CHỦ ĐỀ: NHÀ NƯỚC CÓ NÊN TÀI TRỢ GIÁO DỤC CHO MỌI NGÀNH. I, Trình bày quan điểm: Theo quan điểm của nhóm, nhà nước không nên tài trợ giáo dục cho mọi ngành bởi rất nhiều 5 lý do sau đây: 1.Ngân sách nhà nước không đủ để hỗ trợ cho giáo dục đại học tất cả các ngành: Tài trợ giáo dục đại học phải phụ thuộc vào mức độ phát triển kinh tế của một quốc gia. Hiện nay Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, với thu nhập bình quân đầu người đạt mức trung bình. Trong khi đó so với các nước trong khu vực, tỷ lệ chi tiêu công cho giáo dục trên GDP của Việt Nam cao hơn hẳn nhiều nước trong khu vực, tổng chi cho giáo dục hiện nay chiếm xấp xỉ 5% GDP (chi tiêu cho giáo dục đại học chiếm xấp xỉ 2% GDP). Thậm chí mức chi tiêu này còn cao hơn hẳn so với nhiều nước có trình độ phát triển kinh tế cao hơn, chẳng hạn như Singapore, tổng chi cho GD của Singapore hiện nay xấp xỉ 3,2%, Malaysia xấp xỉ 5%, Thái Lan 3,8%. Tuy nhiên với mức chi cho GD cao như vậy, Việt Nam hiện vẫn chưa có trường đại học nào lọt Top 50, 100 trường đại học tốt nhất châu Á cũng như thế giới, trong khi đó Singapore có 2 trường đại học lọt top 50 thế giới là Đại học quốc gia Singapore và Đại học công nghệ Nanyang. Malaysia có 5 trường đại học thuộc top 50 trường đại học tốt nhất khu vực châu Á. Trong giai đoạn 19932010 số lượng sinh viên ĐH của Việt Nam tăng rất nhanh và phần nhiều ngân sách GDĐH được chi dùng cho đào tạo, mở rộng quy mô chứ không phải cho nghiên cứu trong khi đó năng suất nghiên cứu của Việt Nam thấp hơn nhiều so với Thái Lan (Thái Lan là một quốc gia có chi ngân sách cho giáo dục đại học thấp hơn Việt Nam). Tốc độ tăng tài trợ công không theo kịp tốc độ gia tăng số lượng sinh viên, tốc độ gia tăng các ngành học và điều này làm cho ngân sách nhà nước chi cho 1 sv bị giảm xuống. Minh chứng đó là năm học 20162017 số lượng sinh viên đại học đã tăng thêm 0.8% so với năm học trước. Trong khi đó tính từ đầu năm 2016 đến cuối năm 2017, số lượng ngành mở mới ở trình độ đại học là 184 ngành. Trong điều kiện ngân sách có hạn, chính phủ cần chi tiêu đầu tư cho nhiều ngành, lĩnh vực quan trọng khác như y tế, quốc phòng, an sinh xã hội. Với mức sinh viên, ngành học ngày càng tăng nhanh hiện nay, ngân sách Việt Nam không thể tài trợ cho tất cả các ngành tại bậc Đại học. Đồng thời khi so sánh về mức chi tiêu và hiệu quả chi tiêu cho GDĐH với các quốc gia trong khu vực trên, có thể thấy rằng nếu chỉ giữ mức chi tiêu cho giáo dục cao mà không quan tâm tới các yếu tố khác như chất lượng giáo dục, hiệu quả chi tiêu sẽ không chỉ không mang lại 2. Không đạt được mục đích khuyến khích sinh viên thi và học vào những ngành học mang lại ngoại ứng tích cực cho xã hội nhưng thu nhập cá nhân có thể không cao: Hiện nay có rất nhiều ngành học mà sinh viên không phải đóng học phí như: Sinh viên ngành sư phạm hệ chính quy; người theo học các ngành chuyên môn đặc thù đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, quốc phòng, an ninh theo quy định của Luật Giáo dục đại học. Các ngành chuyên môn đặc thù do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành. Sinh viên được miễn học phí: Sinh viên học chuyên ngành Mác Lê nin và Tư tưởng Hồ Chí Minh; Sinh viên, học viên học một trong các chuyên ngành Lao, Phong, Tâm thần, Giám định pháp Y, Pháp y tâm thần và Giải phẫu bệnh tại các cơ sở đào tạo nhân lực y tế công lập, theo chỉ tiêu