TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI ĐẶNG THỊ NHUẦN SẢN XUẤT NÔNG, LÂM NGHIỆP VỚI VIỆC SỬ DỤNG BỀN VỮNG TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN CỦA DÂN TỘC THÁI Ở TỈNH SƠN LA Chuyên ngành: Địa lí học Mã số:
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
ĐẶNG THỊ NHUẦN
SẢN XUẤT NÔNG, LÂM NGHIỆP VỚI VIỆC
SỬ DỤNG BỀN VỮNG TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
CỦA DÂN TỘC THÁI Ở TỈNH SƠN LA
Chuyên ngành: Địa lí học
Mã số: 9.31.05.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ ĐỊA LÝ
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Viết Thịnh
HÀ NỘI- 2020
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu, các số liệu đƣợc trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và đƣợc trích dẫn theo đúng quy định Những kết quả nghiên cứu của đề tài luận án chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận án
Đặng Thị Nhuần
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận án được hoàn thành tại Khoa Địa lí, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội,
dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Nguyễn Viết Thịnh Tác giả xin bày tỏ
lòng biết ơn sâu sắc nhất đến Thầy - Người đã luôn tận tâm, nghiêm khắc dạy bảo,
đồng hành và động viên tác giả trong suốt quá trình thực hiện đề tài luận án
Tác giả xin chân thành cảm ơn đến Ban Giám hiệu, Phòng Sau Đại học,
Trung tâm Thông tin và Thư viện, Bộ môn Địa lí kinh tế - xã hội, Ban chủ nhiệm
Khoa Địa lí, các thầy cô, các nhà khoa học trong Khoa Địa lí, Trường Đại học Sư
phạm Hà Nội đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất
cho tác giả học tập và nghiên cứu để hoàn thành đề tài luận án
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả luôn nhận được sự giúp đỡ, tạo điều kiện
của các cơ quan khoa học gồm: Viện Tài nguyên và Môi trường, Viện Việt Nam
học và Khoa học phát triển, Đại học Quốc gia Hà Nội; Viện Địa lí - Viện Hàn lâm
Khoa học và Công nghệ Việt Nam; Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà
Nội, tác giả luận án xin chân thành cảm ơn các quý cơ quan trên
Tác giả xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của: Sở Nông nghiệp và
Phát triển Nông thôn, Sở Tài nguyên và Môi trường, Phòng Dân tộc, Trung tâm
Khuyến nông, Cục Thống kê tỉnh Sơn La đã cung cấp dữ liệu, tài liệu phục vụ
nghiên cứu Tác giả cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến các hộ dân tộc Thái của tỉnh
đã hợp tác và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả thực hiện nghiên cứu trong quá
trình khảo sát tại địa phương
Tác giả xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám hiệu, Ban Chủ nhiệm Khoa Khoa học
Xã hội, Bộ môn Địa lý Trường Đại học Tây Bắc, đã tạo điều kiện thuận lợi để tác giả
hoàn thành luận án
Cuối cùng, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến gia đình, bạn bè,
đồng nghiệp và các thế hệ học trò đã động viên và giúp đỡ tác giả rất nhiều trong
suốt quá trình thực hiện đề tài luận án
Hà Nội, ngày 12 tháng 05 năm 2020
Tác giả luận án
Đặng Thị Nhuần
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BVMT Bảo vệ môi trường BVTV Bảo vệ thực vật DTTN Diện tích tự nhiên ĐKTN Điều kiện tự nhiên
PTBV Phát triển bền vững PTNN Phát triển nông nghiệp SDBV Sử dụng bền vững TCLT Tổ chức lãnh thổ TCLTNN Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp
TNTN Tài nguyên thiên nhiên TTBĐ Tri thức bản địa
UBND Ủy ban nhân dân VTĐL Vị trí địa lý
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH vii
DANH MỤC BẢN ĐỒ viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Phạm vi nghiên cứu 3
4 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 4
5 Những đóng góp mới của đề tài 9
6 Cấu trúc của luận án 10
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ SẢN XUẤT NÔNG, LÂM NGHIỆP VỚI VIỆC SỬ DỤNG BỀN VỮNG TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN Ở MIỀN NÚI 11
1.1 Tổng quan những nghiên cứu về sản xuất nông, lâm nghiệp với việc sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên ở miền núi 11
1.1.1 Trên thế giới 11
1.1.2 Ở Việt Nam 17
1.1.3 Ở Sơn La 25
1.2 Cơ sở lí luận 27
1.2.1 Một số khái niệm 27
1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới sản xuất nông, lâm nghiệp miền núi 31
1.2.3 Một số hình thức tổ chức lãnh thổ sản xuất nông nghiệp 36
1.3 Các chỉ tiêu đánh giá sản xuất nông, lâm nghiệp vận dụng cho dân tộc Thái ở tỉnh Sơn La 38
1.3.2 Các chỉ tiêu cụ thể vận dụng cho điều tra các mô hình sản xuất của các hộ dân tộc Thái 39
Tiểu kết chương 1 41
Trang 6CHƯƠNG 2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SẢN XUẤT NÔNG, LÂM NGHIỆP VỚI VIỆC SỬ DỤNG BỀN VỮNG TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
CỦA DÂN TỘC THÁI Ở TỈNH SƠN LA 42
2.1 Vị trí địa lý, phạm vi lãnh thổ 42
2.2 Nhóm nhân tố tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên 43
2.2.1 Địa hình 43
2.2.2 Khí hậu 46
2.2.3 Tài nguyên đất 49
2.2.4 Tài nguyên nước 51
2.2.5 Tài nguyên rừng 53
2.3 Nhóm nhân tố nhân tố kinh tế - xã hội 54
2.3.1 Dân cư, thành phần dân tộc 54
2.3.2 Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật 56
2.3.3 Khoa học và công nghệ 61
2.3.4 Thị trường tiêu thụ 62
2.3.5 Nguồn vốn đầu tư 63
2.3.6 Chính sách phát triển nông, lâm nghiệp 64
2.4 Dân tộc Thái ở Sơn La 64
2.4.1 Nguồn gốc, phân bố 64
2.4.2 Tri thức bản địa trong hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp 67
Tiểu kết chương 2 80
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG SẢN XUẤT NÔNG, LÂM NGHIỆP VỚI VIỆC SỬ DỤNG BỀN VỮNG TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN CỦA DÂN TỘC THÁI Ở TỈNH SƠN LA 82
3.1 Khái quát chung 82
