1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về đầu tư thành lập tổ chức kinh tế Thực tiễn thực hiện tại Công ty TNHH Tư vấn đầu tư và sở hữu trí tuệ Hồng Bàng

64 164 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 168,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khi thành lập nên một tổ chức kinh tế, nhà đầu tư được sở hữuvốn điều lệ không hạn chế trong tổ chức kinh tế, trừ một số trường hợp pháp luật quyđịnh và có quyền quản lý các hoạt động củ

Trang 1

TÓM LƯỢC

Hiện nay đất nước ta đang bước vào thời kỳ phát triển Công nghiệp hóa – Hiệnđại hóa đất nước và hội nhập nền kinh tế thế giới WTO Do vậy mà nền kinh tế thịtrường đa dạng về thành phần kinh tế cùng các hoạt động kinh doanh ở nước ta đãngày càng được củng cố và phát triển, các quyền tự do kinh doanh của các nhà đầu tưcũng ngày càng được nâng cao, họ có quyền tự do lựa chọn cho mình loại hình kinhdoanh, ngành nghề kinh doanh phù hợp nhất Trong đó, xu hướng thành lập các tổchức kinh tế, đặc biệt là thành lập doanh nghiệp ngày càng gia tăng ở nước ta Tuynhiên, vấn đề pháp lý về thành lập tổ chức kinh tế không phải ai cũng nắm được rõ.Luật Hợp tác xã 2012 (LHTX 2012), Luật doanh nghiệp 2014 (LDN 2014) và Luậtđầu tư năm 2014 (LĐT 2014) ra đời đã khắc phục được những thiếu sót của các vănbản quy phạm pháp luật trước đó, tạo nền tảng pháp lý vững chắc cho các hoạt độngkinh doanh Trong đó quy định một cách chi tiết và cụ thể về vấn đề đầu tư thành lập

tổ chức kinh tế như điều kiện về chủ thể, vốn, ngành nghề kinh doanh, thủ tục đăng kýkinh doanh,… Tuy nhiên các quy định này vẫn còn nhiều vướng mắc cần được giảiquyết, đặc biệt trong quá trình áp dụng thực tiễn Với những lý do đó em quyết địnhchon đề tài: “Pháp luật về đầu tư thành lập tổ chức kinh tế - Thực tiễn thực hiện tạiCông ty TNHH Tư vấn đầu tư và sở hữu trí tuệ Hồng Bàng” làm đề tài khóa luận tốtnghiệp của mình Với mong muốn trước hết là bản thân, sau đó là cho mọi người hiểu

rõ và sâu sắc hơn pháp luật về thành lập tổ chức kinh tế hiện nay ở nước ta, đánh giámột số thành tựu đã đạt được cũng như những hạn chế còn tồn tại trong quá trình ápdụng quy định pháp luật, đồng thời đưa ra một số giải pháp, kiến nghị hoàn thiện phápluật về thành lập tổ chức kinh tế trong thời gian tới

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Nghiên cứu các quy định của pháp luật và việc thực thi pháp luật trong doanhnghiệp giúp ích rất lớn cho quá trình chuẩn bị hành trang ra trường của sinh viênchuyên ngành Được sự giúp đỡ của Khoa Kinh tế - Luật, Trường Đại học ThươngMại và sự hỗ trợ của Công ty TNHH Tư vấn đầu tư và sở hữu trí tuệ Hồng Bàng, em

đã được đi thực tế tại doanh nghiệp đồng thời có cơ hội nghiên cứu tìm hiểu về hoạtđộng thành lập doanh nghiệp tại công ty Quá trình này giúp em vận dụng những kiếnthức đã được học, được tích lũy khi ngồi trên ghế nhà trường, nhằm có cái nhìn thực tếhơn về pháp luật trong đời sống hiện nay và là cơ sở quan trọng giúp em thực hiệnkhóa luận này

Để hoàn thành khóa luận này, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TSTrần Thị Thu Phương, người đã tận tình hướng dẫn trong suốt quá trình viết Khóa luậntốt nghiệp Em chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô trong khoa Kinh tế - Luật, TrườngĐại Học Thương Mại đã tận tình truyền đạt kiến thức trong những năm em học tập

Em chân thành cảm ơn Giám đốc Công ty TNHH Tư vấn đầu tư và sở hữu trí tuệHồng Bàng, cùng các anh chị cán bộ nhân viên ở đây đã cho phép và tạo điều kiệnthuận lợi để em thực tập tại quý doanh nghiệp

Tuy nhiên vì kiến thức chuyên môn còn hạn chế và bản thân còn thiếu nhiều kinhnghiệm thực tiễn nên nội dung của Khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót, em rấtmong nhận sự góp ý, chỉ bảo thêm của quý thầy cô cùng toàn thể cán bộ, công nhânviên tại doanh nghiệp để Khóa luận này được hoàn thiện hơn

Cuối cùng em kính chúc quý Thầy, Cô dồi dào sức khỏe và thành công trong sựnghiệp cao quý của mình

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

MỤC LỤC

TÓM LƯỢC i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan 3

3 Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu 5

4 Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Kết cấu của khóa luận tốt nghiệp 7

CHƯƠNG I: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VỀ ĐẦU TƯ THÀNH LẬP TỔ CHỨC KINH TẾ 8

1.1 Khái quát pháp luật về đầu tư thành lập tổ chức kinh tế 8

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản về đầu tư thành lập tổ chức kinh tế 8

1.1.2 Khái niệm về pháp luật về đầu tư thành lập tổ chức kinh tế 10

1.1.3 Đặc điểm của pháp luật về đầu tư thành lập tổ chức kinh tế 10

1.1.4 Ý nghĩa của pháp luật về đầu tư thành lập tổ chức kinh tế 11

1.2 Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật điều chỉnh đầu tư thành lập tổ chức kinh tế 12

1.2.1 Cơ sở ban hành pháp luật về đầu tư thành lập tổ chức kinh tế 12

1.2.2 Nội dung pháp luật về đầu tư thành lập tổ chức kinh tế 14

1.3 Nguyên tắc cơ bản của pháp luật về đầu tư thành lập tổ chức kinh tế 18

1.3.1 Nguyên tắc đảm bảo quyền tự do kinh doanh 18

1.3.2 Nguyên tắc đảm bảo bình đẳng giữa các chủ thể kinh doanh 18

1.3.3 Nguyên tắc công khai, minh bạch trong thành lập tổ chức kinh tế 19

1.3.4 Nguyên tắc tuân thủ các cam kết quốc tế 19

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VỀ ĐẦU TƯ THÀNH LẬP TỔ CHỨC KINH TẾ 20

2.1 Tổng quan tình hình và các nhân tố ảnh hưởng đến pháp luật về đầu tư thành lập tổ chức kinh tế 20

2.1.1 Tổng quan tình hình pháp luật về đầu tư thành lập tổ chức kinh tế 20

2.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến pháp luật về đầu tư thành lập tổ chức kinh tế 21

2.2 Phân tích thực trạng các quy phạm pháp luật về đầu tư thành lập tổ chức kinh tế 23

Trang 4

2.2.1 Về chủ thể thành lập tổ chức kinh tế 23

2.2.2 Về điều kiện đầu tư thành lập tổ chức kinh tế 25

2.2.3 Về thủ tục đầu tư thành lập tổ chức kinh tế 31

2.2.4 Về thẩm quyền đầu tư thành lập tổ chức kinh tế 36

2.2.5 Về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư thành lập tổ chức kinh tế 37

2.3 Thực trạng thực hiện các quy phạm pháp luật về đầu tư thành lập tổ chức kinh tế tại Công ty TNHH Tư vấn đầu tư và sở hữu trí tuệ Hồng Bàng 39

2.3.1 Giới thiệu chung về Công ty TNHH Tư vấn đầu tư và sở hữu trí tuệ Hồng Bàng 39

2.3.2 Thực trạng thực hiện các quy định pháp luật về đầu tư thành lập tổ chức kinh tế tại Công ty TNHH Tư vấn đầu tư và sở hữu trí tuệ Hồng Bàng 40

2.4 Đánh giá chung 44

2.4.1 Ưu điểm 44

2.4.2 Nhược điểm 46

2.4.3 Nguyên nhân 47

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƯ THÀNH LẬP TỔ CHỨC KINH TẾ 49

3.1 Quan điểm, định hướng hoàn thiện pháp luật về đầu tư thành lập tổ chức kinh tế 49

3.1.1 Đảm bảo tính phù hợp với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước 49

3.1.2 Đảm bảo tính phù hợp với các cam kết quốc tế trong các Hiệp định, Điều ước, Công ước quốc tế 49

3.1.3 Đảm bảo quyền tự do kinh doanh cho các nhà đẩu tư 49

3.1.4 Đảm bảo môi trường kinh doanh lành mạnh và bình đẳng cho các nhà đầu tư 50

3.2 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về đầu tư thành lập tổ chức kinh tế 50

3.2.1 Giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về đầu tư thành lập tổ chức kinh tế 50

3.2.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về đầu tư thành lập tổ chức kinh tế 53

3.3 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu 55

KẾT LUẬN 57

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 58

Trang 5

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

S

TT

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong bối cảnh và điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay thì sự kết hợpsức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và sựphát triển toàn diện của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc Khi trình độ khoa học phát triểnnhanh với tốc độ chưa từng có và đã vượt ra khỏi phạm vi của mỗi quốc gia, đầu tưphát triển kinh tế trở thành một yêu cầu mang tính quy luật khách quan Đó cũng làvấn đề trọng tâm trong chiến lược phát triển kinh tế của nước ta và nhiều nước kháctrên thế giới

Trong quá trình nước ta chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sangnền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, việc khuyến khích và bảo đảm đầu

tư trong và ngoài nước là một vấn đề hết sức quan trọng Điều này sẽ góp phần thúcđẩy nhanh tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế nước ta hiện nay, đặc biệt là việc côngnhận và thừa nhận các hình thức đầu tư Theo quy định của LĐT 2014 thì nhà đầu tư

có thể tiến hành đầu tư tại Việt Nam thông qua ba hình thức sau: Đầu tư thành lập tổchức kinh tế; đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chứckinh tế và đầu tư theo hình thức hợp đồng PPP

Trong đó, đầu tư thành lập tổ chức kinh tế là một trong những hình thức đầu tưđược sử dụng phổ biến và rộng rãi Theo đó, nhà đầu tư sẽ bỏ vốn, tài sản để thành lậpnên một tổ chức kinh tế mới và tổ chức này đại diện cho nhà đầu tư tham gia vào hoạtđộng đầu tư Đây là hình thức được nhiều cá nhân, tổ chức lựa chọn bởi vì tính bềnvững và độc lập của nó Khi thành lập nên một tổ chức kinh tế, nhà đầu tư được sở hữuvốn điều lệ không hạn chế trong tổ chức kinh tế, trừ một số trường hợp pháp luật quyđịnh và có quyền quản lý các hoạt động của doanh nghiệp Trong bối cảnh nền kinh tếngày càng hội nhập thì hoạt động đầu tư thành lập tổ chức kinh tế ngày càng thu hútcác nhà đầu tư trong và ngoài nước, đặc biệt là hoạt động đầu tư thành lập doanhnghiệp Số lượng doanh nghiệp được thành tại Việt Nam ngày một nhiều Cụ thể, chỉtính riêng 06 tháng đầu năm 2019, trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanhnghiệp đã thông báo có hơn 60.000 doanh nghiệp được thành lập mới trên cả nước.Các doanh nghiệp được thành lập cũng không có sự phân bố đồng đều mà thành lậptập trung ở các thành phố lớn và các khu công nghiệp như tại Hà Nội, Hồ Chí Minh,

Đà Nẵng Việc thành lập tổ chức kinh tế với số lượng lớn mang lại nhiều lợi ích chokinh tế nước nhà như: Thúc đẩy GDP của cả nước; tạo công ăn, việc làm cho lao độngtrong nước; giúp thu hút nguồn vốn từ nước ngoài vào Việt Nam kèm theo đó là công

Trang 7

nghệ, kỹ thuật, phương thức quản lý tiên tiến; tạo đà cho kinh tế nước nhà phát triểnnhư xuất nhập khẩu, dịch vụ, thương mại hàng hóa.

