14 2.1.1 Tổng quan tình hình về thực hiện pháp luật đối với hoạt động chuyển đổi công ty TNHH một thành viên thành công ty TNHH hai thanh viên trở lên...14 2.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đế
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA KINH TẾ - LUẬT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
PHÁP LUẬT VỀ CHUYỂN ĐỔI CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN THÀNH CÔNG TY TNHH HAI THÀNH VIÊN TRỞ LÊN – THỰC TIỄN TƯ VẤN TẠI CÔNG TY LUẬT TNHH TRÍ NAM
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực tập:
Họ và tên: ThS Đỗ Phương Thảo Họ và tên: Nguyễn Vân Anh
Bộ môn: Luật chuyên ngành Lớp: K52P4
Mã SV: 16D200225
HÀ NỘI, 2019
Trang 2TÓM LƯỢC
Trong nền kinh tế hội nhập toàn cầu, nhu cầu buôn bán hay kinh doanh đangngày một phát triển Dẫn tới các doanh nghiệp đang được thành lập ngày một nhiềuhơn Để có thể kiểm soát và điều chỉnh được những hoạt động của doanh nghiệp thìpháp luật về doanh nghiệp đã ra đời Trong đó quy định rõ về các loại hình của doanhnghiệp Luật danh nghiệp hiện nay đã cơ bản hoàn thiện với những quy định ràng buộcchặt chẽ Có thể nói, các quy định về loại hình doanh nghiệp đã thực hiện tốt vai trò,nhiệm vụ quản lý của mình
Trên thực tế, các doanh nghiệp luôn phải chuyển mình và linh hoạt trong cơ cấu
tổ chức, điều hành doanh nghiệp, kêu gọi vốn để doanh nghiệp có thể phát triển màkhông bị đào thải trong thị trường hội nhập như ngày nay Do đó, việc pháp luật cónhững quy định về vấn đề chuyển đổi loại hình doanh nghiệp là điều tất yếu để đápứng nhu cầu tất yếu của chủ sở hữu doanh nghiệp Tuy nhiên, vẫn còn những bất cậptrong quá trình chuyển đổi loại hình doanh nghiệp do có những quy định chưa rõ ràng
về thủ tục, chưa sát với thực tiễn dẫn tới khó khăn cho doanh nghiệp cũng như bêncông ty luật trong quá trình tư vấn và hỗ trợ về mặt pháp luật cho khách hàng
Qua quá trình thực tập tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Luật Trí Nam, em tìmhiểu được lĩnh vực tư vấn và doanh thu chủ yếu của Công ty là từ hoạt động tư vấnchuyển đổi loại hình doanh nghiệp Do đó, em muốn đi sâu vào nghiên cứu vấn đề vềchuyển đổi loại hình doanh nghiệp của Công ty để hiểu rõ hơn thực tiễn áp dụng hoạtđộng chuyển đổi loại hình doanh nghiệp, cũng thư thực tiễn thực hiện tại công ty vàtrải nghiệm những kiến thức đã học được trong chuyên ngành Luật Kinh tế tại KhoaKinh tế - Luật, Trường Đại học Thương mại vào thực tế
Trang 3Nhân dịp này, em cũng xin cảm ơn lãnh đạo và các anh chị đang công tác tạicông ty TNHH Luật Trí Nam đã tạo điều kiện cho em trong trong suốt quá trìnhnghiên cứu về đề tài
Trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày…tháng…năm…Sinh viên thực hiện
Trang 4MỤC LỤC
TÓM LƯỢC i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan 1
3 Xác lập và tuyên bố vấn đề trong khóa luận 3
4 Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Kết cấu khóa luận tốt nghiệp 4
CHƯƠNG 1: 5
KHÁI QUÁT VỀ VẤN ĐỀ CHUYỂN ĐỔI LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP VÀ PHÁP LUẬT VỀ CHUYỂN ĐỔI CÔNG TY TỪ TNHH MỘT THÀNH VIÊN THÀNH CÔNG TY TNHH 2 THÀNH VIÊN TRỞ LÊN 5
1.1 Khái quát về vấn dề chuyển đổi công ty 5
1.1.1 Khái niệm chuyển đổi công ty 5
1.1.2 Khái niệm chuyển dổi công ty TNHH một thành viên sang công ty TNHH hai thành viên trở lên 6
1.1.3 Ý nghĩa của việc chuyển đổi công ty TNHH một thành viên thành công ty TNHH hai thành viên trở lên 6
1.2 Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật về chuyển đổi công ty TNHH một thành viên sang công ty TNHH hai thành viên trở lên 7
1.2.1.Cơ sở ban hành 7
1.2.2 Nội dung các quy định pháp luật về chuyển đổi công ty TNHH một thành viên sang công ty TNHH hai thành viên trở lên 8
1.3 Yêu cầu của pháp luật về chuyển đổi công ty từ TNHH một thành viên sang công ty TNHH hai thành viên trở lên 10
1.3.1 Đảm bảo tính minh bạch 10
1.3.2Đảm bảo tính khả thi 11
1.3.3 Đảm bảo tính hợp hiến 11
1.3.4 Đảm bảo tính hiệu quả 12
Trang 5CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CHUYỂN ĐỔI CÔNG TY
TNHH MỘT THÀNH VIÊN THÀNH CÔNG TY TNHH HAI THÀNH VIÊN
TRỞ LÊN TẠI CÔNG TY LUẬT TRÍ NAM 14
2.1 Tổng quan tình hình về thực trạng pháp luật về chuyển đổi công ty TNHH một thành viên thành công ty TNHH hai thành viên trở lên tại công ty Luật Trí Nam 14
2.1.1 Tổng quan tình hình về thực hiện pháp luật đối với hoạt động chuyển đổi công ty TNHH một thành viên thành công ty TNHH hai thanh viên trở lên 14
2.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động chuyển đổi công ty TNHH một thành viên thành công ty TNHH hai thành viên trở lên 15
2.2 Thực trạng pháp luật về chuyển đổi công ty TNHH một thành viên thành công ty TNHH hai thành viên trở lên tại công ty Luật Trí Nam 17
2.2.1 Thủ tục chuyển đổi Công ty TNHH một thành viên thành công ty TNHH hai thành viên trở lên 17
2.2.2 Trình tự và thủ tục đăng ký chuyển đổi loại hình doanh nghiệp 18
2.2.3 Kết quả tư vấn chuyển đổi loại hình doanh nghiệp trong thời gian qua của Công ty TNHH Luật Trí Nam 19
2.3 Thực tiễn thực hiện hoạt động tư vấn tại công ty Luật Trí Nam 23
2.3.1 Phương thức chuyển đổi Công ty TNHH một thành viên thành công ty TNHH hai thành viên trở lên 23
2.3.2 Thời hạn và điều kiện chuyển tài sản, phần vốn góp của công ty được chuyển đổi thành tài sản, phần vốn góp của công ty chuyển đổi 24
2.3.4 Ngành nghề của công ty sau khi chuyển đổi 25
2.3.5 Phương án sử dụng lao động 26
2.3.6 Cơ quan có thẩm quyền giải quyết 26
2.3.7 Chi phí và thời gian hoàn thành thủ tục 27
2.3.8 Nghĩa vụ thông báo chuyển đổi loại hình doanh nghiệp với các bên thứ ba 27
2.3.9 Thiết lập hợp đồng tư vấn dịch vụ 27
2.4 Các kết luận phát hiện qua nghiên cứu đề tài 30
2.4.1 Ưu điểm 30
2.4.2 Nhược điểm 31
CHƯƠNG 3: 33
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CHUYỂN ĐỔI CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN SANG CÔNG TY TNHH HAI THÀNH VIÊN TRỞ LÊN 33
3.1 Nguyên tắc nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về chuyển đổi công ty TNHH
Trang 63.1.1 Đảm bảo xuất phát từ những bất cập, hạn chế của pháp luật hiện hành 33