3.1.1 Vai trò của ngành nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế của tỉnh Sơn La 82
3.1.2 Quy mô, tốc độ tăng trưởng và cơ cấu giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản 84
3.1.3 Hiện trạng sử dụng đất ở nơi phân bố tập trung dân tộc Thái 85
3.2 Thực trạng sản xuất nông, lâm nghiệp tại địa bàn phân bố tập trung dân tộc Thái ở Sơn La 86
3.2.1 Sản xuất nông nghiệp 86
Trang 73.2.2 Sản xuất lâm nghiệp 103
3.3 Các mô hình sản xuất nông nghiệp và điều tra nghiên cứu điểm ở khu vực tập trung dân tộc Thái 106
3.3.1 Các mô hình sản xuất nông nghiệp 106
3.3.2 Đánh giá hiệu quả sản xuất nông nghiệp của các hộ dân tộc Thái (tại địa bàn nghiên cứu điểm) 112
3.4 Một số hình thức tổ chức lãnh thổ sản xuất nông nghiệp của dân tộc Thái ở Sơn La 123
3.4.1 Hộ gia đình (nông hộ) 123
3.4.2 Hợp tác xã nông nghiệp 124
Tiểu kết chương 3 126
CHƯƠNG 4 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT NÔNG, LÂM NGHIỆP THEO HƯỚNG SỬ DỤNG BỀN VỮNG TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN CỦA DÂN TỘC THÁI Ở TỈNH SƠN LA 128
4.1 Căn cứ đề xuất định hướng và giải pháp 128
4.1.1 Quan điểm, mục tiêu, định hướng phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp của tỉnh Sơn La 128
4.1.2 Thực trạng sản xuất nông, lâm nghiệp tại địa bàn tập trung dân tộc Thái ở tỉnh Sơn La 132
4.2 Định hướng xây dựng mô hình và giải pháp phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp theo hướng sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên 139
4.2.1 Định hướng xây dựng một số mô hình sản xuất nông, lâm nghiệp theo hướng sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên 139
4.2.2 Một số giải pháp phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp với sử dụng bền vững nguồn TNTN 141
Tiểu kết chương 4 146
KẾT LUẬN 148
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 151
TÀI LIỆU THAM KHẢO 153 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Đặc điểm các tiểu vùng sinh khí hậu tỉnh Sơn La 46
Bảng 2.2 Diện tích rừng Sơn La giai đoạn 2006 -2016 (ha) 54
Bảng 2.3 Quy mô dân số và tỉ lệ dân số giữa thành thị và nông thôn ở tỉnh Sơn La giai đoạn 2006-2016 54
Bảng 2.4 Cơ cấu các dân tộc tỉnh Sơn La năm 2016 55
Bảng 2.5 Phân loại ruộng theo hạng tốt, xấu theo tri thức bản địa 69
Bảng 2.6 Mùa vụ và năng suất của giống lúa nếp bản địa và giống lúa nếp mới 70
Bảng 3.1 Quy mô và tăng trưởng (GRDP) tỉnh Sơn La giai đoạn 2006- 2016 82
Bảng 3.2 Cơ cấu kinh tế tỉnh Sơn La 2006 - 2016 (giá thực tế) 83
Bảng 3.3 Quy mô và tăng trưởng GTSX N, L,TS tỉnh Sơn La giai đoạn 2006- 2016 84
Bảng 3.4 Quy mô và cơ cấu GTSX N, L,TS tỉnh Sơn La giai đoạn 2006 - 2016 (giá thực tế) 84
Bảng 3.5 Hiện trạng sử dụng đất ở khu vực phân bố tập trung dân tộc Thái 85
Bảng 3.6 Cơ cấu mùa vụ và các giống lúa chủ yếu của người Thái ở Sơn La 88
Bảng 3.7 Chi phí lợi ích của các cây trồng phổ biến 94
Bảng 3.8 Giá trị ngày công lao động 95
Bảng 3.9 Quy mô và cơ cấu GTSX lâm nghiệp tỉnh Sơn La giai đoạn 2006 -2016 ( Giá thực tế) 103
Bảng 3.10 Các mô hình sản xuất nông nghiệp phổ biến ở địa bàn điều tra 116
Bảng 3.11 Các phương thức kết hợp cây con chính ở 4 bản thuộc 2 xã Chiềng Đen và Chiềng Xôm (TP Sơn La) 117
Bảng 3.12 Các phương thức kết hợp cây con chính ở 4 bản thuộc xã Púng Tra và xã Chiềng Bôm (Huyện Thuận Châu) 117
Bảng 3.13 Các phương thức kết hợp cây con chính ở 4 bản thuộc xã Chiềng Bằng và Mường Sại (Quỳnh Nhai) 117
Bảng 3.14 Số hộ điều tra của các mô hình với các thành phần cây con chính 119
Bảng 3.15 Thu nhập bình quân của các mô hình sản xuất 120
Bảng 3.16 Số hợp tác xã đang hoạt động trong toàn tỉnh Sơn La 125
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1 Diện tích đất sản xuất nông nghiệp của các hộ ở khu vực nghiên cứu 87 Hình 3.2 Diện tích gieo trồng lúa tại địa bàn nghiên cứu 88 Hình 3.3 Số lượng gia súc, gia cầm (con) và số đàn ong của các hộ ở khu vực
người Thái phân bố tập trung năm 2016 98
Trang 10DANH MỤC BẢN ĐỒ
(sau trang) 2.1 Bản đồ hành chính tỉnh Sơn La và khu vực nghiên cứu
2.2 Bản đồ phân tầng địa hình tỉnh Sơn La
2.3 Bản đồ các loại đất tại khu vực người Thái phân bố tập trung
2.4 Bản đồ phân bố dân tộc Thái ở tỉnh Sơn La
3.1 Bản đồ hiện trạng sử dụng đất tại khu vực người Thái phân bố tập trung
3.2 Bản đồ ngành trồng trọt ở khu vực người Thái phân bố tập trung
3.3 Bản đồ ngành chăn nuôi ở khu vực người Thái phân bố tập trung
3.4 Bản đồ nuôi trồng thủy sản ở khu vực người Thái phân bố tập trung
3.5 Bản đồ lâm nghiệp ở khu vực người Thái phân bố tập trung
3.6 Bản đồ các mô hình sản xuất ở khu vực người Thái phân bố tập trung
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tài nguyên thiên nhiên là nguồn vốn quan trọng trong đời sống xã hội, là những nguồn lợi quốc gia, dù cho nền sản xuất xã hội có liên tục tiến bộ và đổi mới Sản xuất nông, lâm nghiệp - nền sản xuất từ cổ xưa nhất của loài người, vốn luôn luôn gắn kết chặt chẽ với các nguồn tài nguyên thiên nhiên, trong đó tầm quan trọng của các nguồn tài nguyên cơ bản nhất: đất, nước, rừng vẫn còn nguyên giá trị từ xưa đến tận ngày nay Tuy vậy, trong bối cảnh dân số gia tăng, sự phát triển mạnh
mẽ của các ngành công nghiệp, dịch vụ, giá trị và giá trị sử dụng của các nguồn tài nguyên thiên nhiên có nhiều thay đổi Trong bối cảnh đó đòi hỏi phải có quan điểm tiếp cận hiện đại với việc sử dụng khôn khéo tài nguyên nông nghiệp Hơn nữa, sự chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp trong nền kinh tế thị trường, hội nhập kinh
tế quốc tế… đang gây sức ép ngày càng lớn lên cơ sở tài nguyên của lãnh thổ, đòi hỏi có cách tiếp cận mới trong phương thức sử dụng tài nguyên theo hướng hiệu quả và bền vững