Việt Nam là một nước đang phát triển có trình độ khoa học và công nghệ thấp,trong khi phần lớn những kỹ thuật mới xuất phát chủ yếu từ các nước công nghiệpphát triển, do đó để rút ngắn khoảng cách và đuổi kịp các nước công nghiệp phát triển,nước ta cần nhanh chóng tiếp cận với các kỹ thuật mới Đầu tư thành lập tổ chức kinh

tế nói chung và đầu tư thành lập doanh nghiệp nói riêng không chỉ tác động mạnh đếnquá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế mà còn thúc đẩy quá trình này trên nhiều phươngdiện: chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu vùng lãnh thổ, cơ cấu các thành phầnkinh tế, cơ cấu vốn đầu tư, cơ cấu công nghệ, cơ cấu lao động,… Qua đó, ta càng thấyđược tầm quan trọng của việc đầu tư thành lập tổ chức kinh tế

Nhà nước ta nhìn chung đã rất nỗ lực trong việc ban hành và hoàn thiện hệ thốngvăn bản quy phạm pháp luật về hoạt động đầu tư và hoạt động đầu tư thành lập tổ chứckinh tế, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực này Bêncạnh những thành tựu đạt được thì pháp luật cũng bộc lộ nhiều hạn chế và bất cậpchẳng hạn như nhiều quy định của luật không rõ ràng gây khó cho nhà đầu tư và cơquan nhà nước trong quá trình thực hiện thủ tục thành lập hay những quy định mâuthuẫn, xung đột giữa LĐT và các luật chuyên ngành dẫn đến các thủ tục bị chồngchéo Đáng quan ngại hơn, LHTX 2012, LĐT, LDN 2014 và các văn bản pháp luậtliên quan khác còn tồn tại nhiều bất cập, tạo ra gánh nặng thủ tục cho nhà đầu tư, làmmất đi cơ hội đầu tư kinh doanh của các nhà đầu tư trong và ngoài nước vào thị trườngViệt Nam Chính vì thế, việc nghiên cứu, đổi mới, đơn giản hóa thủ tục gia nhập thịtrường là yêu cầu cấp bách của Chính phủ, tạo sự minh bạch, công bằng, thuận lợi chohoạt động đầu tư kinh doanh

Hiện nay, việc nghiên cứu các quy định pháp luật về đầu tư thành lập tổ chứckinh tế đang được rất nhiều người quan tâm Trên thực tế đã có nhiều bài nghiên cứu

và bài viết về vấn đề đầu tư thành lập tổ chức kinh tế, nhưng những bài viết đa phầnchỉ phân tích dưới góc độ lý thuyết, chưa đi sâu vào thực tiễn Qua quá trình thực tậptại Công ty TNHH Tư vấn đầu tư và sở hữu trí tuệ Hồng Bàng, em đã được tiếp cậnvới hoạt động tư vấn, thực hiện các quy định về thành lập tổ chức kinh tế tại công ty

và càng thấy được tầm quan trọng của pháp luật về đầu tư thành lập tổ chức kinh tế.Nhằm góp phần nghiên cứu, đóng góp ý kiến và đưa ra các biện pháp nhằm nâng caohiệu quả của pháp luật về đầu tư thành lập tổ chức kinh tế nói chung và đầu tư thànhlập doanh nghiệp tại Việt Nam nói riêng, em đã lựa chọn đề tài: “Pháp luật về đầu tưthành lập tổ chức kinh tế – Thực tiễn thực hiện tại Công ty TNHH Tư vấn đầu tư và sởhữu trí tuệ Hồng Bàng” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình Đề tài tập trung

Trang 8

nghiên cứu, đánh giá về pháp luật về đầu tư thành lập tổ chức kinh tế và những vấn đềcòn tồn tại trong quá trình áp dụng trong thực tiễn.

2 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan

Về pháp luật về đầu tư thành lập tổ chức kinh tế đã có không ít tác giả lấy làm đềtài cho công trình nghiên cứu của mình Các tác giả đã nêu ra được những vấn đề còntồn đọng cần giải quyết và đưa ra một số giải pháp để giải quyết những vấn đề đó chophù hợp với tính chất môi trường liên tục thay đổi của nước ta trong thời kỳ đổi mới.Trong số đó có thể kể đến các công trình nghiên cứu như:

1 Nguyễn Thị Thu Thủy (2016), “Pháp luật về đăng ký kinh doanh ở Việt Nam

hiện nay”, Luận án Tiến sĩ luật học, Viện Hàn Lâm Khoa Học Xã Hội Việt Nam Học Viện Khoa Học Xã Hội Bài viết phân tích các quy định về đăng ký kinh doanh và

pháp luật về đăng ký kinh doanh, sau đó chỉ ra những bất cập các quy định của phápluật và đưa ra giải pháp để hoàn thiện hệ thống pháp luật về đăng ký kinh doanh

2 Uông Hồng Thắng (2015), “Quyền tự do thành lập doanh nghiệp”, Luận văn thạc sĩ, Viện đại học mở Hà Nội Bài luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và

thực tiễn về quyền tự do thành lập doanh nghiệp và pháp luật về quyền tự do thành lậpdoanh nghiệp, những thành tựu đạt được trong thực hiện quyền tự do thành lập doanhnghiệp và những hạn chế còn tồn tại, sau đó đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật vềquyền tự do thành lập doanh nghiệp

3 Trần Chí Vương (2012), “Thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, thực

trạng và giải pháp”, Bài nghiên cứu khoa học, Khoa lý luận chính trị - Trường Đại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh Bài viết tập trung nghiên cứu về thực trạng tình hình

đầu tư nước ngoài ở Việt Nam, những hạn chế, khó khăn gặp phải và đưa ra giải pháp

để thúc đẩy hoạt động đầu tư có vốn nước ngoài phát triển

Ngoài những công trình nghiên cứu điển hình ở trên còn có những bài phát biểu,những bài báo và một số bài viết có liên quan như:

1 Thạc sĩ Nguyễn Ngọc Minh (2018), “Tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài

và các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn FDI”, Tạp chí Công Thương ngày 04/07 Bài viết tập trung vào thực trạng đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài, quá

trình cấp Giấy chứng nhận đầu tư, các ưu đãi và hỗ trợ đầu tư trong thực tiễn và đưa ranhững giải pháp để tiếp tục thu hút, thúc đẩy giải ngân và nâng cao hiệu quả sử dụngnguồn vốn FDI trong các năm tới

2 Thạc sĩ Nguyễn Ngọc Minh (2018), “Hoàn thiện pháp luật hỗ trợ đầu tư trong

điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế”, Tạp chí Công Thương ngày 04/07 Bài viết tập

atrung và phân tích vai trò của việc hỗ trợ đầu tư thành lập doanh nghiệp, thực trạng

Trang 9

các quy định về hỗ trợ đầu tư và các kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hỗ trợ đầu tưcho doanh nghiệp.

3 Anh Nhi (2019), “Gỡ vướng mắc Luật Đầu tư 2014”, VnEconomy ngày 15/02.

Bài viết nêu ra những bất cập của LĐT 2014 về thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư,thủ tục thành lập tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và phương hướng sửa đổiLuật đầu tư 2014

4 Nguyễn Duy Thắng (2018), “Hệ thống pháp luật trong lĩnh vực đầu tư - một

số quy định còn mẫu thuẫn, chồng chéo, không còn phù hợp”, Cổng thông tin điện tử Pháp Điển Bài viết nêu ra những điểm không thống nhất giữa Luật đầu tư 2014 và các

Luật chuyên ngành khác trong vấn đề về thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư, thủtục lập báo cáo tác động môi trường, và đặt ra những vấn đề bất cập cần phải hoànthiện Luật đầu tư 2014

Có thể thấy rằng, đã có nhiều công trình nghiên cứu và bài viết về pháp luật vềthành lập tổ chức kinh tế nói chung và pháp luật về đầu tư thành lập doanh nghiệp tạiViệt Nam nói riêng Những công trình trên cũng đã nêu được những vấn đề lý luận vàthực tiễn về pháp luật về đầu tư thành lập tổ chức kinh tế dưới góc độ pháp lý Đồngthời, chỉ ra những bất cập còn tồn tại và đưa ra giải pháp để hoàn thiện pháp luật Tuynhiên, các công trình nghiên cứu vẫn chưa đi sâu tìm hiểu việc đầu tư thành lập từngloại hình tổ chức kinh tế cụ thể Bên cạnh đó, trải qua các năm các văn bản pháp luật

về đầu tư thành lập tổ chức kinh tế cũng đã được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tìnhhình thực tiễn vì vậy việc áp dụng các văn bản pháp luật cũ của các đề tài trên cũng đãphần nào bớt tính khả thi cũng như bám sát các quy định của pháp luật Chính vì vậy,với nền tảng xây dựng đi lên từ các đề tài cũ mà đề tài này em muốn hướng tới chính

là phân tích các quy định pháp luật về đầu tư thành lập tổ chức kinh tế; trình bày thựctrạng áp dụng pháp luật về đầu tư thành lập tổ chức kinh tế vào trong hoạt động thànhlập doanh nghiệp của các nhà đầu tư, cụ thể là thực trạng áp dụng các quy định củapháp luật về đầu tư thành lập doanh nghiệp tại Công ty TNHH Tư vấn đầu tư và sởhữu trí tuệ Hồng Bàng, cùng với đó là những ưu điểm mà pháp luật đã đạt được và hạnchế cần được khắc phục để pháp luật về hoạt động đầu tư thành lập tổ chức kinh tếđược hoàn thiện, chặt chẽ hơn, đảm bảo sự công bằng, sự tin tưởng cho các nhà đầu tưtrong hoạt động thành lập tổ chức kinh tế Sau đây em xin trình bày đề tài: “Pháp luật

về đầu tư thành lập tổ chức kinh tế – Thực tiễn thực hiện tại Công ty TNHH Tư vấnđầu tư và sở hữu trí tuệ Hồng Bàng”

Trang 10

3 Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu

Đầu tư thành lập tổ chức kinh tế với tư cách là một trong những hình thức đầu tưkinh doanh đã đóng góp một phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế chung của cảnước thông qua việc đóng thuế và tạo ra những cơ hội việc làm cho người lao động.Chính vì những vai trò không thể phủ nhận của nó mà việc xem xét pháp luật về đầu tưthành lập tổ chức kinh tế càng trở nên cần thiết Xuất phát từ tình hình thực tiễn củaCông ty TNHH Tư vấn đầu tư và sở hữu trí tuệ Hồng Bàng, em quyết định chọn đề tài

“Pháp luật về đầu tư thành lập tổ chức kinh tế - Thực tiễn thực hiện tại Công ty TNHH

Tư vấn đầu tư và sở hữu trí tuệ Hồng Bàng” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình

4 Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là các quy định của pháp luật về vấn đề đầu

tư thành lập tổ chức kinh tế; thực tiễn thực hiện pháp luật về đầu tư thành lập tổ chứckinh tế tại Công ty TNHH Tư vấn đầu tư và sở hữu trí tuệ Hồng Bàng