3.1.2 Đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật Việt nam 33
3.1.3 Đảm bảo tính phù hợp với thông lệ và điều ước quốc tế 34
3.2 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về chuyển đổi công ty TNHH một thành viên thành Công ty TNHH hai thành viên trở lên 34
3.2.1 Đối với cơ quan nhà nước 34
3.2.2 Đối với doanh nghiệp 35
3.3 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu 36
KẾT LUẬN 38
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 39
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay xã hội đang ngày càng phát triển, nền kinh tế thị trường đang bùng nổmột cách mạnh mẽ do đó dẫn tới nhiều doanh nghiệp mới được thành lập Từ đó, cácvấn đề pháp lý trong doanh nghiệp cũng diễn ra vô cùng phổ biến trong hầu hết cácdoanh nghiệp Nhiều nhà đầu tư khi khởi đầu kinh doanh chưa thể kêu gọi được vốn,
đã tự mình thành lập công ty dưới dạng công ty TNHH một thành viên Sau đó vì nhucầu huy động vốn nên nhiều nhà đầu tư lựa chọn phương thức chuyển đổi loại hìnhdoanh nghiệp để có thể tăng vốn tự có của doanh nghiệp thay vì sử dụng kênh huyđộng vốn vay Do việc sử dụng vốn tự có sẽ đem lại cho doanh nghiệp sự chủ độngtrong việc sử dụng vốn, không bị phụ thuộc vào bên ngoài, trong khi sử dụng kênh huyđộng vốn vay sẽ làm tăng rủi ro phá sản của doanh nghiệp Thực tiễn sôi động của quátrình này đòi hỏi pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp nói chung cũng như chuyểnđổi từ công ty TNHH một thành viên sang công ty TNHH hai thành viên trở lên nóiriêng phải thực sự hoàn thiện Điều này sẽ tạo ra một môi trường pháp lý an toàn vàhiệu quả cho quá trình chuyển mình của doanh nghiệp mà ở đó doanh nghiệp vừa cóthể đạt được lợi ích kinh tế lại vừa có thể đảm bảo an toàn pháp lý cho chiến lượckinh doanh của mình
Tuy nhiên, pháp luật hiện hành của Việt Nam về vấn đề này còn nhiều bất cập,hạn chế khi chưa quy định rõ về hình thức chuyển đổi này khiến cho các chủ sở hữudoanh nghiệp có thể nhầm lẫn khi cần chuyển đổi hình thức, dẫn tới cơ chế thực thichưa thực sự hiệu quả Chính vì vậy, việc tiếp tục xem xét, nghiên cứu và hoàn thiệnpháp luật về chuyển đổi loại hình Doanh nghiệp nói chung cũng như chuyển đổi công
ty TNHH một thành viên sang công ty TNHH hai thành viên trở lên nói riêng thực sự
là việc làm có ý nghĩa lý luận và thực tiễn trong thời điểm hiện tại
Xuất phát từ lý do trên, sau thời gian thực tập tại công ty TNHH Luật Trí Nam,
em đã mạnh dạn chọn đề tài:“Pháp luật về chuyển đổi công ty TNHH một thành viên
thành công ty TNHH hai thành viên trở lên – Thực tiễn tư vấn tại công ty Luật Trí Nam” làm đề tài khoá luận tốt nghiệp của mình Em hy vọng có thể góp một phần nhỏ
bé vào quá trình hoàn thiện pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp nói chung cũng nhưpháp luật về chuyển đổi công ty TNHH một thành viên thành công ty TNHH hai thànhviên trở lên nó riêng
2 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan
Với vị trí, vai trò của mình trong nền kinh tế thị trường, cùng với sự phát triểnmạnh mẽ của các loại hình doanh nghiệp, công ty trách nhiệm hữu hạn đã trở thànhloại hình phổ biến trên thế giới và Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ Trong những
Trang 9năm gần đây, công ty TNHH nhận được sự quan tâm rất nhiều từ các nhà nghiên cứu
và trở thành đề tài nghiên cứu hấp dẫn của các nhà khoa học trong nhiều lĩnh vực khácnhau trong đó có lĩnh vực pháp luật Qua quá trình tìm hiểu có thể thấy rằng có rấtnhiều những công trình nghiên cứu về loại hình công ty TNHH này
- Nhóm các luận văn, luận án
Luận văn thạc sĩ “Công ty TNHH theo pháp luật Việt Nam và hướng hoàn thiệnđịa vị pháp lý của loại hình doanh nghiệp này” của tác giả Lê Văn Khải, năm 1997 bàn
về việc đưa ra những giải pháp để giúp hoàn thiện pháp lý khi quy định về loại hìnhcông ty TNHH
Luận văn thạc sĩ “Công ty TNHH một thành viên theo quy định của pháp luậtViệt Nam và pháp luật Cộng hòa Pháp” của tác giả Đinh Thị An, năm 2004 so sánhquy định pháp luật Việt Nam với hệ thống văn bản pháp luật nước Pháp để phân tíchnhững thiếu sót trong pháp luật Việt Nam và đưa ra những giải pháp giúp hoàn thiện
hệ thống pháp luật
Luận văn thạc sĩ Luật học “Pháp luật về công ty trách nhiệm hữu hạn một thànhviên từ thực tiễn thành phố Hà Nội” của tác giả Đào Văn Khê Mục đích nghiên cứucủa đề tài này là tìm hiểu những vấn đề lý luận về công ty TNHH một thành viên theoLuật Doanh nghiệp (2014) và thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật đó trên địa bànthành phố Hà Nội, từ đó kiến nghị nhằm các quy định pháp luật về công ty TNHH mộtthành viên
- Nhóm sách tham khảo
Một số sách nghiên cứu về các hoạt động của doanh nghiệp như Giáo trình Luật
Doanh nghiệp của một số cơ sở đào tạo (Trường Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật ĐH
Quốc gia Hà Nội v.v…) chủ yếu viết về các vấn đề chung, một số nhóm hoạt động cụ
thể về hoạt động của doanh nghiệp, dựa trên các quy định của luật doanh nghiệp; Giáo
trình Pháp luật về chủ thể kinh doanh do trường Đại học Luật Hà Nội biên soạn, đây
là cuốn sách đi sâu và nghiên cứu chi tiết về pháp luật đối với các chủ sở hữu doanhnghiệp trong tình hình đất nước bắt đầu mở cửa hội nhập
- Nhóm các bài báo nghiên cứu:
Bài viết đăng trên tạp chí Luật học như “Bàn về tính thống nhất của pháp luật vềdoanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay” của tiến sỹ Bùi Ngọc Cường Bài viết đã tiếp cậnđến những quy định của pháp luật về các loại hình doanh nghiệp hiện nay, từ đó đưa ranhững lỗ hổng của pháp luật khi quy định về các hoạt động giải thể, chấm dứt, sápnhập của các doanh nghiệp
Những công trình nghiên cứu trên là tài liệu có ý nghĩa quan trọng, giúp em cóthêm nhiều kiến thức, thông tin quan trọng để phục vụ cho việc nghiên cứu bài khóa
Trang 10cứu một cách chuyên sâu, toàn diện và hệ thống về thủ tục chuyển đổi công ty TNHHmột thành viên sang công ty TNHH hai thành viên trở lên Với tinh thần học hỏi vàtiếp thu, trên cơ sở những kết quả tự nghiên cứu, luận văn xin cung cấp các vấn đề lýluận và thực tế về pháp luật về thủ tục chuyển đổi này và đưa ra một số giải pháp cơbản nhằm nâng cao hiệu quả pháp luật.
