Kết cấu của khóa luận Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu khóaluận được chia làm 3 chương như sau: Chương 1: Một số nội dung lý luận cơ bản về ph
Trang 1TÓM LƯỢC
Hợp đồng mua bán hàng hóa là một loại hình hợp đồng chính được sử dụng tronghoạt động của các công ty Dù đã phát triển từ rất lâu và là hợp đồng phổ biến nhất nhưngđôi khi các công ty thường coi nhẹ việc giao kết và thực hiện hợp đồng này Việc nghiêncứu pháp luật điều chỉnh hoạt động mua bán hàng hóa dưới hình thức hợp đồng là thật sựcần thiết, bởi đây là một vấn đề quan trọng không chỉ đối với bản thân các công ty, màcòn đối với sự phát triển của hệ thống pháp luật quốc gia
Trong thời gian thực tập tại công ty Cổ phần đầu tư Onebigdream Việt Nam emnhận thấy số lượng hợp đồng mua bán hàng hóa được kí kết với các đối tác không hề
nhỏ Chính vì vậy em lưạ chọn nghiên cứu vấn đề “Pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa – Thực tiễn thực hiện tại công ty Cổ phần đầu tư Onebigdream Việt Nam” Nội
dung cơ bản của khóa luận được tóm lược như sau:
Chương 1 của khóa luận chỉ ra đặc điểm, phân loại, nguồn pháp luật điều chình vềhợp đồng mua bán hàng hóa nhằm đem đến cái nhìn tổng quan và chung nhất về loại hợpđồng này Chương 2 nêu lên thực trạng pháp luật điều chỉnh về hợp đồng mua bán hàng
hóa và thực tiễn áp dụng tại công ty Cổ phần đầu tư Onebigdream Việt Nam Qua đó
Chương 3 nêu lên một số bất cập còn tồn tại trong việc áp dụng pháp luật điều chỉnh vềhợp đồng mua bán hàng hóa và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việcthực hiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp cuối khóa với đề tài: “Pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa – Thực tiễn thực hiện tại công ty Cổ phần đầu tư Onebigdream Việt Nam”, em đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình từ phía cán bộ và nhân
viên của công ty trong thời gian thực tập Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban giámđốc cùng toàn thể cán bộ, công nhân viên công ty đã giúp em có được một khoá thực tậpthật bổ ích
Về mặt kiến thức chuyên ngành, em xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới thầy giáo – TSPhạm Minh Quốc đã tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện để em hoàn thành khóa luận này.Mặc dù đã cố gắng, tuy nhiên do trong thời gian thực tập chưa nhiều, việc nắm bắtthực tế chưa sâu nên bài khóa luận thực tập không thể tránh khỏi một số thiếu sót Vì vậykính mong nhận được sự quan tâm và giúp đỡ từ quý Thầy Cô để bài khóa luận đượchoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
ii
Trang 3MỤC LỤC
TÓM LƯỢC i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan 1
3 Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu 3
4 Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Kết cấu của khóa luận 6
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ NỘI DUNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA 7
1.1 Khái quát chung về hợp đồng mua bán hàng hóa 7
1.1.1 Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa 7
1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa 8
1.1.3 Phân loại hợp đồng mua bán hàng hóa 10
1.1.4 Sự cần thiết của pháp luật điều chỉnh về hợp đồng mua bán hàng hóa 11
1.2 Khái quát chung về pháp luật hợp đồng mua bán hàng hóa 12
1.2.1 Khái niệm pháp luật hợp đồng mua bán hàng hóa 12
1.2.2 Quá trình hình thành và phát triển pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa tại Việt Nam 12
1.2.3 Nguồn pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa 13
1.2.4 Một số nguyên tắc pháp luật điều chỉnh về hợp đồng mua bán hàng hóa 16
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ONEBIGDREAM VIỆT NAM 18
2.1 Thực trạng pháp luật điều chỉnh về hợp đồng mua bán hàng hóa 18
2.1.1 Thực trạng pháp luật điều chỉnh về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa 18
2.1.2 Thực trạng các quy định pháp luật về hiệu lực pháp lý của hợp đồng mua bán hàng hóa 21
2.1.3 Thực trạng pháp luật điều chỉnh về thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa 23
2.1.4 Các quy định pháp luật về trách nhiệm pháp lý khi có sự vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa 33 2.1.5 Các quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh trong hợp đồng
Trang 4mua bán hàng hóa 36
2.3 Thực tiễn thực hiện pháp luật điều chỉnh về giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa tại công ty Cổ phần Onebigdream Việt Nam 38
2.3.1 Tổng quan về công ty Cổ phần Onebigdream Việt Nam và các nhân tố ảnh hướng đến 38
2.3.2 Thực tiễn thực hiện pháp luật điều chỉnh về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa tại công ty Cổ phần đầu tư Onebigdream Việt Nam 40
2.3.3 Thực tiễn các quy định pháp luật về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa 43
2.3.4 Thực tiễn thực hiện pháp luật điều chỉnh về thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa tại công ty Cổ phần Onebigdream Việt Nam 44
2.3.5 Thực tiễn thực hiện pháp luật điều chỉnh về trách nhiệm pháp lý khi có sự vi phạm và giải quyết tranh chấp pháp sinh trong hợp đồng mua bán hàng hóa tại công ty Cổ phần đầu tư Onebigdream Việt Nam 48
2.4 Đánh giá chung 48
2.4.1 Thành tựu 48
2.4.2 Hạn chế 49
CHƯƠNG 3 XU HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ ONEBIGDREAM VIỆT NAM 51
3.1 Xu hướng hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa 51
3.1.1 Một số nguyên tắc chỉ đạo và nhu cầu phải hoàn thiện pháo luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa 51
3.1.2 Định hướng hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa 51
3.2 Một số giải pháp pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa 52
3.2.1 Cơ sở thực tiễn việc nâng cao hiệu quả pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa 52
3.2.2 Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa tại công ty Cổ phần Onebigdream Việt Nam 54
3.3 Một số vẫn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu 56
KẾT LUẬN 58
iv
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong điều kiện kinh tế thị trường, hoạt động của các chủ thể thương mại rất đadạng và phức tạp Khi tiến hành các hoạt động kinh doanh và thương mại, chủ thể thươngmại đều xác định các giao dịch với các chủ thể khác thông qua quan hệ hợp đồng Nóicách khác, hợp đồng là cơ sở pháp lý làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa các bêntrong các quan hệ kinh doanh và thương mại Do đó, đối với hệ thống pháp luật của mỗiquốc gia, bên cạnh việc điều chỉnh việc thành lập, tổ chức quản lý hoạt động của doanhnghiệp thì việc điều chỉnh quan hệ hợp đồng giữa các thương nhân là hết sức cần thiết và
có ý nghĩa tích cực để thúc đẩy các quan hệ kinh tế trong nước và quốc tế
Chế định về hợp đồng mua bán hàng hóa đã và đang được chú ý bởi vai trò quantrọng của nó, ta có thể thấy trải qua nhiều thế kỷ, trao đổi hàng hóa là cầu nối giữa sảnxuất và tiêu dùng không chỉ giới hạn ở phạm vi quốc gia mà còn mở rộng ra nhiều quốcgia khác nhau trên thế giới Và việc hiểu rõ và nắm vững được những quy định của phápluật trong việc kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa sẽ giúp các chủ thể kinhdoanh áp dụng các quy định hợp đồng một cách hiệu quả và thuận lợi Việc ban hànhLTM 2005 và BLDS 2015 có hiệu lực thi hành 1/1/2017 làm cho những quy định vềpháp luật hợp đồng hiện nay đã khá đầy đủ và có hệ thống Tuy nhiên, một số quy địnhtrong LTM 2005 đã trở nên kém phù hợp và không đáp ứng được nhu cầu so với thờiđiểm hiện tại và BLDS không đi sâu vào quan hệ mua bán hàng hóa cụ thể
Trong thời gian thực tập tại công ty Cổ phần đầu tư Onebigdream Việt Nam, emnhận thấy hợp đồng mua bán hàng hóa là công cụ quan trọng và không thể thiếu trongquá trình sản xuất và kinh doanh sản phẩm của công ty Việc giao kết, ký kết, thực hiện
và chấm dứt các hợp đồng mua bán hàng hóa tại công ty có số lượng không hề nhỏ Tuynhiên, tại công ty thường xuyên xảy ra những tranh chấp và vướng mắc trong quá trìnhthực hiện hợp đồng, khi xảy ra những tranh chấp, công ty chưa biết giải quyết ra sao chođúng luật Công ty Cổ phần đầu tư Onebigdream Việt Nam cần được hướng dẫn và phảihiểu sâu hơn pháp luật điều chỉnh về hợp đồng mua bán hàng hóa, vừa giúp bảo vệ quyềnlợi chính đáng của mình, vừa để giúp các hoạt động kinh tế nói chung được diễn ra thuậnlợi và dễ dàng hơn Vì những lí do kể trên, em lựa chọn nội dung: “Pháp luật về hợp đồngmua bán hàng hóa – Thực tiễn thực hiện tại Công ty Cổ phần Onebigdream Việt Nam”làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan
Hợp đồng mua bán hàng hóa là một đề tài rất được quan tâm bởi các đối tượng thựchiện hợp đồng, các cơ quan chức năng ban hành pháp luật và cả các nhà khoa học pháp línghiên cứu về pháp luật Chính vì vậy xoay quanh đề tài này chúng ta có thể tìm thấy rất
1
Trang 7nhiều các công trình nghiên cứu Tại đây em xin điểm qua một số công trình nghiên cứu
mà em đã thu thập được:
PGS TS Đinh Văn Thanh (chủ biên, 2015), Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam tập 2,NXB Công an nhân dân và Minh Ngọc - Ngọc Hà (sưu tầm và tuyển chọn, 2011), Giáotrình Luật Kinh tế, NXB Lao động Hai công trình nói trên nghiên cứu rất sâu về phápluật hợp đồng nói chung và về hợp đồng mua bán hàng hóa nói riêng tại Việt Nam
PGS.TS Nguyễn Viết Tý - TS Nguyễn Thị Dung ( đồng chủ biên, 2017), Giáo trìnhLuật Thương mại, Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Tư pháp Công trình nghiên cứu
