1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam số liệu mới nhất

8 141 3

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 61,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tại Việt Nam, cùng với quá trình hội nhập kinh tế, luồng vốn FDI tăng mạnh và có nhiều tác động tích cực đến nền kinh tế cũng như năng suất lao động của doanh nghiệp trong nước. Thực tiễn cho thấy, quốc gia hoặc vùng lãnh thổ nào thu hút được nhiều nguồn vốn quốc tế và sử dụng nó hiệu quả sẽ có nhiều cơ hội trong tăng trưởng kinh tế, khắc phục tình trạng tụt hậu so với các nước phát triển. Việt Nam được quốc tế đánh giá là một trong những quốc gia thu hút FDI thành công, trở thành điểm đến đầu tư tin cậy, hiệu quả trong mắt các nhà đầu tư nước ngoài. Báo cáo 2017 của Tổ chức Thương mại và Phát triển Liên Hợp quốc đánh giá, Việt Nam nằm trong Top 12 quốc gia thành công nhất về thu hút FDI.

Trang 1

7 Thực trang FDI tại Việt Nam: Lượng tăng, chất chậm đổi (đánh giá của năm 2019)

a Đánh giá chung:

Tại Việt Nam, cùng với quá trình hội nhập kinh tế, luồng vốn FDI tăng mạnh và có nhiều tác động tích cực đến nền kinh tế cũng như năng suất lao động của doanh nghiệp trong nước Thực tiễn cho thấy, quốc gia hoặc vùng lãnh thổ nào thu hút được nhiều nguồn vốn quốc tế và sử dụng

nó hiệu quả sẽ có nhiều cơ hội trong tăng trưởng kinh tế, khắc phục tình trạng tụt hậu so với các nước phát triển

Việt Nam được quốc tế đánh giá là một trong những quốc gia thu hút FDI thành công, trở thành điểm đến đầu tư tin cậy, hiệu quả trong mắt các nhà đầu tư nước ngoài Báo cáo 2017 của Tổ chức Thương mại và Phát triển Liên Hợp quốc đánh giá, Việt Nam nằm trong Top 12 quốc gia thành công nhất về thu hút FDI

b Các quy định về FDI: (một trong những nguyên nhân thu hút FDI)

Việt Nam bắt đầu thu hút FDI từ năm 1977 bằng Điều lệ đầu tư nước ngoài, tiếp theo là Luật đầu

tư nước ngoài được thông qua năm 1987 và liên tục được sửa đổi, bổ sung qua các năm Các nguyên tắc và công cụ điều chỉnh luật tiệm cận dần với thông lệ quốc tế Việt Nam ban hành hàng loạt các chính sách về FDI, tham gia phê chuẩn nhiều hiệp định về FDI (VD: HĐ tránh đánh thuế trùng)…

Luật Đầu tư năm 2014 đã quy định 13 nhóm lĩnh vực và 3 loại địa bàn khuyến khích đầu tư như Nông nghiệp, chế biến nông sản, thủy sản, sản xuất phần mềm và năng lượng tái tạo Các quy định về ưu đãi thu hút FDI được cụ thể hóa tại các văn bản pháp luật

c Trên thực tế:

FDI – khu vực kinh tế có khả năng cạnh tranh cao nhất trong nền kinh tế Việt Nam với tỷ trọng ngày càng tăng lên.

c.1 Số liệu chứng minh

- Về tình hình hoạt động

+ Tính chung 10 năm (từ năm 2009 đến tháng 5/2019), vốn FDI giải ngân qua các năm có chiều hướng tăng, tốc độ tăng bình quân đạt 9%-10%/năm Chỉ tính riêng năm 2018, số vốn được giải ngân đạt gần gấp đôi so với năm 2009, đạt mức 19,1 tỷ USD

- Tình hình xuất, nhập khẩu:

- Theo đối tác đầu tư: 135 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư còn hiệu lực tại Việt