Trong quá trình CNH, HĐH ở nước ta, nông nghiệp vẫn là một trụ cột của nền kinh tế, điều này đặc biệt đúng đối với cuộc sống mưu sinh và khả năng phát triển sinh kế của đồng bào dân tộc miền núi Trong bối cảnh mới, các dân tộc thiểu số một mặt vẫn duy trì nền kinh tế nông nghiệp truyền thống, mặt khác người dân đã chuyển đổi theo hướng kinh tế thị trường sản xuất hàng hóa Bên cạnh các hình thức tổ chức sản xuất phổ biến nhất là kinh tế gia đình, còn có những hình thức tổ chức sản xuất hiện đại như doanh nghiệp nông nghiệp, hợp tác xã, trang trại Sự lan truyền của các phương thức canh tác và tổ chức sản xuất mới đã và đang làm thay đổi tập quản sản xuất của các hộ gia đình, các cộng đồng ở các vùng sinh thái khác nhau
Đối với đồng bào miền núi, hoạt động sinh kế và sinh tồn đã và vẫn còn gắn chặt với các nguồn tài nguyên thiên nhiên cơ bản nhất từ trước đến nay: đó là nguồn tài nguyên đất, nguồn tài nguyên nước và nguồn tài nguyên rừng Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội miền núi, sự gia tăng dân số cơ học, các dự án phát triển
Trang 12kinh tế, xã hội như thủy điện, khai khoáng, giao thông… đã làm gia tăng áp lực lên tài nguyên, đặc biệt là lên tài nguyên đất, nước và rừng Kết quả là đã ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp của các cộng đồng, nhất là kinh tế
hộ gia đình của đồng bào dân tộc ít người, trong đó có cộng đồng dân tộc Thái - vốn chiếm tỉ lệ cao nhất trong có cấu dân số ở tỉnh Sơn La
Sơn La là địa bàn cư trú của 12 dân tộc anh em, trong đó dân tộc Thái chiếm 53,7% dân số của tỉnh, dân tộc Kinh chiếm 16,2% dân số, dân tộc Mông chiếm 15,7% dân số, còn lại là các dân tộc khác Dân tộc Thái là một trong những cộng đồng có lịch sử cư trú lâu đời trên mảnh đất Sơn La Các hoạt động mưu sinh dựa vào kinh tế nông, lâm nghiệp truyền thống của đồng bào Thái gắn với sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên và điều kiện môi trường sinh thái đặc thù của Sơn La trong vùng địa lý Tây Bắc đã tạo nên kho tri thức tộc người phong phú
Tuy vậy, trong quá trình CNH, HĐH đã tạo sức ép, ảnh hưởng tới việc sử dụng hợp lý và bảo vệ các nguồn tài nguyên của các dân tộc nói chung trong đó có dân tộc Thái Công trình thủy điện Hòa Bình, Sơn La đã mang lại nguồn điện năng lớn cho đất nước, nhưng đã buộc hơn 100 nghìn người Thái phải di chuyển khỏi nơi định cư của họ Việc di chuyển đến nơi tái định cư dẫn đến chỗ họ tiếp cận nguồn vốn tài nguyên mới trong điều kiện sinh thái phi truyền thống, điều đó cũng đồng nghĩa với việc thay đổi phương thức cơ bản trong sinh kế nông, lâm nghiệp, hạn chế
sử dụng tri thức bản địa truyền thống trong việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên trong khi chưa định hình tri thức bản địa trong hoàn cảnh mới Thực tiễn đó cho thấy, việc nghiên cứu cơ sở lý luận, so sánh với thực tiễn nhằm tìm ra giải pháp phù hợp đối với với sản xuất nông, lâm nghiệp gắn với việc sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên cho dân tộc Thái ở tỉnh Sơn La trên quan điểm địa lý là lý do thúc đẩy
NCS lựa chọn đề tài cho luận án là: Sản xuất nông, lâm nghiệp với việc sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên của dân tộc Thái ở tỉnh Sơn La
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu
Mục tiêu của luận án là phân tích dưới góc độ địa lý kinh tế - xã hội mối quan hệ giữa sản xuất nông, lâm nghiệp với việc sử dụng các nguồn tài nguyên
Trang 13thiên nhiên cơ bản ở địa bàn tập trung dân tộc Thái tỉnh Sơn La Từ đó, định hướng xây dựng một số mô hình sản xuất nông nghiệp hiệu quả và đề xuất các giải pháp
phát triển nông, lâm nghiệp theo hướng sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên
2.2 Nhiệm vụ
Các nhiệm vụ chủ yếu của luận án là:
- Tổng quan có chọn lọc cơ sở lý luận về sản xuất nông, lâm nghiệp gắn với
sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên, vận dụng vào địa bàn nghiên cứu
- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất nông, lâm nghiệp ở tỉnh Sơn
La, trong đó chú trọng tới tri thức bản địa của dân tộc Thái liên quan tới việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên đất, nước, rừng trong quá trình sản xuất
- Phân tích thực trạng sản xuất nông, lâm nghiệp với việc sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên ở 103 xã phân bố tập trung dân tộc Thái
- Đề xuất định hướng xây dựng một số mô hình sản xuất nông nghiệp hiệu quả và các giải pháp phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp theo hướng sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên ở địa bàn tập trung dân tộc Thái tỉnh Sơn La
3 Phạm vi nghiên cứu
3.1 Về nội dung
- Luận án tập trung nghiên cứu sản xuất nông, lâm nghiệp của dân tộc Thái ở Sơn La bao gồm nông, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản, trong đó chủ yếu là sản xuất nông, lâm nghiệp, còn nuôi trồng thủy sản (trong ao) như là sinh kế bổ sung của người Thái, nuôi cá lồng bè là sinh kế mới của bộ phận dân cư sống ven hồ thủy điện Sơn La
- Luận án tập trung đánh giá các nhân tố ảnh hưởng và thực trạng hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp của dân tộc Thái gắn với sử dụng các nguồn tài nguyên
cơ bản (đất, nước, rừng) và tri thức bản địa trong phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp truyền thống và hiện đại Nghiên cứu trường hợp về sản xuất nông nghiệp ở các hộ dân tộc Thái ở một số xã để làm rõ mối quan hệ giữa sản xuất nông nghiệp với sử dụng hợp lý, khôn khéo các nguồn tài nguyên thiên nhiên cơ bản trên
- Đánh giá những ưu điểm và hạn chế trong việc sử dụng các nguồn TNTN trong sản xuất nông, lâm nghiệp Từ đó đề xuất định hướng và các giải pháp để sử