kể trên gồm 2 tập, trình bày tổng quan nhất về chế độ pháp lý hợp đồng mua bán hànghóa trong thương mại Cũng trong công trình nghiên cứu này các tác giả đã cập nhậtnhững quy định mới nhất về hợp đồng mua bán hàng hóa tại Việt Nam, từ đó nâng cao sựhiểu biết về pháp luật trên các phương diện pháp lý như giao kết, thực hiện, chấm dứt, hợp đồng mua bán hàng hóa
Võ Sỹ Mạnh (2015), “Vi phạm cơ bản hợp đồng theo công ước Viên năm 1980 vềhợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và định hướng hoàn thiện các quy định có liên quancủa pháp luật Việt Nam”, luận án Tiến sĩ Luật học trường Đại học Luật Thành phố HồChí Minh Bài nghiên cứu đã chỉ ra và làm rõ các quy định về vi phạm Công ước Viên,những bất cập trong quy định và thực tiễn áp dụng quy định về vi phạm cơ bản hợp đồngtrong pháp luật Việt Nam Một điểm đáng lưu ý là tác giả đã đề xuất định hướng và giảipháp hoàn thiện quy định pháp luật có liên quan của Việt Nam về vi phạm cơ bản hợpđồng, giúp các cơ quan giải quyết tranh chấp thuận lợi trong việc áp dụng các chế tài khi
có sự vi phạm cơ bản hợp đồng
Đinh Ngọc Thương (2016), “ Hợp đồng mua bán hàng hóa trong kinh doanh vôhiệu theo pháp luật Việt Nam”, luận văn Thạc sỹ Luật học trường Đại học Luật - Đại họcHuế Tác giả Đinh Ngọc Thương đã đưa ra những đặc điểm tổng quan của hợp đồng muabán hàng hóa, bên cạnh đó nêu lên những trường hợp vô hiệu của hợp đồng Ngoài racông trình nghiên cứu này còn đề xuất một số giải pháp thực tiễn rất hữu ích có thể ápdụng để giải quyết những bất cập trong pháp luật về trường hợp vô hiệu của hợp đồngmua bán hàng hóa
ThS Nguyễn Văn Việt Bài (2017), “Bàn về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua
bán hàng hóa”, Báo điện tử Tạp chí Công Thương, truy cập ngày 03/08/2017,
<http://www.tapchicongthuong.vn/bai-viet/27555e320.htm> ThS Nguyễn Văn Việtphân tích những nguyên nhân xảy ra tranh chấp phát sinh từ hợp đồng mua bán hàng hóa
và việc áp dụng Bộ luật Dân sự 2015 đối với hợp đồng có yếu tố nước ngoài
Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam (2018), “Giải quyết tranh chấp hợp đồng Những điều doanh nhân cần biết”, NXB Tri Thức Ngoài việc đưa ra những nguyên nhân
Trang 8-dẫn đến tranh chấp hợp đồng, bao gồm cả nguyên nhân chủ quan và khách quan, ấn phẩm
“Giải quyết tranh chấp hợp đồng - Những điều doanh nhân cần biết” còn chỉ ra nhữngđiều khoản chưa chặt chẽ trong một hợp đồng mua bán hàng hóa mà doanh nghiệp đặtbút ký
PGS.TS Đỗ Văn Đại (2017), “Pháp luật trọng tài thương mại tại Việt Nam - Bản án
và bình luận bản án”, NXB Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam 2017 Bộ sách nghiêncứu này gồm 2 tập, cung cấp một lượng kiến thức lớn về trọng tài thương mại trong việcgiải quyết những tranh chấp trong hợp đồng mua bán hàng hóa
Luật sư Phan Thị Sánh (2016), “Hợp đồng vô hiệu do người ký không có thẩm
quyền - trách nhiệm thuộc về ai ?”, trang chủ Vietthink, < www.vietthink.vn > Bài viết
nêu lên hậu quả nghiêm trọng và những rủi ro khi người ký hợp đồng không đúng thẩmquyền Ngoài ra, tác giả còn đưa ra một vài kiến nghị trong việc đảm bảo an toàn tronggiao kết hợp đồng thương mại, cũng như bảo vệ quyền và lợi ích của doanh nghiệp tronggia kết hợp đồng mua bán hàng hóa
Võ Sỹ Mạnh (2018), “Vi phạm cơ bản hợp đồng trong pháp luật Việt Nam: Một số
bất cập và định hướng hoàn thiện”, Tạp chí Kinh tế Đối ngoại, ngày 14/06/2018 Bài
nghiên cứu nhấn mạnh những bất cập của pháp luật Việt Nam về vi phạm cơ bản nghĩa
vụ hợp đồng Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số định hướng để hoàn thiện những quyđịnh này của pháp luật Việt Nam
Sau khi xem xét khái quát các công trình nghiên cứu kể trên và một số công trìnhnghiên cứu khác em nhận thấy có rất ít công trình nghiên cứu toàn diện pháp luật điềuchỉnh về hợp đồng mua bán hàng hóa Đặc biệt, có rất ít công trình nghiên cứu về thựctiễn áp dụng hợp đồng mua bán hàng hóa tại một doanh nghiệp cụ thể Do đó, với sự kếthừa, nghiên cứu, phân tích đánh giá, lấy điểm mới và phân tích theo LTM 2005, BLDS
2015 mới đưa vào thực thi, đồng thời đánh giá thực tiễn pháp luật về hợp đồng mua bánhàng hóa tại một doanh nghiệp, em hi vọng khóa luận sẽ là công trình nghiên cứu đápứng được nhu cầu cấp thiết hiện nay
3 Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
a Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu nội dung “Pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa – thực tiễn thực hiện tại công ty Cổ phần Onebigdream Việt Nam” em hướng tới hai đối tượng chính đó là
- Thứ nhất, các quy định pháp luật điều chỉnh về hợp đồng mua bán hàng hóa
- Thứ hai, thực trạng pháp luật điều chỉnh về hợp đồng mua bán hàng hóa và thựctiễn áp dụng pháp luật điều chỉnh về hợp đồng mua bán hàng hóa tại công ty Cổ phần đầu
tư Onebigream Việt Nam
b Mục tiêu nghiên cứu
3
Trang 9Khi nghiên cứu đề tài: “Pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa – thực tiễn thực hiện tại công ty Cổ phần đầu tư Onebigdream Việt Nam” em đặt ra một số mục tiêu:
- Thứ nhất, hệ thống hóa về mặt lý luận những vấn đề pháp luật điều chỉnh hợpđồng mua bán hàng hóa, nhằm đem đến cái nhìn tổng quát nhất về hợp đồng mua bánhàng hóa theo pháp luật Việt Nam
- Thứ hai, nghiên cứu, đánh giá và phân tích các quy định pháp luật hiện hành điềuchỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa để từ đó rút ra những nhận định về cả mặt tích cực vàhạn chế pháp luật điều chỉnh về hợp đồng mua bán hàng hóa tại Việt Nam nói chung vàthực tiễn áp dụng pháp luật tại công ty Cổ phần đầu tư Onebigdream Việt Nam nói riêng
- Thứ ba, đề ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật điều chỉnh
về hợp đồng mua bán hàng hóa, đồng thời chỉ ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệuquả thực hiện pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa
và thực tiễn áp dụng pháp luật ở khía cạnh giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hànghóa tại công ty Cổ phần Onebigdream Việt Nam
- Về không gian, khóa luận tập trung nghiên cứu việc áp dụng pháp luật điều chỉnhhợp đồng mua bán hàng hóa tại Việt Nam Cụ thể hơn là trong phạm vi hoạt động kinhdoanh tại công ty Cổ phần đầu tư Onebigdream Việt Nam
- Về thời gian, khóa luận nghiên cứu pháp luật điều chỉnh về hợp đồng mua bánhàng hóa từ khi BLDS 2015 và LTM 2005 có hiệu lực, đặc biệt là khoảng thời gian khicông ty Cổ phần Onebigdream Việt Nam thành lập cho đến nay (năm 2016)
4 Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu
Qua quá trình tìm hiểu, đánh giá về pháp luật điều chỉnh cũng như thực tiễn áp dụngpháp luật điều chỉnh về hợp đồng mua bán hàng hóa tại Công ty Cổ phần đầu tưOnebigdream Việt Nam, em nhận thấy các doanh nghiệp nói chung và các cá nhân, tổchức tham gia hợp đồng mua bán hàng hóa cần có cái nhìn tổng quan hơn về các quyđịnh pháp luật điều chỉnh Chính vì vậy em lựa chọn đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình
là: “Pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa – Thực tiễn thực hiện tại công ty Cổ phần đầu tư Onebigdream Việt Nam” theo đó khóa luận được nghiên cứu nhằm mục đích trả
lời những câu hỏi sau:
Trang 10- Thế nào là hợp đồng mua bán hàng hóa, hợp đồng mua bán hàng hóa gồm nhữngđặc điểm nào, hợp đồng mua bán gồm những loại nào, các quan hệ mua bán hàng hóa vàtầm vai trò quan trọng như thế nào của pháp luật điều chỉnh, quá trình hình thành và pháttriển của pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa diễn ra như thế nào ?,….
- Thực trạng pháp luật điều chỉnh về hợp đồng mua bán hàng hóa ở nước ta diễn ranhư thế nào, thực tiễn thực hiện tại công ty Cổ phần Onebigdream Việt Nam diễn ra nhưthế nào ?,
- Những xu hướng hoàn thiện, đề xuất nào nhằm nâng cao hiệu quả trong việc thựchiện pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa hàng tại công ty Cổ phần Onebigdream vàtại Việt Nam ?
5 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh
đề tài tập trung sử dụng một số phương pháp chủ yếu: phương pháp thu thập, phân tích,tổng hợp, so sánh,thu thập và chứng minh
- Phương pháp thu thập: dựa trên nguồn thông tin sơ cấp và thứ cấp thu thập được
từ những tài liệu nghiên cứu trước đây, em đã dùng để xây dựng cơ sở lý luận trongChương 1 của khóa luận
- Phương pháp phân tích: Dựa trên cơ sở các tài liệu đã thu thập được, em đã phântích đánh giá nội dung các quy định của pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa đượcthực hiện trong Chương 1 và thực trạng áp dụng chúng trong giao kết và thực hiện hợpđồng mua bán hàng hóa tại công ty Cổ phần Onebigdream Việt Nam
- Phương pháp tổng hợp: Là phương pháp liên kết, thống nhất lại các bộ phận, cácyếu tố, các mặt đã được phân tích, vạch ra mối liên hệ giữ chúng nhằm khái quát hóa cácvấn đề trong sự nhận thức tổng thể
- Phương pháp so sánh: Thông qua phương pháp so sánh để hệ thống lý luận của đềtài có được tính khách quan và khoa học hơn Sử dụng phương pháp này, em tìm ranhững điểm giống và khác nhau trong các quy định pháp luật điều chỉnh về hợp đồngmua bán hàng hóa đã được sửa đổi và bổ sung từ năm 2005 đến nay
- Phương pháp thu thập thông tin: Mục đích của việc thu thập thông tin là làm cơ sở
lý luận khoa học hay luận cứ để đi sâu vào vấn đề giao kết và thực hiện hợp đồng muabán hàng hóa Trong đó, em đã thu thập các quy định, các văn bản quy phạm pháp luật vàcác tài liệu tổng quan quy định về giao kết và thực hiện hợp đồng; thu thập sổ sách, sốliệu có liên quan đến thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa tại công ty Cổ phần đầu tưOnebigdream Việt Nam
5
Trang 11- Phương pháp dẫn chứng, chứng minh: Được sử dụng cụ thể tại Chương 2 củakhóa luận, cụ thể đó là đưa ra các ví dụ thực tiễn trong việc thực hiện hợp đồng mua bánhàng hóa.