3 Xác lập và tuyên bố vấn đề trong khóa luận
Dựa trên cơ sở các quy định của pháp luật hiện hành, các tài liệu tham khảo vàthực tiễn thi hành pháp luật tại đơn vị thực tập trong khóa luận này em sẽ đưa ra các cơ
sở pháp lý làm tiền đề để đi sâu vào phân tích lý luận cũng như thực tiễn áp dụng, thựcthi pháp luật tại đơn vị, từ đó có những kiến nghị cần thiết nhằm hoàn thiện pháp luậtđiều chỉnh về hoạt động chuyển đổi công ty Từ đó đi sâu phân tích điểm nổi bật, cungcấp cho doanh nghiệp những hiểu biết cần thiết, những mặt hạn chế trong thực tiễn và
đề xuất bổ trợ cho hoạt động thực thi pháp luật tại đơn vị thực tập Xuất phát từ các
vấn đề trên, em đã chọn đề tài nghiên cứu của mình là: “Pháp luật về chuyển đổi công
ty TNHH một thành viên thành công ty TNHH hai thành viên trở lên – Thực tiễn tư vấn tại công ty Luật Trí Nam” để nghiên cứu những khó khăn, vướng mắc và đưa ra
những kiến nghị giải quyết nhằm đưa hoạt động tư vấn chuyển đổi loại hình doanhnghiệp trở nên dễ dàng và đơn giản hơn
4 Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Trong khuôn khổ một bài khóa luận và với kinh nghiệm bản thân còn hạn chế, đểlàm rõ vấn đề nghiên cứu, em chỉ tập trung đi vào phân tích pháp luật về chuyển đổiloại hình doanh nghiệp từ công ty TNHH một thành viên thành công ty TNHH haithành viên trở lên và thực tiễn thực hiện vấn đề này tại công ty TNHH Luật Trí Nam
4.2 Mục tiêu nghiên cứu
Về mặt lý thuyết, đề tài sẽ tập trung nghiên cứu những lý thuyết liên quan đếnvấn đề chuyển đổi công ty Từ cơ sở lý luận đó, đề tài sẽ đề cập tới những vấn đề thựctiễn đặt ra tại công ty: Thứ nhất là nghiên cứu về thực trạng áp dụng pháp luật chuyểnđổi công ty TNHH một thành viên thành công ty TNHH hai thành viên trở lên tại công
ty Luật Trí Nam; Sau đó đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về chuyểnđổi công ty TNHH một thành viên thành công ty TNHH hai thành viên trở lên
4.3 Phạm vi nghiên cứu
Về mặt không gian, đề tài sẽ tập trung nghiên cứu trong phạm vi các vụ việc vềchuyển đổi công ty từ công ty TNHH một thành viên thành công ty TNHH hai thànhviên trở lên do công ty Luật Trí Nam tư vấn thực hiện
Trang 11Về mặt thời gian, đề tài sẽ nghiên cứu trong khoảng thời gian 2014 đến nay đểlàm rõ về thực tiễn áp dụng trong việc chuyển đổi công ty TNHH một thành viên thànhcông ty TNHH hai thành viên trở lên.
5 Phương pháp nghiên cứu
Chương 1 đề tài đề cập đến nội dung khái quát về vấn đề chuyển đổi công ty vàpháp luật về chuyển đổi công ty từ TNHH một thành viên thành công ty TNHH haithành viên trở lên Để làm rõ nội dung này, khóa luận sử dụng phương pháp chính làphương pháp phân tích và tổng hợp
Chương 2, với nội dung là thực trạng về pháp luật về chuyển đổi công ty TNHHmột thành viên thành công ty TNHH hai thành viên trở lên và thực tiễn tư vấn tại công
ty Luật TNHH Trí Nam, khóa luận sử dụng chủ yếu phương pháp so sánh và đốichiếu, kết hợp với việc nghiên cứu từ lý luận cho đến thực tiến thực hiện
Chương 3, với nội dung là một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về chuyểnđổi công ty TNHH từ một thành viên sang hai thành viên trở lên, khóa luận dựa trênphương pháp nghiên cứu luận là phương pháp điều tra và phân tích pháp lý cũng nhưthực tiễn trong doanh nghiệp
6 Kết cấu khóa luận tốt nghiệp
Ngoài lời mở đầu và kết luận, kết cấu của khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1 Khái quát về vấn đề chuyển đổi công ty và pháp luật về chuyển đổi
công ty từ TNHH một thành viên thành công ty TNHH hai thành viên trở lên
Chương 2 Thực trạng về pháp luật về chuyển đổi công ty TNHH một thành viênthành công ty TNHH hai thành viên trở lên và thực tiễn tư vấn tại công ty Luật TNHHTrí Nam
Chương 3 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về chuyển đổi công tyTNHH từ một thành viên sang hai thành viên trở lên
Trang 12CHƯƠNG 1:
KHÁI QUÁT VỀ VẤN ĐỀ CHUYỂN ĐỔI LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP VÀ PHÁP LUẬT VỀ CHUYỂN ĐỔI CÔNG TY TỪ TNHH MỘT THÀNH VIÊN
THÀNH CÔNG TY TNHH 2 THÀNH VIÊN TRỞ LÊN
1.1 Khái quát về vấn dề chuyển đổi công ty
1.1.1 Khái niệm chuyển đổi công ty
Công ty cũng như bất kỳ một hiện tượng kinh tế nào khác ra đời, tồn tại và pháttriển trong những điều kiện lịch sử và xã hội nhất định Các công ty với tư cách lànhững pháp nhân độc lập cùng với những thành viên có chế độ chịu trách nhiệm hữuhạn xuất hiện với số lượng lớn từ năm 1870 Nhưng những mầm mống của công tyhiện đại có thể nhận thấy trong việc thừa nhận TNHH ở Luật La Mã, các công tythương mại và ngân hàng ở thế kỷ XIV, các công ty Anh thế kỷ XVII Trong khoảng
100 năm trở lại đây, số lượng công ty các loại đã phát triển rất nhanh, đóng vai tròngày càng quan trọng trong đời sống kinh tế nói riêng và đời sống xã hội nói chung
Sự ra đời các công ty xuất phát từ những nhu cầu tất yếu khách quan của đời sống xãhội Thật vậy, sự hội nhập đã mở ra một cánh cửa thị trường rộng lớn với nhiều ưu đãi
về thuế quan cho các doanh nghiệp trong nước Kinh tế Việt Nam nhờ đó mà nhữngnăm gần đây đã có nhiều khởi sắc Nhiều doanh nghiệp mới được thành lập, các chinhánh, địa điểm kinh doanh liên tiếp được mở ra Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê(Bộ Kế hoạch và Đầu tư): “tháng 12/2017, cả nước có 10.8141 doanh nghiệp thành lậpmới với số vốn đăng ký là 164,0922 nghìn tỉ đồng Tính chung cả năm 2017, cả nước
có 126.8593 doanh nghiệp thành lập mới, với tổng số vốn đăng ký 1.295,94 nghìn tỉđồng, tăng 15,2% về số doanh nghiệp và 45,4% về số vốn đăng ký so với năm 2016.”Tuy nhiên với mỗi loại hình sẽ có những điều kiện và quy định pháp luật khác nhau
Do đó sẽ nảy sinh ra những vấn đề liên quan đến pháp luật khi chủ doanh nghiệp muốnthay đổi loại hình doanh nghiệp của mình Vậy hiểu thế nào là chuyển đổi công ty?Hiện nay, chưa có một khái niệm cụ thể để giải thích cho cụm từ “chuyển đổi
công ty” nhưng theo những diễn giải về mặt pháp lý thì "Chuyển đổi công ty là việc
các doanh nghiệp chuyển từ loại hình doanh nghiệp này sang loại hình doanh nghiệp
1 Theo Tổng cục thống kê (Bộ kế hoạch và đầu tư):
Trang 13khác để phù hợp hơn với quy mô, sự phát triển và sự định hướng của doanh nghiệp".