4.2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu chính của khóa luận là:

- Hệ thống được các quy phạm pháp luật về đầu tư thành lập tổ chức kinh tế;

- Phân tích, đánh giá được thực trạng quy định pháp luật hiện hành và thực thựctrạng thực hiện pháp luật tại Công ty TNHH Tư vấn đầu tư và sở hữu trí tuệ HồngBàng;

- Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đầu tư thànhlập tổ chức kinh tế và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về đầu tư thành lập tổchức kinh tế tại Công ty TNHH Tư vấn đầu tư và sở hữu trí tuệ Hồng Bàng trong điềukiện kinh tế, xã hội cụ thể

4.3 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung và hướng tiếp cận đề tài

Mặc dù tên đề tài nghiên cứu Khóa luận là “ Pháp luật về đầu tư thành lập tổchức kinh tế - Thực tiễn thực hiện tại Công ty TNHH Tư vấn đầu tư và sở hữu trí tuệHồng Bàng” nhưng vấn đề về tổ chức kinh tế là vấn đề tương đối rộng, cho nên tronggiới hạn của khóa luận này, người viết chỉ nghiên cứu những vấn đề pháp lý về đầu tưthành lập doanh nghiệp tại Việt Nam – Thực tiễn thực hiện tại Công ty TNHH Tư vấnđầu tư và sở hữu trí tuệ Hồng Bàng theo quy định của Luật Hợp tác xã 2012, LuậtDoanh nghiệp 2014, Luật Đầu tư 2014

- Về không gian nghiên cứu

Trang 11

Khóa luận hướng tới nghiên cứu các quy định pháp luật về đầu tư thành lập tổchức kinh tế tại Việt Nam và cụ thể là tại Công ty TNHH Tư vấn đầu tư và sở hữu trítuệ Hồng Bàng.

- Về thời gian nghiên cứu

Khóa luận tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật về đầu tư thành lập tổchức kinh tế trong phạm vi 05 năm trở lại đây

5 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

và các phương pháp chuyên ngành khoa học pháp lý để giải quyết những vấn đề lýluận và thực tiễn liên quan đến các quy định của pháp luật về đầu tư thành lập tổ chứckinh tế, hai phương pháp chủ yếu được người viết sử dụng trong quá trình nghiên cứu

đề tài là phương pháp thu thập dữ liệu gồm có dữ liệu sơ cấp, dữ liệu thứ cấp vàphương pháp xử lý dữ liệu là so sánh, phân tích, tổng hợp, cụ thể như sau:

- Phương pháp thu thập dữ liệu

+ Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp: Khóa luận sử dụng phương pháp thu thập

dữ liệu sơ cấp là phương pháp quan sát thực tiễn thực hiện pháp luật về đầu tư thànhlập tổ chức kinh tế trong khoảng thời gian 05 trở lại đây

+ Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Dữ liệu thứ cấp được thu thập là các vănbản quy phạm pháp luật như Luật Doanh nghiệp 2014, Luật Hợp tác xã 2012, LuậtĐầu tư 2014, Nghị định 78/2015/NĐ-CP, Nghị định 108/2015/NĐ-CP,…và các bàinghiên cứu, bài viết trên báo, tạp chí về pháp luật về đầu tư thành lập tổ chức kinh tế

Trong khóa luận các phương pháp nghiên cứu được sử dụng cụ thể tại các chương nhưsau:

Chương 1: Khóa luận sử dụng phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp là các văn

bản quy phạm pháp luật như LDN 2014, LĐT 2014, LHTX 2012, các văn bản hướngdẫn thi hành như Nghị định, Thông tư, các dữ liệu từ các bài báo, bài luận văn, cáctài liệu tổng quan quy định về đầu tư thành lập tổ chức kinh tế Sau đó, người viết sửdụng phương pháp phân tích – tổng hợp để làm rõ khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của

Trang 12

pháp luật về đầu tư thành lập tổ chức kinh tế, nội dung pháp luật về đầu tư thành lập tổchức kinh tế, những nguyên tắc cơ bản của pháp luật về đầu tư thành lập tổ chức kinhtế.

Chương 2: Khóa luận sử dụng chủ yếu phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp

để đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật về đầu tư thành lập tổ chức kinh tế

và thực tiễn thực hiện pháp luật về đầu tư thành lập tổ chức kinh tế tại Công ty TNHH

Tư vấn đầu tư và sở hữu trí tuệ Hồng Bàng Trong đó bao gồm những kết quả đạtđược, đặc biệt là những hạn chế, bất cập và những nguyên nhân tồn tại trong quá trìnhđầu tư thành lập tổ chức kinh tế

Chương 3: Khóa luận chủ yếu sử dụng phương pháp chủ đạo là phân tích – tổng

hợp để đưa ra các giải pháp, kiến nghị trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về đầu

tư thành lập tổ chức kinh tế, nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về đầu tư thành lập

tổ chức kinh tế trong giai đoạn tới Đồng thời, chỉ ra những vấn đề khóa luận chưa làmđược cần tiếp tục nghiên cứu

6 Kết cấu của khóa luận tốt nghiệp

Kết cấu của khóa luận ngoài các phần phụ thêm như: Tóm lược, lời cảm ơn, danhmục từ viết tắt, tài liệu tham khảo,… thì phần nội dung chính của Khóa luận gồm 3chương:

Chương 1: Những lý luận cơ bản về pháp luật điều chỉnh về đầu tư thành lập tổ

chức kinh tế

Chương 2: Thực trạng pháp luật điều chỉnh về đầu tư thành lập tổ chức kinh tế và

thực tiễn thực hiện tại Công ty TNHH Tư vấn đầu tư và sở hữu trí tuệ Hồng Bàng

Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về đầu tư thành lập tổ

chức kinh tế

Trang 13

CHƯƠNG I: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH

VỀ ĐẦU TƯ THÀNH LẬP TỔ CHỨC KINH TẾ

1.1 Khái quát pháp luật về đầu tư thành lập tổ chức kinh tế

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản về đầu tư thành lập tổ chức kinh tế

1.1.1.1 Khái niệm về đầu tư

Thuật ngữ “đầu tư” hiện nay được nhìn nhận dưới nhiều góc độ như:

Trong lý thuyết kinh tế hay kinh tế học vĩ mô, đầu tư là số tiền mua một đơn vị

thời gian của hàng hóa không được tiêu thụ mà sẽ được sử dụng cho sản xuất trongtương lai Ví dụ như: Xây dựng đường sắt hay nhà máy; đầu tư trong vốn conngười bao gồm chi phí học bổ sung hoặc đào tạo trong công việc; đầu tư hàng tồnkho là sự tích tụ của các kho hàng hóa, nó có thể là tích cực hay tiêu cực, và nó có thể

có dụng ý hoặc không có dụng ý

Trong tài chính, đầu tư là việc mua một tài sản hay mục với hy vọng rằng nó sẽ

tạo ra thu nhập hoặc đánh giá cao trong tương lai và được bán với giá cao hơn Nóthường không bao gồm tiền gửi tại ngân hàng hay tổ chức tương tự Thuật ngữ đầu tưthường được sử dụng khi đề cập đến một triển vọng dài hạn

Trong pháp lý, LĐT 2014 đã đưa ra một định nghĩa rõ ràng và cụ thể hơn về hoạt

động đầu tư kinh doanh Theo đó, tại Khoản 5, Điều 3 quy định: “Đầu tư kinh doanh làviệc nhà đầu tư bỏ vốn để đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việcthành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinhtế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư.”

1.1.1.2 Khái niệm nhà đầu tư

Theo Wikipedia thì nhà đầu tư là người tham gia vào một hay nhiều vụ đầu

tư dưới các hình thức khác nhau Nhà đầu tư có thể là một cá nhân, một doanh nghiệp,một tổ chức Phần lớn các nhà đầu tư khi bỏ tiền ra đầu tư đều nhằm thu về lợi íchkinh tế, đó là hoạt động đầu tư kinh doanh, sản xuất Một số ít hơn, thường là đơn vịthuộc nhà nước, đầu tư công cộng nhằm mang lại lợi ích cho xã hội, như việc xâydựng các công trình dân sinh, phúc lợi

Thuật ngữ “nhà đầu tư” còn được dùng trong ngành tài chính nhằm miêu tả mộtnhóm người hay công ty thường xuyên mua chứng khoán, cổ phiếu hay trái phiếu để

có được lãi tài chính đánh đổi cho việc cung cấp vốn để phát triển một công ty nàođấy

Thuật ngữ “nhà đầu tư” cũng áp dụng cho những cá nhân hay tổ chức mua vànắm giữ các tài sản trong một thời gian dài với phân tích và nhận định sẽ có được lãivốn, không vì thu nhập ngắn hạn

Trang 14

Theo quy định tại Khoản 13, Điều 3 LĐT 2014 thì: Nhà đầu tư là tổ chức, cá

nhân thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh, gồm nhà đầu tư trong nước, nhà đầu tưnước ngoài và tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, trong đó:

+ Nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập

theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam

+ Nhà đầu tư trong nước là cá nhân có quốc tịch Việt Nam, tổ chức kinh tế

không có nhà đầu tư nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông

+ Tổ chức kinh tế là tổ chức được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp

luật Việt Nam, gồm doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và các tổ chức khácthực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh

+ Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là tổ chức kinh tế có nhà đầu tư

nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông

Như vậy, khái niệm nhà đầu tư được hiểu chung là tổ chức, cá nhân thực hiệnhoạt động đầu tư kinh doanh với mục đích sinh lợi

1.1.1.3 Khái niệm tổ chức kinh tế

Trước đây, khi chưa có một văn bản pháp luật nào quy định cụ thể về khái niệm

tổ chức kinh tế thì tổ chức kinh tế được hiểu là một tập hợp người, một nhóm ngườitập hợp lại thành một tổ chức hoạt động kinh tế (sản xuất, kinh doanh, marketing,…)với mục đích tìm kiếm lợi nhuận

Theo LĐT 2014 được Quốc hội thông qua năm 2014 đã đưa ra khái niệm về tổ

chức kinh tế như sau: Tổ chức kinh tế là tổ chức được thành lập và hoạt động theo quy

định của pháp luật Việt Nam, gồm doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã vàcác tổ chức khác thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh, trong đó:

+ Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổnđịnh, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiệncác hoạt động kinh doanh

+ Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ítnhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt độngsản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên

cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợp tác xã.+ Liên hiệp hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách phápnhân, do ít nhất 04 hợp tác xã tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau tronghoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm đáp ứng nhu cầu chung của hợp tác xã thànhviên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý liênhiệp hợp tác xã

Trang 15

Như vậy, khái niệm tổ chức kinh tế được hiểu là một tổ chức được thành lập theoquy định của pháp luật Việt Nam, có tư cách pháp nhân hoặc không, thực hiện cáchoạt động kinh doanh theo quy định của pháp luật, nhằm đạt được những mục tiêunhất định.