Trang 14dụng bền vững TNTN trong sản xuất nông, lâm nghiệp của cộng đồng dân tộc Thái
ở tỉnh Sơn La
3.2 Về không gian
Luận án nghiên cứu tập trung vào 103 xã ở 12 đơn vị cấp huyện thuộc tỉnh Sơn La, nơi có tỷ lệ dân tộc Thái chiếm từ 60% dân số của xã trở lên, có hoạt động kinh tế chủ yếu là nông, lâm nghiệp Các địa bàn nghiên cứu điểm thuộc TP Sơn La
và hai huyện Thuận Châu và Quỳnh Nhai, trong đó chọn 6 xã để điều tra xã hội học
và phỏng vấn sâu
3.3 Về thời gian
Các số liệu thống kê về sản xuất nông, lâm nghiệp chủ yếu trong giai đoạn
2006 - 2016; các tư liệu sơ cấp từ các cuộc điều tra, khảo sát của NCS trong các năm 2015, 2016, 2017
4 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
4.1 Quan điểm nghiên cứu
Luận án sử dụng kết hợp các quan điểm truyền thống và hiện đại được ứng dụng phổ biến trong các nghiên cứu địa lý kinh tế - xã hội, đó là:
4.1.1 Quan điểm tổng hợp - lãnh thổ
Sản xuất nông nghiệp gắn với việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên của các dân tộc cư trú ở vùng núi Sơn La được nghiên cứu trong một thể thống nhất về mặt lãnh thổ cấp tỉnh (tỉnh Sơn La), trong một cộng đồng dân tộc gồm 12 dân tộc sinh sống trên địa bàn tỉnh, tập trung vào địa bàn cư trú chính của người Thái, nhằm thể hiện mối quan hệ qua lại giữa các hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp với các nguồn tài nguyên thiên nhiên Quan điểm tổng hợp là cơ sở để có được cách tiếp cận tổng hợp, liên ngành và đa ngành trong nghiên cứu đề tài luận án
4.1.2 Quan điểm hệ thống
Trên quan điểm hệ thống, lãnh thổ tỉnh Sơn La được xem như một hệ thống lãnh thổ thống nhất, hoàn chỉnh giữa con người và tự nhiên, trong đó có hệ thống tự nhiên (điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên); hệ thống kinh tế - xã hội (bao gồm cả dân cư) Sản xuất nông, lâm nghiệp là một tiểu hệ thống trong hệ thống lớn hơn là hệ thống kinh tế - xã hội Các tài nguyên đất, nước, rừng là các thành phần của hệ thống tự nhiên Sự tương tác giữa các hệ thống và các thành phần của hệ
Trang 15thống, các tiểu hệ thống tạo nên tính ổn định và động lực phát triển, biến đổi của hệ thống Trên quan điểm hệ thống, luận án hướng tới việc tìm ra các mối quan hệ hài hòa giữa hoạt động sản xuất và tự nhiên
4.1.3 Quan điểm lịch sử
Quan điểm lịch sử thể hiện ở việc phân tích mối quan hệ giữa hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp với các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong các bối cảnh lịch
sử cụ thể, như bối cảnh kinh tế tự cung tự cấp trước đây và giai đoạn phát triển kinh
tế thị trường hiện nay Quan điểm lịch sử cũng thể hiện ở việc phân tích các diễn biến theo chiều thời gian của mối quan hệ này, trong đó có những tác động của các biến động quan trọng về kinh tế - xã hội và môi trường (ví dụ, sự hình thành các hồ thủy điện và việc di dân lòng hồ)
4.1.4 Quan điểm phát triển bền vững
Phát triển bền vững vừa là mục tiêu, vừa là yêu cầu phát triển chung của nhân loại và cũng là mục tiêu, yêu cầu của mỗi hoạt động phát triển của xã hội Theo đó, phát triển nông, lâm nghiệp của cộng đồng dân tộc Thái tỉnh Sơn La vừa đáp ứng hiệu quả và tăng trưởng về kinh tế nông nghiệp, vừa đảm bảo sinh kế và gia tăng thu nhập cho các hộ gia đình, cộng đồng thôn bản, bảo vệ được môi trường sinh sống và nguồn lực cho các hoạt động sinh kế (gia tăng nguồn lợi tài nguyên thiên nhiên) thông qua hoạt động sản xuất theo nguyên lý bền vững: “sản xuất để làm giàu tài nguyên và lấy giá trị gia tăng từ việc làm giàu tài nguyên làm đa dạng sinh kế”
4.1.5 Quan điểm dân tộc học
Do các vấn đề nghiên cứu của luận án liên quan đến các cộng đồng dân tộc tỉnh Sơn La, đặc biệt là dân tộc Thái, nên quan điểm dân tộc học được vận dụng để phân tích các khía cạnh của văn hóa tộc người trong cách ứng xử với thiên nhiên, trong phương thức sản xuất,… Quan điểm dân tộc học cũng được quán triệt trong khi tổ chức điều tra, khảo sát ở các trường hợp điển hình và phân tích sâu
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã áp dụng một số phương pháp nghiên cứu chính sau:
Trang 164.2.1 Phương pháp thu thập, hệ thống hóa và xử lý tài liệu thứ cấp
Sử dụng phương pháp này trong nghiên cứu đề tài luận án, tác giả đã tiến hành theo các bước:
- Xác định chủ đề, nội dung các lớp thông tin cần thu thập gắn với đề tài: Đó
là các dạng tài liệu văn bản, số liệu thống kê, tư liệu bản đồ,… liên quan đến hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên nói chung và của đồng bào Thái tỉnh Sơn La nói riêng từ năm 2006 đến năm 2016
- Tiến hành thu thập tài liệu theo kế hoạch và danh mục đã lập
+ Các tài liệu văn bản, số liệu thống kê, tư liệu bản đồ,… về hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên của các cộng đồng dân cư dân tộc, miền núi ở tỉnh Sơn La trong các cơ sở lưu trữ
+ Các tài liệu thu thập từ thực tế nghiên cứu của đề tài luận án liên quan đến sản xuất nông, lâm nghiệp, đặc điểm và tập quán canh tác trong sản xuất nông nghiệp của dân tộc Thái do NCS tiến hành tại các điểm lựa chọn làm nghiên cứu điển hình trong khoảng thời gian từ tháng 5/2015 đến tháng 12/2017
- Xử lý, phân loại các nguồn tài liệu đã thu thập được theo yêu cầu nghiên cứu của luận án
4.2.2 Phương pháp khảo sát thực địa
Phương pháp này được tiến hành dựa trên việc khảo sát chi tiết các nhân tố ảnh hưởng tới sản xuất nông, lâm nghiệp tại địa bàn nghiên cứu Trên quan điểm tiếp cận tổng hợp về mối quan hệ qua lại giữa các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất nông, lâm nghiệp Đây là tiền đề để đưa ra việc lựa chọn các nghiên cứu trường hợp