Mặt khác, việc chuyển đổi loại hình doanh nghiệp cũng giúp doanh nghiệp không phảigiải thể do không đủ số lượng thành viên tối thiểu Sau khi chuyển đổi doanh nghiệp(sau khi được cấp giấy đăng ký kinh doanh (giấy đăng ký doanh nghiệp), công ty đượcchuyển đổi chấm dứt tồn tại, công ty chuyển đổi được kế thừa các quyền và lợi ích hợppháp và chịu trách nhiệm về các khoản nợ, hợp đồng lao động, các nghĩa vụ tài sảnkhác của công ty được chuyển đổi Trong chuyển đổi công ty, có sự mất đi và xuấthiện thêm những chủ thể mới, điều này được coi như sự phát triển tự nhiên và là sự tựbiến đổi cho phù hợp với điều kiện và môi trường kinh doanh với hi vọng đạt hiệu quảlợi nhuận cao
1.1.2 Khái niệm chuyển dổi công ty TNHH một thành viên sang công ty TNHH hai thành viên trở lên
Luật Doanh nghiệp 2014 không định nghĩa như thế nào là chuyển đổi công tyTNHH một thành viên sang công ty TNHH hai thành viên trở lên, mà chỉ quy định cácloại hình doanh nghiệp được phép chuyển đổi thành loại hình doanh nghiệp mới nào.Trong đó chuyển đổi công ty TNHH một thành viên sang công ty TNHH hai thànhviên trở lên là một trong những hình thức được quy định theo khuôn khổ pháp luật.Như vậy, ta có thể hiểu chuyển đổi công ty TNHH một thành viên thành công tyTNHH hai thành viên trở lên là việc chuyển đổi từ hình thức doanh nghiệp do một tổchức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu sang hình thức doanh nghiệp có số lượng thànhviên không vượt quá 50 chủ thể (có thể là cá nhân hoặc tổ chức) bằng những thủ tục cụthể mà pháp luật đã quy định bao gồm: Chuyển nhượng hoặc cho tặng một phần vốncủa chủ sở hữu cho một hoặc một số cá nhân, tổ chức khác; Huy động thêm vốn góp từmột hoặc một số cá nhân, tổ chức khác; Hoặc kết hợp cả hai phương thức trên
1.1.3 Ý nghĩa của việc chuyển đổi công ty TNHH một thành viên thành công ty TNHH hai thành viên trở lên
Với thị trường kinh doanh cạnh tranh gay gắt như ngày nay, việc pháp luật chophép doanh nghiệp được chuyển đổi loại hình kinh doanh giúp cho công ty có thể đảmbảo sự phát triển bền vững, đáp ứng được các yêu cầu trên thực tế Sau khi doanhnghiệp thành lập và đi vào hoạt động thì bất cứ doanh nghiệp nào cũng đều muốnhướng đến sự phát triển và ổn định Tuy nhiên, sau thời gian tiến hành kinh doanh thìloại hình doanh nghiệp hiện tại có thể không còn phù hợp nữa Do đó việc chuyển đổicông ty sang loại hình mới được coi là nhu cầu tất yếu để doanh nghiệp tiếp tục tồn tại
và phát triển Việc chuyển đổi loại hình công ty còn giúp cho công ty có thể đáp ứngđược các mục tiêu mà nhà đầu tư muốn thực hiện, bởi nhiều nhà đầu tư khi thành lậpđều muốn doanh nghiệp phát triển tuy nhiên sau một thời gian hoạt động có nhiều vấn
Trang 14đề phát sinh và chủ sở hữu muốn thay đổi loại hình doanh nghiệp để tăng thêm vốn mởrộng kinh doanh để làm tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường.
Bên cạnh đó, việc pháp luật cho phép doanh nghiệp chuyển đổi loại hình kinhdoanh cũng đem lại lợi ích cho chính nền kinh tế Việt Nam Việc pháp luật cho phépchuyển đổi loại hình sẽ giúp cho việc kinh doanh của doanh nghiệp trở nên linh hoạthơn, tạo ra nhiều tiềm năng cạnh tranh trên thị trường, đem đến nhiều lợi ích về mặtkinh tế cho xã hội
1.2 Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật về chuyển đổi công ty TNHH một thành viên sang công ty TNHH hai thành viên trở lên
1.2.1 Cơ sở ban hành
Trong nền kinh tế thị trường, nhất là với bối cảnh kinh tế – xã hội cụ thể của ViệtNam, việc hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp có thể được coi là một trong nhữngđộng thái chính, một bước tiên quyết trong việc hoàn thiện pháp luật thương mại Xuấtphát từ vai trò của doanh nghiệp – là những chủ thể kinh doanh thương mại chủ yếucủa nền kinh tế, việc ban hành một nền tảng pháp luật vững chắc cho doanh nghiệpchính là cách thức tốt nhất để có thể cải thiện hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, từ
đó cải thiện nền kinh tế – xã hội của Việt Nam Có thể nói, sự ra đời của Luật Doanhnghiệp năm 2005 đã đáp ứng một số yêu cầu quan trọng của việc hoàn thiện pháp luật
về doanh nghiệp nói trên Kể từ khi có Luật Doanh nghiệp 2005, Chính phủ đã banhành các nghị định hướng dẫn thi hành trong các lĩnh vực cụ thể như đăng ký kinhdoanh, ngành nghề kinh doanh có điều kiện, vốn pháp định… Tuy nhiên, trong quátrình thực hiện, ở một số văn bản hướng dẫn vẫn còn một vài vấn đề vướng mắc, gâykhó khăn cho các doanh nghiệp và các nhà đầu tư trong việc bảo vệ quyền lợi hợppháp của mình, trong đó Nghị định 43/2010/NĐ-CP ban hành ngày 15/4/2010 về đăng
kí doanh nghiệp và Nghị định 102/2010/NĐ-CP ban hành ngày 01/10/2010 hướng dẫnthi hành Luật Doanh nghiệp là một trong những ví dụ điển hình Có thể nói, Nghị định43/2010/NĐ-CP và Nghị định 102/2010/NĐ-CP đã giải quyết được hầu hết các vấn đềcòn chưa rõ và gây nhiều tranh cãi trong Luật Doanh nghiệp 2005, tuy nhiên, khinghiên cứu nội dung của hai Nghị định này, chúng tôi nhận thấy vẫn còn một số quyđịnh mâu thuẫn với Luật Doanh nghiệp 2005, gây khó khăn trong việc lựa chọn luật ápdụng và chưa thực sự phù hợp với đặc thù của từng loại hình doanh nghiệp, đặc biệt làvấn đề về quy định pháp luật khi chuyển đổi loại hình doanh nghiệp chưa rõ ràng trong
bộ luật này Trước nhu cầu đổi mới của các công ty hiện nay, Nhà nước phải có mộtkhung pháp lý hoàn chỉnh để điều chỉnh các quan hệ đa dạng và phức tạp liên quanđến các hoạt động của doanh nghiệp Sau một quá trình tiếp thu và học hỏi kinhnghiệm từ các quốc gia đi trước và nhằm hoàn thiện các quy định cũ, Quốc hội nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật doanh nghiệp 2014 thay thế
Trang 15cho Luật doanh nghiệp 2005, trong đó có rất nhiều thay đổi trong các quy định điềuchỉnh hoạt động chuyển đổi loại hình doanh nghiệp của các công ty.