1.1.1.4 Khái niệm thành lập tổ chức kinh tế

Về góc độ kinh tế, thành lập tổ chức kinh tế là việc chuẩn bị đầy đủ các điều

kiện cần và đủ để hình thành nên một tổ chức kinh doanh Theo đó, nhà đầu tư phảichuẩn bị trụ sở, nhà xưởng, dây chuyền sản xuất, thiết bị kỹ thuật, đội ngũ nhân công,quản lý,…

1.1.2 Khái niệm về pháp luật về đầu tư thành lập tổ chức kinh tế

Đối với mỗi nhà đầu tư khi tham gia thành lập tổ chức kinh tế phải tuân thủ cácđiều kiện pháp luật về vốn, chủ thể, địa điểm, thủ tục thành lập,… Trong đó thì việctiến hành các thủ tục cần thiết với cơ quan có thẩm quyền là thủ tục quan trọng nhất vì

nó là quá trình ghi nhận ghi nhận sự ra đời của tổ chức kinh tế Thủ tục đăng ký thànhlập tổ chức kinh tế cũng là thủ tục bắt buộc đối với nhà đầu tư Trong quá trình thựchiện thủ tục này, các nhà đầu tư và cơ quan nhà nước đều phải chịu sự điều chỉnh củapháp luật

Như vậy, pháp luật về đầu tư thành lập tổ chức kinh tế là tổng thể các quy phạmpháp luật do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận để nhằm điều chỉnh những vấn đề vềđiều kiện, trình tự, thủ tục, nội dung thành lập tổ chức kinh tế của các nhà đầu tư tại cơquan nhà nước có thẩm quyền cũng như trong quá trình thực hiện hoạt động kinhdoanh

1.1.3 Đặc điểm của pháp luật về đầu tư thành lập tổ chức kinh tế

Thứ nhất, pháp luật về đầu tư thành lập tổ chức kinh tế là một chế định để gia nhập thị trường

Trong bất kỳ một nền kinh tế nào thì tổ chức kinh tế luôn đóng một vai trò quantrọng góp phần tăng trưởng kinh tế Vì vậy, việc tạo lập một khung pháp lý về việc đầu

Trang 16

tư thành lập tổ chức kinh tế là một điều vô cùng cần thiết, không chỉ tạo điều kiện chocác nhà đầu tư tham gia hoạt động kinh doanh mà còn giúp nhà nước quản lý dễ dànghơn Qua đó, nắm bắt được tình hình phát triển kinh tế trong các ngành, lĩnh vực vàđưa ra các chính sách điều tiết hợp lý hơn

Thứ hai, pháp luật về đầu tư thành lập tổ chức kinh tế là một thủ tục hành chính

Một tổ chức kinh tế muốn được công nhận sự ra đời của mình thì tổ chức kinh tế

đó bắt buộc phải khai báo với cơ quan nhà nước thông qua người đại diện của mình.Theo đó, nhà đầu tư phải tiến hành chuẩn bị các hồ sơ, giấy tờ và thực hiện các thủ tụctheo quy định Đây là một hình thức pháp lý có quan hệ pháp luật hành chính, một bên

là các nhà đầu tư và một bên là cơ quan quản lý hành chính nhà nước Việc đăng kýthành lập tổ chức kinh tế cũng là một thủ tục nhằm hỗ trợ, tạo điều kiện cho các nhàđầu tư thực hiện hoạt động kinh doanh, gia tăng số lượng tổ chức kinh tế trên mọi lĩnhvực trong phạm vi cả nước

Thứ ba, pháp luật về đầu tư thành lập tổ chức kinh tế là một dịch vụ công do nhà nước thực hiện

Cơ quan có thẩm quyền đăng ký kinh doanh là cơ quan đăng ký kinh doanh nơi

tổ chức kinh tế đặt trụ sở Đây cũng là cơ quan duy nhất được nhà nước ủy quyền đểcấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho tổ chức kinh tế Qua đó, nhà nước nắmđược tình hình thành lập tổ chức kinh tế của các nhà đầu tư, từ đó ban hành được chínhsách phù hợp trong cồng tác quản lý thành lập tổ chức kinh tế

Sở dĩ đây là một dịch vụ công vì việc tiến hành thủ tục thành lập tổ chức kinh tếkhông phải là một thủ tục hành chính truyền thống mà chỉ là một hoạt động cung cấpdịch vụ theo pháp luật quy định Bởi lẽ, quyền tự do kinh doanh là quyền của các nhàđầu tư, trong đó có quyền thành lập tổ chức kinh tế, vì vậy nhà đầu tư có quyền tự dothành lập tổ chức kinh tế và kinh doanh các ngành nghề mà luật không cấm

1.1.4 Ý nghĩa của pháp luật về đầu tư thành lập tổ chức kinh tế

1.1.4.1 Đối với nhà đầu tư

Khi đầu tư thành lập tổ chức kinh tế, nhà đầu tư phải tiến hành đăng ký thành lậptại cơ quan nhà nước có thẩm quyền Khi đáp ứng được đầy đủ các điều kiện pháp luậtquy định, tổ chức kinh tế sẽ được cấp phép hoạt động Điều này đồng nghĩa với việc tổchức kinh tế được thừa nhận về mặt pháp luật, có quyền thực hiện các hoạt động kinhdoanh như đã đăng ký và được pháp luật Nhà nước bảo hộ Như vậy, pháp luật về đầu

tư thành lập tổ chức kinh tế chính là công cụ để bảo về quyền và lợi ích cho các nhàđầu tư, cũng là công cụ để đảm bảo việc nhà đầu tư thực hiện đúng nghĩa vụ của mình

1.1.4.2 Đối với cơ quan quản lý nhà nước

Trang 17

Thông qua các quy định của pháp luật về thành lập tổ chức kinh tế giúp cơ quannhà nước dễ dàng quản lý các hoạt động kinh doanh của tổ chức kinh tế hơn Đồngthời, tạo điều kiện trong việc quản lý và kiểm soát các thành phần kinh tế hiện nay.Ngoài ra, việc thông qua việc thành lập và quản lý hoạt động của các tổ chứckinh tế còn giúp Nhà nước nắm bắt được xu hướng của thị trường, nắm bắt được cácyếu tố trong kinh doanh cũng như việc áp dụng các quy định của pháp luật trong thực

tế để từ đó làm căn cứ đưa ra các chủ trương, chính sách, biện pháp khuyến khích hoặchạn chế phù hợp và kịp thời hơn

1.1.4.3 Đối với kinh tế, xã hội

Các quy phạm pháp luật về thành lập tổ chức kinh tế là công cụ để điều chỉnhhoạt động đầu tư của các nhà đầu tư sao cho phù hợp với tình hình thực tiễn của xãhội, vừa bảo vệ được quyền lợi của mình lại vừa đảm bảo được lợi ích cho toàn xã hội.Thông qua việc đầu tư thành lập tổ chức kinh tế, nhà đầu tư đã có những đóng gópthiết thực cho nền kinh tế xã hội như tạo cơ hội việc làm, thu nhập cho người lao động.Tóm lại, ý nghĩa của pháp luật về đầu tư thành lập tổ chức kinh tế là hết sức quantrọng, không chỉ đối với việc bảo đảm quyền lợi cho chính nhà đầu tư mà còn mang ýnghĩa đảm bảo trật tự quản lý nhà nước cũng như bảo đảm về quyền lợi cho các chủthể khác khi tham gia hoạt động kinh doanh nói chung

1.2 Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật điều chỉnh đầu tư thành lập tổ chức kinh tế.

1.2.1 Cơ sở ban hành pháp luật về đầu tư thành lập tổ chức kinh tế.

1.2.1.1 Cơ sở thực tiễn

Trong bất kì nền kinh tế hàng hóa nào cũng tồn tại nhu cầu tự do kinh doanh.Tuy nhiên, trong các xã hội khác nhau và trong từng thời kỳ lịch sử cụ thể thì mỗi mức

độ đảm bảo quyền tự do kinh doanh cũng khác nhau Xã hội càng phát triển thì quyền

tự do kinh doanh càng được coi trọng vì nó là động lực tạo điều kiện cho nền kinh tếphát triển theo xu hướng tự do, bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh Tại Việt Nam, quyền

tự do kinh doanh đã được quy định cụ thể trong Hiến pháp Trong đó, quyền tự dothành lập tổ chức kinh tế là một trong những nội dung cơ bản và quan trọng nhất, nócũng là tiền đề để thực hiện các quyền khác thuộc nội dung của quyền tự do kinhdoanh Bởi lẽ, để tiến hành hoạt động kinh doanh, nhà đầu tư phải xác định được tưcách pháp lý của mình Nhà đầu tư có quyền lựa chọn mô hình kinh doanh, lĩnh vực,ngành nghề kinh doanh phù hợp để hoạt động kinh doanh đạt được kết quả cao Nhànước cũng luôn đảm bảo quyền được thành lập tổ chức kinh tế cho các đối tượng cókhả năng đầu tư khác nhau, đồng thời không ngừng hoàn thiện các quy định pháp luật

về đầu tư, kinh doanh

Trang 18

Ở Việt Nam, mô hình Hợp tác xã, Liên hiệp Hợp tác xã đã được ra đời và tồn tạitrong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung Hợp tác xã đã khẳng định được vị trí, vai tròlịch sử của mình là một trong hai thành phần kinh tế xương sống trong nền kinh tế củaViệt Nam Việt Nam bắt đầu đổi mới từ nửa cuối thập niên năm 1980, với mong muốnxóa bỏ dần cơ chế quan liêu bao cấp, xây dựng một nền kinh tế năng động, hiện đại vàphát triển bền vững Trong điều kiện và hoàn cảnh mới, nền kinh tế thị trường luôndiễn ra sự cạnh tranh gay gắt giữa các thành phần kinh tế, Hợp tác xã kiểu cũ đã cónhiều điểm không còn phù hợp, đòi hỏi phải đổi mới để thích ứng với những đặc thùcủa nền kinh tế thị trường, để đủ sức cạnh tranh với thành phần kinh tế khác Bên cạnh

đó, với chủ trương tự do hóa thương mại và thúc đẩy sự phát triển của kinh tế, Nhànước đã thực hiện nhiều biện pháp nhằm giải tỏa bớt rào cản cho nền kinh tế được tư

do lưu thông, dẫn đến nền kinh tế Việt Nam nói chung, đặc biệt là khối kinh tế tư nhânbắt đầu phát triển mạnh Chính vì sự phát triển mạnh mẽ của các thành phần kinh tế,đòi hỏi Nhà nước phải ban hành những chính sách pháp lý phù hợp để điều chỉnh hoạtđộng kinh doanh

1.2.1.2 Cơ sở pháp lý

Luật Công ty 1990 và Luật doanh nghiệp tư nhân 1990 là những văn bản pháp lýđầu tiên quy định về việc thành lập và hoạt động của các chủ thể kinh doanh thuộcthành phần kinh tế tư nhân Lúc này, khối kinh tế tư nhân được pháp luật quy địnhgồm các loại hình: Công ty TNHH, Công ty cổ phần (theo Luật Công ty 1990) vàDoanh nghiệp tư nhân (theo Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990) đều có hiệu lực từ15/4/1991, nhưng phải đến năm 1992 Quốc hội mới ban hành hiến pháp mới, côngnhận công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật Từ đó, LuậtDoanh nghiệp tư nhân và Luật Công ty mới thực sự đi vào hoạt động chính thức Quyđịnh này của Hiến pháp đã được cụ thể hóa tại Luật Công ty năm 1999 và sau đó làLuật Doanh nghiệp 2005 và Luật Đầu tư 2005

Với mục đích thể chế hóa các đường lối, chính sách của Đảng và Hiến pháp

1992 Bên cạnh việc ra đời Luật Công ty 1990 và Luật Doanh nghiệp tư nhân năm

1990, năm 1996 Quốc hội đã thông qua Luật Hợp tác xã và có hiệu lực năm 1997 Đây

là một bước nhảy vọt mới cho sự phát triển kinh tế hợp tác xã trong nền kinh tế thịtrường Thực hiện Nghị quyết số 13/NQ-TW Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trungương Đảng khóa IX ngày 18/03/2002 “về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệuquả kinh tế tập thể” tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XI, Luật hợp tác xã năm 2003 đãđược thông qua và chính thức có hiệu lực vào ngày 01/07/2004, tiếp theo đó một hệthống các văn bản hướng dẫn được ban hành để thực hiện Luật Đặc biệt, sự ra đời củaLuật Hợp tác xã 2012 với nhiều điểm mới đã làm rõ hơn bản chất, tổ chức quản lý của