6 Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu khóaluận được chia làm 3 chương như sau:
Chương 1: Một số nội dung lý luận cơ bản về pháp luật hợp đồng mua bán hàng hóa
Chương 2: Thực trạng pháp luật điều chỉnh về hợp đồng mua bán hàng hóa và thực tiễn áp dụng tại công ty Cổ phần đầu tư Onebigdream Việt Nam
Chương 3: Xu hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật điều chỉnh về hợp đồng mua bán hàng hóa và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật điều chỉn về hợp đồng mua bán hàng hóa tại công ty Cổ phần đầu tư Onebigdream Việt Nam
Trang 12CHƯƠNG 1 MỘT SỐ NỘI DUNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT HỢP ĐỒNG MUA
BÁN HÀNG HÓA
1.1 Khái quát chung về hợp đồng mua bán hàng hóa
1.1.1 Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa
Hiện nay, quan hệ mua bán hàng hoá được xác lập thông qua hình thức pháp lý, gọi
là hợp đồng mua bán hàng hoá Khái niệm “hợp đồng” được pháp luật của các quốc giatrên thế giới nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau Theo quy định tại Điều 101 BLDSCộng hòa Pháp (1804) thì khái niệm “hợp đồng” được hiểu là một sự nhất trí, dựa vào sựnhất trí này, một hay vài người chịu trách nhiệm thực hiện hoặc không thực hiện nghĩa vụđối với một hay vài người khác Ở Việt Nam, BLDS được coi là văn bản có tính quyphạm rộng rãi nhất trong nhiều lĩnh vực, trong đó có cả lĩnh vực kinh doanh và thươngmại Có thể sử dụng khái niệm “hợp đồng” trong BLDS 2015 để định nghĩa về hợp đồng,
theo đó Điều 385 BLDS 2015 cho rằng “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự’
Theo quy định tại Khoản 8 Điều 3 LTM 2005, mua bán hàng hóa là hoạt độngthương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng và chuyển quyền sở hữu hàng hóacho bên mua, sau đó nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhậnhàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận hợp đồng Hợp đồng mua bán hàng hóa
có bản chất chung của hợp đồng, đó là sự thỏa thuận nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấmdứt các quyền, nghĩa vụ trong quan hệ mua bán LTM 2015 không đưa ra định nghĩa vềhợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại, nhưng có thể dựa vào khái niệm hợp đồngmua bán tài sản trong BLDS 2015 để xác định bản chất của hợp đồng mua bán hàng hóa
Căn cứ Điều 430 BLDS 2015, thì “Hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua và bên mua trả tiền cho bên bán Hợp đồng mua bán nhà ở, mua bán nhà để sử dụng vào mục đích khác được thực hiện theo quy định của Bộ luật này, Luật Nhà ở và luật khác có liên quan” Ngoài
ra, khái niệm “tài sản” trong BLDS 2015 cũng có quy định rõ ràng như sau “1 Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản 2 Tài sản bao gồm bất động sản và động sản Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.”
(Điều 105 - BLDS 2015) Tuy nhiên, khái niệm “tài sản” trong BLDS 2015 được quy địnhkhá rộng và chưa chi tiết Về khái niệm “hàng hóa”, khoản 2 điều 3 LTM 2005 cũng quyđịnh chi tiết và cụ thể hơn:
“Hàng hóa bao gồm:
a) Tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai;
7
Trang 13b) Những vật gắn liền với đất đai.”
Như vậy, hàng hóa thuộc tài sản và có phạm vi hẹp hơn tài sản Từ đó cho thấy hợpđồng mua bán hàng hóa trong thương mại chính một dạng cụ thể của hợp đồng mua bántài sản Điểm phân biệt giữa hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại và hợp đồngmua bán tài sản khác là đối tượng hàng hóa, mục đích sinh lời và tạo ra gía trị thặng dưsau mỗi lần trao đổi
Từ những khái niệm và phân tích trên, ta có thể hiểu hợp đồng mua bán hàng hóa là
sự thỏa thuận giữa các chủ thể nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa
vụ pháp lý giữa các chủ thể trong quan hệ mua bán hàng hóa
1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa
Hợp đồng mua bán hàng hóa được xem là một dạng của hợp đồng mua bán tài sản,song vì được quy định trong bộ luật khác nên hợp đồng mua bán hàng hóa có những nộidung riêng, đặc trưng riêng, khác biệt với hợp đồng mua bán tài sản Từ đó, có thể xemxét những đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa trong mối liên hệ với hợp đồng muabán tài sản theo nguyên lý của mối quan hệ giữa cái riêng và cái chung Giáo trình LuậtDân sự Việt Nam tập 2, NXB Công An Nhân Dân 2015 có nêu rõ đặc điểm chung củahợp đồng mua bán hàng hóa và tài sản Theo đó, những đặc điểm chung được biểu hiệnnhư sau:
- Hợp đồng mua bán hàng hóa là hợp đồng ưng thuận, hợp đồng ưng thuận diễn rarất nhiều trong quan hệ kinh doanh thương mại, nó được coi là giao kết tại thời điểm cácbên thỏa thuận xong điều khoản cơ bản, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng không phụthuộc vào thời điểm bàn giao hàng hóa, việc bàn giao hàng hóa chỉ được coi là hành độngcủa bên bán nhằm thực hiện nghĩa vụ của hợp đồng mua bán đã có hiệu lực có thể lấy ví
dụ như bên A đồng ý bán cho bên B một bức tranh, hiệu lực của quan hệ mua bán nàyphát sinh ngay tại thời điểm hai bên đồng thuận với nhau về giá cả của bức tranh
- Hợp đồng mua bán hàng hóa có tính đền bù, bên bán khi thực hiện nghĩa vụ giaohàng hóa cho bên mua thì sẽ nhận từ bên mua một lợi ích và lợi ích này tương đương vớigiá trị hàng hóa theo thỏa thuận dưới dạng khoản tiền thanh toán Đặc điểm của quan hệtrao đổi tài sản và hàng hóa là sự trao đổi ngang giá Trong giao dịch dân sự thôngthường, đa số quan hệ mua bán đều thể hiện rõ tính đền bù Khi hai bên thực hiện giaokết mua bán một lô hàng hoá, bên mua có nghĩa vụ phải thanh toán cho bên bên mộtkhoản tiền bằng hình thức tiền mặt hoặc chuyển khoản, số tiền đó tương đương giá trị của
lô hàng hóa
- Hợp đồng mua bán hàng hóa là hợp đồng song vụ Khoản 1 Điều 402 BLDS 2015
quy định “hợp đồng song vụ là hợp đồng mà mỗi bên đều có nghĩa vụ đối với nhau”.
Theo đó, mỗi bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa đều bị ràng buộc bởi nghĩa vụ đối
Trang 14với bên kia, đồng thời lại cũng là bên có quyền đòi hỏi bên kia thực hiện nghĩa vụ đối vớimình Trong hợp đồng mua bán hàng hóa tồn tại hai nghĩa vụ chính mang tính chất qualại và liên quan mật thiết với nhau: nghĩa vụ của bên bán phải bàn giao hàng hóa cho bênmua và nghĩa vụ của bên mua phải thanh toán cho bên bán Hình thức của hợp đồng muabán hàng hóa thông thường được giao kết dưới dạng văn bản, trong nội dung văn bản cónêu các điều khoản của các chủ thể tham gia hợp đồng Do đó, quyền bên này đối lậptương ứng với nghĩa vụ bên kia.