đào tạo của Nhà nước; Sinh viên, nghiên cứu sinh học các chuyên ngành trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử.Sinh viên được giảm 70% học phí: Sinh viên học các ngành nghệ thuật truyền thống và đặc thù trong các trường văn hóa nghệ thuật công lập và ngoài công lập. Điểm chung đều cho thấy rằng các ngành học học này đều mang ý nghĩa tích cực trực tiếp đối với sự phát triển an ninh quốc phòng, kinh tế, văn hóa xã hội, tuy nhiên những ngành học này lại có những yêu cầu, đặc điểm khá khó, vì vậy thu hút ít sinh viên hoặc rất khó khăn để có thể đăng ký vào: Yêu cầu đầu vào cao như Quân đội: Nhiều trường không những xét điểm đầu vào cao, mà còn có yêu cầu về sức khỏe, chiều cao, cân nặng đối với từng ngành học. Đầu ra khó đảm bảo: Ngành sư phạm: thừa thiếu giáo viên cục bộ : Theo kết quả thống kê của Bộ GDĐT, cả nước hiện thừa khoảng 27.000 giáo viên bậc THCS nhưng lại thiếu hơn 45.000 giáo viên ở bậc học mầm non. Một số tỉnh có số lượng thừa giáo viên cấp THCS như: Thái Bình thừa 1.224 giáo viên, Phú Thọ thừa 1.191 giáo viên, , Nghệ An thừa 1.742 giáo viên, Quảng Nam thừa 1.096 giáo viên. Nhiều sinh viên sư phạm thất nghiệp do chất lượng đào tạo chưa tốt, chưa chú trọng thực hành, chương trình học chưa đổi mới với thực tế, vì vậy chuyên môn sinh viên còn nhiều bất cập; lương cũng thấp và khó vào biên chế. Các ngành nhạc dân tộc khi tốt nghiệp vào các nhà hát làm việc, số buổi biểu diễn ít, thu nhập bấp bênh. Ngoài ra một số ngành học thư pháp mang tính phức tạp, thậm chí là nguy hiểm nhưng lại rất có ý nghĩa đối với xã hội nhưng lượng sinh viên đăng ký vẫn rất ít như giải phẫu, pháp y, lao… Như vậy, nếu như mọi ngành học đều được nhà nước tài trợ thì những ngành học mang ý nghĩa đáp ứng yêu cầu phát triển văn hóa kinh tế xã hội, quốc phòng, an ninh sẽ càng ngày càng mất thu hút đối với sinh viên, thậm chí nhiều ngành học mặc dù được hỗ trợ học phí đến 70% nhưng vẫn có rất ít sinh viên đăng ký, thậm chí nhiều ngành học còn phải bỏ vì không có sinh viên đăng ký. 3. Đào tạo tràn lan, kém chất lượng trong khi bỏ qua việc học nghề đem lại cơ hội việc làm cao: Các trường chạy theo số lượng đào tạo mà coi nhẹ chất lượng. Hệ quả là một số trường công đua nhau tuyển giảng viên để tăng số lượng theo quy chế của Bộ Giáo dục và Đào tạo mà coi nhẹ chất lượng giảng dạy, để từ đó có điều kiện tuyển số lượng sinh viên mà không quan tâm tới nhu cầu của xã hội và chất lượng đào tạo, dẫn đến lượng sinh viên tốt nghiệp bị thất nghiệp ngày càng cao. Theo truyền thống từ xưa đến nay, tấm bằng Đại học luôn là đích đến mà mỗi người đều hướng tới. Nhiều người cho rằng, không có bằng Đại học thì sẽ không có việc làm “xịn”, không khẳng định được trình độ của bản thân, không được coi trọng dù năng lực, kỹ năng thật sự có cao đến mấy. Chính vì vậy, họ luôn cố hết sức mình để thi đỗ đại học, trường nào cũng được, bằng gì cũng được, miễn là có bằng đại học. Nhưng hiện nay, tỷ lệ thất nghiệp của sinh viên sau khi tốt nghiệp đại học ngày một tăng lên, phần lớn là do sinh viên khi học đại học chỉ có kiến thức lý thuyết mà không trau dồi những kiến thức thực tế, kỹ năng mềm, thậm chí còn không biết mình thích làm gì, mình sẽ làm gì. Nếu như nhà nước tài trợ giáo dục đại học cho mọi ngành thì sẽ tiếp tục làm gia tăng số lượng sinh viên đại học trong khi việc học nghề mang lại công việc tốt, tạo ra số lượng lao