ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ TẠO HÌNH XƯƠNG CON BÁN PHẦNPORP BẰNG CHẤT LIỆU GỐM SINH HỌC VÀ XƯƠNG TỰ THÂN TRÊN BỆNH NHÂN VIÊM TAI GIỮA MẠN PGS.TS. Cao Minh Thành Bộ môn Tai Mũi Họng Trường ĐHY Hà Nội Mục tiêu : mục đích của nghiên cứu này là đánh giá kết quả cải thiện sức nghe sau phẫu thuật PORP và so sánh hiệu quả giữa 2 loại chất liệu xương con tự thân và gốm sinh học.
Trang 1ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ TẠO HÌNH XƯƠNG CON BÁN PHẦN-PORP BẰNG CHẤT LIỆU GỐM SINH HỌC VÀ XƯƠNG TỰ THÂN TRÊN BỆNH NHÂN
VIÊM TAI GIỮA MẠN
PGS.TS Cao Minh Thành
Bộ môn Tai Mũi Họng- Trường ĐHY Hà Nội
Mục tiêu : mục đích của nghiên cứu này là đánh giá kết quả cải thiện sức nghe sau phẫu thuật PORP và so sánh hiệu quả giữa 2 loại chất liệu xương con tự thân và gốm sinh học.
Thiết kế nghiên cứu : tiến cứu.
Chất liệu: tạo hình trụ dẫn thay thế xương con bằng phần còn lại của xương con
tự thân bị tổn thương và gốm sinh học.
Nơi nghiên cứu : Bệnh TMH trung ương.
Bệnh nhân : 135 bệnh nhân được tạo hình xương con bán phần(PORP) bằng gốm sinh học hoặc xương con tự thân.
Kết quả : PTA trước phẫu thuật là 54,5 ± 12,6 dB ở 4 tần số là 0,5, 1, 2 và 3 kHz và sau phẫu thuật là 33,8 ± 12,8 dB Mức tăng ABG và PTA ở 2 nhóm chất liệu là như nhau, tương ứng là 18,28 & 17,99 dB với 18,46 & 18,81 dB Kết luận : Sức nghe và ABG sau phẫu thuật tốt hơn so với trước phẫu thuật Mức
độ tăng sức nghe ở nhóm gốm sinh học và xương tự thân sau phẫu thuật là như nhau.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm tai giữa mạn(VTGM) là bệnh khá phổ biến ở nước ta, chiếm tỷ lệ 2- 4% dân
số Di chứng thường gặp nhất của VTGM là suy giảm sức nghe, năm 2004 WHO xếp suy giảm sức nghe vào nhóm người tàn tật, theo dự đoán của WHO tỷ lệ người tàn tật do suy giảm sức nghe mắc mới hàng năm DALYs(disability- adjusted life-years) là 2,613 triệu người và 94% số này gặp ở các nước đang phát triển[5] Một trong những nguyên nhân gây suy giảm sức nghe nặng ở bệnh VTGM là tổn
thương gián đoạn xương con Theo chương trình phòng chống điếc và nghễnh ngãng của WHO để giảm tỷ lệ DALYs thì chúng ta phải điều trị và quản lý tốt những bệnh nhân VTGM, phẫu thuật tạo hình hệ thống truyền âm màng nhĩ-xương con đóng vai trò quan trọng trong chương trình này Ở các nước phát triển thì phẫu thuật TORP là khá phổ biến với nhiều loại chất liệu được sử dụng Ở nước