Tuy nhiên, hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại có những đặc điểm riêngbiệt, cụ thể phải kể đến như:
a Chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa
Về chủ thể, hợp đồng mua bán hàng hóa được thiết lập giữa các chủ thể chủ yếu làthương nhân LTM 2005 quy định thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lậphợp pháp, cá nhân hoạt động thương mai một cách độc lập, thường xuyên và có đăng kýkinh doanh Ngoài ra, các tổ chức, cá nhân không phải là thương nhân cũng có thể trởthành chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa Theo khoản 3 Điều 1 LTM, hoạt độngcủa bên chủ thể không phải là thương nhân và không nhằm mục đích lợi nhuận trongquan hệ mua bán hàng hóa phải tuân theo LTM 2005 quy định khi chủ thể này lựa chọn
áp dụng LTM
b Hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa
Về hình thức, hợp đồng mua bán hàng hóa có thể được thể hiện dưới hình thức lờinói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể của các bên giao kết Trong một số trườnghợp nhất định, pháp luật bắt buộc các bên phải giao kết hợp đồng dưới hình thức văn bản,
ví dụ như hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế phải được thể hiện dưới hình thức văn bảnhoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương như điện báo, telex, fax haythông điệp dữ liệu
c Nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa
Hợp đồng mua bán hàng hoá thể hiện quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệmua bán Bên bán có nghĩa vụ giao hàng và nhận tiền còn bên mua có nghĩa vụ nhậnhàng và trả tiền Những điều khoản cơ bản của một hợp đồng mua bán hàng hóa baogồm: tên hàng, số lượng, chất lượng, giá cả, phương thức thanh toán, địa điểm và thờihạn giao nhận hàng… và những điều khoản khác do sự thỏa thuận cụ thể của các bêntham gia hợp đồng
d Đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa
Về đối tượng, hợp đồng mua bán hàng hóa có đối tượng là hàng hóa Theo LTM
2005, hàng hóa là đối tượng của quan hệ mua bán có thể là hàng hóa hiện đang tồn tạihoặc hàng hóa sẽ có trong tương lai; hàng hóa có thể là động sản hoặc bất động sản được
9
Trang 15phép lưu thông thương mại
Trang 16e Mục đich của hợp đồng mua bán hàng hóa
Hợp đồng mua bán hàng hóa nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng và khôngthể không kể đến mục đích chủ yếu là lợi nhuận Vì chủ thể chủ yếu của hợp đồng muabán hàng hóa là thương nhân, mà một khi đã nói đến thương nhân thì nó không thể khôngnhắc đến lợi nhuận, hoạt động chính của thương nhân là kinh doanh và thu lợi nhận,không có lợi nhận họ không thể tồn tại lâu dài dù vốn đầu tư có lớn đi chăng nữa Thôngthường trong quan hệ mua bán hàng hóa bên bán sẽ là thương nhân, các thương nhântham gia hợp đồng mua bán hàng hóa với mục đích lợi nhuận và bên mua hàng có thể là
cá nhân tổ chức, mục đích của họ ngoài việc thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng Tuy nhiênnhiều khi cũng vì mục đích lợi nhuận, bên mua hàng cũng có thể là thương nhân và họthực hiện hoạt động mua qua, bán lại hàng hóa
Nhận thấy rằng ở hợp đồng mua bán hàng hóa cũng có đầy đủ những đặc điểm củahợp đồng mua bán tài sản, dó đó nguồn pháp luật dân sự điều chỉnh quan hệ mua bán tàisản cũng chính là nguồn pháp luật điều chỉnh quan hệ mua bán hàng hóa Tuy nhiên, hợpđồng mua bán hàng hóa đặc thù trong lĩnh vực thương mại, có tính lợi nhuận cao nêntrước khi tuân thủ các quy định trong lĩnh vực dân sự thì nó phải tuân thủ các quy địnhtrong luật chuyên ngành, cụ thể là LTM 2005
1.1.3 Phân loại hợp đồng mua bán hàng hóa
Có rất nhiều tiêu chí để phân loại hợp đồng mua bán hàng hóa, tuy nhiên, nội dungbài khóa luận này chỉ phân loại hợp đồng mua bán hàng hóa dựa trên 2 tiêu chí sau:
Căn cứ theo phạm vi của hợp đồng (theo yếu tố chủ thể, đối tượng, nơi xác lập vàthực hiện hợp đồng) ta có thể chia hợp đồng ra làm 2 loại, đó là: Hợp đồng mua bán trongnước và hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
- Hợp đồng mua bán trong nước: Hợp đồng này chịu sự điều chỉnh của pháp luậttrong nước như LTM 2005 và các Luật chuyên ngành khác, dựa trên cở sở pháp luật màNhà nước đã quy định
- Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế: Các bên có thể thỏa thuận luật áp dụng, có thể
là Luật của phía đối tác, luật của Việt Nam và cũng có thể là Luật của nước thứ ba Về hợpđồng mua bán hàng hóa quốc tế, loại hợp đồng này không được định nghĩatrong LTM 2005, nhưng qua quy định tại Điều 663 BLDS 2015 về quan hệ dân sự có yếu
tố nước ngoài, có thể suy ra rằng một hợp đồng được coi là hợp đồng mua bán hàng hóaquốc tế khi có một trong các yếu tố sau:
+ Căn cứ vào yếu tố chủ thể thì hợp đồng được giao kết phải có ít nhất một trongcác bên tham gia là cá nhân hoặc pháp nhân nước ngoài
+ Căn cứ vào yếu tố đối tượng thì hàng hóa phải là đối tượng của hợp đồng đangtồn tại ở nước ngoài
11
Trang 17+ Căn cứ vào nơi xác lập, thay đổi và thực hiện hợp đồng thì hợp đồng được giaokết ở nước ngoài (các bên tham gia đều là công dân hoặc pháp nhân Việt Nam nhưngviệc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài).
Căn cứ theo cách thức thực hiện hợp đồng, có thể chia hợp đồng mua bán hànghóa thành 2 loại: Hợp đồng mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa và hợp đồngmua bán hàng hóa không qua sở giao dịch hàng hóa
Theo khoản 1 Điều 63 LTM 2005 thì mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa
là hoạt động thương mại, theo đó các bên thỏa thuận thực hiện việc mua bán một lượngnhất định của một loại hàng hóa nhất định qua Sở giao dịch hàng hoá theo những tiêuchuẩn của Sở giao dịch hàng hoá với giá được thỏa thuận tại thời điểm giao kết hợp đồng
và thời gian giao hàng được xác định tại một thời điểm trong tương lai Do đó, hợp đồngmua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa là sự thỏa thuận giữa các bên nhằm xác lập,thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các chủ thể trong quan hệmua bán hàng hóa qua sở giao dịch mua bán hàng hóa Hợp đồng mua bán hàng hóa qua
Sở giao dịch hàng hoá bao gồm hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng quyền chọn (Điều 64 LTM 2005)
-Việc phân loại các loại hợp đồng trong thương mại có một ý nghĩa rất quan trọngtrong lý luận cũng như trong thực tiễn áp dụng pháp luật điều chỉnh các loại hợp đồng.Với mỗi loại hợp khác nhau nó có đăc thù riêng về luật áp dụng, cách thức triển khai giaodịch
1.1.4 Sự cần thiết của pháp luật điều chỉnh về hợp đồng mua bán hàng hóa
Trong đời sống xã hội, pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng, vừa là công cụ quản
lý nhà nước hữu hiệu, vừa tạo hành lang pháp lý an toàn, tin cậy, thuận lợi cho sự pháttriển kinh tế - xã hội Sống và làm việc theo pháp luật là lối sống lành mạnh, thể hiện mộttrình độ văn minh, là lối sống có văn hóa, có kỷ cương và có trách nhiệm Trong lĩnh vựckinh tế thương mại, các quan hệ mua bán diễn ra sôi nổi và ngày càng phát triển, cần có
sự điều chỉnh của pháp luật đối với các quan hệ mua bán này bằng hình thức hợp đồng
Do đó, sự ra đời của pháp luật điều chỉnh về hợp đồng mua bán hàng hóa là cần thiết.Trong những giai đoạn nền kinh tế chưa phát triển, hệ thống pháp luật chưa đượchoàn thiện, các quan hệ kinh tế diễn ra tự do, dó đó các quan hệ trao đổi mua bán với cácchủ thể thương mại thường xuyên xảy ra tranh chấp Ngoài ra hệ thống pháp luật về hợpđồng thương mại còn nhiều bất cập và hạn chế, làm giảm hiệu quả của việc thi hành và
áp dụng, nhiều trường hợp dẫn đến tình trạng chiếm dụng và lừa đảo tài sản Hệ thốngpháp luật về kinh tế diễn ra chưa đồng bộ do đó nhiều quy định mang tính nguyên tắc vàtrở nên kém phù hợp và không đáp ứng được nhu cầu phát triển của các quan hệ muabán
Trang 19Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989 là văn bản điều chỉnh hợp đồng thương mạiđầu tiên tại Việt Nam, tuy nhiên văn bản này đã được thay thế bởi sự ra đời của BLDS,LTM và các văn bản thi hành hướng dẫn liên quan BLDS ra đời và trải qua ba lần sửađổi bổ sung, BLDS 2015 là đạo luật có tính quy phạm rộng rãi nhất hiện nay đối với cácquan hê dân sự nói chung và hợp đồng thương mại nói riêng LTM cũng qua hai lần sửađối, LTM hiện hành là LTM 2005, ra đời đóng vai trò quan trọng trong việc cụ thể hóacác quy định và những điều khoản bắt buộc có trong hợp đồng thương mại Kể từ khi hệthống pháp luật có sự ra đời của các văn bản kể trên, các hoạt kinh doanh thương mại đãhạn chế những tranh chấp, mẫu thuẫn phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng muabán hàng hóa Ngoài ra, các văn bản quy phạm này giúp các chủ thể trong hơp đồngthương mại thúc đẩy mối quan hệ kinh tế, giảm bớt rủi ro không đáng có.