động có chuyên môn cao thì lại tiếp tục bị bỏ qua và ít người theo học. Lợi ích khi học nghề: ● Vốn kiến thức chuyên môn thực tế: Ưu điểm phải nhắc đến trước tên của các chương trình học nghề đó là kỹ năng chuyên môn thực tế thành thạo, bởi kiến thức học chủ yếu đi vào thực hành. Sinh viên trực tiếp làm việc với máy móc, công nghệ kỹ thuật, trau dồi và nâng cao tay nghề chuyên môn. Kiến thức không còn là những câu chữ hàn lâm, học đến đâu quên đến đó, mà đã biến thành kỹ năng, tay nghề gắn liền với người học. Học nghề không phải chỉ là sửa chữa đồ điện, ô tô, lắp ráp,… nữa, mà hiện nay, đã có rất nhiều ngành nghề mới, hiện đại hơn, phù hợp với thời buổi công nghệ phát triển như là công nghệ thông tin, thiết kế đồ họa, lập trình,… thay vì những ngành chung chung, “không biết mình học để làm gì” ở trường đại học. Với thời gian đào tạo khá ngắn (khoảng 3 tháng – 3 năm), sinh viên sẽ tiết kiệm được không ít thời gian học hành, sau khi hoàn thành chương trình học đã có thể ngay lập tức xin việc làm với những kỹ năng chuyên môn mà mình có. ● Cơ hội việc làm: Các cơ sở đào tạo nghề hiện nay luôn nắm được nhu cầu thị trường lao động, từ đó có sự kết nối với các doanh nghiệp, mang đến cho sinh viên vốn kiến thức thực tế bổ ích và cơ hội việc làm lớn. Các công ty, doanh nghiệp hiện nay thường đòi hỏi kỹ năng chuyên môn nhiều hơn bằng cấp, do vậy các ứng viên có nhiều kinh nghiệm làm việc và tay nghề chuyên môn cao luôn được đánh giá cao hơn nhiều so với ứng viên mới tốt nghiệp từ trường đại học chỉ có tấm bằng mà không có kinh nghiệm, kỹ năng gì. Sự phát triển của các cơ sở đào tạo nghề ngày nay đang được khẳng định thông qua số lượng qu
Trang 1NHÓM 3
CHỦ ĐỀ: NHÀ NƯỚC CÓ NÊN TÀI TRỢ GIÁO DỤC CHO MỌI
NGÀNH.
I, Trình bày quan điểm:
Theo quan điểm của nhóm, nhà nước không nên tài trợ giáo dục cho mọi ngành bởi rất nhiều 5 lý do sau đây:
1.Ngân sách nhà nước không đủ để hỗ trợ cho giáo dục đại học tất cả các ngành:
Tài trợ giáo dục đại học phải phụ thuộc vào mức độ phát triển kinh tế của một quốc gia Hiện nay Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, với thu nhập bình quân đầu người đạt mức trung bình Trong khi đó so với các nước trong khu vực, tỷ lệ chi tiêu công cho giáo dục trên GDP của Việt Nam cao hơn hẳn nhiều nước trong khu vực, tổng chi cho giáo dục hiện nay chiếm xấp xỉ 5% GDP
(chi tiêu cho giáo dục đại học chiếm xấp xỉ 2% GDP)
Thậm chí mức chi tiêu này còn cao hơn hẳn so với nhiều nước có trình độ phát triển kinh tế cao hơn, chẳng hạn như Singapore, tổng chi cho GD của Singapore hiện nay xấp xỉ 3,2%, Malaysia xấp xỉ 5%, Thái Lan 3,8% Tuy nhiên với mức chi cho GD cao như vậy, Việt Nam hiện vẫn chưa có trường đại học nào lọt Top 50, 100 trường đại học tốt nhất châu Á cũng như thế giới, trong khi đó Singapore có 2 trường đại học lọt top 50 thế giới là Đại học quốc gia Singapore và Đại học công nghệ Nanyang Malaysia có 5 trường đại học thuộc top 50 trường đại học tốt nhất khu vực châu Á Trong giai đoạn 1993-2010 số lượng sinh viên ĐH của Việt Nam tăng rất nhanh
và phần nhiều ngân sách GDĐH được chi dùng cho đào tạo, mở rộng quy mô chứ không phải cho nghiên cứu trong khi đó năng suất nghiên cứu của Việt Nam thấp hơn nhiều so với Thái Lan (Thái Lan là một quốc gia có chi ngân sách cho giáo
dục đại học thấp hơn Việt Nam)