về sản xuất nông, lâm nghiệp của dân tộc Thái tỉnh Sơn La ở các khu vực có các nhân tố ảnh hưởng khác nhau tác động tới sản xuất nông, lâm nghiệp với sử dụng tài nguyên thiên nhiên
Là người được sống và làm việc tại tỉnh Sơn La, NCS được tiếp cận với những hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp của dân tộc Thái diễn ra trong hoạt động hàng ngày Hơn thế nữa, các chuyến thực địa phục vụ các đề tài nghiên cứu khoa học và hướng dẫn sinh viên nghiên cứu đề tài khoa học đã giúp NCS lựa chọn các tuyến khảo sát thực địa trên địa bàn tỉnh Sơn La trong đề tài nghiên cứu của
Trang 17luận án Đó là cơ sở để NCS đã tiến hành khảo sát thực địa tại 6/12 huyện/TP ở địa bàn tỉnh Sơn La đó là: TP Sơn La, các huyện Mai Sơn, Sông Mã, Thuận Châu, Mường La, Quỳnh Nhai Đây là các huyện có dân tộc Thái cư trú lâu đời và có số lượng dân tộc Thái chiếm tỉ lệ cao, có những đặc trưng trong sản xuất nông, lâm nghiệp điển hình cho các khu vực phân bố tập trung dân tộc Thái ở tỉnh Sơn La
Trong quá trình khảo sát thực địa, NCS đã kết hợp phân tích và đánh giá những hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp của dân tộc Thái Đây là cơ sở quan trọng để tác giả lựa chọn các điểm điển hình để tiến hành điều tra xã hội học
4.2.3 Phương pháp điều tra xã hội học
Phương pháp này đã được vận dụng trong đề tài để điều tra khảo sát các phương thức sản xuất chủ yếu trong sản xuất nông, lâm nghiệp ở một số điểm chọn tập trung đông dân tộc Thái trên địa bàn tỉnh Sơn La Từ đó, làm rõ những phân tích, kiểm định các thông tin thu thập được từ nhiều nguồn khác nhau, góp phần tăng giá trị thực tiễn cho kết quả nghiên cứu Phương pháp này được thực hiện theo các bước sau:
a Xác định nội dung điều tra
- Mục đích điều tra: nhằm thu thập các thông tin về sản xuất nông, lâm nghiệp của dân tộc Thái trên địa bàn Sơn La ở quy mô hộ gia đình
- Đối tượng điều tra: Các hộ gia đình là dân tộc Thái với hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp là chủ yếu
- Nội dung điều tra gồm:
+ Thông tin chung về chủ hộ (họ tên, trình độ, số thành viên của hộ, số lao động chính, mô hình sản xuất của hộ)
+ Thông tin về sản xuất nông nghiệp:
Đối với trồng trọt: Diện tích, năng suất, sản lượng, giá bán của các sản phẩm trồng trọt, đất sản xuất nông, lâm nghiệp; chi phí cho các loại cây trồng trong sản xuất của các hộ
Đối với chăn nuôi: Các vật nuôi chủ yếu, chi phí và nguồn thu từ chăn nuôi + Thông tin về sản xuất lâm nghiệp: Diện tích đất rừng được giao của hộ, các loại lâm sản hộ gia đình thường khai thác
Trang 18- Địa điểm điều tra: xã Púng Tra, xã Chiềng Bôm (huyện Thuận Châu); xã Chiềng Bằng, xã Mường Sại (huyện Quỳnh Nhai); xã Chiềng Đen, xã Chiềng Xôm (TP Sơn La)
- Thời gian điều tra: Từ tháng 5/2015 đến tháng 12/2017
b Tiến hành điều tra theo kế hoạch
Tại các hộ điều tra được tiến hành theo phương thức phỏng vấn chủ hộ và điền vào phiếu điều tra
* Xử lý kết quả điều tra
Từ các phiếu điều tra thu thập được, sử dụng phần mềm Excel để xử lý kết quả điều tra làm cơ sở đánh giá và phân tích
Phương pháp điều tra xã hội học được coi là công cụ được kiểm chứng lại những thông tin số liệu đã được thu thập ở từng nội dung trong suốt thời gian thực hiện đề tài Mặt khác, đó là công cụ hữu ích để tìm hiểu những kinh nghiệm (tri thức bản địa), những thuận lợi, khó khăn, nguyện vọng của người dân đưa ra trong quá trình thực hiện sản xuất nông nghiệp ở từng phương thức sản xuất Vì vậy, đó cũng chính là cơ sở để luận án có những đề xuất phát triển các phương thức sản nông nghiệp theo hướng sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên ở địa bàn cư trú của dân tộc Thái có những điều kiện tương tự trong sản xuất nông nghiệp trong thời gian tới
4.2.4 Phương pháp chuyên gia
Trong quá trình thực hiện luận án, NCS đã tham vấn ý kiến của các chuyên gia, các nhà khoa học ở Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Sở Tài nguyên và Môi trường; Trung tâm Khuyến nông tỉnh Sơn La, các cán bộ phụ trách nông nghiệp ở các huyện trong tỉnh, các bậc cao niên già làng, trưởng bản là người dân tộc Thái
Nội dung tham vấn các chuyên gia chủ yếu về sản xuất nông nghiệp với việc
sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên, các phương pháp để xác định tiêu chí đánh giá nông nghiệp bền vững, từ đó vận dụng trong việc đánh giá các phương thức sản xuất nông nghiệp của dân tộc Thái ở tỉnh Sơn La
Trang 194.2.5 Phương pháp bản đồ và hệ thống thông tin địa lý (GIS)
Luận án đã xây dựng một hệ thống bản đồ chuyên đề phản ánh các điều kiện phát triển, thực trạng phát triển và cả định hướng phát triển nông, lâm nghiệp ở các vùng tập trung dân tộc Thái ở tỉnh Sơn La MapInfo 15.0 và các phần mềm chuyên dụng khác đã được sử dụng để kết hợp các dữ liệu không gian và dữ liệu thuộc tính thành lập bản đồ
4.2.6 Phương pháp thống kê
Phương pháp thống kê được sử dụng để hệ thống hóa, phân tích và tổng hợp
số liệu theo các chỉ tiêu thống kê có hệ thống từ các nguồn thứ cấp và khi xử lý kết quả điều tra hộ gia đình bằng Excel Phương pháp thống kê cũng được dùng làm một bước để có dữ liệu thuộc tính để liên kết với dữ liệu không gian trong xây dựng
cơ sở dữ liệu GIS và thành lập bản đồ chuyên đề
5 Những đóng góp mới của đề tài
- Tổng quan có chọn lọc cơ sở lý luận về sản xuất nông, lâm nghiệp gắn với
sử dụng tài nguyên thiên nhiên ở vùng núi nhiệt đới gió mùa để vận dụng vào địa bàn nghiên cứu
- Làm rõ được những nhân tố ảnh hưởng tới sản xuất nông, lâm nghiệp với
sử dụng tài nguyên thiên nhiên của dân tộc Thái ở tỉnh Sơn La Trong đó phân tích được tri thức bản địa trong sản xuất nông nghiệp với việc sử dụng TNTN trước đây
