC NGOÀI 6

1.1 Khái quát về hợp đồng đại lý thương mại cho thương nhân nước ngoài 6

1.1.1 Khái niệm hợp đồng đại lý thương mại cho thương nhân nước ngoài 6

1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng đại lý thương mại cho thương nhân nước ngoài 7

1.2 Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật điều chỉnh hợp đồng đại lý thương mại cho thương nhân nước ngoài 8

1.2.1.Cơ sở ban hành pháp luật điều chỉnh hợp đồng đại lý thương mại cho thương nhân nước ngoài 8

1.2.2 Quy định pháp luật Việt Nam về hợp đồng đại lý thương mại cho thương nhân nước ngoài 9

1.3 Một số nguyên tắc điều chỉnh hợp đồng đại lý thương mại cho thương nhân nước ngoài 15

1.3.1 Nguyên tắc tự do, tự nguyện, bình đẳng 15

1.3.2 Nguyên tắc thiện chí, trung thực 15

1.3.3 Nguyên tắc về hiệu lực ràng buộc của hợp đồng 16

1.3.4 Nguyên tắc không xâm phạm lợi ích hợp pháp khác 16

1.4 Kết luận 16

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HỢP ĐỒNG ĐẠI LÝ THƯƠNG MẠI CHO THƯƠNG NHÂN NƯỚC NGOÀI TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN PHÒNG CHÁY CHỮA CHÁY THĂNG LONG 17

2.1 Tổng quan tình hình và các nhân tố ảnh hưởng tới pháp luật điều chỉnh hợp đồng đại lý cho thương nhân nước ngoài 17

2.1.1 Tổng quan tình hình pháp luật điều chỉnh hợp đồng đại lý thương mại cho thương nhân nước ngoài 17

Trang 2

2.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới pháp luật điều chỉnh hợp đồng đại lý thương mại

cho thương nhân nước ngoài 18

2.2 Phân tích thực trạng các quy định pháp luật về hợp đồng đại lý thương mại cho thương nhân nước ngoài 19

2.2.1 Quy định liên quan đến bản chất pháp lý của hoạt động đại lý thương mại cho thương nhân nước ngoài 19

2.2.2 Quy định liên quan đến chủ thể tham gia hợp đồng đại lý thương mại cho thương nhân nước ngoài 19

2.2.3 Quy định về hình thức của hợp đồng đại lý thương mại cho thương nhân nước ngoài 20

2.2.4 Quy định liên quan đến quyền và nghĩa vụ các bên trong hợp đồng đại lý thương mại cho thương nhân nước ngoài 20

2.2.5 Quy định pháp luật về chấm dứt hợp đồng đại lý thương mại cho thương nhân nước ngoài 21

2.2.6 Quy định về trách nhiệm của bên đại lý, bên giao đại lý với bên thứ ba 22

2.2.7 Quy định về quản lý Nhà nước với hoạt động đại lý thương mại cho thương nhân nước ngoài 22

2.3 Thực tiễn áp dụng pháp luật về hợp đồng đại lý thương mại cho thương nhân nước ngoài tại Công ty Cổ phần Phòng cháy chữa cháy Thăng Long 24

2.3.1 Khái quát về hoạt động đại lý thương mại cho thương nhân nước ngoài tại Công ty Cổ phần Phòng cháy chữa cháy Thăng Long 24

2.3.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật điều chỉnh hợp đồng đại lý thương mại cho thương nhân nước ngoài tại Công ty Cổ phần Phòng cháy chữa cháy Thăng Long 25

2.4 Các kết luận và phát hiện qua nghiên cứu 28

2.4.1 Thành tựu đạt được 28

2.4.2 Hạn chế, bất cập 29

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG ĐẠI LÝ THƯƠNG MẠI CHO THƯƠNG NHÂN NƯỚC NGOÀI 31

3.1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam về hợp đồng đại lý thương mại cho thương nhân nước ngoài 31

3.1.1 Hoàn thiện pháp luật về hợp đồng đại lý thương mại cho thương nhân nước ngoài phải thể chế hóa đầy đủ, kịp thời đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về kinh tế 31

Trang 3

3.1.2 Hoàn thiện pháp luật về hợp đồng đại lý thương mại cho thương nhân nước ngoài phải đảm bảo tính minh bạch, đồng bộ, thống nhất và khả thi, phù hợp với đặc

điểm nền kinh tế Việt Nam 31

3.1.3 Hoàn thiện pháp luật về hợp đồng đại lý thương mại cho thương nhân nước ngoài phải đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, đảm bảo phù hợp với pháp luật, thông lệ quốc tế 32

3.2 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hợp đồng đại lý thương mại cho thương nhân nước ngoài 32

3.2.1 Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp đồng đại lý thương mại cho thương nhân nước ngoài 32

3.2.2 Một số kiến nghị đối với cơ quan Nhà nước trong thực thi pháp luật về hợp đồng đại lý thương mại cho thương nhân nước ngoài 35

3.2.3 Một số kiến nghị với Công ty Cổ phần Phòng cháy chữa cháy Thăng Long 35

3.3 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu 36

KẾT LUẬN 38

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài

Những năm vừa qua, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hơn 170 quốcgia trên thế giới, mở rộng quan hệ thương mại, xuất khẩu hàng hoá tới trên 230 thị trườngcủa các nước và vùng lãnh thổ,ký kết trên 90 Hiệp định thương mại song phương, gần 60Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư1 Trong điều kiện mở cửa thị trường, hội nhậpkinh tế quốc tế, các doanh nghiệp nước ngoài có xu hướng mở kênh phân phối tại ViệtNam ngày càng nhiều và mua bán hàng hàng hóa, cung ứng dịch vụ thông qua hình thứcđại lý thương mại được rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài lựa chọn Dịch vụ đại lý giúp cácnhà đầu tư nước ngoài hình thành mạng lưới buôn bán, tiêu thụ, cung ứng dịch vụ trênphạm vi rộng, tạo điều kiện chiếm lĩnh, mở rộng thị trường mà không cần có sự hiện diệnthương mại tại Việt Nam

Trên thế giới, pháp luật về đại lý thương mại hình thành từ rất sớm và lần đầu xuấthiện trong Bộ luật thương mại 1897 của Đức và Bộ luật thương mại 1899 của Nhật Bản2

Ở Việt Nam, khái niệm đại lý thương mại được pháp luật ghi nhận kể từ thời điểm LuậtThương mại 1997 ra đời và có hiệu thi hành ngày 1/1/1998 Tuy nhiên, phạm vi hoạtđộng của đại lý thương mại trong Luật này chỉ giới hạn ở hàng hóa, do đó, nhiều dịch vụđại lý như đại lý bảo hiểm, đại lý chứng khoán, đại lý lữ hành,…không thuộc phạm viđiều chỉnh của Luật Ngày 14/06/2005, Quốc hội khóa XI thông qua Luật Thương mại

2005 với nhiều sửa đổi, bổ sung và là nguồn luật trực tiếp điều chỉnh trực tiếp hoạt độngđại lý thương mại cho đến nay Sau gần 13 năm thi hành, Luật Thương mại 2005 và cácvăn bản pháp luật liên quan bộc lộ một số hạn chế, bất cập, chưa phù hợp với thông lệquốc tế, nhất là trong bối cảnh thương mại toàn cầu

Qua quá trình thực tập tại Công ty Cổ phần Phòng cháy chữa cháy Thăng Long, emnhận thấy đại lý thương mại cho thương nhân nước ngoài là kênh phân phối chiếm tỷtrọng doanh thu lớn trong quá trình kinh doanh của công ty Song vì hợp đồng đại lýthương mại cho thương nhân nước ngoài là hợp đồng thương mại quốc tế nên việc ápdụng pháp luật trong giao kết và thực hiện hợp đồng gặp rất nhiều khó khăn, khúc mắc,tiềm ẩn tính rủi ro

Trước yêu cầu hoàn thiện pháp luật đáp ứng quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, em

đã lựa chọn đề tài “Pháp luật về hợp đồng đại lý thương mại cho thương nhân nước ngoài – thực tiễn thực hiện tại Công ty Cổ phần Phòng cháy chữa cháy Thăng Long” cho