Nam Đứng đầu là Hàn Quốc với 67,71 tỷ USD, chiếm 18,7%; Nhật Bản đứng thứ hai với 59,34

tỷ USD, chiếm 16,4% vốn đăng ký; tiếp theo là Singapore, Đài Loan, Hồng Kông

- Theo địa bàn đầu tư: Đầu tư vào 63 tỉnh, thành phố, tiêu biểu: TP HCM (cao nhất),

Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu, Hà Nội TP Hồ Chí Minh dẫn đầu với 47,34 tỷ USD, chiếm 13,1%; Bình Dương đứng thứ hai với 34,4 tỷ USD, chiếm 9,5% tổng vốn đầu tư; Hà Nội xếp thứ

3 với 34,1 tỷ USD, chiếm 9,4% tổng vốn đăng ký

Tính lũy kế đến ngày 20/12/2019, cả nước có 30.827 dự án còn hiệu lực với vốn đăng ký 362,58 tỷ USD, vốn thực hiện 211,78 tỷ USD, bằng 58,4% vốn đăng ký còn hiệu lực

Trang 2

- Các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 19/21 ngành trong hệ thống phân ngành kinh tế quốc dân trong đó công nghiệp chế tạo với 214,2 tỷ USD, chiếm 59,1%; kinh doanh bất

động sản với 58,4 tỷ USD, chiếm 16,1%; sản xuất, phân phối điện với 23,65 tỷ USD, chiếm 6,5% vốn đăng ký

- Độ mở của nền kinh tế ngày càng lớn, năm 2018, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ so với GDP đạt 208,6%

- Doanh nghiệp FDI VN chiếm tỷ trọng ~82,7%, trong đó GI (đầu tư mới) chiếm 2/3 tổng

số dự án đầu tư

- Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2019 ước đạt 516,96 tỷ USD, trong đó giá trị xuất

khẩu của các DN FDI chiếm hơn 70% giá trị xuất khẩu/ ~54,7% đối với nhập khẩu

c.2 Một số vấn đề khác:

Nhận xét số liệu:

Phân bổ vốn FDI vào các ngành, lĩnh vực kinh tế tiếp tục giữ tỷ trọng như những năm trước.

Trong đó, có một số chuyển dịch tích cực đối với kinh doanh bất động sản do thị trường mở rộng, doanh nghiệp trong nước có tiềm lực mạnh hơn, nên một số nhà đầu tư nước ngoài liên doanh, liên kết chuyển giao công nghệ mới, phương thức kinh doanh mới cho doanh nghiệp trong nước

Hoạt động M&A trở nên sôi nổi trong những năm gần đây, chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong tổng vốn đăng ký: năm 2017 chiếm 17,02%; năm 2018 chiếm 27,78%; năm 2019 chiếm 56,4% Đó là tín hiệu đáng mừng do hai nguyên nhân chính: Thứ nhất, quy mô doanh nghiệp trong nước đã lớn mạnh tạo ra nguồn cung dồi dào cho M&A; Thứ hai, chính sách mở cửa đối với thị trường chứng khoán với chủ trương nới “room” cho nhà đầu tư nước ngoài

Tuy vậy, chất lượng và hiệu quả của FDI năm 2019 chưa đáp ứng được đòi hỏi của đất nước trong quá trình chuyển sang định hướng đổi mới, sáng tạo, khoa học, công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng nền kinh tế số, tham gia cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0

Cụ thể, quy mô trung bình mỗi dự án FDI quá nhỏ Năm 2019, có 3.833 dự án được cấp giấy chứng nhận đầu tư với vốn đăng ký 16,75 tỷ USD, trung bình mỗi dự án chỉ khoảng 4,3 triệu USD vốn đăng ký Một số địa phương còn thu hút cả những dự án 1-2 triệu USD, thậm chí dưới 1 triệu USD Tất nhiên, tùy thuộc vào ngành, lĩnh vực để bàn về quy mô dự án Đối với một

số lĩnh vực dịch vụ, thì không đòi hỏi quy mô lớn, nhưng đối với sản xuất, chế biến, thì cần quan tâm đến quy mô dự án Khi các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước đủ năng lực, các cấp chính quyền nên tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện các dự án đó