Trang 19

hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; quyền, nghĩa vụ của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã,thành viên hợp tác xã, thành viên liên hiệp hợp tác xã; tiếp thu những quy định phápluật mang tính cơ bản, ổn định lâu dài được quy định tại Nghị định 177/2004/NĐ-CP

và Nghị định 87/2005/NĐ-CP ngày 11/7/2005 nhằm bảo đảm tính toàn diện của Luật,đồng thời nhằm hạn chế tối đa việc ban hành văn bản dưới Luật; tạo điều kiện thuậnlợi hơn cho hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã thành lập và hoạt động

Năm 2013 là năm đánh dấu mốc quan trọng trong công cuộc lập pháp khi QuốcHội thông qua hiến pháp 2013 và năm 2014 là sự ra đời của hai Luật lớn điều chỉnhhoạt động đầu tư kinh doanh là LDN 2014 và LĐT 2014 Hai luật này ra đời với nhiềuđiểm mới đáng kể liên quan đến việc thành lập tổ chức kinh tế như đơn giảm hóa cácthủ tục thành lập tổ chức kinh tế, mở rộng quyền tự do kinh doanh các ngành nghề màluật không cấm, Đồng thời, nhiều quy định đã thể hiện bước thay đổi lớn trong tưduy quản lý lẫn phương thức quản lý

Bên cạnh đó, Việt Nam đã thực hiện thành công chính sách hội nhập kinh tế quốc

tế - trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2007 và đàmphán với nhiều nước về Hiệp định Thương mại Tự do (FTA), bao gồm Hiệp địnhThương mại Tự do giữa Liên minh Châu Âu và Việt Nam, cùng Hiệp định Đối tácToàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) Các Hiệp định, Điều ước,Công ước quốc tế này đã được “nội luật hóa” tức là chuyển hóa quy phạm của Điềuước quốc tế vào pháp luật trong nước Đây là công cụ, phương tiện quan trọng để duytrì và tăng cường hợp tác quốc tế giữa các quốc gia, đồng thời cũng là cơ sở để đảmbảo quyền và lợi ích cho các nhà đầu tư

Trong bối cảnh nhu cầu thành lập tổ chức kinh tế là rất lớn thì việc nắm bắtnhững vấn đề lý luận và pháp triển của các quy định liên quan đến thành lập tổ chứckinh tế, đặc biệt là các quy định trong LHTX 2012, LDN 2014, LĐT 2014 có tầm quantrọng không chỉ đối với cơ quan quản lý nhà nước mà còn đối với các nhà đầu tư có ýđịnh thành lập tổ chức kinh tế

1.2.2 Nội dung pháp luật về đầu tư thành lập tổ chức kinh tế

1.2.2.1 Quy định về chủ thể thành lập tổ chức kinh tế

Theo quy định tại Điều 22 LĐT 2014 thì nhà đầu tư được thành lập tổ chức kinh

tế theo quy định của pháp luật Đối với thành lập và quản lý doanh nghiệp, tổ chức, cánhân không thuộc một trong các trường hợp cấm thành lập, quản lý hoặc góp vốn vàodoanh nghiệp theo quy định tại Điều 18 LDN 2014 Đối với thành lập Hợp tác xã, Liênhiệp Hợp tác xã thì cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân, hợp tác xã thành viên phải đápứng các điều kiện quy định tại Điều 13 LHTX 2012

Trang 20

Như vậy, LHTX, LDN và LĐT quy định khá rõ ràng và cụ thể các điều kiện vềchủ thể khi thành lập tổ chức kinh tế Quy định về chủ thể được thành lập tổ chức kinh

tế giúp nhà đầu nắm được quyền năng của mình khi tiến hành đăng ký thành lập tổchức kinh tế hợp pháp

1.2.2.1 Quy định về điều kiện đầu tư thành lập tổ chức kinh tế

- Điều kiện về tên tổ chức kinh tế

Tên tổ chức kinh tế là một vấn đề quan trọng, gắn liền và xuyên suốt trong toàn

bộ quá trình hoạt động của tổ chức kinh tế Tên tổ chức kinh tế chính là một tài sản vôhình và có giá trị, góp phần quan trọng tạo nên uy tín, giá trị của tổ chức kinh tế Vấn

đề tên và đặt tên doanh nghiệp được quy định tại LDN 2014, LHTX 2012 và các vănbản hướng dẫn thi hành như Nghị định 78/2015/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp,Nghị định 193/2013/NĐ-CP hướng dẫn Luật hợp tác xã 2012

- Điều kiện về trụ sở của tổ chức kinh tế

Tổ chức kinh tế phải có trụ sở chính để hoạt động Trụ sở chính của tổ chức kinh

tế được quy định tại Điều 43 LDN 2014, Điều 26 LHTX 2012 Địa chỉ trụ sở đóng vaitrò rất quan trọng trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp vì mọi hồ sơ, giấy tờđều phải ghi địa chỉ công ty cũng như khi cơ quan nhà nước liên hệ với doanh nghiệpbằng công văn thông qua đường bưu điện đều gửi đến địa chỉ của doanh nghiệp Vìvậy, việc quy định về trụ sở của doanh nghiệp là điều cần thiết để bảo vệ quyền lợi vàtrách nhiệm của các nhà đầu tư đặt trụ sở đúng với quy định

- Điều kiện về ngành nghề kinh doanh

Căn cứ theo Khoản 1, Điều 7 LDN năm 2014 và Khoản 1, Điều 5 LĐT 2014 các

cá nhân, tổ chức có quyền tự do kinh doanh trong tất cả các ngành, nghề và lĩnh vực

mà pháp luật không cấm Ngay từ những điều đầu tiên trong hai Đạo luật quan trọng

về kinh doanh ở Việt Nam, nguyên tắc này đã được ghi nhận rõ ràng Trên cơ sở đó,các ngành, nghề kinh doanh về cơ bản được chia thành ba nhóm: Các ngành, nghềkinh doanh bị cấm, ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và ngành, nghề được tự dokinh doanh Đối với các ngành nghề kinh doanh có điều kiện, nhà đầu tư phải đáp ứngđược điều kiện theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Ngành nghề kinh doanh là một trong những yếu tố cực kỳ quan trọng trong quátrình hoạt động của doanh nghiệp sau này Các quy định về ngành nghề kinh doanhgiúp doanh nghiệp nắm được ngành nghề kinh doanh nào được phép đăng ký để đảmbảo doanh nghiệp được hoạt động đúng theo quy định của pháp luật

- Điều kiện về vốn và góp vốn thành lập tổ chức kinh tế

Pháp luật không quy định mức vốn cụ thể đối với tổ chức kinh tế nói chung.Theo đó, tùy vào khả năng kinh tế của nhà đầu tư và mục đích hoạt động của tổ chức

Trang 21

kinh tế, vốn điều lệ được quyết định cụ thể Mặc dù pháp luật không quy định vốn cụthể nhưng nhà đầu tư khi thành lập tổ chức kinh tế phải đáp ứng các điều kiện về vốnpháp định và vốn ký quỹ đối với một số ngành nghề kinh doanh Trong đó, vốn phápđịnh là số vốn tối thiểu để công ty được thành lâp theo quy định của nhà nước Tuỳvào loại hình kinh doanh có điều kiện hay không điều kiện mà có mức vốn khác nhautheo quy định cụ thể tại các văn bản pháp luật Vốn ký quỹ là số vốn trong vốn bắtbuộc tuy nhiên tổ chức kinh tế phải có một khoản tiền ký quỹ thực tế trong ngân hàng,nhằm đảm bảo sự hoạt động của tổ chức kinh tế Khi đăng ký thành lập tổ chức kinh tếkinh doanh các ngành nghề yêu cầu có ký quỹ thì tổ chức kinh tế phải chứng minh đã

ký quỹ đủ số tiền mà pháp luật yêu cầu

Tài sản góp vốn có thể là Tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trịquyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật,… Việcgóp vốn bằng tài sản phải có xác nhận bằng biên bản Các nhà đầu tư phải tiến hànhgóp vốn trong thời gian quy định đối với từng loại hình tổ chức kinh tế Đối với nhàđầu tư nước ngoài phải tuân thủ tỷ lệ vốn góp theo quy định tại Điều 22 LĐT 2014.Mục đích của việc quy định vốn của tổ chức kinh tế giúp tổ chức kinh tế sau khi

ra đời có thể hoạt động được, đồng thời là cơ sở để đảm bảo các khoản vay vốn vớingân hàng và thanh toán với các chủ nợ khác Việc quy định về vốn của tổ chức kinh

tế giúp bảo vệ các nhà đầu tư khi tham gia giao dịch

1.2.2.2 Pháp luật về thủ tục đầu tư thành lâp tổ chức kinh tế

- Pháp luật về thủ tục đầu tư thành lập tổ chức kinh tế đối với nhà đầu tư trong nước

Nhà đầu tư trong nước soạn hồ sơ và nộp tại Cơ quan đăng ký kinh doanh nơi tổchức kinh tế đặt trụ sở Nhà đầu tư phải chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xáccủa nội dung hồ sơ Quy định này nhằm nâng cao tính tuân thủ pháp luật, tính tự giác,

tự chịu trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức khi có nhu cầu gia nhập thị trường Đồngthời, việc giảm trách nhiệm thẩm định hồ sơ của cơ quan có thẩm quyền cho phép rútngắn thời gian giải quyết thủ tục thành lập tổ chức kinh tế Thủ tục đăng ký tại cơ quannhà nước là thủ tục bắt buộc ghi nhận thông tin của tổ chức kinh tế vào hệ thống dữliệu quốc gia Thời điểm tiếp nhận hồ sơ hợp lệ được coi là căn cứ để xác định thờihạn thực hiện trách nhiệm của cơ quan đăng ký kinh doanh Sau khi nhận được hồ sơhợp lệ, cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận cho nhà đầu tư trong thời gianquy định

Đối với thành lập tổ chức kinh tế là doanh nghiệp, sau khi được cấp GCNĐKDNnhà đầu tư tiến hành công bố thông tin trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanhnghiệp theo quy định tại Điều 33 LDN 2014 và phải đóng lệ phí công bố Quy đinh về

Trang 22

công khai thông tin là thủ tục bắt buộc đối với mọi doanh nghiệp để đảm bảo tính côngkhai, minh bạch thông tin của doanh nghiệp, giúp nâng cao năng lực cạnh tranh vàchất lượng của doanh nghiệp, đồng thời cũng giúp công tác quản lý nhà nước trở nên

dễ dàng và thuận tiện hơn Sau khi công bố thông tin doanh nghiệp, nhà đầu tư tiếnhành khắc dầu và thông báo mẫu dấu Con dấu là một yếu tố có tính pháp lý mang dấuhiệu nhận biết của doanh nghiệp Tất cả các giấy tờ, văn bản mang tính pháp lý củadoanh nghiệp đều phải được đóng dấu Vì vậy, việc quy định về khắc dấu và thông báomẫu dấu cũng là một trong các thủ tục quan trọng và bắt buộc nhà đầu tư phải tiếnhành sau khi được cấp GCNĐKDN

- Pháp luật về thủ tục đầu tư thành lập tổ chức kinh tế đối với nhà đầu tư nước ngoài