ta thì phẫu thuật TORP còn nhiều hạn chế do không chế tạo được trụ dẫn để thay thế Chính vì vậy chúng tôi thực hiện nghiên cứu ứng dụng trụ gốm sinh học được
Trang 2sản xuất trong nướ để thay thế xương con bị tổn thương với mục tiêu: Đánh giá sức nghe sau phẫu thuật PORP bằng gốm sinh học và xương con tự thân, so sánh giữa 2 loại chất liệu
1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng nghiên cứu
Nguồn bệnh nhân : những bệnh nhân khám và điều trị tại Bệnh viện Tai Mũi Họng trung ương, chẩn đoán VTGM tổn thương xương con
Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân :
+ Có lỗ thủng màng nhĩ + Nghe kém Chảy mủ tai hoặc có tiền sử chảy mủ tai
+ Phim CT xương thái dương hoặc nội soi tai xác định tổn thương gián đoạn hệ thống xương con(GĐHTXC)
+ Đo thính lực đơn âm trước mổ và sau mổ
1 Phương pháp nghiên cứu
1 Mô hình nghiên cứu : Mô tả có can thiệp
2 Phương tiện nghiên cứu :
Nội soi optic 1.8 và 2.7 mm loại 300
Máy chụp CT cắt lớp mỏng 0,5mm
Chụp CT Scan xương thái dương người ta sử dụng 4 mặt cắt, 2 mặt cắt ngang ( Axial), 2 mặt cắt đứng ngang ( Coronal)
Máy đo thính lực SD50 của Đức
1 Chất liệu nghiên cứu
Gốm sinh học sản xuất trong nước, được tạo hình trước để thay thế xương con bị tổn thương
Phần còn lại của xương con tự thân bị tổn thương(nếu đủ kích thước)
Mảnh cân cơ thái dương tươi
Phẫu thuật đi theo đường trong ống tai
Vá màng nhĩ theo kỹ thuật Underlay
1 Đánh giá kết quả
So sánh PTA (trung bình đường khí ở 4 tần số 0,5, 1, 2 và 3 kHz), ABG(khoảng cách giữa 2 đường khí và xương) trước và sau phẫu thuật PORP
So sánh PTA và ABG giữa 2 chất liệu tạo hình
Trang 31 Xử lý số liệu bằng chương trình Epi6.04.
1 Đặc điểm chung
* Tuổi giới
Tuổi trung bình là 33,53 năm (SD = 13,48) Tuổi nhỏ nhất là 10, tuổi lớn nhất là 64
Giới : tỷ lệ nữ/nam = 1,5
1 Một số đặc điểm lâm sàng
* Lý do vào viện
Bệnh nhân vào viện vì chảy mủ tai nghe kém chiếm 52,7%, chảy mủ tai tái phát sau phẫu thuật chiếm 25,7%, chảy mủ tai chiếm 15,0%
* Thời gian bị bệnh
Thời gian chảy mủ tai trung bình 27,28 năm (SD= 13,89)
1 Đặc điểm cận lâm sàng
Giá trị chẩn đoán đúng tổn thương GĐXC của chụp cắt lớp 71,8%
Hình 1 : Hình ảnh cụt cán búa ( Coronal)
- Giá trị chẩn đoán đúng tổn thương GĐXC của nội soi tai là 87,8%
Hình 2: Hình ảnh mất xương đe
Thính lực đồ
Trang 4+ Trung bình đường khíPTA là 54,5 dB (SD = 12,6).