Bên cạnh đó, Việt Nam đang thiếu vắng dự án quy mô lớn Nếu năm 2018, có một số dự

án quy mô lớn, như: Thành phố thông minh tại Đông Anh, Hà Nội liên doanh với Nhật Bản 4,14

tỷ USD; Nhà máy sản xuất Polypropylene và kho ngầm chứa dầu mỏ hóa lỏng của Hàn Quốc đầu tư 1,2 tỷ USD tại Bà Rịa - Vũng Tàu, thì năm 2019, dự án có quy mô lớn nhất là 420 triệu USD

Trang 3

Trong ngành chế biến, chế tạo chưa thu hút được dự án công nghệ tương lai, như: AI, blockchain, fintech, trung tâm R&D, nhất là ở hai trung tâm kinh tế lớn Hà Nội và TP Hồ Chí Minh có tiềm lực khoa học và công nghệ lớn, dồi dào về lao động chất lượng cao

Điều chỉnh tăng vốn chủ yếu là của các dự án nhỏ, không có dự án quy mô lớn như năm

2018 (ngoại trừ Công ty TNHH Laguna – Singapore điều chỉnh tăng vốn thêm 1,12 tỷ USD)

Dự báo FDI vào Việt Nam năm 2020

Theo SSI Research, tác động ngắn hạn từ cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung chủ yếu là gián tiếp, thông qua sự mất giá của đồng Nhân dân tệ, Bắc Kinh tăng cường kiểm soát vốn và tâm lý giá xuống trên thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn đang phát triển, nhưng quy mô sản xuất tương đối nhỏ trên thế giới, không nằm trong top 20, do đó Việt Nam đủ nhỏ để “đứng ngoài” cuộc tranh chấp thương mại của các nền kinh tế lớn, không bị ảnh hưởng tiêu cực nhiều trong ngắn hạn Đồng tiền Việt Nam vẫn diễn biến tốt so với hầu hết các đồng tiền khác trong khu vực, chỉ mất giá 2,5% so với USD kể từ đầu năm 2019 Tuy vậy, cảnh giác không bao giờ thừa khi kim ngạch thương mại của Việt Nam với Mỹ và với Trung Quốc chiếm khoảng 40% tổng kim ngạch xuất - nhập khẩu

Đối với FDI, hiện đang có nhiều nhà đầu tư Mỹ, châu Âu và châu Á chuyển xí nghiệp từ Trung Quốc về nước hoặc sang nước thứ ba Việt Nam trở thành sự lựa chọn hàng đầu, khi hai năm gần đây đã có một số nhà máy chuyển từ Trung Quốc sang nước ta

Khi Chính phủ Mỹ áp đặt mức thuế nhập khẩu 25% đối với hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc, thì buộc doanh nghiệp nước này tìm kiếm thị trường khác để tiêu thụ số hàng hóa không thể xuất khẩu sang Mỹ, đồng thời gia tăng đầu tư ra nước ngoài để đối phó với các biện pháp của

Mỹ Việt Nam là nước láng giềng có tiềm năng lớn, nên sẽ được các doanh nghiệp Trung Quốc tìm kiếm cơ hội để mở rộng quy mô thương mại hai chiều, đồng thời tăng nhanh các dự án đầu

tư trực tiếp Vì vậy, cần nghiên cứu để nhận biết thách thức và cơ hội mới, có đối sách thích hợp với các doanh nghiệp Trung Quốc theo hướng lựa chọn, sàng lọc đảm bảo lợi ích quốc gia trong việc hợp tác về thương mại và đầu tư giữa hai nước

Trong bối cảnh quốc tế và khu vực, việc cộng đồng nhà đầu tư nước ngoài, các tổ chức quốc tế đánh giá cao môi trường kinh doanh và đầu tư của Việt Nam, với một số hiệp định thương mại tự do thế hệ mới bắt đầu có hiệu lực; trên cơ sở định hướng, chính sách mới về FDI, thì triển vọng năm 2020 là rất sáng sủa Dự báo:

- Tốc độ tăng vốn FDI thực hiện 7%-8%, đạt 23-24 tỷ USD, chiếm 22%-23% tổng vốn đầu tư xã hội