Như vậy, việc ban hành pháp luật về chuyển đổi loại hình doanh nghiệp là điềutất yếu, vừa đáp ứng những yêu cầu thực tiễn đặt ra, vừa đáp ứng yêu cầu về mặt pháp
lý Một quốc gia phát triển cần có hệ thống pháp luật điều chỉnh đầy đủ về nhiều mặt,đặc biệt trong kinh tế, có như vậy khi tham gia giao lưu, hợp tác, liên kết với các nướctrên thế giới chúng ta cũng có cơ sở pháp luật quốc gia để đảm đảm bảo sự công bằnggiữa các hệ thống pháp luật
1.2.2 Nội dung các quy định pháp luật về chuyển đổi công ty TNHH một thành viên sang công ty TNHH hai thành viên trở lên
1.2.2.1 Các trường hợp thực hiện việc chuyển đổi công ty TNHH một thành viên thành công ty TNHH hai thành viên trở lên
Với những quy định về quyền của doanh nghiệp được phép chuyển đổi hình thứcpháp luật của mình, pháp luật Việt Nam đã đi theo hướng tạo điều kiện thuận lợi chodoanh nghiệp trong việc thực hiện tốt hơn những hoạt động của mình Khi nguồn lực
về vốn, lao động, cơ sở vật chất, kỹ thuật của doanh nghiệp có thay đổi, doanh nghiệp
có thể thực hiện chuyển đổi loại hình để phù hợp hơn với những điều kiện mới, tạohiệu quả cao trong kinh doanh Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh khốcliệt như ngày nay, thì việc công ty luôn phải chuyển mình để có thể đứng vững trên thịtrường là việc tất yếu Do vậy, việc các chủ sở hữu muốn kêu gọi thêm vốn hoặc muốnhuy động thêm nhân lực để cùng sở hữu công ty là việc phổ biến hiện nay Để chuyểnđổi loại hình doanh nghiệp từ công ty TNHH một thành viên sang công ty TNHH haithành viên trở lên thì các chủ sở hữu có thể lựa chọn các cách như : Chuyển nhượnghoặc cho tặng một phần vốn của mình cho một hoặc một số cá nhân, tổ chức khác;Hoặc có thể huy động thêm vốn góp từ một hoặc một số cá nhân, tổ chức khác; Hoặc
là có thể kết hợp cả hai phương thức trên
1.2.2.2 Thủ tục chuyển đổi công ty TNHH một thành viên thành công ty TNHH hai thành viên trở lên
a Hồ sơ chuyển đổi gồm có:
Theo quy định tại điều 25 Nghị định 78/2015/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệpthì khi chuyển đổi công ty TNHH một thành viên sang công ty TNHH hai thành viêntrở lên thì hồ sơ đăng ký chuyển đổi bao gồm:
- Giấy đề nghị thành lập doanh nghiệp công ty TNHH hai thành viên trở lên
- Điều lệ công ty chuyển đổi theo quy định tại Điều 25 Luật Doanh nghiệp.
- Danh sách thành viên theo mẫu do Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành và các giấy tờkèm theo:
Trang 16Đối với trường hợp thành viên là cá nhân : bản sao hợp lệ một trong các giấy tờchứng thực cá nhân của các thành viên công ty.
Đối với trường hợp thành viên công ty là tổ chức: bản sao Giấy chứng nhận đăng
ký kinh doanh hoặc Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
- Hợp đồng chuyển nhượng hoặc giấy tờ xác nhận việc tặng cho một phần quyền
sở hữu của công ty đối với trường hợp chủ sở hữu công ty chuyển nhượng, tặng chomột phần sở hữu của mình tại công ty cho một hoặc một số cá nhân, tổ chức khác
- Quyết định của chủ sở hữu công ty về việc huy động thêm vốn góp đối với trườnghợp công ty huy động thêm vốn góp từ một hoặc một số cá nhân, tổ chức khác
b Trình tự thực hiện chuyển đổi:
Căn cứ theo Điều 25 quy định về Hồ sơ đăng ký doanh nghiệp đối với các trườnghợp chuyển đổi doanh nghiệp trong nghị định 78/2015/NĐ-CP về Đăng ký kinh doanhcông ty thì trình tự thực hiện chuyển đổi công ty TNHH một thành viên thành công ty
TNHH hai thành viên trở lên lần lượt như sau
Bước một, chủ sở hữu Công ty TNHH một thành viên sẽ đưa ra quyết định về
việc chuyển nhượng vốn hoặc huy động thêm vốn góp
Bước hai, lập hồ sơ theo quy định về việc chuyển đổi thành Công ty TNHH hai
thành viên trở lên Các thành viên sẽ thỏa thuận về việc xây dựng Điều lệ công ty.Bước ba, nộp hồ sơ và đăng ký chuyển đổi doanh nghiệp tại Sở kế hoạch Đầu tưnơi Công ty TNHH một thành viên đặt trụ sở
Bước bốn, khắc và công bố mẫu dấu của Công ty chuyển đổi
Bước năm, công ty thực hiện đăng bố cáo theo quy định của pháp luật
Hồ sơ chuyển đổi doanh nghiệp được nộp tại Phòng đăng kí kinh doanh – Sở kếhoạch đầu tư tỉnh/ thành phố Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơchuyển đổi, Phòng đăng kí kinh doanh sẽ cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệpmới
1.2.2.3 Hậu quả pháp lý của việc chuyển đổi công ty TNHH một thành viên sang công ty TNHH hai thành viên trở lên
Sau khi đã thực hiện đầy đủ các thủ tục hợp lệ thì công ty có thể chuyển đổi loạihình từ công ty TNHH một thành viên sang công ty TNHH hai thành viên trở lên Khi
đã được chấp nhận hồ sơ và chuyển đổi loại hình thành công thì sẽ dẫn đến những hậuquả pháp lý sau:
Khi đăng ký chuyển đổi loại hình doanh nghiệp, doanh nghiệp được tự chọn mẫudấu và số lượng Trong quá trình Công ty TNHH một thành chuyển đổi loại hình sangcông ty TNHH hai thành viên trở lên mà không đổi tên công ty và không thay đổi địachỉ trụ sở khác quận thì không phải làm thủ tục thay đổi lại con dấu Trong trường hợpthay đổi con dấu, sau khi khắc dấu pháp nhân với đơn vi khắc dấu doanh nghiệp phải
Trang 17thực hiện thủ tục đăng ký mẫu dấu và công bố mẫu dấu lên Cổng thông tin quốc gia vềđăng ký doanh nghiệp.