+ ABG là 42,46 dB (SD = 7,36)
1 Kết quả phẫu thuật
Sau phẫu thuật 1 tháng màng nhĩ liền-khô chiếm 67,9%, màng nhĩ liền-ẩm chiếm 32,1% Màng nhĩ liền bóng sau phẫu thuật 3 tháng là 49,6%, sáu tháng là 68,1%, khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05
1 Tình trạng xương con
Đẩy lồi màng nhĩ chiếm tỷ lệ 2,3%(2/87), trật khớp trụ dẫn tthay thế xương con là 1,1%
Tỷ lệ thất bại chung là 3,4%
1 Thính lực đồ
1 So sánh PTA và ABG trước và sau phẫu thuật
Bảng 1: So sánh sức nghe tước và sau phẫu thuật
Thời
gian
Trung
bình(dB
)
Trước phẫu thuật
Sau phẫu thuật
3 thán g
6 thán g
Trun g bình
PTA 54,5 ± 12,6 dB
36,7
± 13,1
33,8 ± 12,8
35,38
± 12,97
ABG 42,46 ± 7,36dB
27,16
± 8,99
24,12
± 8,69
25,64
± 8,74
Nhận xét:
PTA trước phẫu thuật là 54,5 dB, sau phẫu thuật là 35,8 dB Sự khác có ý nghĩa thống kê với p <0,0001 Mức độ tăng PTA sau phẫu thuật 3 tháng là 16,58 dB(SD=12,18), sau 6 tháng là 19,89 dB(SD=12,00)
Trang 5 ABG trước phẫu thuật là 42,46 dB sau phẫu thuật là 25,64 Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,0001 Mức độ tăng ABG sau phẫu thuật 3 tháng là 15,36 dB(SD=10,86), sau 6 tháng là 18,49 dB(SD=11,02)
1 So sánh PTA và ABG giữa 2 loại chất liệu
Bảng 3.37 : So sánh hiệu quả giữa 2 chất liệu gốm và xương con tự thân
Thời
gian
Chất liệu
Trước phẫu thuật Sau phẫu thuật
Hiệu quả phẫu thuật
Gốm
(N=84)
53,87
± 12,25
42,21
± 7,67
34,86
± 12,09
24,86
± 7,71
18,28
± 11,85
17,99
± 10,42
Xương
con tự
thân
(N=51)
54,51
± 12,56
42,45
± 7,33
36,35
± 14,72
24,49
± 8,79
18,46
± 12,26
18,81
± 11,56
Nhận xét :
Hiệu quả tăng PTA sau phẫu thuật của 2 chất liệu là như nhau
Hiệu quả tăng ABG sau phẫu thuật của 2 chất liệu là như nhau
PTA tăng sau phẫu thuật của loại PORP là 18,65 dB (SD = 11,32), mức tăng
từ -4,53 – 42,34 dB
ABG tăng sau phẫu thuật của loại PORP là 18,44 dB ( SD = 10,09), mức tăng từ -6,25 – 41,72 dB
1 Đặc điểm chung
Tuổi trung bình là 33,53 năm (SD = 13,48) Nhiều tuổi nhất là 64 và ít tuổi nhất là 10 Như vậy thường gặp ở lứa tuổi đang là lao động chính
Giới : tỷ lệ Nữ/nam = 1,5 Kết quả này của chúng tôi khác với tác giả vì tỷ lệ này không có tính đại diện cho quần thể[1]
1 Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng
3.2.1 Lâm sàng
Trang 6 Thời gian bị bệnh trung bình là 27,28 năm (SD= 13,89) Do không phải là bệnh nguy hiểm, không hiểu biết, điều kiện kinh tế còn nghèo
Lý do vào viện thường gặp nhất là chảy mủ tai và nghe kém chiếm 52,7%, chảy mủ tai tái phát sau phẫu thuật chiếm 25,7% Như vậy chảy mủ tai và nghe kém ít, bệnh nhân sẽ không đến viện điều trị Chỉ khi có nghe kém nhiều ảnh hưởng tới công việc mới đến viện điều trị, hoặc chảy mủ tai tái phát sau phẫu thuật
1 Cận lâm sàng
Giá trị của chẩn đoán đúng tổn thương GĐXC tính trên phim CT xương thái dương 71,8%, tỷ lệ chẩn đoán sai là 28,2% Chẩn đoán sai vì tổn thương kín đáo như chỉ mất mỏm đậu của xương đe, cũng có thể do trình độ và kinh nghiệm của người đọc phim
Giá trị chẩn đoán đúng tổn thương GĐXC của nội soi là 87,8% Có độ tin cậy cao, kỹ thuật đơn giản, giảm chi phí chữa bệnh
1 Kết quả phẫu thuật
3.3.1 Bàn luận về mức độ thay đổi PTA và AGB trước và sau phẫu thuật