1 Theo các “Báo cáo của các Bộ/ngành của Uỷ ban quốc gia về Hợp tác kinh tế quốc tế”, Ban Chỉ đạo liên ngành

hội nhập quốc tế về kinh tế, 2018

2 Nguyễn Mai Chi, Luận văn “Pháp luật Việt Nam về hợp đồng đại lý”, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội,

2012

Trang 6

khóa luận tốt nghiệp Em hi vọng kết quả của nghiên cứu này sẽ góp phần đánh giá, hoànthiện pháp luật về hợp đồng đại lý thương mại cho thương nhân nước ngoài và áp dụnghiệu quả trong thực tiễn tại Công ty

2 Tổng quan công trình nghiên cứu liên quan

Kể từ khi Luật Thương mại 2005 có hiệu lực thi hành đến nay, các công trìnhnghiên cứu về hợp đại lý thương mại có số lượng lớn, được thể hiện dưới nhiều hình thứckhác nhau như Luận văn, Luận án, các đề tài nghiên cứu khoa học, sách chuyên khảo,sách tham khảo, bài viết tạp chí Có thể liệt kê một số tài liệu tiêu biểu sau:

Nhóm các luận văn, luận án

Luận văn Thạc sĩ “Pháp luật Việt Nam về hợp đồng đại lý”, Khoa Luật Trường Đại học Quốc gia Hà Nội của tác giả Nguyễn Mai Chi (2011); Luận văn Thạc sĩ “Đại lý thương mại theo Luật Thương mại 2005”, Khoa Luật Trường Đại học Quốc gia Hà Nội của tác giả Ngô Thị Minh Hải (2011); Luận văn Thạc sĩ “Hợp đồng đại lý mua bán hàng hóa theo pháp luật thương mại Việt Nam”, Viện Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam của tác giả Vũ Hồng Nam (2017); Luận án Tiến sỹ “Pháp luật điều chỉnh các hoạt động trung gian thương mại ở Việt Nam”, Trường Đại học Luật Hà Nội của tác giả

Nguyễn Thị Vân Anh (2007)

Nhóm sách tham khảo

Sách tham khảo “Cẩm nang hợp đồng thương mại” của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam VCCI (2007); “Những nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế” của Viện thống nhất Tư pháp quốc tế Italia do Lê Nết dịch năm 1999; “Pháp luật thương mại dịch vụ Việt Nam và hội nhập kinh tế quốc tế” của nhóm tác giả PGS.TS Nguyễn Như

Phát, TS.Phan Thảo Nguyên (2006)

Nhóm các công trình chuyên khảo

“Báo cáo hỗ trợ Bộ Công thương xây dựng Nghị định về Đại lý thương mại trong lĩnh vực phân phối” của EU -Việt Nam MUTRAP III Dự án Hỗ trợ thương mại đa biên Giai đoạn III tiến hành từ 8/2008 đến 6/2012; Sách chuyên khảo “Bước đầu tìm hiểu pháp luật thương mại Mỹ” của Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, Viện nghiên cứu nhà nước và pháp luật (2002), NXB Khoa học xã hội; Sách chuyên khảo “Bộ luật Thương mại và những ngoại lệ đặc biệt về kiểm soát của Nhật Bản” của NXB Chính

trị quốc gia (1994)

Nhóm các bài báo nghiên cứu

Các bài viết của tác giả Nguyễn Thị Vân Anh “Khái niệm, bản chất pháp lý của hoạt động trung gian thương mại” số 1/2006, “Một số ý kiến về đại lý thương mại” số 5/2006, “Vấn đề pháp lý về quan hệ hợp đồng phát sinh trong hoạt động trung gian thương mại” số 11/2008 trên Tạp chí Luật học; Bài báo “Tăng cường quản lý nhà nước

Trang 7

đối với hoạt động đại lý thương mại” trên Tạp chí Công thương của tác giả Kim Liên (03/08/2011); Bài báo “Quản lý hoạt động đại lý thương mại: “Áo đã quá chật” trên Báo

Diễn đàn doanh nghiệp của tác giả Mai Thanh (09/08/2011)

Có thể thấy hầu hết các nghiên cứu đã đề cập tới những khía cạnh của hợp đồng đại

lý thương mại, cụ thể là làm rõ khái niệm, bản chất, phân tích các quy phạm pháp luật vàthực trạng áp dụng hợp đồng đại lý thương mại tại Việt Nam kể từ khi Luật Thương mại

2005 có hiệu lực thi hành Song, không có nhiều công trình nghiên cứu về hợp đồng đại

lý thương mại cho thương nhân nước ngoài Trong bối cảnh Việt Nam đã là thành viêncủa Công ước Viên 1980, đồng thời cũng tích cực ký kết các điều ước quốc tế như Hiệp địnhthương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA), Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyênThái Bình Dương (CPTPP), các nhà đầu tư nước ngoài mở kênh phân phối tại Việt Namthông qua hình thức đại lý ngày càng nhiều Vì vậy, pháp luật về hợp đồng đại lý thương mạicho thương nhân nước ngoài cần được nghiên cứu nhiều hơn, sâu sắc và toàn diện hơn đểđưa ra những phương hướng, giải pháp hoàn thiện đáp ứng nhu cầu hiện nay

3 Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu

Căn cứ vào tính cấp thiết cần nghiên cứu của đề tài, em mong muốn được tiếp cận

và làm rõ một số khía cạnh của pháp luật về hợp đồng đại lý thương mại cho thương nhânnước ngoài, phát hiện những ưu, nhược điểm, đặt ra các vấn đề cần giải quyết, từ đó kiếnnghị giải pháp hoàn thiện pháp luật nói chung và thực tiễn áp dụng tại Công ty Cổ phầnPhòng cháy chữa cháy Thăng Long nói riêng

Do đó, em đã lựa chọn đề tài: “Pháp luật về hợp đồng đại lý thương mại cho thương nhân nước ngoài – thực tiễn thực hiện tại Công ty Cổ phần Phòng cháy chữa cháy Thăng Long” cho khóa luận tốt nghiệp của mình

4 Đối tượng, mục tiêu, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và pháp luật điềuchỉnh hợp đồng đại lý thương mại cho thương nhân nước ngoài, thực tiễn áp dụng tạiCông ty Cổ phần Phòng cháy chữa cháy Thăng Long

4.2 Mục tiêu nghiên cứu

4.2.1 Mục tiêu tổng quát

Mục đích của khóa luận nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về hợp đồng đại lýthương mại cho thương nhân nước ngoài, phân tích các quy phạm pháp luật điều chỉnh vềhợp đồng đại lý thương mại cho thương nhân nước ngoài, đánh giá tình hình thực thi tạiCông ty Cổ phần Phòng cháy chữa cháy Thăng Long, từ đó, đưa ra kiến nghị hoàn thiệnđối với hệ thống pháp luật và đối với quá trình áp dụng của Công ty

Trang 8

4.2.2 Mục tiêu cụ thể

 Hiểu rõ hơn những vấn đề lý luận về pháp luật điều chỉnh hợp đồng đại lý thươngmại cho thương nhân nước ngoài: Khái niệm, đặc điểm, cơ sở ban hành và nội dung phápluật, nguyên tắc điều chỉnh hợp đồng đại lý thương mại cho thương nhân nước ngoài

 Tìm hiểu, phân tích, đưa ra đánh giá tổng quan về những quy định của pháp luậtViệt Nam điều chỉnh hợp đồng đại lý thương mại cho thương nhân nước ngoài

 Nghiên cứu thực trạng áp dụng pháp luật về hợp đồng đại lý thương mại chothương nhân nước ngoài tại Công ty Cổ phần Phòng cháy chữa cháy Thăng Long

 Đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi tạiCông ty

4.3 Phạm vi nghiên cứu

 Giới hạn phạm vi nghiên cứu: Khóa luận nghiên cứu các quy định về hợp đồng

đại lý thương mại cho thương nhân nước ngoài trong Luật Thương mại 2005, Bộ luậtDân sự 2015, Luật quản lý ngoại thương 2017 và các điều ước, văn kiện quốc tế mà ViệtNam gia nhập, ký kết Bên cạnh đó, khóa luận cũng tìm hiểu quan điểm về đại lý thươngmại của hai hệ thống luật trên thế giới: hệ thống luật châu Âu lục địa và hệ thống luậtAnh – Mỹ