- Đầu tư từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore và châu Á vẫn gia tăng; đồng thời, đầu tư từ Mỹ, Đức, Pháp, Anh và một số nước châu Âu khác vào công nghệ hiện đại, công nghệ tương lai, giáo dục và đào tạo, R&D với nhiều dự án lớn sẽ gia tăng

- Số lượng các doanh nghiệp vừa và nhỏ nước ngoài đầu tư tại Việt Nam vẫn tiếp tục phát triển

ở những ngành thâm dụng lao động, nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ, dịch vụ tư vấn, nhưng sẽ có nhiều tập đoàn kinh tế hàng đầu thế giới đầu tư những dự án quy mô hàng tỷ

Trang 4

USD trong công nghiệp công nghệ cao, công nghệ tương lai, xây dựng thành phố thông minh, kết cấu hạ tầng kỹ thuật và xã hội

- Dự án FDI vào các địa phương được thu hút phù hợp với trình độ phát triển của từng tỉnh, thành phố với chính sách ưu đãi phù hợp với danh mục dự án ưu tiên kêu gọi đầu tư

Thực hiện Nghị quyết số 50-NQ/TW, ngày 20/08/2019 của Bộ Chính trị về hoàn thiện thể chế, chính sách về đầu tư nước ngoài ưu đãi theo xu hướng phát triển, tiếp cận chuẩn mực tiên tiến quốc tế và hài hoà với các cam kết quốc tế, đồng bộ, nhất quán, công khai, minh bạch để thu hút các nhà đầu tư chiến lược, các tập đoàn đa quốc gia đầu tư, đặt trụ sở và thành lập các trung tâm R&D, trung tâm đổi mới sáng tạo tại Việt Nam, tăng liên kết giữa đầu tư nước ngoài

và đầu tư trong nước, khuyến khích chuyển giao công nghệ và quản trị cho doanh nghiệp Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc khẳng định: “Chính phủ sẽ tăng tốc cải thiện thủ tục hành chính, xây dựng thể chế kinh tế sao cho các chủ thể kinh tế đều có quyền tham gia vào hoạch định kế hoạch phát triển và chính sách, tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng mềm, số hóa để chuyển đổi nền kinh tế sang số hóa, đổi mới cơ chế tuyển dụng, chú trọng đào tạo nguồn nhân lực, người tài để tận dụng Cách mạng Công nghiệp 4.0 làm động lực tăng trưởng đất nước”./

Tiềm năng thu hút FDI: điều kiện tự nhiên, nguồn lực, thị trường, chính sách…

Môi trường đầu tư của Việt Nam hiện nay: Kết cấu hạ tầng kém phát triển, thiếu đồng

bộ về khung khổ pháp lý, tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo còn ở mức cao

c.3 Tác động của FDI đối với VN:

Thứ nhất, cơ hội tiếp cận với các nguồn vốn từ nước ngoài và cơ hội việc làm cho người

lao động: (Số lượng lao động làm việc trong khu vực FDI đã tăng từ 358.500 người năm 2000 lên 4.207.400 người vào năm 2017) Với những vùng nhận nhiều vốn FDI cơ hội về sản xuất

-kinh doanh sẽ tăng lên, thu hút nhiều lao động từ chính khu đó và các khu vực khác Điều này gây ra sự chênh lệch về thu nhập của người lao động trong khu vực FDI và khu vực khác

Thứ hai, cơ hội tiếp cận với công nghệ cao, kỹ thuật tiên tiến hiện đại: Doanh nghiệp

FDI luôn có lợi thế về công nghệ và khoa học kỹ thuật mới được chuyển giao từ nước ngoài, nên năng suất lao động của khu vực FDI luôn cao hơn các khu vực kinh tế khác