Tốc độ tăng tài trợ công không theo kịp tốc độ gia tăng số lượng sinh viên, tốc độ gia tăng các ngành học và điều này làm cho ngân sách nhà nước chi cho 1
sv bị giảm xuống Minh chứng đó là năm học 2016-2017 số lượng sinh viên đại học
Trang 2đã tăng thêm 0.8% so với năm học trước Trong khi đó tính từ đầu năm 2016 đến cuối năm 2017, số lượng ngành mở mới ở trình độ đại học là 184 ngành
Trong điều kiện ngân sách có hạn, chính phủ cần chi tiêu đầu tư cho nhiều
ngành, lĩnh vực quan trọng khác như y tế, quốc phòng, an sinh xã hội Với mức sinh viên, ngành học ngày càng tăng nhanh hiện nay, ngân sách Việt Nam không thể tài trợ cho tất cả các ngành tại bậc Đại học
Đồng thời khi so sánh về mức chi tiêu và hiệu quả chi tiêu cho GDĐH với các quốc gia trong khu vực trên, có thể thấy rằng nếu chỉ giữ mức chi tiêu cho giáo dục
cao mà không quan tâm tới các yếu tố khác như chất lượng giáo dục, hiệu quả chi tiêu sẽ không chỉ không mang lại
2 Không đạt được mục đích khuyến khích sinh viên thi và học vào những ngành học mang lại ngoại ứng tích cực cho xã hội nhưng thu nhập cá nhân có thể không cao:
Hiện nay có rất nhiều ngành học mà sinh viên không phải đóng học phí như: Sinh viên ngành sư phạm hệ chính quy; người theo học các ngành chuyên môn đặc thù đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh theo quy định của Luật Giáo dục đại học
Các ngành chuyên môn đặc thù do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành
Sinh viên được miễn học phí: Sinh viên học chuyên ngành Mác - Lê nin và Tư tưởng
Hồ Chí Minh; Sinh viên, học viên học một trong các chuyên ngành Lao, Phong, Tâm thần, Giám định pháp Y, Pháp y tâm thần và Giải phẫu bệnh tại các cơ sở đào tạo nhân lực y tế công lập, theo chỉ tiêu đào tạo của Nhà nước; Sinh viên, nghiên cứu sinh học các chuyên ngành trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử.Sinh viên được giảm
70% học phí: Sinh viên học các ngành nghệ thuật truyền thống và đặc thù trong các
trường văn hóa - nghệ thuật công lập và ngoài công lập
Điểm chung đều cho thấy rằng các ngành học học này đều mang ý nghĩa tích
cực trực tiếp đối với sự phát triển an ninh quốc phòng, kinh tế, văn hóa xã hội, tuy nhiên những ngành học này lại có những yêu cầu, đặc điểm khá khó, vì vậy thu hút ít sinh viên hoặc rất khó khăn để có thể đăng ký vào: Yêu cầu đầu vào
Trang 3cao như Quân đội: Nhiều trường không những xét điểm đầu vào cao, mà còn có yêu
cầu về sức khỏe, chiều cao, cân nặng đối với từng ngành học
Đầu ra khó đảm bảo: Ngành sư phạm: thừa thiếu giáo viên cục bộ : Theo kết
quả thống kê của Bộ GD&ĐT, cả nước hiện thừa khoảng 27.000 giáo viên bậc THCS nhưng lại thiếu hơn 45.000 giáo viên ở bậc học mầm non Một số tỉnh có số lượng thừa giáo viên cấp THCS như: Thái Bình thừa 1.224 giáo viên, Phú Thọ thừa 1.191 giáo viên, , Nghệ An thừa 1.742 giáo viên, Quảng Nam thừa 1.096 giáo viên
Nhiều sinh viên sư phạm thất nghiệp do chất lượng đào tạo chưa tốt, chưa chú trọng thực hành, chương trình học chưa đổi mới với thực tế, vì vậy chuyên
môn sinh viên còn nhiều bất cập; lương cũng thấp và khó vào biên chế
Các ngành nhạc dân tộc khi tốt nghiệp vào các nhà hát làm việc, số buổi biểu diễn ít, thu nhập bấp bênh Ngoài ra một số ngành học thư pháp mang tính phức tạp, thậm chí là nguy hiểm nhưng lại rất có ý nghĩa đối với xã hội nhưng
lượng sinh viên đăng ký vẫn rất ít như giải phẫu, pháp y, lao…