 Phạm vi nghiên cứu về mặt thời gian: Khóa luận nghiên cứu tình hình pháp luật

Việt Nam về hợp đồng đại lý thương mại cho thương nhân nước ngoài kể từ khi LuậtThương mại 2005 chính thức có hiệu lực thi hành vào ngày 01/01/2006 Tuy nhiên, tậptrung vào giai đoạn từ năm 2013 đến nay, khi Công ty Cổ phần Phòng cháy chữa cháyThăng Long chính thức ký kết hợp đồng đại lý với các nhà đầu tư nước ngoài để phânphối các sản phẩm phòng cháy chữa cháy tại Việt Nam

 Phạm vi nghiên cứu về mặt không gian: Khóa luận nghiên cứu trong phạm vi

hoạt động kinh doanh của Công ty Cổ phần Phòng cháy chữa cháy Thăng Long

5 Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp được thực hiện trên cơ sở lý luận khoa học và các phươngpháp của Chủ nghĩa Mác – Lênin và các quan điểm, đường lối về chính trị, kinh tế, vănhóa – xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam

Khóa luận sử dụng rất nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau nhằmlàm rõ các nội dung nghiên cứu như: phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp từ các tài liệunhư luận văn, luận án, các công trình chuyên khảo, các bài báo cáo nghiên cứu; phươngpháp tổng hợp; phương pháp phân tích; phương pháp so sánh; phương pháp chứng minh;phương pháp quy nạp;… Trong đó:

Trang 9

 Chương 1: sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích nhằm làm rõ một số vấn đề

lý luận về hợp đồng đại lý thương mại cho thương nhân nước ngoài, kết hợp phươngpháp so sánh với hợp đồng thương mại trong nước

 Chương 2: phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp, phương pháp tổng hợp,

phương pháp phân tích, phương pháp thống kê sử dụng để cung cấp các thông tin, số liệucần thiết về tình hình hoạt động tại Công ty Cổ phần Phòng cháy chữa cháy Thăng Long;phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành điều chỉnh hợp đồng đại lý thươngmại cho thương nhân nước ngoài; đánh giá thành tựu, hạn chế trong thực tiễn áp dụngpháp luật

 Chương 3: phương pháp tổng hợp, phân tích, chứng minh, quy nạp được sử dụng

chủ yếu để làm cơ sở chứng minh, luận giải cho các kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quảthực thi pháp luật điều chỉnh hợp đồng đại lý thương mại cho thương nhân nước ngoài

6 Kết cấu khóa luận tốt nghiệp

Ngoài phần lời mở đầu, kết luận, danh mục bảng biểu và danh mục tài liệu thamkhảo, khóa luận gồm có 03 chương:

CHƯƠNG 1: Những vấn đề cơ bản về pháp luật điều chỉnh hợp đồng đại lý thươngmại cho thương nhân nước ngoài

CHƯƠNG 2: Thực trạng pháp luật điều chỉnh hợp đồng đại lý thương mại chothương nhân nước ngoài tại Công ty Cổ phần Phòng cháy chữa cháy Thăng Long

CHƯƠNG 3: Một số kiến nghị hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật

về hợp đồng đại lý thương mại cho thương nhân nước ngoài

Trang 10

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HỢP ĐỒNG ĐẠI LÝ THƯƠNG MẠI CHO THƯƠNG NHÂN NƯỚC NGOÀI

1.1 Khái quát về hợp đồng đại lý thương mại cho thương nhân nước ngoài

1.1.1 Khái niệm hợp đồng đại lý thương mại cho thương nhân nước ngoài

Đại lý thương mại là kết quả của quá trình phân công lao động và trao đổi hàng hóa

từ lâu trong lịch sử Ban đầu việc mua bán, tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ thương mại đượctiến hành trực tiếp giữa người mua và người bán, người cung ứng dịch vụ và người sửdụng dịch vụ Dần dần, khi quy mô kinh doanh mở rộng, nhu cầu tiêu thụ lớn trong khiđiều kiện địa lý xa và thời gian có hạn khiến thương nhân nhận ra cần có sự hỗ trợ củabên trung gian Dưới phương diện kinh tế, đại lý là một cách thức kinh doanh hay mộtphương thức giao dịch mà trong đó, mọi việc thiết lập quan hệ giữa người mua và ngườibán hàng hóa (người cung ứng dịch vụ và người sử dụng dịch vụ), việc xác định các điềukiện giao dịch phải thông qua một người trung gian.3 Dưới góc độ pháp lý, đại lý là mộthình thức của dịch vụ trung gian thương mại Ở Việt Nam, trung gian thương mại được

hiểu “là hoạt động của thương nhân để thực hiện các giao dịch thương mại cho một hoặc một số thương nhân được xác định, bao gồm hoạt động đại diện cho thương nhân, môi giới thương mại, uỷ thác mua bán hàng hoá và đại lý thương mại.”4 Như vậy, với đặc thù

là loại hình trung gian thương mại, khái niệm “đại lý thương mại” được định nghĩa tại

Điều 166 Luật Thương mại 2005 “là hoạt động thương mại, theo đó bên giao đại lý và bên đại lý thoả thuận việc bên đại lý nhân danh chính mình mua, bán hàng hoá cho bên giao đại lý hoặc cung ứng dịch vụ của bên giao đại lý cho khách hàng để hưởng thù lao.”

Điểm khác biệt cần lưu ý giữa hợp đồng đại lý trong nước và hợp đồng đại lý chothương nhân nước ngoài nằm ở khía cạnh chủ thể Cả bên giao đại lý và bên đại lý trongquan hệ hợp đồng đại lý trong nước đều là thương nhân Việt Nam, còn hợp đồng đại lýcho thương nhân nước ngoài được giao kết giữa bên đại lý là thương nhân Việt Nam vàbên giao đại lý là thương nhân nước ngoài Về vấn đề thương nhân nước ngoài, nhìnchung, pháp luật các nước trên thế giới có những cách tiếp cận khác nhau Theo pháp luậtNhật Bản, một công ty nước ngoài đặt trụ sở của mình tại Nhật Bản hoặc có mục đíchchính và thực hiện công việc kinh doanh tại Nhật Bản, dù được thành lập ở nước ngoài,vẫn phải tuân theo các quy định như một công ty được thành lập tại Nhật Bản5 Bộ luậtcác quy tắc của Liên bang Hoa Kỳ xác định thương nhân nước ngoài là bất kỳ thương

3 Trường Đại học Thương mại, “Giáo trình kỹ thuật thương mại quốc tế”, NXB Thống kê, 2003, tr.17.

4 Khoản 11 Điều 3 Luật Thương mại 2005.

5 Điều 482 Bộ luật Thương mại và Luật những ngoại lệ đặc biệt về kiểm soát của Nhật Bản (1994)

Trang 11

nhân nào cư trú hoặc sinh sống bên ngoài lãnh thổ Hoa Kỳ6 Pháp luật Việt Nam cũng có

quan niệm tương tự với pháp luật Hoa Kỳ: “Thương nhân nước ngoài là thương nhân được thành lập, đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật nước ngoài hoặc được pháp luật nước ngoài công nhận”7

Mặc dù pháp luật Việt Nam không đưa ra khái niệm cụ thể, tuy nhiên, dựa vào cácquy định trong Bộ luật dân sự 2015 và Luật Thương mại 2005, có thể định nghĩa hợpđồng đại lý thương mại cho thương nhân nước ngoài là sự thỏa thuận giữa bên giao đại lý

và bên đại lý về việc bên đại lý nhân danh chính mình mua, bán hàng hóa cho bên giaođại lý hoặc cung ứng dịch vụ của bên giao đại lý cho khách hàng để hưởng thù lao, trongquan hệ hợp đồng này, bên giao đại lý là thương nhân nước ngoài

1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng đại lý thương mại cho thương nhân nước ngoài

Thứ nhất, bản chất của hợp đồng đại lý thương mại cho thương nhân nước ngoài là hợp đồng dịch vụ Điều 513 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Hợp đồng dịch vụ là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên sử dụng dịch vụ, bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ” Đối tượng

của hợp đồng dịch vụ là công việc có thể thực hiện được, không bị pháp luật cấm, khôngtrái đạo đức xã hội, cụ thể, trong trường hợp này là việc mua bán hàng hóa hoặc việccung ứng dịch vụ của bên đại lý cho bên giao đại lý