Thứ ba, cơ hội tiếp cận vốn FDI sẽ tác động tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa

phương tiếp nhận vốn FDI: Vốn FDI thường đầu tư vào các ngành đem lại lợi nhuận cao như công nghiệp, dịch vụ, tận dụng các ngành được hưởng ưu đãi đầu tư từ chính sách của chính phủ

và của chính quyền địa phương Điều này sẽ tác động đến bất bình đẳng thu nhập giữa các

ngành nghề trong nền kinh tế, có thể gây ra sự mất cân đối giữa các ngành, lĩnh vực trong mối quan hệ tổng thể của nền kinh tế

Thứ tư, các vùng, địa phương có cơ hội tiếp nhận vốn FDI nhiều hơn luôn có các nguồn

thu lớn hơn so với các vùng khác Ngân sách ở các địa phương này luôn dồi dào hơn do thu được các khoản thuế, phí và lệ phí từ doanh nghiệp FDI, đây là nguồn để địa phương tái phân phối thu nhập để phát triển các cơ sở hạ tầng về kinh tế, xã hội, giáo dục, đào tạo, phúc lợi xã hội trong địa phương đó Điều này cũng tác động đến bất bình đẳng thu nhập giữa các địa phương trong cả nước

Thứ năm, các địa phương nhận FDI luôn có các quan hệ hợp tác với các đối tác nước

ngoài, mở rộng thị trường ở nước ngoài hơn so với các khu vực khác

Trang 5

Thứ sáu, tác động thông qua các cơ hội về giáo dục, đào tạo Các doanh nghiệp FDI cũng

rất chú trọng đào tạo đội ngũ nhân lực, cơ hội này đã phân hóa người lao động thành hai bộ phận,

bộ phận được đào tạo, tái đào tạo luôn có năng suất lao động và hiệu quả công việc cao hơn nên luôn nhận được cơ hội việc làm tốt hơn, thu nhập cao hơn so với bộ phận lao động còn lại

9 Về việc thu hút đầu tư của Việt Nam

a Mục tiêu: nhằm tăng thu hút nguồn vốn FDI, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cấp

công nghệ, tạo việc làm, giảm bớt bất bình đẳng và các mục tiêu xã hội khác

b Đánh giá thực tiễn:

b.1 Hạn chế:

Việt Nam hiện đang áp dụng các chính sách ưu đãi cao, thu hút các dự án đầu tư vào một

số lĩnh vực như: Nông nghiệp, chế biến nông sản, thủy sản, sản xuất phần mềm và năng lượng tái

tạo Tuy nhiên, đến nay, tỷ trọng thu hút FDI vào lĩnh vực nông nghiệp còn khá thấp (Tỷ

trọng vốn FDI đầu tư trong ngành Nông nghiệp còn hạn chế, chỉ chiếm gần 1,1% tổng số vốn FDI đăng ký năm 2017)

Để thu hút đầu tư vào các địa bàn kém phát triển, các chính sách ưu đãi thuế ở mức cao

đang được áp dụng đối với DN tại các địa bàn này Tuy nhiên, số liệu thực tế cho thấy, hiệu quả thu hút đầu tư vào các khu vực này là rất thấp Các địa bàn kém phát triển gặp nhiều khó khăn trong thu hút đầu tư do những hạn chế về vị trí địa lý, kết cấu hạ tầng và chất lượng

nguồn nhân lực Nhiều khu kinh tế, khu công nghiệp tại địa bàn kém phát triển có tỷ lệ bỏ trống vẫn còn cao và thu hút được ít vốn, mặc dù được hưởng ưu đãi thuế ở mức cao

Cụ thể, tỷ lệ lấp đầy các khu công nghiệp đã đi vào hoạt động của nước ta đến hết 2018 là khoảng 73% Tuy nhiên, tỷ lệ này tại nhiều tỉnh miền núi phía Bắc, Tây Nguyên thấp hơn rất nhiều so với mức trung bình của cả nước (khoảng trên dưới 30%)

Sự chuyển giao công nghệ giữa các DN FDI và các DN trong nước chưa như kỳ vọng Có DN Nhật Bản khi đầu tư tại Việt Nam phải nhập khẩu nguồn nguyên liệu đầu vào cho

sản xuất lên tới 95% tổng số nguyên liệu Lý do là không có DN nội địa Việt Nam nào đáp ứng