Như vậy, nếu như mọi ngành học đều được nhà nước tài trợ thì những ngành học mang ý nghĩa đáp ứng yêu cầu phát triển văn hóa kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh
sẽ càng ngày càng mất thu hút đối với sinh viên, thậm chí nhiều ngành học mặc dù được hỗ trợ học phí đến 70% nhưng vẫn có rất ít sinh viên đăng ký, thậm chí nhiều ngành học còn phải bỏ vì không có sinh viên đăng ký
3 Đào tạo tràn lan, kém chất lượng
trong khi bỏ qua việc học nghề đem lại cơ hội việc làm cao:
Các trường chạy theo số lượng đào tạo mà coi nhẹ chất lượng Hệ quả là một
số trường công đua nhau tuyển giảng viên để tăng số lượng theo quy chế của Bộ Giáo dục và Đào tạo mà coi nhẹ chất lượng giảng dạy, để từ đó có điều kiện tuyển số lượng
sinh viên mà không quan tâm tới nhu cầu của xã hội và chất lượng đào tạo, dẫn đến lượng sinh viên tốt nghiệp bị thất nghiệp ngày càng cao
Theo truyền thống từ xưa đến nay, tấm bằng Đại học luôn là đích đến mà mỗi người đều hướng tới Nhiều người cho rằng, không có bằng Đại học thì sẽ không có việc làm “xịn”, không khẳng định được trình độ của bản thân, không được coi trọng
Trang 4dù năng lực, kỹ năng thật sự có cao đến mấy Chính vì vậy, họ luôn cố hết sức mình
để thi đỗ đại học, trường nào cũng được, bằng gì cũng được, miễn là có bằng đại học
Nhưng hiện nay, tỷ lệ thất nghiệp của sinh viên sau khi tốt nghiệp đại học ngày một tăng lên, phần lớn là do sinh viên khi học đại học chỉ có kiến thức lý thuyết mà không trau dồi những kiến thức thực tế, kỹ năng mềm, thậm chí còn không biết mình thích làm gì, mình sẽ làm gì
Nếu như nhà nước tài trợ giáo dục đại học cho mọi ngành thì sẽ tiếp tục làm gia tăng số lượng sinh viên đại học trong khi việc học nghề mang lại công việc tốt, tạo ra số lượng lao động có chuyên môn cao thì lại tiếp tục bị bỏ qua và ít người theo học.
Lợi ích khi học nghề:
● Vốn kiến thức chuyên môn thực tế:
Ưu điểm phải nhắc đến trước tên của các chương trình học nghề đó là kỹ năng chuyên môn thực tế thành thạo, bởi kiến thức học chủ yếu đi vào thực hành Sinh viên trực tiếp làm việc với máy móc, công nghệ kỹ thuật, trau dồi và nâng cao tay nghề chuyên môn Kiến thức không còn là những câu chữ hàn lâm, học đến đâu quên đến
đó, mà đã biến thành kỹ năng, tay nghề gắn liền với người học
Học nghề không phải chỉ là sửa chữa đồ điện, ô tô, lắp ráp,… nữa, mà hiện nay,
đã có rất nhiều ngành nghề mới, hiện đại hơn, phù hợp với thời buổi công nghệ phát triển như là công nghệ thông tin, thiết kế đồ họa, lập trình,… thay vì những ngành chung chung, “không biết mình học để làm gì” ở trường đại học Với thời gian đào tạo khá ngắn (khoảng 3 tháng – 3 năm), sinh viên sẽ tiết kiệm được không ít thời gian học hành, sau khi hoàn thành chương trình học đã có thể ngay lập tức xin việc làm với những kỹ năng chuyên môn mà mình có
●Cơ hội việc làm:
Các cơ sở đào tạo nghề hiện nay luôn nắm được nhu cầu thị trường lao động, từ
đó có sự kết nối với các doanh nghiệp, mang đến cho sinh viên vốn kiến thức thực tế
bổ ích và cơ hội việc làm lớn Các công ty, doanh nghiệp hiện nay thường đòi hỏi kỹ năng chuyên môn nhiều hơn bằng cấp, do vậy các ứng viên có nhiều kinh nghiệm làm
Trang 5việc và tay nghề chuyên môn cao luôn được đánh giá cao hơn nhiều so với ứng viên mới tốt nghiệp từ trường đại học chỉ có tấm bằng mà không có kinh nghiệm, kỹ năng
gì Sự phát triển của các cơ sở đào tạo nghề ngày nay đang được khẳng định thông qua