Thứ hai, về chủ thể, như đã đề cập, các bên tham gia quan hệ hợp đồng đại lý cho

thương nhân nước ngoài đều phải là thương nhân8, trong đó, bên giao đại lý là thươngnhân nước ngoài Thương nhân nước ngoài bên cạnh việc chịu sự điều chỉnh pháp luậtnước nơi thương nhân đăng ký thành lập, hoạt động còn chịu sự điều chỉnh của pháp luậtnước khác nếu thương nhân muốn tiến hành hoạt động kinh doanh trên lãnh thổ nướcnày

Thứ ba, hợp đồng đại lý cho thương nhân nước ngoài phải được lập thành văn bản

hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương9 Theo Khoản 15 Điều 3 LuậtThương mại 2005, các hình thức có giá trị pháp lý tương đương văn bản bao gồm: điệnbáo, telex, fax, thông điệp dữ liệu và các hình thức khác theo quy định pháp luật

Thứ tư, nội dung của hợp đồng đại lý cho thương nhân nước ngoài bao gồm các

điều điều khoản do các bên thỏa thuận: hàng hóa hoặc dịch vụ đại lý; hình thức đại lý;thù lao đại lý; thời hạn của hợp đồng đại lý; quyền và nghĩa vụ các bên Ngoài ra, các bên

có thể thỏa thuận và ghi vào hợp đồng các nội dung khác như biện pháp bảo đảm hợpđồng, chế độ bảo hành đối với hàng hóa đại lý, nghĩa vụ thanh toán các chi phí liên quan

6 Title 17 Commodity and Security Exchanges of Code of Federal Regulations

7 Khoản 1 Điều 16 Luật Thương mại 2005

8 Điều 167 Luật Thương mại 2005

9 Điều 168 Luật Thương mại 2005

Trang 12

đến hoạt động đại lý, hỗ trợ kỹ thuật, cơ sở vật chất cho đại lý tổ chức quảng cáo và tiếpthị, thưởng phạt vật chất, bồi thường thiệt hại,…Bộ luật Dân sự 2015 và Luật Thươngmại 2005 không quy định trong hợp đồng đại lý mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ bắtbuộc phải có những nội dung cụ thể nào Tuy nhiên, một số luật chuyên ngành đưa rađiều khoản chủ yếu mà hợp đồng đại lý cần đảm bảo như Luật kinh doanh bảo hiểm 2000(Điều 87)

1.2 Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật điều chỉnh hợp đồng đại lý thương mại cho thương nhân nước ngoài

1.2.1 Cơ sở ban hành pháp luật điều chỉnh hợp đồng đại lý thương mại cho thương nhân nước ngoài

Như đã trình bày ở trên, hợp đồng đại lý thương mại cho thương nhân nước ngoàiđược giao kết giữa một bên là thương nhân Việt Nam (bên đại lý) và một bên là thươngnhân nước ngoài (bên giao đại lý) Vì vậy, quan hệ đại lý thương mại cho thương nhânnước ngoài chịu sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam và pháp luật nước ngoài Mà mỗiquốc gia lại có những quy định riêng về hợp đồng đại lý thương mại Do đó, việc làm rõluật điều chỉnh trong giao kết và thực hiện hợp đồng là yếu tố đặc biệt quan trọng

1.2.1.1 Pháp luật nước ngoài

Sự ra đời của các điều ước và văn kiện quốc tế đã góp phần thống nhất, hài hòa hóapháp luật điều chỉnh hoạt động thương mại quốc tế nói chung và hoạt động đại lý thươngmại cho thương nhân nước ngoài nói riêng, có thể kể đến một số điều ước quốc tế quantrọng như: Công ước Rome 2008 về Luật áp dụng đối với các nghĩa vụ theo hợp đồng;

Bộ nguyên tắc về Luật hợp đồng châu Âu (Principles of European Contract Law – viếttắt: PECL); Công ước Liên Mỹ về luật áp dụng cho hợp đồng quốc tế 1994; Nguyên tắcHợp đồng thương mại quốc tế (PICC)

Với bản chất là dịch vụ trung gian thương mại, pháp luật điều chỉnh hợp đồng đại lýthương mại ở các nước không giống nhau Các nước theo truyền thống luật châu Âu lụcđịa như Pháp, Đức, Bỉ, Nhật Bản bên cạnh bộ luật dân sự có ban hành bộ luật thươngmại, trong đó quy định rất cụ thể về hoạt động đại lý Các nước theo truyền thống phápluật Anh – Mỹ không có quy định riêng điều chỉnh hoạt động đại lý thương mại, tất cảcác giao dịch qua trung gian bất kể mục đích gì cũng được gọi chung trong “Law ofagency” (luật đại diện) Luật đại diện của Anh – Mỹ cũng dùng thuật ngữ người đại diện(agent) để chỉ những người thực hiện một hoặc một số hành vi trên danh nghĩa của bên

ủy quyền hay danh nghĩa chính mình theo yêu cầu của bên ủy quyền10 Tuy cách thức quyđịnh khác nhau nhưng pháp luật các nước đều tập trung đề cập một số vấn đề của hợp

10 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Thương mại Tập 2, NXB Công an Nhân dân, Hà Nội 2010, tr.82.

Trang 13

đồng đại lý thương mại: quyền và nghĩa vụ các bên; hình thức hợp đồng; trả tiền thù lao;chấm dứt hợp đồng; bồi thường thiệt hại

Hiện tại chưa có điều ước quốc tế nào mà Việt Nam tham gia đề cập cụ thể đến hợpđồng đại lý song Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và Côngước Hague 1964 về mua bán quốc tế có thể áp dụng liên quan đến một số lĩnh vực củamua bán hàng hóa quốc tế theo hợp đồng đại diện

1.2.1.2 Pháp luật Việt Nam

Các văn bản pháp luật chủ yếu điều chỉnh hoạt động đại lý thương mại nói chung vàđại lý thương mại cho thương nhân nước ngoài nói riêng của Việt Nam bao gồm:

 Bộ luật Dân sự 2015: được coi là luật “gốc” điều chỉnh các quan hệ dân sự, bao

gồm những nội dung cơ bản trong lĩnh vực hợp đồng như nguyên tắc, giao kết, thực hiện,sửa đổi chấm dứt hợp đồng

 Luật Thương mại 2005: là nguồn luật trực tiếp, quan trọng nhất điều chỉnh hoạt

động đại lý thương mại Luật Thương mại 2005 quy định cụ thể khái niệm đại lý thươngmại, quyền và nghĩa vụ các bên, hình thức, thù lao, thanh toán, quyền sở hữu, thời hạntrong hợp đồng đại lý

 Luật Quản lý ngoại thương 2017: Luật này quy định cụ thể các biện pháp quản lý

Nhà nước đối với hoạt động ngoại thương, trong đó có hình thức đại lý mua bán hàng hóacho thương nhân nước ngoài

 Các luật chuyên ngành: Ứng với mỗi loại hình dịch vụ hay hàng hóa, luật chuyên

ngành quy định khác nhau về cách thức thực hiện hoạt động đại lý như: Đại lý bảo hiểm(Luật kinh doanh bảo hiểm 2000); Đại lý tàu biển (Bộ luật Hàng hải 2015); Đại lý lữhành (Luật Du lịch 2017); Đại lý kinh doanh xăng dầu (Thông tư 36/2009/TT-BTC banhành quy chế đại lý kinh doanh xăng dầu);…

 Các văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành Luật Thương mại và các luật khác:

Nghị định 69/2018/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý ngoại thương;Nghị định 09/2018/NĐ-CP Quy định chi tiết Luật thương mại và Luật Quản lý ngoạithương về hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bánhàng hóa của nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tại ViệtNam;…

1.2.2 Quy định pháp luật Việt Nam về hợp đồng đại lý thương mại cho thương nhân nước ngoài

1.2.2.1 Giao kết hợp đồng đại lý thương mại cho thương nhân nước ngoài

Về bản chất, hợp đồng đại lý thương mại cho thương nhân nước ngoài là một hợpđồng dân sự nên quá trình giao kết hợp đồng này dựa trên sự thỏa thuận giữa các bên căn

cứ vào các quy định của Bộ luật Dân sự 2015 Cụ thể như sau:

Trang 14

 Đề nghị giao kết hợp đồng

Điều 386 Bộ luật Dân sự 2015: “Đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên

đã được xác định hoặc tới công chúng” Quy định trên đã bám sát với Công ước Viên

1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, cụ thể, theo Điều 14 Công ước này: “Một

đề nghị ký kết hợp đồng gửi cho một hay nhiều người xác định được coi là một chào hàng nếu có đủ chính xác và nếu nó chỉ rõ ý chí của người chào hàng muốn tự ràng buộc mình trong trường hợp có sự chấp nhận chào hàng đó.”