Kết quả của chúng tôi thì PTA trước phẫu thuật là 54,5dB(SD=12,6), sau phẫu thuật 6 tháng là 33,8 dB(SD= 12,8) Kết quả của Dornhoffer và Fish là : trước phẫu thuật là 60,2 dB(SD=34,8), sau phẫu thuật là 34,4 dB(SD=11,9)[2], [3] Mức tăng PTA sau phẫu thuật trong nghiên cứu của chúng tôi là 19,89 dB(SD=12,00), tương tự kết quả của Fish là 21,4 dB[3]
Mức tăng PTA sau phẫu thuật trong nghiên cứu của chúng tôi là 18,49 dB(SD=11,02), thấp hơn của Fish là 21,2 dB, cao hơn của Dornhoffer là 16,6
dB Sự khác biệt này có thể do cỡ mẫu, chất liệu tạo hình xương con
1 Mức độ thay đổi PTA và ABG giữa 2 loại chất liệu sau phẫu thuật
PTA tăng trung bình sau phẫu thuật 6 tháng của nhóm gốm sinh học là 18,28 ± 11,85 dB, nhóm xương con tự thân là 18,46 ± 12,26 dB Không có sự khác biệt giữa 2 nhóm Kết quả này tương tự kết quả của Fish và Huterbrink sử dụng Titanium và gốm là 21,4 dB[3],[4]
ABG tăng trung bình sau phẫu thuật 6 tháng của nhóm gốm là 17,99 ± 10,42 dB, nhóm xương con tự thân là 18,81 ± 11,56 dB Không có sự khác biệt giữa 2 nhóm Cũng tương tự kết quả của Fish là 21,2 dB[3]
Phẫu thuật PORP đạt kết quả làm tăng sức nghe cho người bệnh trung bình
là 19,89 dB(SD=12,00)
Trang 7 Mức độ tăng PTA và ABG sau phẫu thuật PORP giữa 2 loại chất liệu gốm sinh học và xương con tự thân là tương tự nhau 18,28 và 17,99 dB so với 18,46
và 18,81 dB
Nguồn Tạp chí Thông tin y dược (2008)-số 7,tr 33-38
Results for improved hearing in surgery partial ossicular reconstruction prostheses(PORP) with using the bioceramic and autograft bone.
Objective : the purpose of this study was assess the value of hearing
improvement postoperative ossiculoplasty with bioceramic and autograft bone
Study design : Prospective study.
Setting : In National ENT Hospital
Patients : 135 patients were operated partial ossicular reconstruction prostheses
with bioceramic and autograft bone
Results : the pre-postoperative PTA were 54,5 ± 12,6 dB for four frequencies
(0,5, 1, 2 and 3 kHz)compared to 33,8 ± 12,8 dB The ABG improvemnets for four frequencies and PTA with 2 materials group are 18,28 & 17,99 dB and 18,46 & 18,81 dB
Conclusion : The postoperative hearing levels and ABG are better than
preoperative The improvements of hearing levels postoperative ossiculoplasty with using bioceramic as autograft bone as
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Babighian G (1985), Bioactive Ceramic versus Proplast Imlant in
Ossiculoplasty, The American Journal of Otology, Vol 6, No 4, Thieme Stratton NewYork, pp.285-290.R
2 Dornhoffer JL (1998), Hearing Results with the Dornhoffer Ossicular
Replacement Prosthesis, The Laryngoscope, Vol 108,Lippincott-Raven
Publishers, Philadelphia, pp.531-536
3 Fish U (2004), A New-Shaped Titanium Prosthesis for Total Reconstruction
of the Ossicular Chain, Otology & Neurotology, Vol 25, Otology &
Neurotology Inc, pp 891 – 902
4 Huttenbrink KB (2004), Biomechanics of Middle Ear Reconstruction,
Middle Ear Surgery- Recent Advances and Future Directions, Georg Thiems Verlag, pp.24-47.R
5 WHO (2004), Chronic Suppurative Otitis Media- Burden of Illness and Management Option, World Health Organisation, Geneva, Switzerland, pp 7- 48