LĐT 2014 đã tách bạch thủ tục thành lập tổ chức kinh tế đối với nhà đầu tư trongnước và nhà đầu tư nước ngoài Theo đó, nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư thành lập

tổ chức kinh tế phải có dự án đầu tư, thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đầu tưtheo quy định của pháp luật Các nhà đầu tư không được coi là nhà đầu tư theo thủ tụcđầu tư nước ngoài không phải thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận đầu tư thì thựchiện thủ tục đầu tư theo quy định đối với nhà đầu tư trong nước Ngoài ra, đối với tổchức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã thành lập tại Việt Nam nếu có dự án đầu tưmới thì được làm thủ tục thực hiện dự án đầu tư đó mà không nhất thiết phải thành lập

tổ chức kinh tế mới

1.2.2.3 Pháp luật về thẩm quyền đầu tư thành lập tổ chức kinh tế

LĐT 2014, LDN 2014, LHTX 2012 đã quy định cụ thể các cơ quan có thẩmquyền đầu tư thành lập tổ chức kinh tế Theo đó, các cơ quan có thẩm quyền đượcphân thành: Cơ quan có thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư, cơ quan có thẩmquyền cấp GCNĐKĐT và cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinhdoanh với chức năng, nhiệm vụ cụ thể

1.2.2.4 Pháp luật về ưu đãi và hồ trợ đầu tư thành lập tổ chức kinh tế

- Pháp luật về ưu đãi đầu tư

Ưu đãi đầu tư được quy định cụ thể tại Điều 15, Điều 16, Điều 17, Điều 18 LĐT

2014 về các hình thứ áp dụng ưu đãi đầu tư, đối tượng được hưởng ưu đãi đầu tư và

thủ tục áp dụng ưu đãi đầu tư Ưu đãi đầu tư là biện pháp được Chính phủ sử dụng để

thu hút đấu tư, hướng các dự án đầu tư vào các ngành, các khu vực cần thiết hoặc ảnhhưởng đến tính chất của đầu tư Hiện nay, hầu hết các quốc gia trong đó có Việt Namđều ban hành các quy định cụ thể về ưu đãi đầu tư Mục đích của pháp luật ưu đãi đầu

tư trước hết là nhằm thu hút các nhà đầu tư bỏ vốn vào các lĩnh vực sản xuất, kinhdoanh cụ thể Việc hướng các quan hệ trong lĩnh vực đầu tư theo một trật tự có hướng,

Trang 23

đảm bảo đầy đủ các quyền và lợi ích cho nhà đầu tư là nội dung quan trọng của quản

lý nhà nước trong lĩnh vực này Nhà nước không chỉ quản lý hoạt động đầu tư bằngcác nghị quyết, chủ trương, đường lối mà cần cụ thể chúng thành pháp luật đảm bảocho hoạt động đầu tư phát triển

- Pháp luật về hỗ trợ đầu tư

Theo quy định tại Điều 19 LĐT 2014, nhà đầu tư được hỗ trợ đầu tư dưới 8 hìnhthức Tuy nhiên, hỗ trợ đầu tư không được áp dụng cho tất cả các nhà đầu tư mà chỉ ápdụng cho một số chủ thể nhất định Theo quy định của LĐT hiện hành, các đối tượngđược hỗ trợ đầu tư bao gồm: Các doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp công nghệcao, doanh nghiệp khoa học và công nghệ, tổ chức khoa học và công nghệ, doanhnghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, doanh nghiệp đầu tư vào giáo dục, phổbiến pháp luật và các đối tượng khác phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xãhội trong từng thời kỳ Hỗ trợ đầu tư là các biện pháp mà Nhà nước tạo cơ hội chophép nhà đầu tư được hưởng những điều kiện thuận lợi nhất định về tài chính, hạ tầng

kỹ thuật, khoa học công nghệ,… nhằm thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước

1.3 Nguyên tắc cơ bản của pháp luật về đầu tư thành lập tổ chức kinh tế

1.3.1 Nguyên tắc đảm bảo quyền tự do kinh doanh

Quyền tự do thành lập tổ chức kinh tế là nội dung cơ bản của quyền tự do kinhdoanh và cũng là tiền đề để thực hiện các quyền khác theo nội dung của tự do kinhdoanh Khi thực hiện quyền tự do thành lập tổ chức kinh tế, các nhà đầu tư có khảnăng quyết định lựa chọn mô hình kinh doanh, lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh đểtiến hành hoạt động kinh doanh đạt hiệu quả cao nhất Khi đất nước chuyển từ nềnkinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nên kinh tế thị trường thì nhà nước cũng chủtrương mở rộng quyền tự do thành lập tổ chức kinh tế cho nhiều đối tượng đầu tư khácnhau Đồng thời, pháp luật về tổ chức kinh tế cũng từng bước được hoàn thiện, đảmbảo quyền lợi tối đa cho các nhà đầu tư Đảm bảo quyền tự do kinh doanh được nhànước cụ thể hóa trong nhiều văn bản pháp lý quan trọng, cụ thể là trong Hiến pháp

2013 và các Luật, Bộ luật khác quy định về địa vị pháp lý của tổ chức kinh tế, xác lập

tư cách pháp lý cho tổ chức kinh tế Quyền tự do thành lập tổ chức kinh tế là quyền cơbản nhất của các nhà đầu tư, tuy nhiên việc thành lập tổ chức kinh tế cũng có tác độngkhông nhỏ đến xã hội Vì vậy, việc đầu tư thành lập tổ chức kinh tế phải được các nhàđầu tư thực hiện trong khuôn khổ của pháp luật về thành lập tổ chức kinh tế, đảm bảoyêu cầu quản lý của nhà nước đối với tổ chức kinh tế

1.3.2 Nguyên tắc đảm bảo bình đẳng giữa các chủ thể kinh doanh

Bất kì một chủ thể nào khi tham gia hoạt động kinh doanh đều được hưởngquyền bình đẳng trước pháp luật Nguyến tắc bình đẳng trước pháp luật cũng là

Trang 24

nguyên lý của pháp luật, được quy định cụ thể trong trong các quy phạm pháp luật vềquyền được đối xử như nhau, công bằng giữa mọi chủ thể trước pháp luật, không phânbiệt giới tính, quốc tịch, tôn giáo, tín ngưỡng, Tất cả các chủ thể đều có quyền vànghĩa vụ ngang nhau và chịa trách nhiệm pháp lý theo quy định của pháp luật Phápluật đồng thời cũng nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử giữa các chủ thể và luôntạo cho các chủ thể sự bảo hộ bình đẳng, chống lại phân biệt đối xử Như vậy, nguyêntắc bảo đảm bình đẳng giữa các chủ thể kinh doanh là một nội dung luôn được coitrọng và áp dụng trong suốt quá trình lập pháp của nước ta Tất cả các nhà đầu tư khitiến hành thành lập tổ chức kinh tế đều có vị thế ngang nhau trước pháp luật và chịu sựđiều chỉnh chung của các quy phạm pháp luật về thành lập tổ chức kinh tế không phânbiệt quy mô, loại hình, lĩnh vực đầu tư, ngành nghề kinh doanh, vốn,

1.3.3 Nguyên tắc công khai, minh bạch trong thành lập tổ chức kinh tế

Hiện nay, nhà nước ta đang xây dựng nhà nước pháp quyền “của dân, do dân, vìdân” và “dân biết, dân bàn, dân làm”, vì vậy nguyên tắc công khai, minh bạch trongthành lập tổ chức kinh tế cũng là nguyên tắc quan trọng trong hoạt động quản lý kinhdoanh Việc công khai, minh bạch sẽ giúp các nhà đầu tư nắm được toàn bộ các quytrình, thủ tục và điều kiện khi thành lập tổ chức kinh tế Các nhà đầu tư sẽ dễ dàng cậpnhật được thông tin kể cả khi có sự thay đổi, bổ sung các quy định của pháp luật vềthành lập tổ chức kinh tế Nguyên tắc này cũng đòi hỏi các nhà đầu tư có trách nhiệmphải khai báo thông tin đăng ký thành lập tổ chức kinh tế một cách chính xác, đầy đủ.Bên cạnh đó, việc công khai, minh bạch cũng giúp khắc phục được tệ nạn tham những,hách dịch, lạm dụng chức quyền gây khó khăn cho các nhà đầu tư của các cán bộ làmcông tác về thành lập tổ chức kinh tế Do đó, công khai, minh bạch trước hết là nhằmđảm bảo bản chất của chế độ chủ nghĩa xã hội, thể hiện quyền của các nhà đầu tư trongviệc tham gia quản lý nhà nước, đây cũng là yêu cầu cần thiết để thành công trongcông cuộc hội nhập quốc tế

1.3.4 Nguyên tắc tuân thủ các cam kết quốc tế

Cam kết quốc tế là chính thức cam đoan làm đúng những điều đã hứa Thôngthường, các cam kết quốc tế được lập dưới dạng văn bản một điều ước quốc tế phù hợpvới các quy định của pháp luật về các điều ước quốc tế Pháp luật về hoạt động đầu tưnói chung và đầu tư thành lập tổ chức kinh tế nói riêng phải đảm bảo được sự thốngnhất với các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã tham gia như cam kết về đối xử tối huệquốc, cam kết về đối xử quốc gia theo hướng hoàn thiện, phù hợp với xu hướng hộinhập kinh tế quốc tế của Việt Nam Điều này góp phần tạo môi trường đầu tư thuậnlợi, minh bạch và bình đẳng cho mọi thành phần kinh tế

Trang 25

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VỀ ĐẦU TƯ

THÀNH LẬP TỔ CHỨC KINH TẾ

2.1 Tổng quan tình hình và các nhân tố ảnh hưởng đến pháp luật về đầu tư thành lập tổ chức kinh tế

2.1.1 Tổng quan tình hình pháp luật về đầu tư thành lập tổ chức kinh tế

Pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng, vừa là công cụ quản lý nhà nước hữuhiệu, vừa tạo hành lang pháp lý an toàn, tin cậy, thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xãhội Tương tự như vậy, khung khổ pháp lý về thủ tục đầu tư thành lập tổ chức kinh tếvừa là công cụ để định hướng, sàng lọc nhằm đảm bảo các nhà đầu tư có đủ điều kiện,phẩm chất tối thiểu, vừa thực hiện vai trò khuyến khích, bảo vệ các nhà đầu tư khitham gia vào hoạt động trong nền kinh tế

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư hiện nay, ngoài LĐT 2014,LHTX 2012 và LDN 2014 quy định về hoạt động đầu tư thành lập tổ chức kinh tếngoài ra có các Nghị định, Thông tư, cụ thể:

1 Luật Doanh nghiệp 2014: Ngày 26/11/2014, Quốc hội đã thông qua LuậtDoanh nghiệp năm 2014, có hiệu lực kể từ 01/7/2015 Luật quy định về việc thành lập,

tổ chức quản lý, tổ chức lại, giải thể và hoạt động có liên quan của doanh nghiệp, baogồm công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp

tư nhân; quy định về nhóm công ty LDN 2014 hướng tới sự phù hợp với thực tế kinhdoanh hiện tại của doanh nghiệp và tháo gỡ nhiều khó khăn, hạn chế góp phần tạo điềukiện mở ra một môi trường kinh doanh thuận lợi phù hợp với xu hướng chung của thếgiới

2 Luật đầu tư 2014: Ngày 26 tháng 11 năm 2014, tại kỳ họp thứ 8, Quốc hộikhóa XIII đã thông qua Luật Đầu tư năm 2014, có hiệu lực thi hành kể từ ngày01/07/2015 Luật Đầu tư năm 2014 đã mở rộng quyền tự chủ trong hoạt động đầu tư,kinh doanh của các nhà đầu tư bằng việc xóa bỏ một loạt rào cản đầu tư không phùhợp với thông lệ kinh tế thị trường và cam kết hội nhập của Việt Nam, tạo cơ sở pháp

lý cho việc cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh theo hướng ngày càng thuận lợi,minh bạch và bình đẳng giữa các nhà đầu tư