và quá trình chuyển đổi cơ cấu sản xuất, cơ cấu cây trồng, phương thức hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp hiện nay của dân tộc Thái ở tỉnh Sơn La
- Phân tích được mối liên quan của hoạt động sinh kế trong sản xuất nông, lâm nghiệp với việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên của dân tộc Thái ở tỉnh Sơn La; phân tích, đánh giá việc sử dụng TNTN trước đây và việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất, cơ cấu cây trồng, phương thức hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp hiện nay dựa trên khảo sát các hộ sản xuất nông, lâm nghiệp theo chỉ tiêu đã lựa chọn
- Xác định được các mô hình sản xuất nông nghiệp, trong đó bao gồm các
mô hình sản xuất nông nghiệp truyền thống và các mô hình sản xuất mới theo hướng hàng hóa; định hướng phát triển một số mô hình có hiệu quả Đề xuất được
Trang 20các giải pháp sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên trong sản xuất nông, lâm nghiệp của dân tộc Thái ở tỉnh Sơn La
6 Cấu trúc của luận án
Ngoài Phần mở đầu và Kết luận, nội dung chính của luận án gồm có 4 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học về sản xuất nông, lâm nghiệp với việc sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên ở miền núi
Chương 2: Các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất nông, lâm nghiệp với việc sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên của dân tộc Thái ở tỉnh Sơn La
Chương 3: Thực trạng sản xuất nông, lâm nghiệp với việc sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên của dân tộc Thái ở tỉnh Sơn La
Chương 4: Định hướng và giải pháp phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp theo hướng sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên của dân tộc Thái ở tỉnh Sơn La
Luận án còn có danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục
Trang 21CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ SẢN XUẤT NÔNG, LÂM NGHIỆP VỚI VIỆC SỬ DỤNG BỀN VỮNG TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN Ở MIỀN NÚI 1.1 Tổng quan những nghiên cứu về sản xuất nông, lâm nghiệp với việc sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên ở miền núi
1.1.1 Trên thế giới
Sản xuất nông, lâm nghiệp - nền sản xuất từ cổ xưa nhất của loài người vốn luôn luôn gắn kết chặt chẽ với các nguồn tài nguyên thiên nhiên, trong đó, đặc biệt quan trọng là các nguồn tài nguyên đất, nước, rừng Đây là những tài nguyên thiên nhiên (TNTN) cơ bản của nền sản xuất nông nghiệp truyền thống cũng như trong giai đoạn hiện nay ở miền núi Vì thế, các nghiên cứu về lĩnh vực này luôn thu hút được sự quan tâm của các nhà khoa học dưới các khía cạnh khác nhau như: nông nghiệp sinh thái, địa lý nông nghiệp, kỹ thuật nông nghiệp, dân tộc học, nhân học văn hóa…
1.1.1.1 Hướng nghiên cứu về sản xuất nông, lâm nghiệp với việc sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên ở miền núi
Phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp ở miền núi luôn gắn với nguồn TNTN cơ bản là: đất, nước, rừng, trong đó đặc điểm quan trọng của hoạt động nông, lâm nghiệp miền núi được tiến hành chủ yếu trên đất dốc, làm thành chủ đề chính cho các nghiên cứu về miền núi tập trung vào hướng giải quyết về các biện pháp hiệu quả sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên trên đất dốc
Những nghiên cứu cách thức con người khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong sản xuất nông lâm nghiệp Edward B.Barbier (2005) [118], đã phân tích
nhân tố kinh tế chủ yếu chi phối việc sử dụng tài nguyên đất, nước ở các nước đang phát triển, cũng như mối quan hệ phức tạp giữa sự phụ thuộc tài nguyên Trong cuốn sách này tác giả đã khảo sát ở phương diện lịch sử cũng như phân tích lý thuyết để giải thích việc sử dụng kém hiệu quả ở các nền kinh tế giàu tài nguyên Liên quan đến tài nguyên rừng, Vitousek, P (1997) [135] nhận xét: tác động của con người vào nguồn tài nguyên rừng là cả một quá trình lâu dài “dù vô tình hay hữu ý” làm ảnh hưởng ít nhiều tới quỹ sinh thái ngay từ thuở sơ khai và ngày càng
Trang 22khốc liệt trong thời kỳ công nghiệp, hậu công nghiệp khiến cho gần như không có
hệ sinh thái trên cạn và dưới nước nào hiện nay là không bị bàn tay con người can thiệp Cơ quan môi trường châu Âu (EEA) (2005) [119] nhấn mạnh: Việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên cường độ cao làm tăng áp lực lên các nguồn tài nguyên thiên nhiên, trong đó ví dụ điển hình như: Hầu hết trữ lượng cá ở vùng biển châu Âu bị khai thác quá mức và sự thay đổi hệ sinh thái ven biển
Có nhiều nghiên cứu về sự tác động của con người tới việc khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên ở lưu vực sông Fujihara M., Kikuchi T (2005) [120] đã chứng minh những thay đổi nguồn tài nguyên thiên nhiên ở lưu vực sông liên quan đến thay đổi trong mô hình sử dụng đất trong sản xuất nông nghiệp Nghiên cứu của Suhas P Wani và các cộng sự (2012) [134] chứng minh sự tham gia của cộng đồng trong quản lý lưu vực là một trong những lựa chọn đã được thử nghiệm, bền vững
và thân thiện với môi trường để phát triển nền nông nghiệp phụ thuộc vào tự nhiên (dựa vào mưa), để đáp ứng nhu cầu lương thực ngày càng tăng cùng với nhiều lợi ích về cải thiện sinh kế, giải quyết các vấn đề công bằng và đa dạng sinh học Ở vùng nhiệt đới, phương pháp quản lý tổng hợp đầu nguồn cho phép nông dân đa dạng hóa các hệ thống cùng với việc tăng năng suất nông nghiệp thông qua việc tăng lượng nước, trong khi bảo tồn cơ sở tài nguyên thiên nhiên Thu nhập hộ gia đình tăng đáng kể, dẫn đến cải thiện cuộc sống và xây dựng khả năng phục hồi của cộng đồng và tài nguyên thiên nhiên