Nội dung của đề nghị giao kết hợp đồng phải rõ ràng để bên được đề nghị hiểu rõmong muốn của bên đề nghị Công ước Viên 1980 xác định, một đề nghị được coi là đủ

rõ ràng khi “nó nêu rõ hàng hóa và ấn định số lượng về giá cả một cách trực tiếp hoặc gián tiếp hoặc quy định thể thức xác định những yếu tố này” Nếu bên đề nghị đã chấp

nhận giao kết hợp đồng nhưng có nêu điều kiện hoặc sửa đổi thì coi như người này đãđưa ra đề nghị mới.11

 Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng

Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị về việcchấp nhận toàn bộ nội dung của bên đề nghị Sự im lặng của bên đề nghị không được coi

là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc theo thói quen

đã được xác lập giữa các bên12

 Thời điểm giao kết hợp đồng phát sinh hiệu lực

Về nguyên tắc chung, hợp đồng được giao kết vào thời điểm bên đề nghị nhận đượcchấp nhận giao kết Theo quy định của Luật Thương mại 2005 và các luật chuyên ngành,hợp đồng đại lý thương mại cho thương nhân nước ngoài phải được lập thành văn bảnhoặc hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương, căn cứ cách xác định của Bộ luậtDân sự 2015, thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản haybằng hình thức chấp nhận khác được thể hiện trên văn bản

1.2.2.2 Quyền và nghĩa vụ các chủ thể trong hợp đồng đại lý thương mại cho thương nhân nước ngoài

Về cơ bản, hợp đồng đại lý thương mại cho thương nhân nước ngoài được nghiêncứu trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam Do vậy, các quy định đối với hợp đồng này sẽ chịu

sự điều chỉnh của hệ thống pháp luật trong nước Trong đó, liên quan tới trách nhiệm củacác bên cần tuân thủ một số quy định sau:

Quyền và nghĩa vụ của bên đại lý

Nghĩa vụ của bên đại lý

11 Điều 392 Bộ luật Dân sự 2015

12 Điều 393 Bộ luật Dân sự 2015

Trang 15

Nghĩa vụ quan trọng nhất của bên đại lý là thực hiện mua, bán hàng hóa, cung ứngdịch vụ cho khách hàng theo giá hàng hóa, giá cung ứng dịch vụ mà bên giao đại lý ấnđịnh Nếu bên giao đại lý đã ấn định giá bán hàng hóa, giá cung ứng dịch vụ cho kháchhàng thì bên đại lý phải bán đúng giá, không được tự ý nâng giá bán hoặc giảm giá mua.Đối với hình thức đại lý bao tiêu, bên đại lý phải mua hoặc bán theo đúng giá tối đa hoặcgiá tối thiểu đã thỏa thuận với bên giao đại lý

Sau khi thực hiện hoạt động đại lý, bên đại lý có nghĩa vụ thanh toán cho bên giaođại lý tiền bán hàng (đối với đại lý bán); nhận tiền và giao hàng cho bên giao đại lý (đốivới đại lý mua)

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bên đại lý có sự phụ thuộc chặt chẽ vào bêngiao đại lý, chịu sự kiểm tra, giám sát của bên giao đại lý, thực hiện chế độ báo cáo tìnhhình hoạt động, bảo quản hàng hóa, chịu trách nhiệm hoặc liên đới chịu trách nhiệm vềchất lượng hàng hóa, chất lượng dịch vụ trong trường hợp có lỗi do mình gây ra, thựchiện các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ

Quyền của bên đại lý

Bên cạnh nghĩa vụ phải thực hiện, bên đại lý có quyền cơ bản là quyền hưởng thùlao và các lợi ích hợp pháp khác do hoạt động đại lý mang lại Điều 171 Luật Thương

mại 2005: “Trừ trường hợp có thỏa thuận khác thù lao đại lý được trả cho bên đại lý dưới hình thức hoa hồng hoặc chênh lệch giá” Ngoài ra, bên đại lý còn có các quyền

sau: giao kết hợp đồng đại lý với một hoặc nhiều bên giao đại lý; yêu cầu bên giao đại lýgiao hàng hoặc tiền theo hợp đồng đại lý; yêu cầu bên giao đại lý hướng dẫn, cung cấpthông tin để thực hiện hợp đồng; quyết định giá bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ chokhách hàng với đại lý bao tiêu

Quyền và nghĩa vụ của bên giao đại lý

Nghĩa vụ của bên giao đại lý

Tương ứng với quyền quan trọng nhất của bên đại lý là hưởng thù lao thì nghĩa vụ

cơ bản nhất của bên giao đại lý là trả thù lao và chi phí hợp lý khác cho bên đại lý Bêngiao đại lý cũng có các nghĩa vụ khác như: Hướng dẫn, cung cấp thông tin, tạo điều kiệncho bên đại lý thực hiện hợp đồng; Hoàn trả cho bên đại lý tài sản của bên đại lý dùng đểbảo đảm (nếu có) khi kết thúc hợp đồng đại lý; Chịu trách nhiệm về chất lượng hàng hóa,dịch vụ hoặc liên đới chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm pháp luật của bên đại lý nếu cómột phần do lỗi của mình gây ra

Quyền của bên giao đại lý

Điều 172 Luật Thương mại 2005 quy định bên giao đại lý có các quyền sau: Ấnđịnh giá mua, giá bán hàng hoá, giá cung ứng dịch vụ đại lý cho khách hàng; Ấn định giágiao đại lý; Yêu cầu bên đại lý thực hiện biện pháp bảo đảm theo quy định của pháp luật;

Trang 16

Yêu cầu bên đại lý thanh toán tiền hoặc giao hàng theo hợp đồng đại lý; Kiểm tra, giámsát việc thực hiện hợp đồng của bên đại lý

1.2.2.3 Chấm dứt hợp đồng đại lý thương mại cho thương nhân nước ngoài

Pháp luật Việt Nam không quy định cụ thể về trường hợp chấm dứt hợp đồng đại lýthương mại cho thương nhân nước ngoài Tuy nhiên, căn cứ vào quy định chấm dứt hợpđồng trong Bộ luật dân sự 2015, hợp đồng đại lý thương mại cho thương nhân nướcngoài chấm dứt theo sự thỏa thuận của các bên và trong các trường hợp sau: (i) hợp đồng

đã được thực hiện xong, hết thời hạn hiệu lực; (ii) một trong các bên tham gia hợp đồngchết, mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, mất tư cách thương nhân; (iii) hợpđồng bị hủy bỏ, bị đơn phương chấm dứt thực hiện

Bản chất của hợp đồng đại lý thương mại cho thương nhân nước ngoài là một loạihợp đồng dịch vụ nên các bên tham gia hợp đồng đại lý có quyền đơn phương chấm dứthợp đồng đại lý trong những trường hợp sau: (i) việc tiếp tục thực hiện hợp đồng không

có lợi cho bên giao đại lý thì bên giao đại lý có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng;(ii) bên giao đại lý không thực hiện nghĩa vụ của mình hoặc thực hiện không đúng theothỏa thuận thì bên đại lý có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng

Tuy nhiên, theo Điều 177 Luật Thương mại 2005, hợp đồng đại lý chỉ chấm dứt saumột thời gian hợp lý nhưng không sớm hơn 60 ngày, kể từ ngày một trong hai bên thôngbáo bằng văn bản cho bên kia về việc chấm dứt hợp đồng đại lý Điều này đồng nghĩa vớiviệc các bên có quyền tự do chấm dứt hợp đồng và như vậy sẽ ảnh hưởng quyền lợi bênkia