số lượng quan tâm không hề nhỏ của cả phụ huynh và học sinh Điểm hấp dẫn nhất ở trường đào tạo nghề đó là cam kết sinh viên có việc ngay sau khi ra trường
● Thu nhập cá nhân:
Phụ huynh luôn lo lắng cho con em mình sau khi học xong sẽ không tìm được một công việc ổn định với mức lương cao, bởi trong họ luôn có mặc niệm rằng bằng cấp cao sẽ được hưởng lương cao hơn và ngược lại
Tuy nhiên thực tế ngày nay, các công ty đánh giá năng lực nhân viên thông qua tay nghề chuyên môn, khả năng làm việc và hiệu quả công việc, từ đó đưa ra mức lương xứng đáng với năng lực của họ
Nếu bạn là người có bằng cấp cao nhưng kỹ năng nghề nghiệp không có, không thể thành thạo trong việc áp dụng lý thuyết vào thực tiễn thì đương nhiên bạn vẫn phải chấp nhận xếp sau những người có tay nghề, kỹ năng chuyên môn vững chắc mà không có bằng cấp cao Việc trả lương hay các phúc lợi cho nhân viên dựa trên khả năng, thực lực của chính nhân viên đó
● Môi trường phát triển thực tế
Không phải học nghề thì không có môi trường để phát triển bản thân Các cơ sở đào tạo nghề hiện nay đã và đang xây dựng theo xu hướng hiện đại hơn, mở rộng hơn, năng động và thiết thực hơn Sinh viên vẫn có thể giao lưu mở rộng mối quan hệ, tham gia hoạt động tập thể, hoạt động tình nguyện, rèn luyện các kỹ năng mềm cho bản thân Sinh viên còn có cơ hội tiếp xúc và làm việc trực tiếp với doanh nghiệp để tích lũy thêm kỹ năng và kiến thức thực tế
4 Lý do: Đầu tư trọng điểm để tăng chất lượng giáo dục:
Lý do: Đầu tư trọng điểm để tăng chất lượng đào tạo Vì sao phải đầu tư trọng điểm: Từ một thực tế, là nguồn lực nhà nước có hạn không thể đạt hiệu quả cao nhất nếu trải đều cho tất cả các ngành như nhau mà không tính đến những nhu cầu và ưu tiên của quốc gia trong từng thời kỳ
Trang 6Hiện nay, Việt Nam đang xây dựng mô hình các trường đại học trọng điểm Trường ĐH trọng điểm là một mô hình tổ chức thể hiện mức độ tập trung về nguồn lực và hỗ trợ về chính sách nhằm thực hiện những mục tiêu ưu tiên của nhà nước Tuy nhiên, từ trước đến nay mô hình trọng điểm này được xem là chỉ áp dụng cho khu vực công vì nó liên quan đến việc sử dụng nguồn ngân sách công Nó được đầu tư cho các trường công lập với mọi ngành nghề một cách dàn trải, không tập trung theo nhu cầu của từng ngành nghề, dẫn đến những ngành trọng điểm được đầu tư kém chất lượng
Những ngành trọng điểm nên được đầu tư:
Ngành Công nghệ thông tin Ngày nay, công nghệ thông tin dần trở thành
ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước, có tỉ lệ đóng góp cho tăng trưởng GDP đất nước ngày càng cao
Tuy nhiên, Theo thống kê của Viện Chiến lược thông tin và truyền thông, trong ngành này chỉ có khoảng 15% lượng sinh viên ra trường đáp ứng được nhu cầu doanh nghiệp Và từ nay đến năm 2020, Việt Nam sẽ thiếu 400.000 nhân lực làm CNTT, tức
là mỗi năm Việt Nam thiếu 80.000 người
Trong khi đó, mỗi năm thị trường chỉ cung cấp 32.000 sinh viên tốt nghiệp CNTT và các ngành có liên quan đến CNTT Điều này cho thấy mức độ phát triển của ngành này vẫn ít nhiều còn hạn chế mà nhu cầu về nhân lực chất lượng cao của ngành thì ngày càng tăng cao
Ngành ngôn ngữ: Trong tình hình hội nhập toàn cầu như hiện nay thì ngôn ngữ
quốc tế, chiếm vị trí rất quan trọng và là một phần không thể thiếu trong trong đời sống kinh tế - xã hội Ngôn ngữ quốc tế, đặc biệt là ngôn ngữ Anh xuất hiện trong nhiều lĩnh vực lĩnh vực như kinh tế đối ngoại, sư phạm ngoại ngữ, marketing, công nghệ thông tin, tài chính ngân hàng,