Các nghiên cứu với xu hướng nghiên cứu về nông lâm kết hợp Các nghiên cứu
của Nair P K R (1985) [129], Sajjaponggse P.J (1994) [131] đã chỉ ra rằng: trên các đất dốc ở miền núi, phương thức sử dụng đất hiệu quả nhất là nông lâm kết hợp Phương thức canh tác này ngày càng phát triển và mang lại hiệu quả nhiều mặt cho người dân sống ở vùng núi châu Á và nhất là ở Đông Nam Á Theo phương thức nông lâm kết hợp, hệ thống canh tác ở vùng đồi núi dốc dựa trên đa dạng hóa cây trồng, vừa bảo vệ đất, chống xói mòn, vừa cải thiện chất lượng đất đai bằng kết hợp giữa các loại cây trồng, trong đó có sự kết hợp giữa cây lâm nghiệp, cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả và cây lương thực
Trang 23Phát triển nông, lâm dựa vào hệ sinh thái được Zhao et al.(2014) [137] phân tích trong công trình “Hệ sinh thái rừng” dựa trên các nghiên cứu quan sát rừng, dữ liệu thực địa nghiên cứu trường hợp hệ sinh thái rừng tự nhiên ở Trung Quốc và nghiên cứu quan sát ở khu rừng thông hỗn hợp được quản lý bởi cộng đồng người địa phương ở Mexico Trong nghiên cứu này, các tác giả đã phân tích tiềm năng của các
hệ sinh thái rừng và lập luận ủng hộ các cam kết dài hạn của các tổ chức duy trì hệ thống canh tác dựa vào hệ sinh thái rừng cho các cộng đồng cư dân sống gần rừng và
có nguồn sinh kế gắn với rừng
Những nghiên cứu mối quan hệ giữa sản xuất với sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên cho thấy Trên quan điểm kinh tế tài nguyên, trước đây trong nền kinh tế
nông nghiệp truyền thống, tài nguyên nông nghiệp chỉ đơn thuần là tư liệu sản xuất, thì ngày nay, trong nền kinh tế thị trường, các nguồn tài nguyên nông nghiệp thể hiện các giá trị kép: vừa là tư liệu sản xuất, sinh kế, vừa là tài sản Vì thế, tài nguyên nông nghiệp không chỉ là tư liệu cho ra sản phẩm nông nghiệp, mà đất đai, rừng, nguồn nước đã có giá trị có thể mua bán, đổi chác, cho, nhượng hay góp vốn vật chất để kinh doanh Từ đó, đã thúc đẩy các hoạt động sản xuất nông nghiệp, phát triển KT-XH nông thôn miền núi càng gia tăng, không chỉ đơn thuần làm ra của cải,
mà còn để tích lũy vốn tài chính thông qua sở hữu tài nguyên, làm cho việc khai thác, sử dụng và chiếm đoạt các nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng tăng theo, dẫn đến hậu quả quỹ tài nguyên ngày càng giảm sút, lượng tài nguyên bị tư hữu hóa gia tăng, khiến cho giá trị kinh tế tài nguyên cả về mặt tư liệu sản xuất, cả về mặt tài sản ngày càng bất ổn, tạo nên mâu thuẫn Trong nghiên cứu của Costanza, R., Daly,
H and Bartholomew, J (1991 [116] đã chỉ ra: sự gia tăng dân số vượt mức kiểm soát như hiện nay đã làm cho nguồn tài nguyên suy giảm nhanh chóng; sự tăng trưởng kinh tế quá nhanh, kéo theo nhu cầu của con người sử dụng các loại tài nguyên là vô hạn định, trong khi nền văn hóa của con người vẫn phải duy trì sự phát triển, dẫn tới khai thác và sử dụng bất hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên Điều này đòi hỏi trong quá trình khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên phải đảm bảo sự cân bằng, nhất là phục hồi và tái tạo chức năng điều chỉnh hệ thống của các
hệ sinh thái nhằm điều tiết cân bằng giữa nhu cầu của con người, xã hội và khả năng đáp ứng của tự nhiên, giữa khai thác với bảo tồn và phát triển tài nguyên Theo
Trang 24Frazier, J (1997) [121], mối quan hệ bền vững trong sử dụng tài nguyên thiên nhiên được khuyến cáo như là hành động của con người mô phỏng quy luật của tự nhiên, gồm cả hoạt động bảo vệ tài nguyên và tái sản xuất tài nguyên tiến tới xây dựng hệ thống quản lý đặc tính thích nghi của các hệ thống tự nhiên trong phát triển KT-XH Trên cơ sở đó, xây dựng các công cụ chính sách và công cụ quản lý hướng tới sự hài hòa giữa bảo tồn đa dạng sinh học, sinh kế và phát triển KT-XH nhằm tạo lập
cân bằng bền vững giữa các bên liên quan
Sjak Smulders và Lucas Bretschger (2007) [132] đã tổng kết nghiên cứu của
17 tác giả về mối quan hệ giữa động lực phát triển kinh tế và việc sử dụng tài nguyên thiên bền vững Nghiên cứu còn đề cập đến một số vấn đề quan trọng trong phát triển kinh tế và môi trường như: thời điểm tối ưu cho việc áp dụng công nghệ xanh trong phát triển kinh tế, việc ứng dụng công nghệ trong quản lý môi trường hay những chính sách môi trường là những giải pháp quan trọng để sử dụng bền vững tài nguyên và phát triển kinh tế
Trong nghiên cứu của Tập đoàn Phát triển và Môi trường (1995) [127] các tác giả đã lưu ý rằng việc sử dụng tài nguyên luôn phản ánh một tình huống xã hội cụ thể và nó thay đổi liên quan đến không gian và thời gian, không có một kết luận chung về việc sử dụng tài nguyên bền vững Mỗi xã hội phải tự quyết định những gì cấu thành việc sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên, vì tính bền vững chủ yếu là vấn đề đánh giá Việc đánh giá tính bền vững đòi hỏi sự tham gia rộng rãi của các bên liên quan, phải trao quyền cho các nhóm xã hội có hoàn cảnh khó khăn Để đảm bảo việc sử dụng tài nguyên bền vững, sự tham gia của phụ nữ là một điều kiện thiết yếu; cần đảm bảo quyền truy cập lâu dài đối với các tài nguyên như là một tiêu chí quan trọng để phân biệt giữa sử dụng thông thường và khai thác quá mức; đa dạng sinh học là một chỉ báo quan trọng của các hệ thống sử dụng tài nguyên bền vững
Những nghiên cứu liên ngành trong sản xuất nông lâm nghiệp và sử dụng tài nguyên thiên nhiên Trong các nghiên cứu của các tác giả Angelstam P,K
Andersson và cộng sự (2013) [112], và Goudie Andrew, Viles Heather (2010 ) [122]