1.2.2.4 Giải quyết tranh chấp về hợp đồng đại lý thương mại cho thương nhân nước ngoài

Tranh chấp kinh doanh thương mại có yếu tố nước ngoài là mâu thuẫn, bất đồng vềquyền và lợi ích phát sinh hoặc liên quan đến hoạt động kinh doanh thương mại (i) đượcthực hiện giữa ít nhất một bên là cá nhân, pháp nhân nước ngoài, hoặc (ii) các bên thamgia là công dân, pháp nhân Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấmdứt quan hệ đó diễn ra ở nước ngoài, hoặc (iii) các bên tham gia đều là công dân, phápnhân Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ đó ở nước ngoài13 Dựa theo định nghĩatrên, tranh chấp về hợp đồng đại lý thương mại cho thương nhân nước ngoài là tranh chấpkinh doanh thương mại có yếu tố nước ngoài Các phương thức giải quyết tranh chấp vềquyền và lợi ích của hợp đồng này bao gồm:

13 Phan Hoài Nam (2018), Luận văn “Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại có yếu tố nước ngoài tại Tòa án

Việt Nam”, TP Hồ Chí Minh, tr.49.

Trang 17

 Thương lượng: là việc các bên trực tiếp gặp nhau để bàn bạc, thỏa thuận giải

quyết tranh chấp Thương lượng thường được các bên ưu tiên sử dụng vì giữ bí mật thôngtin, ít mất thời gian và tiền bạc nhưng không có tính bắt buộc thi hành

 Hòa giải: là phương thức giải quyết tranh chấp có sự tham gia của bên thứ ba

đóng vai trò là người trung gian giúp các bên đạt được thỏa thuận Tương tự như thươnglượng, thỏa thuận giải quyết bằng hòa giải không được bắt buộc thi hành như phán quyếtcủa trọng tài hay tòa án

 Trọng tài: là phương thức giải quyết tranh chấp mà các bên tự nguyện lựa chọn

người thứ ba (trọng tài) để giải quyết tranh chấp cho mình Tranh chấp được giải quyếtbằng trọng tài, nếu trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp, các bên có thỏa thuận trọng tài.Đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài, Hội đồng trọng tài áp dụng pháp luật do các bênlựa chọn; nếu các bên không có thỏa thuận về luật áp dụng thì Hội đồng trọng tài quyếtđịnh áp dụng pháp luật mà Hội đồng trọng tài cho là phù hợp nhất Trường hợp pháp luậtViệt Nam, pháp luật do các bên lựa chọn không có quy định cụ thể liên quan đến nộidung tranh chấp thì Hội đồng trọng tài được áp dụng tập quán quốc tế để giải quyết tranhchấp nếu việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng đó không trái với các nguyên tắc

cơ bản của pháp luật Việt Nam14

 Tòa án: Giải quyết các tranh chấp thương mại quốc tế tại Toà án là một trong

những phương thức giải quyết được quy định trong pháp luật của nhiều nước trên thế giớicũng như pháp luật Việt Nam Giải quyết tranh chấp bằng tòa án là quyền đương nhiên,các bên tranh chấp không cần phải thỏa thuận

Các bên có thể lựa chọn Tòa án nước ngoài hoặc Tòa án Việt Nam để giải quyếttranh chấp Tuy nhiên, bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài muốn được thi hành tạiViệt Nam phải được Tòa án Việt Nam xem xét, công nhận Tòa án Việt Nam có thẩmquyền chung và thẩm quyền riêng biệt giải quyết tranh chấp thương mại có yếu tố nướcngoài theo quy định tại Điều 469, 470 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015

1.2.2.5 Quản lý Nhà nước về hoạt động đại lý thương mại cho thương nhân nước ngoài

Bên cạnh việc các bên được quyền thoả thuận những nội dung của hợp đồng đại lýthương mại cho thương nhân nước ngoài thì hợp đồng này cũng có điểm khác biệt so vớihợp đồng đại lý trong nước Cụ thể Nhà nước Việt Nam sẽ quản lý hoạt động đại lýthương mại cho thương nhân nước ngoài trên các khía cạnh điều kiện cấp phép; hình thứcthanh toán; thủ tục xuất, nhập khẩu hàng hoá; nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ tài chínhkhác

 Điều kiện cấp phép

14 Điều 14 Luật Trọng tài thương mại 2010.

Trang 18

Điều 50 Nghị định 69/2018/NĐ-CP quy định cho phép thương nhân Việt Nam đượclàm đại lý mua, bán các loại hàng hóa cho thương nhân nước ngoài, trừ hàng hóa thuộcDanh mục cấm xuất khẩu, tạm ngừng xuất khẩu, hàng hóa thuộc Danh mục hàng hóa cấmnhập khẩu, tạm ngừng nhập khẩu Đối với hàng hóa thuộc Danh mục hàng hóa xuất khẩu,nhập khẩu theo giấy phép, thương nhân chỉ được ký hợp đồng đại lý sau khi được cơquan có thẩm quyền cấp phép Nghĩa rằng với hợp đồng đại lý thương mại cho thươngnhân nước ngoài chỉ được các bên xác lập sau khi được Nhà nước cấp giấy phép hànghoá dịch vụ đó được phép kinh doanh tại Việt Nam.

 Hình thức thanh toán

Nếu là đại lý bán hàng, bên đại lý được thanh toán tiền bán hàng đại lý theo 02phương thức: (i) thanh toán bằng tiền theo quy định pháp luật về ngoại hối; (ii) thanhtoán bằng hàng hóa không thuộc Danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩuhoặc không phải là hàng hóa tạm ngừng xuất khẩu, tạm ngừng nhập khẩu Trường hợphàng hóa thuộc Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo giấy phép thì phải được

cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép.15

Nếu là đại lý mua hàng, bên đại lý phải yêu cầu thương nhân nước ngoài chuyểntiền bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi qua ngân hàng để mua hàng theo hợp đồng đại lý.16

Quá trình thanh toán phải đảm bảo tuân thủ đúng theo quy định về quản lý ngoại hối vàhướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

 Nghĩa vụ thuế

Điều 51 Nghị định 69/2018/NĐ-CP quy định, nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ tàichính khác đối với hoạt động đại lý thương mại cho thương nhân nước ngoài thuộc vềthương nhân Việt Nam (bên đại lý) Bên đại lý có trách nhiệm đăng ký, kê khai, nộp cácloại thuế và các nghĩa vụ tài chính khác liên quan đến hàng hóa thuộc hợp đồng đại lýmua, bán hàng hóa và hoạt động kinh doanh của mình theo quy định của pháp luật

 Thủ tục xuất, nhập khẩu

Điều 52 Nghị định 69/2018/NĐ-CP quy định hàng hóa thuộc hợp đồng đại lý mua,bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài khi xuất khẩu, nhập khẩu phải được làm thủtục theo đúng quy định pháp luật

Nếu hàng hóa thuộc Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo giấy phép,thương nhân phải có giấy phép của Bộ, ngành liên quan, chịu sự kiểm soát chặt chẽ trướckhi thông quan Nếu hàng hóa không thuộc Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩutheo giấy phép và Danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu, tạm ngừng xuất khẩu, thương nhânchỉ phải làm thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu tại Chi cục Hải quan cửa khẩu

15 Điều 48 Luật Quản lý ngoại thương 2017

16 Điều 20 Nghị định 69/2018/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều Luật Quản lý ngoại thương.