đủ được điều kiện đầu vào do DN FDI đặt ra Điều này được lý giải bởi các DN FDI thường có các nhà cung cấp truyền thống trước khi tham gia thị trường Việt Nam

Vẫn còn tình trạng chuyển giá, báo lỗ của các DN FDI Mặc dù, các DN FDI liên tục

báo lỗ nhưng vẫn tiếp tục đầu tư mở rộng sản xuất Tình trạng trục lợi từ chính sách ưu đãi thu hút FDI vẫn diễn ra

Việt Nam chưa thực sự chủ động, chọn lọc thu hút các dự án FDI có hàm lượng công nghệ cao và kiểm soát chặt chẽ mức độ ô nhiễm Nhiều dự án FDI là ngành sản xuất thô,

tính gia công cao, mức độ phát thải lớn, giá trị gia tăng thấp, thiếu những ngành công nghiệp mang tính nền tảng như: công nghiệp hỗ trợ, công nghệ cao Năng lực phòng ngừa, kiểm soát, bảo vệ môi trường của một số doanh nghiệp FDI còn nhiều bất cập…

- Nguyên nhân của hạn chế trên

(1) Các nguyên nhân đến từ quá trình thiết kế chính sách

- Chưa nhất quán giữa mục tiêu và biện pháp thực hiện: Một trong những mục tiêu của chính

sách ưu đãi thu hút là thu hút các DN FDI sử dụng công nghệ cao, tuy nhiên, việc ưu đãi lại bằng

Trang 6

thuế, tiền thuê đất hoặc dựa trên số lao động mà không dựa trên các tiêu chí về công nghệ được

sử dụng

- Các chính sách ưu đãi thu hút được áp dụng chung cho toàn bộ các tỉnh thành, chưa dựa trên lợi

thế cạnh tranh, đặc thù của mỗi địa phương

- Các chính sách ưu đãi thu hút còn phức tạp, chồng chéo, nằm rải rác ở nhiều văn bản luật pháp khác nhau

(Luật Đầu tư 2014, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp (DN) sửa đổi 2013, Luật Thuế xuất khẩu, nhập khẩu 2016, Nghị định số 118/2015/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư; Nghị định số 123/2017/NĐ-CP sửa đổi một số điều quy định về thu tiền sử dụng đất, thu tiền thuê đất, thuê mặt nước….)

(2) Các nguyên nhân đến từ quá trình thực thi chính sách

- Không theo dõi quá trình thực hiện chính sách: Các chính sách ưu đãi thu hút FDI được đưa ra,

nhưng hiện vẫn chưa có một báo cáo chi tiết nào tổng kết đánh giá về kết quả quá trình thực hiện các chính sách ưu đãi thu hút FDI

b.2 Thành tựu

- Việc thu hút vốn FDI Việt Nam thời gian qua đã mang lại nhiều kết quả quan trọng Tổng số dự

án FDI đăng ký mới, bổ sung thêm vốn và các lượt góp vốn tăng nhanh qua các năm, cả về số lượng lẫn giá trị

c Bối cảnh hiện nay:

- Cách mạng công nghiệp 4.0 mang đến các cơ hội và thách thức mới cho toàn bộ nền

kinh tế, trong đó có đầu tư FDI

- Mục tiêu đến năm 2035 trở thành nước có thu nhập trung bình cao và tới năm 2045 là nước thu nhập cao trong khi tăng trưởng còn chưa ổn định và kém bền vững; nguồn lực phân bổ còn chưa vào nơi có hiệu quả cao nhất

- Việt Nam tham gia ngày càng nhiều các FTA và các hiệp ước quốc tế về kinh tế, do đó

cơ hội để đón nhận nguồn vốn đầu tư FDI cũng tăng mạnh hơn

Trong bối cảnh căng thẳng thương mại Mỹ - Trung Quốc vẫn đang tiếp tục diễn ra, dòng vốn của các tập đoàn nước ngoài tại Trung Quốc đang dần chuyển hướng sang các nước

ASEAN, trong đó có Việt Nam Trong đó, có những dòng vốn FDI phù hợp với định hướng phát triển của đất nước và cả những dòng vốn FDI không phù hợp với định hướng phát triển Bởi vậy, vấn đề làm thế nào để thu hút và lựa chọn được các nhà đầu tư nước ngoài phù hợp với định hướng phát triển kinh tế của Việt Nam trong thời gian tới là rất quan trọng.