1.2 Khái quát chung về pháp luật hợp đồng mua bán hàng hóa
1.2.1 Khái niệm pháp luật hợp đồng mua bán hàng hóa
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung, do nhà nước banhành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xãhội nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo mục tiêu, định hướng cụ thể Cũng trongmối tương quan đó, khi quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa được điều chỉnh bằng phápluật thì loại pháp luật này được gọi là pháp luật hợp đồng mua bán hàng hóa
Hợp đồng mua bán hàng hóa thể hiện mối quan hệ hợp đồng phát sinh trong quan
hệ mua bán, quan hệ giữa bên mua và bên bán nên những quan hệ đó được điều chỉnh bởinhững quy đinh, quy tắc xử sự chung của nhà nước Theo đó, pháp luật hợp đồng muabán hàng hóa được khái quát là các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung mà nhà nướcban hành để điều chỉnh quan hệ mua bán hàng hóa trong thương mại dưới các khía cạnhpháp như giao kết, thực hiện, sửa đổi, chấm dứt,…
1.2.2 Quá trình hình thành và phát triển pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa tại Việt Nam
Các khái niệm hợp đồng và hợp đồng mua bán hàng hóa đã xuất hiện từ rất lâutrong sự phát triển của nền kinh tế Hợp đồng nói chung và hợp đồng mua bán hàng hóanói riêng chịu sự điều chỉnh của rất nhiều văn bản pháp luật khác nhau theo sự phát triểncủa đất nước và lịch sử
Tháng 12/1986, Đại hội VI của Đảng quyết định đổi mới toàn diện, chuyểnnền kinh tế kế hoạch hóa tập trung và bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lýcủa Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Do đó, hệ thống pháp luật Việt Nam cầnphải có một chế định hợp đồng cụ thể và phù hợp với điều kiện mới Ngày 25/9/1989 Hộiđồng nhà nước đã thông qua Pháp lệnh hợp đồng kinh tế và sau đó là hàng loạt các vănbản như: Nghị định số 17/HĐBT ngày 25/9/1989, Quyết định số 18/HĐBT ngày
Trang 2016/01/1990, và các văn bản hướng dẫn khác
BLDS được ban hành ngày 28/10/1995 là công trình pháp điển hóa pháp luật dân sựđầu tiên của nước Việt Nam thống nhất, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việcthay đổi nhận thức về mối quan hệ Nhà nước và đời sống dân sự Tiếp theo là 10/5/1997LTM được Quốc hội thông qua quy định về hợp đồng trong một số hành vi thương mại.Tuy nhiên trên thực tế cho thấy các quan hệ hợp đồng trong kinh doanh thương mại thìpháp lệnh hợp đồng kinh tế nam 1989 vẫn là căn cứ chính Dẫn đến tình trạng các quyđịnh chồng chéo gây nhiều khó khăn trong quá trình áp dụng, nội dung của các văn bản
có nhiều điểm không thống nhất Ngay khi đưa vào thực tiễn áp dụng đã lộ rõ ra nhữngbất cập Hơn nữa trong giai đoạn Việt Nam gia nhập WTO, pháp luật cần có những thayđổi theo những quy định mà WTO đề ra
Đến 14/6/2005 Quốc hội đã thông qua BLDS 2005 trong đó thống nhất điều chỉnhcác mối quan hệ về hợp đồng nói chung, bên cạnh các văn bản pháp luật riêng đối vớitừng lĩnh vực, LTM 2005 và các văn bản pháp luật có liên quan điều chỉnh được ra đời BLDS 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017 Sau 3 lần sửa đổi, những quyđịnh về hợp đồng trong BLDS 2015 đã hoàn thiện và thống nhất hơn Tuy nhiên vẫnchưa đi sâu vào từng quan hệ mua bán trong thương mại
1.2.3 Nguồn pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa
a Nguồn pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa tại Việt Nam
Trong hệ thống pháp luật quy định điều chỉnh về hợp đồng mua bán hàng hóa tạiViệt Nam đầu tiên phải kể đến Pháp lệnh hợp đồng kinh tế 1989 Tiếp đó là LTM 1997
và hiện nay là LTM 2005 có thể coi là những văn bản pháp luật quan trọng tạo điều kiệntiền đề hội nhập kinh tế quốc tế Tuy nhiên tính từ năm 2005 đến nay, một số quy địnhtrong LTM 2005 đã trở nên kém phù hợp và không đáp ứng được nhu cầu so với thờiđiểm hiện tại BLDS cũng điều chỉnh về quan hệ hợp đồng, từ năm 1995 đến nay BLDS
đã trải qua ba lần sửa đổi: BLDS 1995, BLDS 2005 và BLDS 2015 là văn bản có hiệu lựcmới nhất hiện nay
BLDS 2015 và LTM 2005 đã thay thế cho việc ký kết hợp đồng dựa trên các vănbản Pháp lệnh kinh tế 1989 Theo Nghị quyết 45/2005/QH11 ngày 14 tháng 06 năm 2005
hướng dẫn thi hành BLDS 2005 “Bộ luật Dân sự được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2006 Bộ luật Dân sự 2005 thay thế Bộ luật Dân sự 1995 được Quốc hội thông qua ngày 28 tháng 10 năm 1995 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế ngày
29 tháng 9 năm 1989 hết hiệu lực kể từ ngày Bộ luật Dân sự có hiệu lực”
BLDS 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017 và thay thế cho BLDS số33/2005/QH11 BLDS là đạo luật chung điều chỉnh các quan hệ dân sự, trong đó có quan
15
Trang 21hệ hợp đồng trong thương mại BLDS 2015 điều chỉnh các quan hệ trong hợp đồngthương mại trên nguyên tắc bình đẳng, tự nguyện, tự thỏa thuận và tự chịu trách nhiệm.LTM 2005 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2016 Đây là văn bản quy phạm phápluật có hiệu lực pháp lý cao nhất từ trước đến nay quy định thống nhất về hoạt độngthương mại nói chung và quan hệ hợp đồng trong thương mại nói riêng Trong LTM
2005 có những quy định về các hoạt động thương mại, quan hệ mua bán thương mại, giảiquyết những tránh chấp trong thương mại
Một trong những điểm mới của LTM 2005 là đã xác định rõ ràng vị trí của LTM
2005 trong hệ thống pháp luật Việt Nam Trong mối quan hệ với BLD 2005, LTM 2005 được xác định là luật chuyên ngành, cũng trong mối quan hệ với các luật quy định các hoạt động thương mại đặc thù thì LTM 2005 được xác định là luật chung Do đó, về nguyên tắc các quy định của LTM 2005, phải phù hợp và thống nhất với các quy định của BLDS Khoản 3 Điều 4 LTM 2015 có quy định “hoạt động thương mại không được quy định trong LTM và trong các luật khác thì áp dụng quy định của BLDS” Như vậy, trong sự điều chỉnh về pháp luật hợp đồng mua bán hàng hóa thì nguồn luật đươc ưu tiên áp dụng trước là LTM 2005.
Hợp đồng mua bán hàng hóa có liên quan đến đối tượng là hàng hóa, các dịch vụvận chuyển, phương thức thanh toán nên nó được điều chỉnh bởi các văn bản pháp luậtquy định về những vấn đề này
Nguồn pháp luật quy định về hàng hóa gồm Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật
2006, Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa 2018 và các văn bản hướng dẫn thi hành ápdụng có liên quan Pháp luật quy định về vận chuyển trong thương mại được điều chỉnhtrực tiếp bởi Bộ luật Hàng hải 2015 và Nghị định 87/2009/NĐ-CP về vận tải đa phươngthức quốc tế Ngoài ra, pháp luật về vận chuyển còn quy định trong một số văn bản nhưLuật Giao thông đường bộ, Luật Đường sắt, Luật Hàng không dân dụng Việt Nam, LuậtGiao thông đường thủy nội địa, và các văn bản hướng dẫn
Ngoài một số văn bản nói trên thì pháp luật hợp đồng mua bán hàng hóa còn đượcđiều chỉnh bởi một số nguồn luật hỗ trợ về bảo hiểm hàng hóa, quy định về chuyểnkhoản,…
b Nguồn pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Trong thương mại quốc tế, luật pháp và thực tiễn đều ghi nhận các bên có quyền lựachọn luật áp dụng Luật áp dụng cho hợp đồng thương mại quốc tế có thể là luật quốc gia,các điều ước quốc tế về thương mại, tập quán thương mại quốc tế, hợp đồng mẫu, cácnguyên tắc chung về hợp đồng và các học thuyết pháp lý Các điều khoản trong hợp đồngkhông thể điều chỉnh tất cả các vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện hợp động mà
có nhiều vấn đề các bên chưa thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng trong hợp đồng
Trang 22Lựa chọn luật quốc gia điều chỉnh hợp đồng
Luật pháp quốc gia sẽ được áp dụng trong trường hợp được các bên lựa chọn Tuynhiên, các bên nên chủ động lựa chọn luật quốc gia mà mình quen thuộc Việc chọn luậtphải được ghi nhận cụ thể trong một điều khoản hợp đồng, gọi là “Điều khoản chọn luật”hoặc “Luật điều chỉnh”
Áp dụng điều ước quốc tế về thương mại
Trong lĩnh vực mua bán hàng hóa, điều ước quốc tế điều chỉnh loại hợp đồng muabán hàng hóa quốc tế chủ yếu là Công ước Liên Hiệp Quốc năm 1980 về mua bán hànghóa quốc tế, được ký kết tại Viên năm 1980
Việt Nam chưa gia nhập Công ước Viên năm 1980 Tuy nhiên, pháp luật của Việt Namcũng cho phép các bên được sử dụng Công ước Viên 1980 để điều chỉnh các hợp đồngmua bán hàng hóa quốc tế Công ước Viên 1980 sẽ không đương nhiên có hiệu lực nếucác bên không lựa chọn và ghi rõ trong hợp đồng Khi các bên đã dẫn chiếu đến Côngước Viên 1980 thì toàn bộ các điều khoản và nội dung của Công ước Viên 1980 sẽ được
áp dụng để điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng
Trong lĩnh vực vận tải hàng hải, các điều ước quốc tế đang được người chuyên chở sửdụng để điều chỉnh hợp đồng vận chuyển bao gồm:
• Công ước quốc tế để thống nhất một số quy tắc về vận đơn đường biển (InternationalConvention for the unification of certain rules relating to Bills of lading) – Công ướcBrussel 1924/ Quy tắc Hague
• Nghị định thư sửa đổi Công ước quốc tế để thống nhất một số quy tắc về vận đơnđường biển – Quy tắc Hague Visby 1968