Nói chung là ngôn ngữ quốc tế hiện nay đã trở thành một phần không thể thiếu, nhất là trong tình hình toàn cầu hóa, quốc tế hóa như hiện nay Thực tế có hàng triệu
cử nhân ra trường mỗi năm nhưng không có kỹ năng quan trọng về ngôn ngữ quốc tế trong công việc Bên cạnh đó, hệ thống giáo dục trong nhiều trường đại học tại Việt Nam chưa đầu tư về cơ sở vật chất, chương trình học và chưa có sự đổi mới, chưa thay
Trang 7đổi phương thức đào tạo chú trọng sinh viên làm trọng tâm, dẫn đến chất lượng sinh viên đầu ra chưa cao
Ngành điện – cơ khí: Quá trình hội nhập quốc tế hiện nay đang đòi hỏi Việt
Nam - một quốc gia thuần nông cũng như nhiều nước trong khu vực phải thúc đẩy phát triển công nghiệp, điện tử Điện và cơ khí đang xuất hiện trong hầu hết các sản phẩm của đời sống xã hội và nó nhu cầu cần thiết không thể thiếu Những sản phẩm
về điện hay những sản phẩm cơ khí ngày càng nhiều Nhiều công ty cơ khí đang thiếu nguồn nhân lực đặc biệt là yêu cầu về ngành này cũng không cao
Các ngành trọng điểm truyền thống: Là những ngành liên quan chặt chẽ đến
các như cầu thiết yếu cho đời sống kinh tế - xã hội của một quốc gia Những ngành này, cần được đầu tư một cách triệt để vì nó đảm bảo cho sự phát triển bền vững, lâu dài của mỗi quốc gia và nhằm nâng cao chất lượng đời sống cho người dân
Ngoài ra còn sư phạm, y dược, kinh tế, công an – Quân đội.
5 Nhiều ngành, nhiều chương trình đào tạo đại học không đáp nhu cầu xã hội
Hiện nay cả nước có 412 trường đại học, cao đẳng tính bình quân mỗi tỉnh, thành phố có khoảng 6,6 trường đại học, cao đẳng; cả nước có khoảng 2,2 triệu sinh viên trong tổng dân số 95 triệu dân; cao hơn cả các quốc gia phát triển.Nhiều ngành,
nhiều chương trình đào tạo đại học không đáp nhu cầu xã hội.
Trang 8Khối ngành I - Khoa học giáo dục và đào tạo giáo viên;
Khối ngành II - Nghệ thuật
Khối ngành III - Kinh doanh và quản lý, Pháp luật
Khối ngành IV - Khoa học sự sống, Khoa học tự nhiên
Khối ngành V - Toán và thống kê, Máy tính và công nghệ thông tin, Công nghệ
kỹ thuật, Kỹ thuật, Sản xuất và chế biến, Kiến trúc và xây dựng, Nông lâm và thủy sản, Thú y
Khối ngành VI - Sức khỏe
Khối ngành VII - Nhân văn, Khoa học xã hội và hành vi, Báo chí và thông tin, Dịch vụ xã hội, Khách sạn-du lịch-thể thao và dịch vụ cá nhân, Dịch vụ vận tải, Môi trường và bảo vệ môi trường, An ninh quốc phòng
Phó giám đốc Trung tâm dự báo nhu cầu nhân lực và Thông tin thi trường lao động TP.HCM, cho biết: "Khoảng cách giữa đào tạo tại các trường ĐH, CĐ so với thực tế nhu cầu sử dụng nhân lực ngành công nghệ thông tin tại doanh nghiệp là quá
Trang 9xa” Theo đánh giá của các nhà tuyển dụng, nguồn nhân lực cho ngành công nghiệp phần mềm hiện nay còn rất thiếu kinh nghiệm và yếu về kiến thức chuyên môn Số sinh viên ra trường làm việc được ngay chỉ chiếm khoảng 30%, còn lại phải đào tạo
bổ sung
Thống kê của Viện Chiến lược công nghệ thông tin cho thấy 72% sinh viên ngành này không có kinh nghiệm thực hành, 42% thiếu kỹ năng làm việc nhóm, 100% không biết lĩnh vực hành nghề Chỉ khoảng 15% sinh viên mới tốt nghiệp đáp ứng yêu cầu doanh nghiệp Hơn 80% lập trình viên phải đào tạo lại…
Về chương trình đào tạo Chương trình đào tạo đại học của các trường đại học thường xây dựng chưa được công phu, chưa đáp ứng nhu cầu của người sử dụng lao động, chưa xuất phát từ điều kiện thực tiễn của nền kinh tế có nhiều biến động Thông thường xây dựng chương trình đào tạo còn mang tính chủ quan, chưa thông qua