Sau khi thay đổi đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp phải công bố thông tin thayđổi trên cổng thông tin doanh nghiệp quốc gia trong vòng 30 ngày kể từ ngày thay đổi.Quy định này giúp cho doanh nghiệp có thể cập nhật được thông tin về doanh nghiệpcủa mình nhanh chóng và giúp cho khách kịp nắm bắt thông tin về doanh nghiệp củamình
Khi chuyển đổi công ty TNHH một thành viên sang công ty TNHH hai thànhviên trở lên sẽ không thể hiện các thông tin về địa điểm kinh doanh, chi nhánh, Vănphòng đại diện cũ trên Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Hiện nay đối với cácthông tin về về địa điểm kinh doanh, chi nhánh, Văn phòng đại diện cũ chỉ thể hiệntrên hệ thống đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế mà không thể hiện trên giấy tờ pháp
lý cấp cho doanh nghiệp và hiện cũng chưa có quy định xác nhận các thông tin cũ này.Công ty chuyển đổi đương nhiên sẽ kế thừa toàn bộ các quyền và lợi ích hợppháp, chịu trách nhiệm về các khoản nợ, gồm cả nợ thuế, hợp đồng lao động và cácnghĩa vụ khác của công ty được chuyển đổi
1.3 Yêu cầu của pháp luật về chuyển đổi công ty từ TNHH một thành viên sang công ty TNHH hai thành viên trở lên
1.3.1 Đảm bảo tính minh bạch
Theo cách nói thông thường, “minh bạch” được hiểu là sự rõ ràng, rành mạch đểcho mọi người đều có thể hiểu được Vậy tính minh bạch của văn bản quy phạm phápluật có thể hiểu là nội dung của văn bản đó được viết ra thì tất cả mọi người đều có thểnắm bắt được Như vậy, có thể nói rằng minh bạch là một nguyên tắc cơ bản của phápluật nói chung và hệ thống các VBQPPL nói riêng
Từ những phân tích trên có thể thấy rằng một hệ thống văn bản quy phạm phápluật sẽ được xem là đảm bảo yêu cầu minh bạch nếu các quy định trong VBQPPL ấyđảm bảo tính rõ ràng, rành mạch, dễ hiểu, đồng thời các văn bản quy phạm pháp luật
đó phải được công khai cho mọi người cùng biết và nắm bắt được các quyền và nghĩa
vụ của mình để tuân thủ nghiêm túc và thực hiện theo các quy định của các văn bảnquy phạm pháp luật
Nội dung cơ bản của việc đảm bảo tính công khai, minh bạch trong hệ thốngVBQPPL bao gồm: công khai, minh bạch trong giai đoạn lập chương trình xây dựngvăn bản quy phạm pháp luật; công khai, minh bạch trong giai đoạn soạn thảo văn bảnquy phạm pháp luật; công khai, minh bạch trong giai đoạn thẩm tra, thẩm định dự thảovăn bản quy phạm pháp luật; công khai, minh bạch trong giai đoạn xem xét, thông qua
dự thảo văn bản quy phạm pháp luật; công khai, minh bạch trong giai đoạn công bố
Trang 181.3.2 Đảm bảo tính khả thi
“Khả thi” theo nghĩa trong từ điển Tiếng Việt có nghĩa là khả năng thực hiện.Như vậy, một văn bản pháp luật có tính khả thi là một văn bản pháp luật có khả năngthực hiện trên thực tế hay nói cách khác là những quy định của văn bản pháp luật đó
có khả năng đi vào cuộc sống mà không chỉ dừng lại trên giấy bút Việc đảm bảo tínhkhả thi của văn bản pháp luật là một yêu cầu rất quan trọng được đặt ra trong suốt quátrình xây dựng văn bản Tại khoản 3, Điều 36 Luật ban hành văn bản pháp luật quy
định: “Tính khả thi của dự thảo văn bản, bao gồm sự phù hợp giữa quy định của dự
thảo văn bản với yêu cầu thực tế, trình độ phát triển của xã hội và điều kiện để đảm bảo thực hiện” Quy định này là hợp lý và cần thiết để những quy định của pháp luật
đi vào cuộc sống Nếu văn bản phản ánh chính xác, kịp thời những vấn đề đặt ra từthực tiễn , chứa đựng những nội dung phù hợp với các điều kiện phát triển kinh tế - xãhội góp phần thúc đẩy, tạo điều kiện cho kinh tế phát triển Từ đó, ta có thể thấy rõ tầmquan trọng của tính khả thi của văn bản quy phạm pháp luật Rõ ràng, một văn bảnpháp luật hoàn toàn đúng trên lí thuyết, với những quy định đầy đủ, có tính thống nhấtvới nhau cũng sẽ không có ý nghĩa gì nếu nó không mang tính khả thi, Tính khả thi làyếu tố “cần” trong văn bản pháp luật
1.3.3 Đảm bảo tính hợp hiến
Hợp hiến là “đúng với quy định của hiến pháp” Theo đó, tính hợp hiến củaVBQPPL được hiểu là: mọi văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan, cá nhân cóthẩm quyền ban hành phải phù hợp với hiến pháp
Theo Điều 46 Hiến pháp 1992: “Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam là luật cơ bản của nhà nước và có hiệu lực pháp lý cao nhất, mọi văn bản phải phù hợp với hiến pháp” Vì là luật cơ bản của nhà nước nên ngôn ngữ của hiến pháp
thường cô đọng, xúc tích, mang tính định hướng, hiến pháp quy định những nguyêntắc cơ bản về chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ, cácquyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các
cơ quan nhà nước Để đảm bảo nguyên tắc hiến pháp là luật cơ bản, có tính pháp lýcao nhất thì các văn bản pháp luật nói chung và VBQPPL luật nói riêng được tất cả các
cơ quan, cá nhân có thẩm quyền ban hành phải phù hợp với hiến pháp, hay nói cáchkhác là phải đảm bảo tính hợp hiến
Tính hợp hiến được biểu hiện qua những điểm cơ bản đó là:
Thứ nhất, các VBQPPL không được trái với các quy định cụ thể của hiến pháp.