3 Luật hợp tác xã 2012: Luật Hợp tác xã năm 2012 được Quốc Hội thông quangày 20/11/2012, với mục tiêu nhằm khuyến khích sự phát triển mô hình hợp tác xãkiểu mới, đồng thời định hướng phát triển các hợp tác xã hiện có hoạt động theo đúngbản chất hợp tác xã (HTX)

Để hướng dẫn thi hành các văn bản Luật trên còn có nhiều văn bản dưới Luậtđược ban hành như: Nghị định 131/2015/NĐ-CP hướng dẫn về dự án quan trọng quốc

Trang 26

gia có hiệu lực ngày 15/02/2016; Nghị định số 78/2015/NĐ-CP về đăng ký doanhnghiệp có hiệu lực ngày 01/11/2015; Nghị định 108/2018/NĐ-CP sửa đổi Nghị định78/2015/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp có hiệu lực ngày 04/9/2018; Nghị định193/2013/NĐ-CP qui định chi tiết một số điều của LHTX 2012, Ngoài ra, còn cónhiều Luật, Nghị định, Thông tư khác có quy định liên quan đến hoạt động đầu tưthành lập tổ chức kinh tế Đặc biệt là các văn bản quy định về điều kiện đầu tư kinhdoanh

Bên cạnh các văn bản quy phạm pháp luật trong nước, Việt Nam còn gia nhậpcác tổ chức, ký kết các Hiệp định, Công ước, Điều ước quốc tế như Hiệp định thươngmại tự do (FTA), Các điều ước của Tổ chức hải quan Thế giới (WCO), Các điều ướccủa Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Công ước Kyoto, Các quy định này đãđược nội luật hóa vào hệ thống Việt Nam với các điều khoản như: Trường hợp điềuước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khácvới quy định của Luật này thì áp dụng theo quy định của điều ước quốc tế đó,

Về cơ bản, hệ thống pháp luật trong lĩnh vực đầu tư thành lập tổ chức kinh tế cơbản đầy đủ, bảo đảm cho hoạt động đầu tư kinh doanh có hiệu quả Tuy nhiên, hệthống pháp luật còn có nhiều hạn chế như các văn bản pháp luật quy định chồng chéo,không đồng nhất với nhau dẫn đến khó khăn cho các nhà đầu tư khi áp dụng pháp luật.Bên cạnh đó, một số vấn đề về đầu tư thành lập tổ chức kinh tế lại chưa được quy định

rõ ràng, cụ thể dẫn đến nhiều lỗ hổng pháp luật

2.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến pháp luật về đầu tư thành lập tổ chức kinh tế

2.1.2.1 Nhân tố khách quan

- Điều kiện kinh tế

Nước ta đi theo chế độ xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế là nền kinh tế xã hội chủnghĩa nên pháp luật của nước ta cũng phải phù hợp với nền kinh tế đó Thông quanhững chiến lược, chính sách phát triển kinh tế xã hội, khuyến khích các nhà đầu tưtham gia vào hoạt động kinh doanh với nhiều hình thức đa dạng, phong phú hơn Donền kinh tế nước ta phát triển không đồng đều, mỗi một vùng miền và khu vực sẽ cótrình độ phát triển kinh tế khác nhau Hiện nay nước ta vẫn còn nhiều khu vực có điềukiện kinh tế khó khăn Do vậy, nhà nước sẽ ban hành các quy định nhằm khuyến khíchđầu tư thành lập tổ chức kinh tế tại các vùng có nền kinh tế kém phát triển

- Điều kiện văn hóa, xã hội

Môi trường văn hóa, xã hội bao gồm những chuẩn mực và giá trị được chấp nhận

và tôn trọng bởi một xã hội hoặc một nền văn hóa cụ thể Các nhà đầu tư khi tiến hànhthành lập tổ chức kinh tế đòi hỏi phải phân tích cụ thể các yếu tố xã hội để nhận biết

Trang 27

cơ hội đầu tư và các nguy cơ có thể xảy ra Ngoài việc ban hành ra những quy địnhpháp luật để bảo đảm quyền lợi và nghĩa vụ cho các nhà đầu tư khi tiến hành thành lập

tổ chức kinh tế, thì pháp luật cũng phải phù hợp với môi trường văn hóa xã hội củanước ta Nhà nước ban hành các quy để cho phép hay không cho phép nhà đầu tư đượcthành lập tổ chức kinh tế và kinh doanh các lĩnh vực mà pháp luật không cấm, bảođảm trật tự an toàn xã hội, quản lý nhà nước

- Đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước

Đường lối chính sách của Đảng định ra mục tiêu và phương hướng phát triểnkinh tế – xã hội của đất nước trong một giai đoạn nhất định, định ra những phươngpháp cách thức cơ bản để có thể thực hiện những mục tiêu và phương hướng đó.Những mục tiêu, phương hướng, phương pháp và cách thức đó sẽ được nhà nước thểchế hóa thành pháp luật và tổ chức thực hiện trong thực tế Vì thế đường lối chính sáchcủa Đảng là một trong những yếu tố có sức ảnh hưởng lớn nhất đến nội dung của phápluật về đầu tư thành lập tổ chức kinh tế Nội dung các quy định trong tất cả các vănbản quy phạm pháp luật liên quan đến đầu tư thành lập tổ chức kinh tế, từ Hiến pháp,Luật cho đến các văn bản dưới luật đều phải phù hợp, không được trái với đường lối,chính sách của Đảng, Nhà nước

- Các Hiệp định, Điều ước, Công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia, ký kết

Trong thời buổi hội nhập như hiện nay, không quốc gia nào có thể tồn tại mộtcách biệt lập, không có quan hệ với nước khác Điều đó cũng có nghĩa là các quốc gia

đó phải tham gia các Công ước, Điều ước quốc tế Nước Việt Nam cũng như vậy, ngàynay với chính sách mở cửa hội nhập, đất nước ta đã tham gia ký kết rất nhiều các côngước quốc tế Công ước quốc tế là văn bản ghi rõ những việc cần tuân theo và nhữngđiều bị cấm thi hành, liên quan đến một lĩnh vực nào đó, do một nhóm nước thoả thuận

và cùng cam kết thực hiện, nhằm tạo ra tiếng nói chung, sự thống nhất về hành động

và sự hợp tác trong các nước thành viên Việt Nam đã tham gia ký kết các quy địnhliên quan đến pháp luật về đầu tư nước ngoài như: Các quan niệm về đầu tư, về đối xửtối huệ quốc và đối xử quốc gia, về các loại hình tổ chức kinh tế và các nguyên tắcquản lý trong tổ chức kinh tế liên doanh,… Do đó, trong quá trình xây dựng và thựcthi pháp luật về đầu tư thành lập tổ chức kinh tế cần phải tuân thủ các điều ước vàcông ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia

2.1.2.2 Nhân tố chủ quan

Hiện nay, nền kinh tế nước ta đang trong giai đoạn phát triển nhanh chóng, nhucầu đầu tư thành lập tổ chức kinh tế là rất lớn Do vậy, việc ban hành hệ thống luậtpháp có chất lượng là điều kiện đầu tiên đảm bảo môi trường kinh doanh bình đẳngcho các nhà đầu tư Bên cạnh việc bảo về quyền và lợi ích của họ, pháp luật cũng yêu

Trang 28

cầu nhà đầu tư phải thực hiện nghĩa vụ của mình Tuy nhiên, nếu hệ thống pháp luậtkhông hoàn thiện cũng sẽ có ảnh hưởng không nhỏ tới môi trường kinh doanh gây khókhăn trong hoạt động đầu tư thành lập tổ chức kinh tế.

Dựa trên nhu cầu của nhà đầu tư và hoàn cảnh thực tiễn của xã hội, pháp luật đưa

ra những quy định cho phép, không cho phép hoặc những yêu cầu buộc các nhà đầuphải tuân thủ Vấn đề đặt ra đối với các nhà đầu tư là phải hiểu rõ tinh thần của luậtpháp và chấp hành tốt những quy định của pháp luật, nghiên cứu để tận dụng được các

cơ hội từ các điều khoản của pháp lý mang lại và có những đối sách kịp thời trướcnhững nguy cơ có thể đến từ những quy định pháp luật, tránh được các thiệt hại do sựthiếu hiểu biết về pháp lý trong quá trình đầu tư thành lập tổ chức kinh tế

2.2 Phân tích thực trạng các quy phạm pháp luật về đầu tư thành lập tổ chức kinh tế

2.2.1 Về chủ thể thành lập tổ chức kinh tế

2.2.1.1 Về chủ thể thành lập tổ chức kinh tế là cá nhân

Theo quy định của pháp luật, cá nhân là công dân Việt Nam hoặc người nướcngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam, từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sựđầy đủ có quyền góp vốn thành lập tổ chức kinh tế Năng lực pháp luật dân sự là khảnăng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự Mọi cá nhân đều có năng lựcpháp luật dân sự như nhau Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi người đósinh ra và chấm dứt khi người đó chết Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khảnăng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự.Điều đó có nghĩa tất cả các cá nhân khi tham gia thành lập tổ chức kinh tế phải có khảnăng nhận biết, điều chỉnh hành vi của mình và chịu trách nhiệm về hành vi đó trướcpháp luật Người chưa từ đủ 18 tuổi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặcmắc các bệnh tâm thần và các bệnh khác dẫn đến không nhận thức được hành vi củamình thì không thể thành lập tổ chức kinh tế

Hiện nay, pháp luật cũng đã mở rộng phạm vi của chủ thể tham gia đầu tư thànhlập tổ chức kinh tế để có thể huy động tối đa mọi nguồn lực giúp kinh tế đất nước pháttriển nhanh chóng, cụ thể như sau:

Theo quy định tại Khoản 1, Điều 18 Luật doanh nghệp 2014 thì tổ chức, cá nhân

có quyền thành lập và quản lý tổ chức kinh tế theo quy định của Luật này, trừ trườnghợp quy định tại khoản 2 Điều này Bên cạnh đó, theo Khoản 1 Điều 13 LHTX 2012thì cá nhân là công dân Việt Nam hoặc người nước ngoài cư trú hợp pháp tại ViệtNam, từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; hộ gia đình có ngườiđại diện hợp pháp theo quy định của pháp luật; cơ quan, tổ chức là pháp nhân ViệtNam Như vậy, mọi cá nhân không phân biệt quốc tịch bao gồm cả cá nhân Việt Nam,