- Môi trường chính trị giữ vững ổn định.

d Đề xuất giải pháp (mng chọn ghi 3 4 chỗ thôi nha)

a Hoàn thiện thể chế FDI

Cần điều chỉnh các yếu tổ cốt lõi về thể chế áp dụng đối với FDI theo đúng thông lệ và cam kết quốc tế mà Việt Nam đã tham gia để tăng độ ổn định, thống nhất của thể chế, thể hiện sự quan tâm của thể chế cũng như để giảm thiểu những thiệt hại về lợi ích do nhà đầu tư nước ngoài có thể khai thác triệt để các ưu đãi để thu lợi và giảm các nghĩa vụ phải thực hiện với Việt Nam (bởi cách tiếp cận khái niệm, các hình thức FDI Luật Đầu tư 2014 đưa ra khác với quốc tế)

Trang 7

+ Giảm ưu đãi dư thừa, giảm sự chồng chéo giữa các văn bản pháp luật về ưu đãi và thu hút đầu tư

+ Xác định các ngành, lĩnh vực ưu tiên, mục tiêu nhằm định hướng thu hút đầu tư một cách chủ động; đảm bảo sự nhất quán giữa mục tiêu thu hút đầu tư, thiết kế chính sách và việc thực thi chính sách

b Kết nối khu vực kinh tế còn lại với FDI theo cách thức cải thiện trình độ nguồn nhân lực để có thể học hỏi trực tiếp trong dự án, mô phỏng mô hình tham gia thị trường, cùng đầu tư vào các lĩnh vực có khả năng sinh lợi cao do FDI thực hiện tại Việt Nam để giảm thiểu chi phí nghiên cứu thị trường

+ Cải cách hệ thống đào tạo nghề và hệ thống giáo dục đào tạo nói chung nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho toàn bộ nền kinh tế nói chung, trong đó đáp ứng đòi hỏi của các DN FDI

c Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh theo hướng bình đẳng, minh bạch Giảm thiểu chi phí giao dịch ngầm, tình trạng quan liêu, tham nhũng hoặc các loại thủ tục, giấy phép không phù hợp - bằng việc xây dựng và công bố công khai một hệ thống quản lý sử dụng trực tuyến dễ tiếp cận, loại bỏ các loại giấy phép con và đào tạo đội ngũ công chức có trình độ chuyên môn, kỹ luật lao động và có năng suất cao

Đặc biệt, cần chú trọng cải thiện môi trường kinh doanh của các địa phương và lấy chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) làm căn cử để hoàn thiện các khía cạnh Mạnh dạn bổ sung thêm chỉ số thành phần “Mức độ thân thiện và thiện ý với nhà đầu tư nước ngoài” để tăng khả năng hoàn thiện môi trường kinh doanh theo hướng xây dựng một chính phủ gần dân, gần nhà đầu tư

và chính phủ hỗ trợ Chỉ số này cùng nhằm góp phần giảm thiểu tình trạng vô cảm hoặc giảm thiểu những gai góc, sắc nhọn trong ứng xử về chính sách, công cụ và biện pháp áp dụng với nhà đầu tư nước ngoài

d Tiếp tục hoàn thiện cơ sở hạ tầng về đường giao thông, sân bay, bến cảng, hạ tầng thông tin, trung tâm dịch vụ logistics, dịch vụ kinh doanh và các loại dịch vụ khác để tiết kiệm thời gian, chi phí để thúc đẩy quá trình đầu tư, phát hiện và khai thác cơ hội cũng như tạo nền tảng để nhà đầu tư mạnh dạn đầu tư lớn vào các lĩnh vực của nền kinh tế, góp phần khai thác các nguồn lực phát triển mới được tận dụng dưới mức tiềm năng