Để đảm bảo VBQPPL luật không trái với các quy định của hiến pháp thì cơ quan soạnthảo văn bản phải nắm rõ và hiểu đúng các quy định cụ thể của hiến pháp liên quan tớilĩnh vực điều chỉnh của văn bản đang soạn thảo Tuy nhiên, các quy định của hiếnpháp có thể đươc chia ra làm hai loại: những quy định có giá trị thi hành trực tiếp và
Trang 19những quy định có giá trị thi hành gián tiếp thông qua các đạo luật cụ thể Ví dụ,nguyên tắc “mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật” được quy định trong Điều
52 Hiến pháp 1992 có giá trị thi hành trực tiếp và bất kỳ văn bản pháp luật nào dướihiến pháp đều phải đảm bảo rằng không có sự phân biệt đối xử với công dân trướcpháp luật, trong khi quy định khác của hiến pháp về quyền tự do đi lại và cư trú (Điều
68 Hiến pháp 1992) thì đươc coi là quy định có giá trị thi hành gián tiếp bởi lẽ quyền
tự do đi lại và cư trú mà hiến pháp quy định là tự do theo quy định của pháp luật Điềunày có nghĩa là hiến pháp giao cho Quốc hội và các cơ quan có thẩm quyền khác banhành các đạo luật và các VBQPPL dưới luật quy định về quyền tự do đi lại và cư trúcủa công dân ở mức độ nào, thông qua hình thức nào và phải tuân thủ các thủ tục nào
Thứ hai, VBQPPL phải phù hợp với tinh thần của hiến pháp Đây là việc không
hề đơn giản vì không dễ dàng hiểu tinh thần của hiến pháp nhưn thế nào Tuy nhiên,nếu chỉ quy định rằng văn bản quy phạm pháp luật chỉ cần không trái với các quy địnhcủa hiến pháp (điều khoản cụ thể của hiến pháp) thì chưa đủ Thực tế ban hành và ápdụng pháp luật từ trước tới nay thường có xu hướng đối chiếu áp dụng các điều khoản
cụ thể của văn bản pháp luật chứ chưa chú trọng đến các nguyên tắc chung được quyđịnh ở Lời nói đầu hoặc ở phần những quy định chung của VBQPPL, do đó việc hiểu
và áp dụng pháp luật nhiều khi mang tính máy móc, câu chữ và không có tính thốngnhất
1.3.4 Đảm bảo tính hiệu quả
Hiệu quả của văn bản quy phạm pháp luật là kết quả của sự tác động của văn bảnquy phạm pháp luật đến các quan hệ xã hội so với các yêu cầu, mục tiêu đã đề ra khiban hành văn bản đó Hiệu quả của một văn bản quy phạm pháp luật là kết quả của sựtương tác giữa pháp luật và xã hội, là những gì mà văn bản pháp luật đó đem lại đượccho xã hội, bởi chức năng chính của pháp luật là điều chỉnh các quan hệ xã hội Phápluật hướng cho các chủ thể sống và làm việc một cách hợp tác với nhau, để cùng nhauđạt được những gì họ muốn, vì lợi ích của tất cả thành viên trong xã hội Ý nghĩa của
sự tồn tại một văn bản quy phạm pháp luật giờ đây còn được xem xét ở một góc độkhác, đó là tính hiệu quả, là kết quả của sự tác động của các quy phạm pháp luật đếncác quan hệ xã hội được điều chỉnh, đến các đối tượng được áp dụng Xu hướng trênxuất phát từ học thuyết về tính kinh tế của pháp luật được các học giả Hoa Kỳ pháttriển trong những năm 70 của thế kỷ XX Như vậy, hiệu quả của văn bản quy phạmpháp luật chính là tiêu chí cần thiết để đánh giá ý nghĩa của sự tồn tại hay giá trị củavăn bản đó Giá trị của một văn bản quy phạm pháp luật được đánh giá qua những tácđộng cụ thể của nó vào thực tiễn các quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh và những tácđộng này được xem xét trong mối tương quan với các mục tiêu đặt ra cho văn bản
Trang 20Xuất phát từ đó, nhận thấy việc ban hành pháp luật về chuyển đổi hình thứcdoanh nghiệp từ công ty TNHH một thành viên thành công ty TNHH hai thành trở lên
là sự cần thiết để phù hợp với nền kinh tế thị trường như hiện nay và nhằm giải quyếtđược những nhu cầu phát triển của các doanh nghiệp Từ đó giúp cho nền kinh tế nước
ta ngày một lớn mạnh, việc kinh doanh trở nên linh hoạt hơn, đem lại nhiều lợi ích chocác cá nhân nói riêng và nhà nước nói chung Bởi vậy, các quy định của pháp luật vềđiều chỉnh hoạt động chuyển đổi công ty TNHH một thành viên sang công ty TNHHhai thành viên trở lên cũng phải đảm bảo được tính hiệu quả của pháp luật
Trang 212.1.1 Tổng quan tình hình về thực hiện pháp luật đối với hoạt động chuyển đổi công ty TNHH một thành viên thành công ty TNHH hai thanh viên trở lên
Công ty Luật Trí Nam với tiền thân là công ty TNHH Luật Trí Nam thành lậpnăm 2012 đã được Sở tư pháp thành phố Hà Nội cấp giấy phép hoạt động chính thứccác lĩnh vực tư vấn và đại diện pháp lý Được hình thành và phát triển trên sự tâmhuyết của Luật sư Đào Ngọc Sơn và các cộng sự, với các luật sư hơn 10 năm kinhnghiệm trong lĩnh vực tư vấn và thực hiện dịch vụ pháp lý, cùng với chuyên viên pháp
lý có kiến thức chuyên sâu, tâm huyết với nghề và tận tụy với khách hàng, nhận được
sự tín nhiệm của rất nhiều khách hàng trong và ngoài nước Các lĩnh vực hoạt độngcủa công ty trong nhiều năm qua:
Dịch vụ tư vấn doanh nghiệp vốn trong nước và nước ngoài: Doanh nghiệp
vốn trong nước (Thành lập doanh nghiệp; thay đổi, điều chỉnh hoạt động doanh nghiệptrong nước (tăng, giảm vốn điều lệ, thay đổi thành viên, lập chi nhánh, văn phòng đạidiện, địa điểm kinh doanh…); Doanh nghiệp vốn nước ngoài (Thủ tục đăng ký đầu tư,Điều chỉnh nội dung đăng ký đầu tư -100% vốn nước ngoài hoặc liên doanh); Tư vấnpháp luật thường xuyên cho doanh nghiệp
Tư vấn hỗ trợ và xin cấp các loại giấy phép con trong lĩnh vực kinh doanh cóđiều kiện
Dịch vụ hỗ trợ giấy phép cho người nước ngoài
Tham gia bảo vệ, bào chữa tại tòa án (các vụ án tranh chấp Dân sự (Hônnhân-Gia đình, Ly hôn (Thuận tình, đơn phương ly hôn; kết hôn, ly hôn có yếu tố nướcngoài; phân chia tài sản do ly hôn; quyền nuôi con; nhận cha, mẹ, con; cấp dưỡng;tranh chấp tài sản riêng, chung của vợ chồng);
Các dịch vụ tư vấn, soạn thảo các loại hợp đồng, văn bản kinh doanh, thươngmại, dân sự, văn bản tố tụng v.v…
Công ty cũng là đối tác kinh doanh, có mối quan hệ chặt chẽ với nhiều doanhnghiệp có uy tín hàng đầu thế giới và Việt Nam Với tư cách là công ty tư vấn luật chonhững doanh nghiệp nổi tiếng như Đức Việt, Starr Fork Việt Nam, Huyndai DNIVINA,… Công ty cung cấp đến cho khách hàng những dịch vụ pháp lý tận tình, chất
Trang 22Hiện nay, Công ty đang là trên đà phát triển, được nhiều doanh nghiệp lớn nhỏtin tưởng, nên việc sử dụng các quy định pháp luật điều chỉnh về hoạt động tư vấnpháp luật nói chung và hoạt động chuyển đổi loại hình doanh nghiệp nói riêng là rấtcần thiết Trong bốn nguồn doanh thu chính của công ty, bao gồm: doanh thu cung cấpdịch vụ tư vấn, doanh thu hoạt động tài chính, doanh thu cung cấp dịch vụ pháp lý vềvấn đề chuyển đổi loại hình doanh nghiệp đem lại lợi nhuận khá cao.