Trang 19

 Trả lại hàng

Hàng hóa thuộc hợp đồng đại lý bán hàng tại Việt Nam cho thương nhân nướcngoài được tái xuất khẩu nếu không tiêu thụ được tại Việt Nam Việc hoàn thuế đối vớihàng hóa nhập khẩu phải tái xuất được thực hiện theo Nghị định số 134/2016/NĐ-CPQuy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

1.3 Một số nguyên tắc điều chỉnh hợp đồng đại lý thương mại cho thương nhân nước ngoài

“Nguyên tắc Hợp đồng thương mại quốc tế” (PICC) được xây dựng trên cơ sở hài

hòa các quy phạm pháp luật khác nhau của nhiều hệ thống pháp luật trên thế giới, được

sử dụng để giải thích hoặc bổ sung các văn bản pháp lý quốc tế nhằm thống nhất luật.Việt Nam trong những nỗ lực mở cửa hội nhập quốc tế đã thừa nhận, nội luật hóa cácnguyên tắc của PICC trong Bộ luật Dân sự 2015 PICC ghi nhận các nguyên tắc điềuchỉnh hợp đồng thương mại quốc tế nói chung và hợp đồng đại lý thương mại cho thươngnhân nước ngoài nói riêng Chương I của PICC 2004 đề cập một số nội dung cơ bản sau:

1.3.1 Nguyên tắc tự do, tự nguyện, bình đẳng

Tự do, tự nguyện và bình đẳng được coi là tư tưởng chủ đạo, có tính bắt buộc chungđối với các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng Trong hợp đồng đại lý thương mại chothương nhân nước ngoài, nguyên tắc này thể hiện ở sự tự do lựa chọn đối tác và tự dothỏa thuận, thống nhất nội dung hợp đồng Những sự áp đặt hay tác động làm mất đi tự

do ý chí của các bên như sự ép buộc, cưỡng bức đều ảnh hưởng tới hiệu lực của hợp đồng

và dẫn tới hợp đồng vô hiệu Nguyên tắc tự do, tự nguyện, bình đẳng là nền tảng của trật

tự kinh tế quốc tế mang tính cạnh tranh và theo định hướng mở cửa thị trường

Theo nguyên tắc tự do hợp đồng, các bên có quyền tự chủ trong lĩnh vực hoạt độngcủa mình nhưng trong một số trường hợp ngoại lệ, nguyên tắc này bị hạn chế vì lợi íchchung, Nhà nước can thiệp vào quan hệ hợp đồng bằng các hình thức như: kiểm soáthàng hóa, kiểm soát giá cảm kiểm soát độc quyền,…17

1.3.2 Nguyên tắc thiện chí, trung thực

Điều 1.7 của PICC 2004 nhấn mạnh: “Các bên trong hợp đồng phải hành động phù hợp với tinh thần thiện chí và trung thực trong các giao dịch thương mại quốc tế”.

Nguyên tắc trên cũng được pháp luật Việt Nam ghi nhận tại Khoản 3 Điều 3 Bộ luật Dân

sự 2015: “Cá nhân, pháp nhân phải xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình một cách thiện chí, trung thực” Nguyên tắc này đòi hỏi các bên trong quan hợp

đồng đại lý thương mại phải cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin, không có dấu hiệu lừadối ở bất cứ giai đoạn nào của hợp đồng Các bên giao kết và thực hiện hiện hợp đồngtrên tinh thần hợp tác, tương trợ, đôi bên cùng có lợi, cùng tồn tại, phát triển

17 Lê Nết, “Những nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế”, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1999, tr.13

Trang 20

1.3.3 Nguyên tắc về hiệu lực ràng buộc của hợp đồng

Theo quy định tại Điều 1.3 của PICC 2004, hợp đồng được ký kết có giá trị ràngbuộc các bên của quan hệ hợp đồng Các bên phải tuân thủ và thực hiện nghiêm chỉnh cácđiều khoản đã thỏa thuận Hợp đồng chỉ có thể thay đổi hoặc chấm dứt trên cơ sở cácđiều khoản của hợp đồng hoặc bằng sự thỏa thuận hoặc những phương thức khác đề cậptrong PICC 2004.18

1.3.4 Nguyên tắc không xâm phạm lợi ích hợp pháp khác

Nội dung nguyên tắc nhấn mạnh, việc giao kết và thực hiện hợp đồng đại lý thươngmại cho thương nhân nước ngoài không được xâm phạm lợi ích cá nhân, lợi ích xã hội vàlợi ích Nhà nước Đây là nguyên tắc quan trọng nhằm bảo vệ lợi ích công cộng khi cácbên giao kết và thực hiện hợp đồng

1.4 Kết luận

Trong bối cảnh Việt Nam mở cửa thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế, các doanhnghiệp nước ngoài có xu hướng mở kênh phân phối tại Việt Nam ngày càng nhiều, hợpđồng đại lý thương mại cho thương nhân nước ngoài cũng ngày càng phổ biến Điểmriêng biệt của hợp đồng đại lý thương mại cho thương nhân nước ngoài so với hợp đồngđại lý nói chung nằm ở bên chủ thể giao đại lý là thương nhân nước ngoài có hàng hóamuốn mua, bán hoặc dịch vụ muốn cung ứng tại thị trường Việt Nam Chính vì điều này,ngoài việc quan tâm tới các quy phạm pháp luật điều chỉnh hợp đồng đại lý, chúng ta cầnnghiên cứu, tìm hiểu pháp luật thương mại quốc tế và vấn đề quản lý Nhà nước về hoạtđộng ngoại thương đối với hợp đồng đại lý thương mại cho thương nhân nước ngoài.Xuất phát từ bản chất là một hình thức của dịch vụ trung gian thương mại, pháp luật cácnước trên thế giới có quan điểm về đại lý thương mại khác nhau đòi hỏi các chủ thể thamgia quan hệ hợp đồng cần nắm bắt để đảm bảo quyền và lợi ích của mình Đồng thời, tìm

ra những điểm tương đồng và khác biệt, những chuẩn mực và kinh nghiệm pháp lý trongtương quan so sánh với pháp luật Việt Nam để phát hiện và đề xuất các giải pháp bổsung, hoàn chỉnh chế định pháp luật về hợp đồng đại lý ở Việt Nam

18 Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Thương mại quốc tế, NXB Công an Nhân dân, 2017, tr.217.

Trang 21

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HỢP ĐỒNG ĐẠI LÝ THƯƠNG MẠI CHO THƯƠNG NHÂN NƯỚC NGOÀI TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN

PHÒNG CHÁY CHỮA CHÁY THĂNG LONG

2.1 Tổng quan tình hình và các nhân tố ảnh hưởng tới pháp luật điều chỉnh hợp đồng đại lý cho thương nhân nước ngoài

2.1.1 Tổng quan tình hình pháp luật điều chỉnh hợp đồng đại lý thương mại cho thương nhân nước ngoài

Như đã trình bày trong Chương 1, hoạt động đại lý thương mại đã xuất hiện từ rấtlâu trên thế giới và lần đầu tiên được ghi nhận trong Bộ luật thương mại 1897 của Đức và

Bộ luật thương mại 1899 của Nhật Bản19 Tại Việt Nam, khi chuyển sang nền kinh tế thịtrường, các lĩnh vực, ngành nghề ngày càng trở nên phong phú đa dạng, sự xuất hiện củahoạt động trung gian thương mại nói chung và đại lý thương mại nói riêng đặt ra yêu cầucần có các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động này Ngày 10/5/1997, Quốc hội nước

ta thông qua Luật Thương mại 1997 có hiệu lực thi hành từ 01/01/1998 Hoạt động đại lýđược quy định từ Điều 111 đến 127 nhưng bị bó hẹp trong phạm vi đại lý mua bán hànghóa Luật Thương mại 2005 ban hành, kế thừa nhiều nội dung của Luật Thương mại 1997

và bổ sung một số điểm phù hợp với thông lệ quốc tế như: mở rộng khái niệm đại lýtrong thương mại bao gồm đại lý mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ, bổ sung các nộidung thể hiện quyền tự do thỏa thuận giữa các bên,…

Riêng đối với hoạt động đại lý thương mại cho thương nhân nước ngoài, LuậtThương mại 2005 không có những quy định cụ thể về nội dung của hợp đồng Luật Quản

lý ngoại thương 2017 và các văn bản hướng dẫn thi hành như Nghị định 69/2018/NĐ-CPquy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý ngoại thương; Nghị định 09/2018/NĐ-CPquy định chi tiết Luật thương mại và Luật Quản lý ngoại thương về hoạt động mua bánhàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa của nhà đầu tư nướcngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam có đề cập tới nhưng lại tậptrung khía cạnh quản lý Nhà nước như thủ tục xuất, nhập khẩu, thủ tục thành lập hoạtđộng, nghĩa vụ thuế, thanh toán ngoại hối,…Do vậy, phần lớn căn cứ của hợp đồng đại lýthương mại cho thương nhân nước ngoài vẫn dựa trên Bộ luật Dân sự 2015, Luật Thươngmại 2005 và một số văn kiện quốc tế