Đặc biệt cần tăng sự kết nối với các trung tâm kinh tế lớn của cả nước, kết nối thị trường khu vực

để các vùng kinh tế trong và ngoài nước này trở thành đầu tàu thúc đẩy tăng trưởng cả nước

e Thực hiện chính sách hỗ trợ "người thắng cuộc", tức là các chính sách ưu đãi và thu hút đầu tư dựa trên hiệu quả sản xuất kinh doanh của DN (chỉ các DN sản xuất kinh doanh có lãi mới được nhận các ưu đãi)

f Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về nhà cung cấp hỗ trợ, kết nối doanh nghiệp; giúp doanh nghiệp khắc phục những trở ngại về thông tin trong thời đại Cách mạng công nghiệp 4.0

g các ngành, các cấp cần tăng cường kiểm tra, giám sát quá trình cấp phép và quản lý dự án đầu

tư nước ngoài Đồng thời, thúc đẩy giải ngân, không cấp phép các dự án công nghệ lạc hậu, có

Trang 8

tác động xấu tới môi trường; thẩm tra kỹ các dự án sử dụng nhiều đất, giao đất có điều kiện theo tiến độ dự án; cân nhắc về tỷ suất đầu tư/diện tích đất, kể cả đất khu công nghiệp

h cần ưu tiên thu hút FDI một số ngành và sản phẩm công nghệ cao, tạo ra giá trị gia tăng lớn như công nghệ thông tin, điện tử, internet vạn vật, trí tuệ nhân tạo, thực tế ảo, điện toán đám mây, phân tích dữ liệu lớn, cơ khí chế tạo, tự động hóa, công nghệ sinh học, vật liệu mới, giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, nghiên cứu và phát triển, chăm sóc sức khỏe cộng đồng

i chủ động lựa chọn các dự án FDI xanh, giải quyết các vấn đề liên quan đến ô nhiễm môi trường và lựa chọn những dự án có sức lan toả lớn Việt Nam cũng cần ưu tiên thu hút FDI vào các ngành, lĩnh vực công nghệ cao, tiên tiến, công nghệ thân thiện với môi trường, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo; phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật hiện đại, đặc biệt là các ngành nghề mới trên nền tảng công nghiệp 4.0

k thu hút FDI phải phù hợp với lợi thế, điều kiện, trình độ phát triển và quy hoạch từng địa phương trong mối liên kết vùng, đảm bảo hiệu quả tổng thể kinh tế - xã hội - môi trường

 Giải pháp hạn chế sự bất bình đẳng trong thu nhập – vấn đề nổi bật:

a Ổn định chính trị

b Ý c ở trên

c Chính phủ cần xây dựng chiến lược tăng trưởng kinh tế mới kết hợp với chính sách phân phối thu nhập nhằm giảm bất bình đẳng thu nhập Xây dựng chính sách tạo điều kiện cho khu vực miền núi có nhiều dân tộc thiểu số, hộ gia đình có trình độ học vấn thấp có cơ hội được học tập, đào tạo Các khu vực này cần được đầu tư cơ sở hạ tầng tốt và các ưu đãi để thu hẹp chênh lệch giữa các địa phương trong cả nước

d Chính phủ cần tiếp tục thực hiện đồng bộ các chính sách nhằm xóa đói giảm nghèo, giảm bất bình đẳng thu nhập

e Thay đổi các chỉ số đánh giá hiệu quả FDI từ số lượng sang chất lượng: Việt Nam cần

dựa trên các chỉ số sau để xem xét hiệu quả của khu vực FDI:

+ Số việc làm được tạo ra và phân bổ theo trình độ tay nghề

+ Tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư FDI

+ Giá trị xuất khẩu được tạo ra/nhập khẩu được thay thế trong các dự án FDI

+ Tỷ lệ các nhà đầu tư hiện có nhận được hỗ trợ chăm sóc sau đầu tư

+ Tỷ lệ các nhà đầu tư hiện có tái đầu tư…

+ Hệ số chuyển đổi giữa FDI được phê duyệt và dự án được triển khai thực tế…

Ngày đăng: 16/05/2020, 12:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w