Thực tiễn thực hiện về vấn đề tư vấn và chuyển đổi loại hình doanh nghiệp thựchiện khá tốt tại Công ty, giữa Công ty và các khách hàng không gặp nhiều khó khăntrong việc tư vấn và thực hiện thủ tục chuyển đổi Đây cũng là một điểm thuận lợi choCông ty khi nhận được sự tín nhiệm và luôn hoạt động theo đúng quy định của phápluật Là một công ty hoạt động gần 10 năm, với kinh doanh và các mối quan hệ hợptác của mình, Công ty luôn thực hiện tốt vai trò và chức năng tư vấn, hỗ trợ pháp lýcủa mình một cách đầy đủ và có trách nhiệm
2.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động chuyển đổi công ty TNHH một thành viên thành công ty TNHH hai thành viên trở lên
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung do nhà nước ban hành và bảo đảmthực hiện dùng để điều chỉnh các quan hệ xã hội, vì lợi ích của giai cấp thống trị và vì
sự phát triển của toàn xã hội Pháp luật về doanh nghiệp đối với hoạt động chuyển đổiloại hình doanh nghiệp là hệ thống những quy định do nhà nước ban hành để điềuchỉnh các quá trình chuyển đổi, thủ tục chuyển đổi loại hình doanh nghiệp, để bảo vệquyền và lợi ích của doanh nghiệp và vì sự phát triển của toàn xã hội Pháp luật ViệtNam hiện nay chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố khác nhau Do đó khi xây dựng hệthống pháp luật nói chúng và hệ thống pháp luật về chuyển đổi công ty TNHH mộtthành viên thành công ty TNHH hai thành viên trở lên nói riêng, chúng ta cần phải cócái nhìn toàn diện, tổng thể về các nhân tố ảnh hưởng đến nội dung pháp luật, đồngthời phải có quan điểm lịch sử cụ thể trong công tác nghiên cứu pháp luật, nắm bắt kịpthời sự vận động, phát triển của kinh tế xã hội để tiến hành sửa đổi, hoàn thiện hệthống pháp luật Như vậy thì pháp luật mới phát huy hết vai trò, tác dụng của mình, làđộng lực để thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội, nâng cao đời sống văn minh conngười Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động chuyển đổi công ty TNHH một thànhviên thành công ty TNHH hai thành viên trở lên cụ thể là:
Yếu tố về điều kiện, tình hình kinh tế - xã hội: Kinh tế - xã hội phát triển là động
lực thúc đẩy hoạt động kinh doanh của Công ty, mở rộng được khách hàng Nhưngmỗi sự thay đổi chuyển động về tình hình kinh tế - xã hội đều có thể ảnh hưởng đếnquá trình hật động của doanh nghiệp Môi trường kinh doanh thuận lợi, nhiều doanhnghiệp mới thành lập, tuy nhiên doanh nghiệp luôn phải làm mới mình, linh hoạt trongcác lĩnh vực kinh doanh dẫn đến nhu cầu chuyển đổi loại hình doanh nghiệp là tất yếu
Trang 23Thêm vào đó, tình hình nền kinh tế càng có nhiều biến động hệ thống pháp luật điềuchỉnh về doanh nghiệp càng phả linh hoạt hơn, nếu vẫn giữ những quy định pháp luật
cũ mà không sửa đổi sẽ dẫn đến việc những doanh nghiệp có thể phá sản khi khônghuy động được vốn Điều này có thể gây ra thiệt hại cho doanh nghiệp cũng như chonền kinh tế nhà nước
Yếu tố về chính sách của Đảng và Nhà nước: Đường lối chính sách của Đảng
định ra mục tiêu và phương hướng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong mộtgiai đoạn nhất định, định ra những phương pháp cách thức cơ bản để có thể thực hiệnnhững mục tiêu và phương hướng đó Những mục tiêu, phương hướng, phương pháp
và cách thức đó sẽ được nhà nước thể chế hóa thành pháp luật và tổ chức thực hiệntrong thực tế Vì thế đường lối chính sách của Đảng là một trong những yếu tố có sứcảnh hưởng lớn nhất đến nội dung của pháp luật Nội dung các quy định trong tất cả cácvăn bản quy phạm pháp luật, từ hiến pháp, luật cho đến các văn bản dưới luật đều phảiphù hợp, không được trái với đường lối, chính sách của Đảng Những năm qua, nhìnchung có thể thấy hệ thống pháp luật phản ánh khá trung thành và toàn diện đường lốichính sách của Đảng Tuy nhiên, trên thực tế vẫn còn tồn tại một số quyết định củapháp luật không hoàn toàn phù hợp với quan điểm, đường lối chính sách của Đảng quacác nghị quyết chỉ thị gây ra một số hạn chế nhất định
Yếu tố về kỹ thuật lập pháp: Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật của nước
ta những năm gần đây đã có nhiều bước tiến quan trọng, phần nào đáp ứng đượcnhững yêu cầu đặt ra của tình hình kinh tế, tuy nhiên, các quy định pháp luật của Nước
ta vẫn thiếu tính bao quát, dự trù cho các tình huống trong tương lai xảy ra Đối vớicác quy định về hoạt động của doanh nghiệp cụ thể theo Luật doanh nghiệp 2014 đã cónhiều ưu điểm hơn so với Luật doanh nghiệp 2005 về một số quy định như mở rộnghơn các trường hợp chuyển đổi loại hình doanh nghiệp, quy định về thủ tục đăng kídoanh nghiệp gọn nhẹ hơn, thủ tục khi đăng ký chuyển đổi loại hình kinh doanh cũngnhanh chóng và thuận tiện hơn,… Công ty luôn cập nhật pháp luật nhanh chóng nên đãđược áp dụng Luật doanh nghiệp 2014 vào hoạt động tư vấn của mình, chính vì thế sovới các quy định về chuyển đổi loại hình doanh nghiệp theo Luật doanh nghiệp 2005gặp nhiều thuận lợi hơn
Yếu tố về hệ thống pháp luật: Hoạt động của doanh nghiệp nói chung và hoạt
động chuyển đổi công ty TNHH một thành viên thành công ty TNHH hai thành viênnói riêng nói riêng không có một VBQPPL nào quy định rõ về hình thức chuyển đổi,đặc điểm của hoạt động chuyển đổi này, hay quyền và lợi ích của chủ sở hữu sau khichuyển đổi loại hình doanh nghiệp… Tuy nhiên, cả Bộ Luật dân sự 2015 và Luậtdoanh nghiệp 2005 cũng không có quy định cụ thể nào về hoạt động chuyển đổi này