• Nghị định thư SDR 1979
• Công ước của Liên hiệp quốc về chuyên chở hàng hóa bằng đường biển (United NationConvention on the carriage of goods by sea) – Công ước/ Quy tắc Hamburg 1978
Lựa chọn tập quán thương mại quốc tế
Một số tập quán thương mại quốc tế áp dụng cho hợp đồng thương mại quốc tế:
17
Trang 231.2.4 Một số nguyên tắc pháp luật điều chỉnh về hợp đồng mua bán hàng hóa
Khi nghiên cứu về các nguyên tắc pháp luật điều chỉnh về hợp đồng mua bán hànghóa, trước tiên chúng ta phải kể đến các nguyên tắc được quy định trong LTM 2005 Tuynhiên, về bản chất hợp đồng mua bán hàng hóa chịu sự điều chỉnh của BLDS 2015, bởi lẽđây là nền tảng cho các quy định về hợp đồng dân sự nói chung Do đó, pháp luật về hợpđồng mua bán hàng hóa phải tuân theo cả các nguyên tắc cơ bản của BLDS 2015 Việcthực hiện đúng những nguyên tắc cơ bản này giúp cho doanh nghiệp bảo vệ được quyềnlợi của mình, đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả lý kinh tế
- Nguyên tắc bình đẳng: Nguyên tắc được quy định cụ thể tại Điều 10 LTM 2005:
“Thương nhân thuộc mọi thành phần kinh tế bình đẳng trước pháp luật trong hoạt động thương mại” Thương nhân có quyền hoạt động thương mại trong các ngành nghề, tại các
địa bàn, dưới các hình thức và theo các phương thức mà pháp luật không cấm Tráchnhiệm thực hiện quyền và nghĩa vụ của các thương nhân là ngang nhau Quyền hoạt độngthương mại hợp pháp của thương nhân được Nhà nước bảo hộ Nhà nước thực hiện độcquyền Nhà nước có thời han về hoạt động thương mại đối với một số hàng hóa, dịch vụhoặc tại một số địa bàn để bảo đảm lợi ích quốc gia
- Nguyên tắc tự do, tự nguyện thoả thuận: Nguyên tắc này được quy định cụ thể tạiĐiều 11 LTM 2005 Các bên có quyền tự do thoả thuận không trái với các quy định củapháp luật, thuần phong mỹ tục và đạo đức xã hội để xác lập các quyền và nghĩa vụ củacác bên trong hoạt động thương mại Nhà nước tôn trọng và bảo hộ các quyền đó Tronghoạt động thương mại, các bên hoàn toàn tự nguyện, không bên nào được thực hiện hành
vi áp đặt, cưỡng ép, đe doạ, ngăn cản bên nào Mọi sự ép buộc trong ký kết hợp đồngmua bán hàng hóa giữa bên này với bên kia đều làm cho hợp đồng vô hiệu
- Nguyên tắc áp dụng thói quen, tập quán: Nguyên tắc này được quy định cụ thể tạiĐiều 12 và Điều 13 LTM 2005 và Điều 5 BLDS 2015 Trừ trường hợp có thoả thuậnkhác, các bên được coi là mặc nhiên áp dụng thói quen trong hoạt động thương mại đãđược thiết lập giữa các bên đó mà các bên đã biết hoặc phải biết nhưng không được tráivới quy định của pháp luật Trường hợp pháp luật không có quy định, các bên không cóthoả thuận và không có thói quen đã được thiết lập giữa các bên thì áp dụng tập quánthương mại nhưng không được trái với những nguyên tắc quy định trong LTM 2005 vàtrong BLDS 2015
- Nguyên tắc bảo vệ lợi ích chính đáng của người tiêu dùng: Nguyên tắc này đượcquy định cụ thể tại Điều 14 LTM 2005 Thương nhân thực hiện hoạt động thương mại cónghĩa vụ thông tin đầy đủ, trung thực cho người tiêu dùng về hàng hóa và dịch vụ màmình kinh doanh và phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của thông tin đó Ngoài ra,thương nhân phải chịu trách nhiệm về chất lượng, tính hợp pháp của hàng hóa, dịch vụ
mà mình kinh doanh
Trang 24- Nguyên tắc không được xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích côngcộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác: Nguyên tắc này cũng được quy định tạikhoản 4 Điều 3 BLDS 2015 Để thực hiện nguyên tắc này, các chủ thể khi tham gia hợpđồng mua bán hàng hóa cầ tuân thủ pháp luật một cách nghiêm chỉnh, luôn coi trọng lợiích quốc gia, dân tộc, cộng đồng là trên hết Nguyên tắc này điều chỉnh cả nội dung vàmục đích của hợp đồng mua bán hóa, hợp đồng sẽ bị vô hiệu nếu các bên vi phạmnguyên tắc này
- Nguyên tắc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội: Hợpđồng mua bán hàng hóa bị coi là vô hiệu tuyệt đối nếu vi phạm nguyên tắc này Điều cấmcủa pháp luật là những quy định của pháp luật không cho phép thương nhân thực hiệnnhững hành vi nhất định Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa ngườivới người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng
19
Trang 25CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN
ONEBIGDREAM VIỆT NAM
2.1 Thực trạng pháp luật điều chỉnh về hợp đồng mua bán hàng hóa
2.1.1 Thực trạng pháp luật điều chỉnh về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
Giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa không có quy định riêng, BLDS 2015 là vănbản điều chỉnh quan hệ dân sự nói chung trong đó có các loại hợp đồng thông dụng chính
vì vậy các quy định của BLDS 2015 được lấy làm cơ sở pháp lý khi tham gia giao kết củacác bên chủ thể trong quan hệ mua bán hàng hóa về nguyên tắc chung về hợp đồng, thủtục giao kết, thời điểm hợp đồng giao kết Nội dung chính của pháp luật điều chỉnh vềgiao kết hợp đồng mua bán hàng hóa bao gồm: hình thức, chủ thể, nội dung giao kết hợpđồng và trình tự giao kết hợp đồng
a Các quy định của pháp luật về chủ thể giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
Chủ thể giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa chủ yếu là thương nhân, hoạt độngthương mại độc lập thường xuyên liên tục, nhằm mục đích lợi nhuận, có đăng ký kinhdoanh và thỏa mãn các điều kiện về độ tuổi, năng lực hành vi…bao gồm bên mua, bên
bán và bên trung gian (nếu có) Theo quy định tại khoản 1 điều 6 LTM 2005 thì “thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập thường xuyên và có đăng ký kinh doanh” Ngoài chủ thể là thương
nhân, các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa có thể là cá nhân, tổ chức khác
Chủ thể trong hợp đồng mua bán hàng hóa phải có từ hai chủ thể trở lên Và các chủthể đều phải có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự Đây cũng là mộttrong những điều kiện hiệu lực của hợp đồng theo quy định tại khoản 1 điều 117 BLDS2015
b Các quy định của pháp luật về hình thức hợp đồng mua bán hàng hóa
Theo quy định tại điều 24 LTM 2005, hình thức hợp đồng mua bán hàng hóađược quy định cụ thể như sau: hợp đồng mua bán hàng hóa có thể được thể hiện dướihình thức lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể của các bên giaokết Đối với các loại hợp đồng mua bán hàng hóa mà pháp luật quy định phải được lậpthành văn bản thì phải tuân theo các quy định đó, điển hình nhất như hợp đồng mua bánhàng hóa quốc tế phải được thể hiện dưới hình thức văn bản hoặc bằng hình thức khác cógiá trị pháp lý tương đương như điện báo, telex, fax hay thông điệp dữ liệu
c Các quy định của pháp luật về nội dung hợp đồng mua bán hàng hóa
Nội dung hợp đồng mua bán hàng hóa là phần quan trọng nhất mà các bên chủ thể
Trang 26giao kết hợp đồng phải quan tâm Pháp luật Việt Nam hiện hành không bắt buộc các bênchủ thể phải thỏa thuận những nội dung nào trong hợp đồng Tuy nhiên, các nội dung cơbản mà các bên phải nêu rõ trong hợp đồng là đối tượng hợp đồng, vấn đề giá cả, chấtlượng và số lượng hàng hóa, thời gian và địa điểm giao hàng, phương thức thanh toán,…Thông qua những thỏa thuận về nội dung hợp đồng, các bên chủ thể giao kết sẽ xác định
rõ quyền và nghĩa vụ của mình, cũng như xác định các chủ thể khác tham gia hợp đồngmua bán hàng hóa Khoản 1 điều 441 và điều 62 LTM 2005 còn đề cập đến nội dung thờiđiểm chuyển quyền sở hữu và thời điểm chuyển rủi ro để bảo đảm quyền lợi của các bênkhi tham gia hợp đồng mua bán hàng hóa Nội dung hợp đồng mua bán hàng hóa sẽ làcăn cứ đảm bảo để các bên thực hiện đúng thỏa thuận và đạt được mục đích ban đầu củamình đề ra
d Các quy định của pháp luật về trình tự giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
Một hợp đồng mua bán hàng hóa sẽ được giao kết theo trình tự gồm ba bước đó là:
Đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng muabán hàng hóa và xác lập hợp đồng mua bán hàng hóa
- Quy định của pháp về đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa: Theo quyđịnh tại điều 386 BLDS 2015, có thể hiểu lời đề nghị giao kết hợp đồng mua bán lànhững điều khoản do một bên đưa ra cho phía bên kia Lời đề nghị này mới chỉ thể hiện ýchí, nguyện vọng của một bên trong quan hệ hợp đồng và phải được chấp nhận bởi cácbên còn lại mới hình thành sự nhất chí thỏa thuận chung Đề nghị giao kết hợp đồng phải
có các điều khoản chủ yếu như đối tượng của hợp đồng mà cụ thể ở đây là hàng hóa hayđịa điểm giao hàng hoặc phương thức thanh toán; phải thể hiện mong muốn ràng buộctrách nhiệm đồng thời hướng đến một chủ thể hoặc một số chủ thể nhất định và phải tuântheo hình thức pháp luật quy định Đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực kể từ thời điểmchủ thể phía bên kia nhận được đề nghị Cụ thể là thời điểm đề nghị được chuyển đến nơi
cư trú của bên được đề nghị hoặc được đưa vào hệ thống thông tin của bên được đề nghị.Hiệu lực của đề nghị giao kết hợp đồng do bên đề nghị ấn định Bên đề nghị phải chịutrách nhiệm về lời đề nghị của mình Theo quy định của pháp luật, đề nghị giao kết hợpđồng chấm dứt hiệu lực theo một trong các trường hợp:
+ Bên nhận được đề nghị trả lời không chấp thuận
+ Hết thời hạn trả lời chấp nhận mà bên được đề nghị không trả lời
+ Bên đề nghị thông báo về việc thay đổi hoặc rút lại đề nghị có hiệu lực
+ Bên đề nghị thông báo về việc hủy bỏ đề nghị có hiệu lực
+ Theo thỏa thuận của bên đề nghị và bên nhận được đề nghị trong thời hạn chờ bênđược đề nghị trả lời
Một điểm mới được quy định trong BLDS 2015 so với BLDS 2005 đó là chủ thể
21
Trang 27nhận giao kết hợp đồng bao gồm cả công chúng Trước đây BLDS 2005 chỉ quy định chủthể nhận lời đề nghị giao kết hợp đồng là một đối tượng cụ thể, nhưng hiện nay theo quyđịnh tại điều 386 BLDS 2015 quy định đối tượng nhận đề nghị giao kết hợp đồng baogồm cả công chúng Điều này có nghĩa là những hình thức đề nghị giao kết hợp đồng như
in tờ bướm, phát tờ rơi, quảng cáo đều được coi là một đề nghị giao kết hợp đồng và bên
đề nghị phải chịu trách nhiệm về lời đề nghị của mình Trong thời hạn đề nghị hợp đồng
có hiệu lực, nếu bên được đề nghị thông báo chấp nhận vô điều kiện đề nghị hợp đồng thìhợp đồng hình thành và ràng buộc các bên
- Quy định của pháp về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa:Việc chấp nhận đề nghị giao kết trong LTM 2015 không có bất kỳ điều khoản nào quyđịnh về nó, tuy nhiên chỉ có thể dựa vào quy định tại BLDS 2015 để hiểu rằng đó là sựtrả lời của bên được đề nghị đối với bên đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của
đề nghị Bên nhận được đề nghị trả lời cho bên đề nghị trong thời hạn quy định bằng mộtthông báo chấp thuận toàn bộ nội dung đã nêu trong lời đề nghị Bên được đề nghị trả lờichấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng với bên đề nghị bằng nhiều hình thức khác nhau,như gặp trực tiếp, gọi điện thoại hoặc gửi thư điện tử Thậm chí có thể im lặng khi nhậnđược lời đề nghị giao kết hợp đồng Tuy nhiện, sự im lặng không được coi là chấp nhận
đề nghị giao kết hợp đồng, trừ trường hợp các bên chủ thể trong hợp đồng đã có thỏathuận hoặc theo thói quen đã được lập ra từ trước
- Quy định của pháp về thời điểm xác lập hợp đồng mua bán hàng hóa: Đối với cáchợp đồng giao kết với hình thức khác nhau thì thời điểm giao kết hợp đồng mua bán hànghóa là khác nhau Theo quy định thì ta có thể xác định được thời điểm giao kết hợp đồngtrong kinh doanh theo các trường hợp cụ thể như sau:
+ Đối với loại hợp đồng giao kết trực tiếp bằng văn bản thì thời điểm bên sau ký tênvào văn bản (hợp đồng đủ chữ ký của các bên) chính là thời điểm giao kết hợp đồng.+ Đối với loại hợp đồng được giao kết gián tiếp bằng văn bản thì thời điểm hợpđồng được giao kết là khi bên đề nghị giao kết nhận được trả lời chấp nhận giao kết hợpđồng
+ Đối với loại hợp đồng được giao kết bằng lời nói: thời điểm mà các bên thỏathuận xong về nội dung hợp đồng chính là thời điểm giao kết hợp đồng Để chứng minhviệc các bên đã thỏa thuận về nội dung của hợp đồng bằng lời nói thì các bên có thể sửdụng những chứng cứ hợp pháp, biện pháp để chứng minh
Trong trường hợp các bên có thỏa thuận im lặng có nghĩa là trả lời chấp nhận giaokết hợp đồng thì sự im lặng của các bên được đề nghị đến khi hết hạn trả lời cũng có thểđược coi là căn cứ để xác định hợp đồng đã được giao kết hay chưa
Trang 282.1.2 Thực trạng các quy định pháp luật về hiệu lực pháp lý của hợp đồng mua bán hàng hóa
a Các quy định của pháp luật về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa
Một hợp đồng mua bán hàng hóa chỉ có hiệu lực khi thỏa mãn những điều kiện màpháp luật quy định về hiệu lực của một giao dịch dân sự Theo Điều 117 BLDS 2005 vềđiều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự thì giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ cácđiều kiện sau đây:
- Thứ nhất, về nguyên tắc giao kết hợp đồng Hợp đồng là sự thỏa thuận thống nhất
ý chí của các bên Các bên tự do trong việc thể hiện ý chí của mình, hướng đến lợi íchcủa các bên đồng thời không xâm phạm lợi ích chính đáng mà pháp luật cần bảo vệ Việcgiao kết hợp đồng nói chung và hợp đồng kinh doanh thương mại nói riêng phải tuântheo các nguyên tắc: tự do giao kết nhưng không trái pháp luật và đạo đức xã hội: Tựnguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng Những hợp đồng được
ký kết bởi hành vi cưỡng ép, đe dọa, lừa dối… sẽ bị coi là hợp đồng vô hiệu
- Thứ hai, về chủ thể tham gia hợp đồng mua bán hàng hóa Các chủ thể tham giavào hợp đồng cần phải có năng lực chủ thể Đối với chủ thể là thương nhân cần phải nănglực pháp luật và năng lực hành vi thương mại, còn chủ thể khác không phải là thươngnhân phải có năng lực hành vi dân sự Trong hợp đồng mua bán hàng hóa một bên phải làthương nhân được thành lập hợp pháp, thực hiện hoạt động thương mại thường xuyên,độc lập và có đăng kí kinh doanh Trường hợp mua bán sản phẩm, hàng hóa có điều kiệnkinh doanh, thương nhân còn phải đáp ứng các điều kiện kinh doanh đó theo quy địnhcủa pháp luật Trong việc giao kết hợp đồng, nếu các bên không tự mình thực hiện mà cửđại diện thì đại diện của các bên giao kết hợp đồng mua bán phải đúng thẩm quyền Nếungười đại diện giao kết hợp đồng không có hoặc không dung thẩm quyền, phạm vi đạidiện thì hợp đồng đó cũng không phát sinh hiệu lực (trừ trường hợp được người giaođại diện chấp thuận)
- Thứ ba, về đối tượng của hợp đồng Hàng hóa là đối tượng của hợp đồng mua bánhàng hóa, phải là những hàng hóa được phép lưu thông trên thị trường, không phải lànhững hàng hóa thuộc danh mục cấm kinh doanh theo quy định của pháp luật Nếu cácbên giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa thuộc đối tượng cấm kinh doanh thì hợp đồng
đó mặc nhiên vô hiệu
- Thứ tư, về hình thức hợp đồng mua bán hàng hóa Theo Điều 24 LTM 2005:
“Hợp đồng mua bán hàng hóa được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể Đối với các loại hợp đồng mua bán hàng hóa mà pháp luật quy định phải được thành lập bằng văn bản thì phải tuân thủ theo các quy định đó” Theo
23
Trang 29nguyên tắc chung, nếu hình thức của văn bản là điều kiện để hợp đồng có hiệu lực thìphải tuân theo quy định đó Như vậy, hình thức của hợp đồng không phải là điều kiện bắtbuộc để hợp đồng có hiệu lực, nó chỉ là điều kiện có hiệu lực khi pháp luật có quy định.Trường hợp các nên không tuân thủ hình thức hợp đồng khi pháp luật bắt buộc hợp đồng
đó phải tuân thủ về hình thức thì hợp đồng mua bán bị vô hiệu
- Thứ năm, về nội dung của hợp đồng Hợp đồng mua bán hàng hóa thể hiện quyền
và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ mua bán, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng,chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhậnhàng hóa và trả tiền cho bên bán Nội dung của hợp đồng bao gồm các điều khoản đượcghi nhận trong hợp đồng thông thường bao gồm các điều khoản: Tên hàng, số lượng,chất lượng/phẩm chất, giá cả, phương thức thanh toán, giao hàng… Ngoài ra, các bêncòn có thể thỏa thuận về các điều khoản khác của hợp đồng Tuy nhiên, số lượng điềukhoản, loại điều khoản không phải là điều kiện để vô hiệu hợp đồng Các điều khoản củahợp đồng phải phù hợp với pháp luật, điều khoản nào mà trái pháp luật thì điều khoản đó
sẽ vô hiệu Nói cách khác, nội dung hợp đồng không thể là điều kiện để hợp đồng vô hiệutoàn phần
b Các quy định của pháp luật về hợp đồng vô hiệu và xử lý hợp đồng mua bán hàng hóa vô hiệu
Hợp đồng vô hiệu nói chung và hợp đồng mua bán hàng hóa vô hiệu nói riêng làhợp đồng không thỏa mãn đầy đủ các điều kiện có hiệu lực theo quy định của pháp luật.Việc quy định cụ thể các trường hợp hợp đồng vô hiệu có ý nghĩa quan trọng trong việc
xử lý một cách hợp lý và hiệu quả các hợp đồng vô hiệu trong các trường hợp khác nhau,bảo vệ lợi ích của các bên trong hợp đồng cũng như lợi ích của các chủ thể có liên quan.Theo quy định của BLDS 2015, các trường hợp hợp đồng vô hiệu được áp dụng theo cácquy định về giao dịch dân sự vô hiệu nói chung, theo đó một hợp đồng mua bán hàng hóa
vô hiệu trong những trường hợp chủ yếu sau:
- Vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội: Điều cấmcủa pháp luật là những quy định của pháp luật có nội dung không cho phép chủ thể thựchiện những hành vi nhất định Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữangười với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng Biểu hiện
cụ thể của vi phạm điều cấm trong hợp đồng là các bên thỏa thuận với nhau để thực hiệnnhững công việc mà pháp luật không cho phép thực hiện như: sản xuất, tiêu thụ hàng giả;mua bán, vận chuyển hàng cấm; cung ứng dịch vụ bị cấm thực hiện; dịch chuyển tài sảntrái phép hay những thỏa thuận gây thiệt hại cho lợi ích của người thứ ba
- Vô hiệu do giả tạo: khi các bên giao kết hợp đồng một cách giả tạo nhằm che giấumột hợp đồng khác thì hợp đồng giả tạo vô hiệu, còn hợp đồng bị che dấu vẫn có hiệu
Trang 30lực, trừ trường hợp hợp đồng bị che dấu cũng vô hiệu theo quy định của pháp luật.