Bên cạnh đó, do đặc điểm hoạt động thương mại rất phong phú gồm nhiều lĩnh vực,ngành nghề khác nhau, vì vậy, một số văn bản luật chuyên ngành đưa ra những quy địnhriêng về hợp đồng đại lý ứng với mỗi loại hình kinh doanh hàng hóa, dịch vụ như: LuậtKinh doanh bảo hiểm 2000, Bộ luật Hàng hải 2015, Luật Du lịch 2017;…

19 Nguyễn Mai Chi, Luận văn “Pháp luật Việt Nam về hợp đồng đại lý”, Hà Nội, 2012.

Trang 22

Trong bối cảnh Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới(WTO), Luật Thương mại 2005 và các văn bản luật liên quan tạo cơ sở pháp lý để đại lýthương mại “cởi trói” với những quy định mang tính mở rộng Tuy vậy, thực tiễn thựchiện hợp đồng đại lý thương mại trong thời gian qua đã và đang phát sinh nhiều vướngmắc, sai sót, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên cũng như của ngườitiêu dùng

2.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới pháp luật điều chỉnh hợp đồng đại lý thương mại cho thương nhân nước ngoài

Thứ nhất, chính sách định hướng của Đảng và Nhà nước được coi là nhân tố cơ bản

ảnh hưởng tới quá trình xây dựng và ban hành pháp luật điều chỉnh hợp đồng đại lýthương mại cho thương nhân nước ngoài Trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa tập trung,hoạt động đại lý thương mại nói chung chưa phát triển, một trong những văn bản quyphạm sớm nhất trực tiếp điều chỉnh hoạt động đại lý là Thông tư số 04-BNg/XNK ngày11/4/1984 về việc đặt đại lý mua bán hàng hóa ở nước ngoài Kể từ khi Nhà nước tachuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa như hiện nay, hoạtđộng đại lý liên tục được mở rộng, đa dạng cả về cách thức, đối tượng và phạm vi, đòihỏi Đảng và Nhà nước cần có định hướng và chính sách phát triển phù hợp, đáp ứng yêucầu của quá trình vận động thực tiễn

Thứ hai, hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành nhu cầu tất yếu cho sự phát triển kinh

tế các nước trên thế giới và được coi là nhân tố quan trọng chi phối pháp luật thương mạicủa mỗi quốc gia Bên cạnh việc ký kết các hiệp định song phương và đa phương, thamgia các thỏa thuận ưu đãi thương mại, liên minh thuế quan, thị trường chung, thì ViệtNam đang từng bước hoàn thiện, bổ sung hệ thống pháp luật phù hợp với các quy địnhquốc tế và cam kết hội nhập Giữ vai trò là một trong những kênh phân phối của nhiềunhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, hoạt động đại lý thương mại cho thương nhân nướcngoài chịu ảnh hưởng bởi tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta

Thứ ba, xuất phát từ nhu cầu các bên của quan hệ hợp đồng đại lý thương mại cho

thương nhân nước ngoài, họ luôn mong muốn thực hiện hoạt động kinh doanh trong hànhlang pháp lý an toàn, hạn chế tối đa rủi ro Hệ thống quy định pháp luật là căn cứ bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của các bên khi xác lập, thực hiện, thay đổi, chấm dứt quan hệhợp đồng Điều này đòi hỏi pháp luật cần có tính ổn định, không ngừng hoàn thiện vànâng cao hiệu quả thực thi, đáp ứng nhu cầu của các chủ thể trong nền kinh tế quốc dân

Ngày đăng: 17/05/2020, 11:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Đoàn Năng (2001), “Một số vấn đề lý luận cơ bản về tư pháp quốc tế”, NXB.Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lý luận cơ bản về tư pháp quốc tế”
Tác giả: Đoàn Năng
Nhà XB: NXB.Chính trị quốc gia
Năm: 2001
3. EU-Việt Nam MUTRAP III Dự án Hỗ trợ thương mại đa biên Giai đoạn III,“Báo cáo hỗ trợ Bộ Công thương xây dựng Nghị định về Đại lý thương mại trong lĩnh vực phân phối”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo hỗ trợ Bộ Công thương xây dựng Nghị định về Đại lý thương mại trong lĩnhvực phân phối
4. Kim Liên (2011), “Tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động đại lý thương mại”, baocongthuong.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động đại lýthương mại
Tác giả: Kim Liên
Năm: 2011
5. Lê Nết, “Những nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế”, NXB. Thành phố Hồ Chí Minh, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế
Nhà XB: NXB. Thành phố HồChí Minh
6. Mai Thanh (2011), “Quản lý hoạt động đại lý thương mại: “Áo đã quá chật”, Báo Diễn đàn doanh nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý hoạt động đại lý thương mại: “Áo đã quá chật
Tác giả: Mai Thanh
Năm: 2011
7. Ngô Thị Minh Hải (2011), Luận văn “Đại lý thương mại theo Luật Thương mại 2005”, Khoa Luật Trường Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại lý thương mại theo Luật Thương mại2005
Tác giả: Ngô Thị Minh Hải
Năm: 2011
8. Ngọc Nhi (2011), “Hoạt động của đại lý thương mại: “Buông” rồi khó “bó”, Báo Diễn đàn doanh nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động của đại lý thương mại: “Buông” rồi khó “bó
Tác giả: Ngọc Nhi
Năm: 2011
9. Nguyễn Mai Chi (2012), Luận văn “Pháp luật Việt Nam về hợp đồng đại lý”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật Việt Nam về hợp đồng đại lý
Tác giả: Nguyễn Mai Chi
Năm: 2012
10. Nguyễn Thị Vân Anh (2006), “Một số ý kiến về khái niệm đại lý thương mại”, Tạp chí luật học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số ý kiến về khái niệm đại lý thương mại”
Tác giả: Nguyễn Thị Vân Anh
Năm: 2006
11. Nguyễn Thị Vân Anh (2007) Luận án “Pháp luật điều chỉnh các hoạt động trung gian thương mại ở Việt Nam”, Trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật điều chỉnh các hoạt độngtrung gian thương mại ở Việt Nam
12. Phan Hoài Nam (2018), Luận văn “Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại có yếu tố nước ngoài tại Tòa án Việt Nam”, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thươngmại có yếu tố nước ngoài tại Tòa án Việt Nam
Tác giả: Phan Hoài Nam
Năm: 2018
13. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam VCCI (2007), “Cẩm nang hợp đồng thương mại”, NXB Lao động – Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang hợpđồng thương mại
Tác giả: Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam VCCI
Nhà XB: NXB Lao động – Xã hội
Năm: 2007
14. Trường Đại học Luật Hà Nội (2015), “Giáo trình Luât Dân sự 2”, NXB. Công an Nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luât Dân sự 2
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: NXB. Công an Nhân dân
Năm: 2015
15. Trường Đại học Luật Hà Nội (2015), “Giáo trình Luật Thương mại 2”, NXB.Công an Nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Thương mại 2
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: NXB.Công an Nhân dân
Năm: 2015
16. Trường Đại học Luật Hà Nội (2017), “Giáo trình Luật Thương mại quốc tế”, NXB. Công an Nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Thương mại quốc tế
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: NXB. Công an Nhân dân
Năm: 2017
17. Vũ Hồng Nam (2017), Luận văn “Hợp đồng đại lý mua bán hàng hóa theo pháp luật thương mại Việt Nam”, Viện Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.C. TÀI LIỆU TIẾNG ANH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp đồng đại lý mua bán hàng hóa theopháp luật thương mại Việt Nam
Tác giả: Vũ Hồng Nam
Năm: 2017
3. Bộ luật Thương mại và Luật những ngoại lệ đặc biệt về kiểm soát của Nhật Bản (1994) Khác
5. Bộ nguyên tắc UNIDROIT 2004 về hợp đồng thương mại quốc tế Khác
11. Luật Thương mại của Cộng hòa Pháp (2005), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
14. Nghị định 187/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w