Trang 29

cá nhân nước ngoài và cá nhân không có quốc tịch đều có quyền thành lập tổ chứckinh tế nếu không thuộc trường hợp bị cấm Theo quy định của LĐT 2014 thì nhà đầu

tư được thành lập tổ chức kinh tế theo quy định của pháp luật Trong đó, nhà đầu tưtrong nước là cá nhân có quốc tịch Việt Nam, tổ chức kinh tế không có nhà đầu tư

nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông; nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân có quốc tịch

nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư

kinh doanh tại Việt Nam; tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là tổ chức kinh tế

có nhà đầu tư nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông Như vậy, quy định này đã giúpcho các nhà đầu tư thực hiện được quyền tự do kinh doanh, đồng thời cũng giúp tăngcường quản lý nhà nước khi quy định các điều kiện cụ thể đối với các nhà đầu tư Tuy nhiên, quy định tại khoản 2 Điều 18 LDN 2014 có một số điểm chưa phùhợp với thực tế cũng như mâu thuẫn với quy định của Hiến pháp năm 2013, chưa bảođảm được quyền thành lập và quản lý tổ chức kinh tế chính đáng của công dân Bởi lẽ

về nguyên tắc, một công dân Việt Nam từ đủ 18 tuổi trở lên, có đầy đủ năng lực hành

vi dân sự chỉ bị tước đoạt một số quyền công dân khi có hành vi vi phạm pháp luật và

bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành bản án, quyết định có hiệu lực pháp luậtkết luận người đó đã vi phạm pháp luật Ngoài ra, theo quy định tại Điều 31 Hiến pháp

năm 2013 thì người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Và thực tế đã chứng minh, không phải tất cả những người đang bị truy cứu trách

nhiệm hình sự đều bị Tòa án kết luận là có tội, do họ chứng minh được mình vô tội vàcác cơ quan tiến hành tố tụng không có đủ cơ sở để chứng minh họ có tội và từ đókhông có cơ sở để tước đoạt quyền công dân của họ, trong đó có quyền thành lập vàquản lý tổ chức kinh tế Đặc biệt, có nhiều trường hợp bản án sơ thẩm của Tòa ántuyên bị cáo là người có tội nhưng đến bản án phúc thẩm lại tuyên người đókhông phạm tội

Trang 30

- Được thành lập hợp pháp: Tổ chức được coi là thành lập hợp pháp khi nó được

thành lập theo đúng các trình tự, thủ tục pháp luật quy định

- Có cơ cấu tổ chức rõ ràng: Mỗi một loại hình tổ chức sẽ có một cơ cấu tổ chức

khác nhau, pháp nhân phải có điều lệ hoạt động rõ ràng, có người đại diện theo phápluật để nhân danh cho tổ chức kinh tế thực hiện các giao dịch

- Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình: Để thực hiện các hoạt động kinh doanh, tổ chức phải có tài sản để thực

hiện các hoạt động kinh doanh Tài sản là cơ sở vật chất không thể thiếu để tổ chứcthực hiện quyền và nghĩa vụ của mình

- Nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập: Pháp nhân có

quyền nhân danh mình tham gia vào các quan hệ pháp luật thông qua người đại diệntheo pháp luật Tham gia với tư cách là nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi vànghĩa vụ liên quan trước tòa án, trọng tài và các quyền và nghĩa vụ khác theo quy địnhcủa pháp luật

Như vậy, đối với các tổ chức không có tư cách pháp nhân như doanh nghiệp tưnhân sẽ không được phép đầu tư thành lập tổ chức kinh tế Quy định này mặc dù đãlàm hạn chế đi quyền tự do kinh doanh của các chủ thể nhưng xét trên thực tiễn thìhoàn toàn phù hợp Bởi lẽ, doanh nghiệp tư nhân không có tài sản độc lập Khi đó,trong trường hợp có vấn đề không may xảy ra trong quá trình kinh doanh, nhà nướckhông thể đảm bảo nhà đầu tư có thể chịu trách nhiệm được nghĩa vụ của mình

Bên cạnh đó, theo quy định của Khoản 1, Điều 22 LĐT 2014 thì nhà đầu tư nướcngoài trước khi thành lập tổ chức kinh tế phải có dự án đầu tư, thực hiện thủ tục cấpGCNĐKĐT theo quy định tại Điều 37 của LĐT 2014 và phải đáp ứng các điều kiệnpháp luật quy định về tỷ lệ sở hữu vốn, hình thức đầu tư, phạm vi hoạt động, đối tácViệt Nam tham gia thực hiện hoạt động đầu tư và điều kiện khác theo quy định củađiều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên

Có thể nói, việc mở rộng đối tượng có quyền thành lập tổ chức kinh tế theophương pháp loại trừ như trên là phù hợp với cơ chế đòi hỏi của thị trường, tạo điềukiện cho các nhà đầu tư có thể nắm được các quy định của pháp luật để tiến hànhthành lập tổ chức kinh tế hợp pháp Việc hạn chế một số đối tượng thành lập tổ chứckinh tế xuất phát từ yêu cầu bảo về lợi ích của nhà nước, của xã hội và trên hết là lợiích của nhà đầu tư

2.2.2 Về điều kiện đầu tư thành lập tổ chức kinh tế

2.2.2.1 Điều kiện về ngành, nghề kinh doanh

Thay đổi quan trọng nhất của LĐT 2014 là việc tạo lập cơ sở pháp lý minh bạch

để bảo đảm thực hiện quyền tự do đầu tư kinh doanh của công dân trong các ngành,

Trang 31

nghề mà luật không cấm thông qua các quy định về ngành, nghề cấm đầu tư và đầu tưkinh doanh có điều kiện Trên cơ sở rà soát, loại bỏ các ngành, nghề cấm đầu tư kinhdoanh trùng lặp theo các Nghị định hướng dẫn thi hành LĐT, LDN 2014, Điều 6 LĐT

2014 đã quy định 6 ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh Đây là những lĩnh vực ảnhhưởng đến đời sống xã hội và văn hóa đạo đức, nếu kinh doanh những lĩnh vực này bịcoi là vi phạm nghiêm trọng về ngành nghề kinh doanh và có thể bị xử lý hình sự.Đồng thời, theo quy định tại Điều 7 LĐT 2014 thì ngành nghề đầu tư kinh doanh

có điều kiện là ngành, nghề mà việc thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trongngành, nghề đó phải đáp ứng điều kiện vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự,

an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng Danh mục ngành, nghề đầu tưkinh doanh có điều kiện được quy định tại Phụ lục 4 của LĐT 2014 gồm có 267 ngànhnghề Danh mục điều kiện đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài bao gồm: Dịch vụchuyên môn, dịch vụ máy tính và các dịch vụ liên quan; dịch vụ nghiên cứu và pháttriển, dịch vụ thuê hoặc cho thuê kèm hoặc không kèm người điều khiển; các dịch vụkinh doanh khác; dịch vụ thông tin; dịch vụ nghe nhìn; dịch vụ xây dựng; thương mạidịch vụ; giáo dục đào tạo – dạy nghề và các dịch vụ liên quan; môi trường; dịch vụ y

tế và xã hội; dịch vụ du lịch và dịch vụ liên quan; dịch vụ giải trí, văn hóa và thể thao;dịch vụ vận tải; bất động sản; sản xuất, kinh doanh hàng hóa; nông lâm ngư nghiệp LĐT 2014 quy định cụ thể danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh theo nguyêntắc bãi bỏ các ngành, nghề và điều kiện đầu tư kinh doanh không hợp lý, không rõràng, tạo ra gánh nặng chi phí tuân thủ đối với nhà đầu tư Luật cũng sửa đổi một sốđiều kiện đầu tư kinh doanh theo hướng giảm thiểu hình thức cấp phép, xác nhận hoặcchấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để chuyển sang áp dụng hình thứcban hành quy định về tiêu chuẩn, điều kiện để nhà đầu tư tự đăng ký thực hiện và cơquan quản lý tiến hành hậu kiểm

Tuy nhiên, các điều kiện đầu tư kinh doanh mà nhà đầu tư phải đáp ứng khithành lập doanh nghiệp trong các lĩnh vực chuyên ngành còn chưa rõ ràng Theokhoản 2 Điều 9 Nghị định 118/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hànhmột số điều của lđt 2014 thì điều kiện kinh doanh được thể hiện dưới các hình thức:giấy phép; giấy chứng nhận đủ điều kiện; chứng chỉ hành nghề; chứng nhận bảo hiểmtrách nhiệm nghề nghiệp; văn bản xác nhận; các hình thức văn bản khác; các điều kiện

mà cá nhân, tổ chức kinh tế phải đáp ứng để thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh mà

không cần phải có xác nhận, chấp thuận dưới các hình thức văn bản trên Một số điều

kiện như “văn bản xác nhận”, “các hình thức văn bản khác”, “các yêu cầu, tiêu chuẩn,điều kiện cá nhân, doanh nghiệp phải đáp ứng để thực hiện hoạt động đầu tư kinhdoanh mà không cần phải có xác nhận, chấp thuận dưới các hình thức văn bản” còn

Trang 32

quá chung chung và mập mờ Điều này sẽ ảnh hưởng đến quyền tự do kinh doanh, tự

do thành lập doanh nghiệp của nhà đầu tư trong các lĩnh vực kinh doanh có điều kiện.Theo các quy định hiện hành về các điều kiện hay tiêu chí để cấp phép cho thấythường có ba nhóm điều kiện: (i) Điều kiện để thực hiện hoạt động kinh doanh đượcquản lý bằng giấy phép, (ii) Điều kiện về chủ thể kinh doanh, (iii) Điều kiện của dịch

vụ, sản phẩm là đối tượng của hoạt động kinh doanh Tuy vậy, điều kiện để được thựchiện kinh doanh đóng vai trò chủ yếu và phổ biến trong tất cả các điều kiện để đượccấp phép Còn hai nhóm điều kiện khác chỉ đóng vai trò bổ sung; xuất hiện trong một

số trường hợp Càng nhiều loại điều kiện được áp dụng cùng một lúc, thì việc cấp phépcàng khó khăn, phiền hà và tốn kém Trong số các điều kiện để thực hiện hoạt độngkinh doanh, thường có điều kiện về địa điểm kinh doanh, về cơ sở vật chất, trang thiết

bị, về trình độ chuyên môn của người lao động, về phương án hay kế hoạch kinhdoanh, Nhiều trường hợp, điều kiện kinh doanh hoặc tiêu chí cấp phép lại được thểhiện dưới các hình thức chung chung, không rõ ràng, mang nặng tính chủ quan và rấtkhó tiên liệu trước được; chưa đáp ứng được yêu cầu khoa học và thực tiễn đối với quyđịnh về điều kiện cấp phép như: phù hợp với quy hoạch, có đủ trang thiết bị phù hợp,người quản lý có trình độ chuyên môn và kinh nghiệm phù hợp và có phương án kinhdoanh khả thi

Ngoài ra đối với các nhà đầu tư nước ngoài, khi thực hiện các dự án đầu tư kinhdoanh có điều kiện, nhà đầu tư phải thực hiện cả hai thủ tục cấp GCNĐKĐT và Giấyphép kinh doanh ngành nghề có điều kiện Điều này là không cần thiết, gây trùng lặpvới pháp luật chuyên ngành, tạo thêm thủ tục cho nhà đầu tư trong khi không tăngthêm hiệu quả quản lý, bởi lẽ quản lý của cơ quan quản lý chung về đầu tư không thểhiệu quả bằng quản lý của cơ quan quản lý chuyên ngành về những lĩnh vực đầu tư cóđiều kiện

Có thể thấy, các quy định về điều kiện kinh doanh thiếu rõ ràng có thể dẫn đếnnhiều hậu quả Trước hết, nó làm tăng đáng kể chi phí “gia nhập” vào thị trường kinhdoanh các ngành, nghề đòi hỏi phải có giấy phép và cả các chi phí kinh doanh nóichung đối với tổ chức kinh tế Mặt khác nó gây rủi ro trong kinh doanh và giảm mức

độ tuân thủ pháp luật Nhà đầu tư không hiểu và biết được phải làm và làm thể nào để

“đúng”, “đủ” và “phù hợp” với quy định của pháp luật Và do đó, nhà đầu tư khôngthể biết được là việc xin phép có thể đạt được kết quả như dự tính hay không Có thểthấy, chính hệ thống các quy định về không rõ ràng về điều kiện kinh doanh đã vàđang trở thành rào cản lớn, ngăn chặn tiến trình gia nhập thị trường của nhà đầu tư

2.2.2.2 Điều kiện về tên, đặt tên tổ chức kinh tế

Ngày đăng: 17/05/2020, 11:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w