- Vô hiệu do nhầm lẫn: Một bên có lỗi vô ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dungcủa hợp đồng mà giao kết, thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu bên kia thay đổi nộidung của hợp đồng đó, nếu bên kia không chấp nhận thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêucầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu
- Vô hiệu do lừa dối: Lừa dối là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ banhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung củahợp đồng nên đã giao kết hợp đồng đó Khi một bên giao kết hợp đồng do bị lừa dối thì
có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu
- Vô hiệu do bị đe dọa: đe dọa là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làmcho bên kia buộc phải giao kết và thực hiện hợp đồng nhằm tránh thiệt hại về tính mạng,sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản của mình hoặc của cha , mẹ, vợ, chồng, concủa mình Khi một bên giao kết hợp đồng do bị đe dọa thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên
bố hợp đồng đó vô hiệu
- Vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình:người có năng lực hành vi dân sự nhưng đã giao kết hợp đồng vào đúng thời điểm khôngnhận thức vu Tòa án tuyên bố hợp đồng đó là vô hiệu
- Vô hiệu do vi phạm quy định về hình thức: trong trường hợp pháp luật quy địnhhình thức hợp đồng là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mà các bên không tuân theo thìtheo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khácquyết định buộc các bên thực hiện quy định về hình thức của hợp đồng trong một thờihạn; quá thời hạn đó mà không thực hiện thì giao dịch vô hiệu
Như vậy, hợp đồng mua bán hàng hóa khi gặp phải các trường hợp trên sẽ bị vôhiệu và giá trị hợp đồng sẽ không được ký kết do vi phạm pháp luật
Theo BLDS 2015, một hợp đồng bị vô hiệu sẽ không làm phát sinh quyền và nghĩa
vụ của các bên từ thời điểm giao kết Các bên phải khôi phục lại tình trạng ban đầu vàđược thực hiện theo các quy định sau:
Một là, các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận Nếu không hoàn trả được bằnghiện vật thì hoàn trả bằng tiền (trừ trường hợp bị tịch thu theoq uy định của pháp luật)Hai là, bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại cho bên kia
2.1.3 Thực trạng pháp luật điều chỉnh về thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa
a Các quy định của pháp luật về nguyên tắc thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa
Những thỏa thuận trong hợp đồng có hiệu lực sẽ có giá trị ràng buộc các bên Cácbên phải thực hiện các nghĩa vụ đã thỏa thuận theo đúng hợp đồng Để đảm bảo việc thựchiện hợp đồng mang lại lợi ích cho các bên đồng thời không xâm hại đến những lợi ích
mà pháp luật cần bảo vệ, pháp luật quy định những nguyên tắc có tính chất bắt buộc phải
25
Trang 31tuân theo đối với các chủ thể trong quá trình thực hiện hợp đồng Theo quy định củaBLDS 2015, việc thực hiện hợp đồng nói chung và hợp đồng mua bán nói riêng phải tuântheo các nguyên tắc sau đây:
- Thực hiện đúng hợp đồng, đúng đối tượng, chất lượng, số lượng, chủng loại, thờihạn, phương thức và các thỏa thuận khác
- Thực hiện 1 cách trung thực, theo tinh thần hợp tác và có lợi nhất cho các bên,đảm bảo tin cậy lẫn nhau
- Không được xâm phạm đến lợi ích của nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợiích hợp pháp của người khác
b Các quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa
Trong hợp đồng mua bán hàng hóa, các bên chủ thể thỏa thuận rõ quyền và nghĩa
vụ của mình Do đó, khi thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa các bên trước tiên phảidựa vào những điều khoản đã thỏa thuận trên tinh thần thiện chí, bình đẳng và tôn trọngnhau Các quy định của pháp luật điều chỉnh về thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóachỉ được áp dụng khi trong nội dung hợp đồng các bên chưa đưa ra những điều khoản cụthể
Nghĩa vụ giao nhận hàng hóa của các bên
Hợp đồng mua bán hàng hóa là hợp đồng mang tính song vụ Do đó, mỗi bên chủthể trong hợp đồng mua bán hàng hóa vừa có quyền vừa có nghĩa vụ, quyền của bên nàyđối lập tương ứng với nghĩa vụ của bên kia và ngược lại
Giao hàng là nghĩa vụ cơ bản nhất của bên bán trong hợp đồng mua bán hàng hoá.Việc thực hiện các nghĩa vụ khác của bên bán đều có liên quan và nhằm mục đích hoànthành nghĩa vụ giao hàng cho bên mua Theo quy định Điều 34 của LTM 2005, bên bánphải giao hàng, chứng từ theo thỏa thuận trong hợp đồng về số lượng, chất lượng, cáchthức đóng gói, bảo quản và các quy định khác trong hợp đồng Trường hợp không có thoảthuận cụ thể, bên bán có nghĩa vụ giao hàng và chứng từ liên quan theo quy định củapháp luật
Nhận hàng là nghĩa vụ cơ bản của bên mua tương ứng với nghĩa vụ giao hàng củabên bán Nhận hàng được hiểu là việc bên mua tiếp nhận trên thực tế hàng hoá từ bênbán Bên mua có nghĩa vụ nhận hàng theo thỏa thuận Khi nhận hàng, bên mua phải thựchiện các công việc hợp lý để giúp bên bán giao hàng, những công việc này có thể khácnhau trong những trường hợp cụ thể Cần lưu ý, việc nhận hàng trên thực tế không đồngnghĩa với việc người mua đã chấp nhận về hàng hoá được giao Theo LTM, sau khi hoànthành việc giao nhận, bên bán vẫn phải chịu trách nhiệm về những khiếm khuyết củahàng hoá đã được giao, nếu các khiếm khuyết của hàng hoá không thể phát hiện được
Trang 32trong quá trình kiểm tra bằng biện pháp thông thường và bên bán đã biết hoặc phải biết
về các khiếm khuyết đó nhưng không thông báo cho bên mua
- Bên bán có nghĩa vụ giao hàng đúng số lượng cho bên mua Số lượng hàng hoáphải được ghi chính xác, rõ ràng theo sự thoả thuận của các bên chủ thể và tính theo đơn
vị đo lường hợp pháp của Nhà nước với từng loại hàng như: kg, tạ, tấn, cái, chiếc, KW,
KV, A…Nếu tính trọng lượng thì phải ghi cả trọng lượng tịnh và trọng lượng cả bao bì.Trong những hợp đồng có mua bán nhiều loại hàng hoá khác nhau thì phải ghi riêng sốlượng, trọng lượng của từng loại, sau đó ghi tổng giá trị vật tư, hàng hoá mua bán Nếucác bên phải thực hiện chỉ tiêu pháp lệnh nhà nước giao đối với loại hàng hoá đặc biệtnào đó thì phải ghi vào hợp đồng đúng số lượng hàng hoá theo số lượng nhà nước giao(trừ trường hợp không thể đáp ứng đủ phải báo cáo cấp trên điều chỉnh chỉ tiêu kế hoạch)
- Bên bán có nghĩa vụ giao hàng đúng đối tượng, chất lượng và quy cách hàng hóacho bên mua Đối tượng, chất lượng và quy cách hàng hoá là những nội dung cơ bản củahợp đồng mua bán hàng hoá Hợp đồng phải phải ghi rõ phẩm chất, quy cách, tiêu chuẩn
kỹ thuật, kích thước, màu sắc, mùi vị, độ ẩm, tạp chất… Nhưng tuỳ từng loại hàng hóa
mà hai bên có thể thoả thuận về các điều kiện phẩm chất, quy cách cho phù hợp Thôngthường đối với hàng công nghiệp được tiêu chuẩn hoá, có các loại tiêu chuẩn nhà nước,tiêu chuẩn địa phương, và tiêu chuẩn ngành kinh tế Nếu chưa được tiêu chuẩn hoá cácbên phải thoả thuận chất lượng bằng sự miêu tả tỉ mỉ, không được dùng khái niệm chungchung, khó quy trách nhiệm khi có sự vi phạm như: “chất lượng phải tốt”, “hàng hoá phảibảo đảm” hoặc “hàng phải khô” hay “còn ăn được”
Đối với hàng hoá có chất lượng ổn định thường được thoả thuận theo mẫu hànghóa, đó là hàng hóa được sản xuất hàng loạt Yêu cầu khi chọn mẫu phải tuân theo cácnguyên tắc:
+ Phải chọn mẫu của chính lô hàng hóa ghi trong hợp đồng;
+ Mẫu hàng hóa phải mang tính chất tiêu biểu cho loại hàng hóa đó;
+ Số lượng mẫu ít nhất là 3, trong đó mỗi bên giữ một mẫu và giao cho người trunggian giữ một mẫu
Mẫu hàng hóa là một bộ phận không thể tách rời hợp đồng nên phải cặp chì, đánhdấu, ghi số hợp đồng vào mẫu…để đề phòng mất mát và tránh tranh chấp xảy ra sau này.Ngoài ba phương pháp quy định chất lượng hàng hoá phổ biến trên, trong thực tế kýkết hợp đồng còn áp dụng những phương pháp sau:
+ Xác định chất lượng theo điều kiện kỹ thuật: Bao gồm những đặc tính kỹ thuật cụthể, mô tả loại vật liệu sản xuất ra hàng hoá, nguyên tắc và phương pháp kiểm tra, thửnghiệm Điều kiện kỹ thuật thường dùng xác định chất lượng hàng hóa được thực hiệntheo đơn đặt hàng cá nhân, chẳng hạn: tàu biển, thiết bị công nghiệp phức tạp, loại thiết
27
Trang 33bị duy nhất Điều kiện kỹ thuật đối với máy móc và thiết bị có thể do chính người đặthàng đưa ra và người cung cấp sẽ chấp nhận khi ký hợp đồng mua bán, hoặc là do công
ty cung cấp nêu ra và người đặt hàng phê chuẩn Điều kiện kỹ thuật được đưa ra ngayhoặc trong văn bản hợp đồng hoặc trong phụ lục của hợp đồng
+ Xác định sau khi đã xem sơ bộ: Trong hợp đồng phương pháp này được thể hiệnbằng những từ “đã xem vàcđồng ý “ Với phương pháp này người mua được quyền xemtoàn bộ lô hàng hóa trong một thời gian quy định Người bán bảo đảm chất lượng hàngnhư khi người mua đã xem và đồng ý Trên thực tế trong trường hợp này người bánkhông chịu trách nhiệm về chất lượng hàng hoá được giao nếu như trong đó không cónhững yếu điểm mà khi xem hàng người mua không phát hiện ra và không thông báotrước khi thực hiện hợp đồng Hàng hoá bán theo cách này thường ở các cuộc đấu giá vàđược lấy từ kho ra
+ Xác định theo hàm lượng từng chất trong hàng hoá: phương pháp này đòi hỏi hợpđồng phải quyết định bằng phần trăm hàm lượng tối thiểu được phép những chất có ích
và hàm lượng tối đa được phép có tạp chất Chẳng hạn khi mua bán kim loại và quặng thìchỉ số chất lượng là hàm lượng chất cơ bản và một số tạp chất, trong buôn bán đường thìnêu hàm lượng xaccaroza, các mặt hàng chứa dầu thì hàm lượng dầu
+ Xác định theo sản lượng thành phẩm: Với phương pháp này hợp đồng lập chỉ sốxác định số lượng sản phẩm cuối cùng thu được từ nguyên liệu Chẳng hạn bột đường từgạo, dầu từ hạt Chỉ số này có thể quy định bằng phần trăm và bằng đại lượng tuyệt đối.+ Xác định theo nhãn hiệu hàng hoá: áp dụng cho loại hàng có đăng ký chất lượngsản phẩm đã có uy tín trên thương trường và các bên mua bán nhiều lần
+ Xác định theo hiện trạng hàng hoá: áp dụng cho loại hàng hóa tươi sống có mùi
vị, màu sắc, độ chín không ổn định; trong trường hợp này người bán không chịu tráchnhiệm về tình trạng xấu đi của chất lượng hàng hoá trên đường đi
+ Xác định theo phẩm chất bình quân tương đương: tức là việc xét nghiệm các chấtchủ yếu trong hàng hoá phải tương đương với hàm lượng chất chủ yếu đã thoả thuậntrong hợp đồng, có thể chấp nhận một sự chênh lệch nho nhỏ không đáng kể, thườngđược áp dụng với loại hàng là ngũ cốc, thực phẩm
Theo LTM 1997 quy định trong hợp đồng mua bán hàng hóa thì điều khoản chấtlượng là điều khoản bắt buộc Nhưng đến Luật Thương mại 2005 thì không còn quy địnhnào bắt buộc các chủ thể trong hợp đồng phải thỏa thuận những nội dung cụ thể về chấtlượng của hàng hóa hay tài sản Theo các quy định trong BLDS 2015 thì chất lượng hànghóa phải do 2 bên thỏa thuận, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Nếu các bênkhông thỏa thuận và pháp luật không có quy định về chất lượng thì chất lượng của hànghóa được xác định theo mục đích sử dụng và chất lượng trung bình của hàng hóa hay vật