kết quả khảo sát, nghiên cứu của các chuyên gia và doanh nghiệp Nhiều trường
đại học sử dụng chương trình còn sao chép của các trường khác, sau đó cắt bớt tỷ lệ %
số tiết theo chủ quan của người xây dựng
Ngày càng nhiều cử nhân ra trường phải rất chật vật mà vẫn khó tìm được việc làm đúng ngành nghề được đào tạo, nhiều người phải làm phụ hồ, vận chuyển
hàng hóa cho các cơ sở kinh doanh, làm công nhân ở khu công nghiệp, làm bảo vệ nhà hàng, vũ trường Thậm chí, có cử nhân bằng giỏi mà vẫn bị nhà tuyển dụng từ chối, phần lớn vì những gì họ tiếp thu trên giảng đường lại khác xa so với những gì nhà tuyển dụng cần ở họ
Ngày càng có nhiều ngành nghề mới, cộng thêm số cử nhân mỗi năm ra trường tăng đều, một vấn đề đã được nói đến khá nhiều nhưng chưa được giải quyết thỏa đáng là sự ồ ạt, dễ dãi khi mở quá nhiều trường đại học và ngành nghề đào tạo song quản lý chưa thật sự tốt, dẫn đến đào tạo đại học chỉ tăng về số lượng mà chất lượng chưa bảo đảm, chưa đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực phục vụ phát triển.Một số
trường ĐH lại mở ngành đào tạo mới không đúng với chuyên ngành đào tạo truyền thống nhằm thu hút sinh viên dẫn đến hiện tượng bão hòa, nhiều sinh viên
tốt nghiệp không xin được việc làm
Trang 10II, Ví dụ Quốc gia tài trợ toàn bộ cho giáo dục: Thụy Điển
1, Đặc điểm về giáo dục tại Thụy Điển
Thụy Điển là một trong số ít quốc gia có nền giáo dục phổ cập và đại học thuộc loại tốt nhất trên thế giới Theo các chuyên gia, thành công này có một phần nguyên nhân bắt nguồn từ chế độ phúc lợi xã hội rất cao của quốc gia này Tuy nhiên, yếu tố chính vẫn phụ thuộc vào những chính sách đúng đắn và hợp lý
2, Giáo dục từ tiểu học đến đại học đều được nhà nước tài trợ hoàn toàn.
Hệ thống giáo dục gồm: 9 năm giáo dục tiểu học và trung học cơ sở; 3 năm giáo dục trung học; 3 năm giáo dục đại học; 1 năm giáo dục thạc sĩ; 4 năm giáo dục tiến sĩ Giáo dục tiểu học và trung học được miễn phí hoàn toàn Chính phủ không chỉ tài trợ cho giáo dục mà còn cả chi phí đi lại, sách giáo khoa và bữa ăn miễn phí
Ở bậc đại học, từ lúc vào học cho đến khi tốt nghiệp, tuy có quy ước số năm học nhất định, nhưng luật pháp quy định nếu học sinh nào tốt nghiệp rồi mà chưa tìm được công việc thích hợp và không muốn rời nhà trưởng thì có thể tiếp tục học tập miễn phí Hầu hết các trưởng đại học và các tổ chức giáo dục sau trung học cũng được điều hành bởi nhà nước và cũng được giáo dục miễn phí Tuy nhiên, ở bậc đại học và cao đẳng, việc ăn uống, sách vở và chi phí đi lại không được nhà nước đài thọ trực tiếp dù tất cả sinh viên đều có thể vay vốn trợ cấp để trang trải chi phí sinh hoạt
Ưu điểm: Công bằng, bình đẳng Mọi người đều có quyền được đi học và lựa
chọn ngành học yêu thích Học sinh, sinh viên sẽ không phải do dự về vấn đề học trường nào để phù hợp với điều kiện hoàn cảnh gia đình mà có thể tự do học ngành theo đam mê của mình Tạo ra nguồn nhân lực có trình độ tay nghề và có tính kỷ
luật trong công việc cao Đời sống người dân cơ bản được đảm bảo, xã hội yên ổn
tạo môi trường thuận lợi cho kinh tế tăng trưởng và phát triển
Nhược điểm:
Chi phí công cho giáo dục cao, đóng góp lớn Vì để tài trợ toàn bộ học phí cho
mọi người thì Nhà nước bắt buộc phải có một nguồn thu lớn từ thuế do người dân