đã đề cập mối quan hệ giữa tài nguyên thiên nhiên và con người, trong đó nhấn mạnh tầm quan trọng của cách thức hay văn hóa ứng xử trong việc khai thác các nguồn tài nguyên và sự biến đổi của tài nguyên thiên nhiên trong tương lai cũng
Trang 25như những thách thức đối với hệ sinh thái và sức khỏe con người Nhóm nghiên cứu cũng sử dụng tiếp cận liên ngành để đánh giá độ bền vững, xây dựng phương pháp quản lý tài nguyên ở nhiều cấp độ Nghiên cứu sản xuất nông, lâm nghiệp trong tiếp cận liên ngành đề cập tới sự thay đổi của hệ thống tự nhiên theo không gian, thời gian, tìm con đường chung giữa phát triển và bền vững, trong đó có những vấn đề
liên quan đến sản xuất nông, lâm nghiệp hiện tại và trong tương lai
1.1.1.2 Hướng nghiên cứu về tri thức bản địa của các dân tộc
Có các nghiên cứu nhằm khai thác tri thức bản địa (TTBĐ) trong nông, lâm nghiệp ở các nước đang phát triển giữa thế kỷ XX như công trình của Mazlan Bin Che Soh, Siti Korota‟aini Omar Procedia (2012) [126], chứng minh người nông dân
đã tích lũy và lưu giữ được những kiến thức trong việc sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên và có kỹ thuật sản xuất phù hợp với các nguồn tài nguyên đó Alan và cộng sự (1997) [110] đã đưa ra hướng dẫn và các kiến nghị khi thực hiện các dự án
có liên quan đến người dân bản địa, lưu ý mối liên hệ giữa các nền văn hóa với nhau
và hệ thống TTBĐ
Louise Grenier (1998) [122] đã nhấn mạnh: “tri thức bản địa được tồn tại và phát triển ở những địa bàn cư trú của các tộc người Nó được tích lũy qua các thế hệ qua các thử nghiệm và quan sát tinh tế, được thể hiện bằng nhiều cách khác nhau như kinh nghiệm trong canh tác nông nghiệp, luật tục, tín ngưỡng” Malcolm (2007) [125] đã nghiên cứu sự đa dạng muôn màu muôn vẻ của TTBĐ trong các hệ thống canh tác nương rẫy cũng như sự khôn khéo trong khai thác vùng đất dốc Tác giả nhận xét rằng: Các nhà môi trường hay chê bai canh tác nương rẫy (nông nghiệp nương rẫy) là không bền vững, đổ lỗi cho nạn phá rừng và suy thoái đất Tuy nhiên, ngày càng có nhiều bằng chứng chỉ ra rằng các tập quán bản địa như vậy khi đã phát triển theo thời gian, có thể thích nghi cao với đất đai và sinh thái Ngược lại, các giải pháp nông nghiệp “khoa học” được áp đặt từ bên ngoài có thể gây hại nhiều hơn cho môi trường, đặc biệt là khi coi nhẹ hệ thống nông nghiệp hỗ trợ lối sống cùng với nhu cầu lương thực của xã hội, cũng như ảnh hưởng của văn hóa tới sự bền vững và tính liên tục của hệ thống nông nghiệp
Trang 26Mohammad cùng các cộng sự (2009) [128] trong công trình “Kiến thức
bản địa về quản lý tài nguyên thiên nhiên của người dân canh tác ở vùng đồi núi” ở Bangladesh đã chỉ rõ: người dân tộc đã phát triển TTBĐ của chính họ
trong việc thực hành canh tác nương rẫy và hệ thống sử dụng đất khác, cũng như trong việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên Trong hầu hết các trường hợp, TTBĐ như vậy trở thành nhân tố chính trong việc quản lý tốt tài nguyên rừng,
sử dụng bền vững đa dạng sinh học Nhưng sự giàu có của TTBĐ của họ đang
bị đe dọa bởi những quyết định của người không thuộc bộ lạc, vì thế, cần khám phá để bảo tồn TTBĐ và để đánh giá các khả năng bảo tồn tài nguyên rừng bằng cách sử dụng TTBĐ
Madhav Karki và các cộng sự (2007) [124] đã đề cập đến việc quản lý TTBĐ nông nghiệp, với nghiên cứu điển hình ở Tanzania Công trình này cung cấp chi tiết nền tảng về TTBĐ và tầm quan trọng của nó trong sự phát triển nông nghiệp Các tác giả cho rằng lý thuyết sáng tạo có thể được sử dụng để quản lý TTBĐ trong cộng đồng địa phương, tuy nhiên, cần có nguồn lực phù hợp và đầy
đủ để nắm bắt và bảo tồn TTBĐ trước khi nó biến mất hoàn toàn
Ramata Mossa và các cộng sự (2017) đã nghiên cứu về TTBĐ thông qua nghiên cứu điển hình về nông nghiệp ở Ethiopia và rút ra nhận xét: phát triển TTBĐ
là một điểm quan trọng trong chuyển đổi ngành nông nghiệp ở Ethiopia Do đó, cần phát triển chiến lược quản lý tri thức trong quản lý TTBĐ về sử dụng đất và nông nghiệp ở phía tây Ethiopia, ở khu vực Ilu Aba Bora Các tác giả cũng chỉ ra những khó khăn, hạn chế trong duy trì, chia sẻ TTBĐ về sử dụng đất và phát triển nông nghiệp trong cộng đồng địa phương, trong đó có tình trạng thiếu hồ sơ TTBĐ, thiếu
sự đánh giá TTBĐ, thiếu sự sẵn sàng tiếp nhận TTBĐ bởi thế hệ trẻ, cách thức chuyển giao TTBĐ chủ yếu thông qua truyền miệng [130]
Das Gupta (2011) [113], chỉ ra rằng TTBĐ là tri thức thực tế của một bộ phận dân số nhất định, ở những vùng có điều kiện địa lý khác nhau, TTBĐ mang những nét đặc trưng về văn hóa, xã hội và những điều kiện sinh thái đặc trưng vùng miền TTBĐ mang tính địa phương, tồn tại thông qua truyền miệng từ đời này qua
Trang 27đời sau và hầu như không được ghi chép lại TTBĐ là tập hợp có hệ thống của tri thức truyền thống hoặc bản địa mà người dân địa phương có được thông qua tích lũy kinh nghiệm, suy luận dựa trên cuộc sống của cả thế hệ, là kết quả của các phép thử - sai, hiểu biết sâu sắc về môi trường trong một nền văn hóa nhất định, thực tế chứ không phải là lý thuyết TTBĐ về cơ bản mang tính địa phương, truyền miệng
và hầu như không được ghi chép lại
Das Gupta trong công trình nghiên cứu (2012) [114] đã khảo sát, nhằm lý giải mối quan hệ giữa TTBĐ và phát triển bền vững TTBĐ có thể góp phần vào quản lý đa dạng sinh học, nhiều vấn đề bảo tồn khác nhau, quản lý thảm họa, trồng trọt hữu cơ và các vấn đề khác Có rất nhiều nội dung của TTBĐ được duy trì nhờ vào các lễ hội văn hóa và do đó TTBĐ có phần mang tính hệ thống
Có thể thấy rằng các nghiên cứu về TTBĐ được thực hành ở các nước đang phát triển từ những thập niên giữa thể kỷ XX đầu thế kỷ XXI theo các hướng cơ bản như: khai thác giá trị của TTBĐ cho phát triển kinh tế bền vững, bảo tồn văn hóa xã hội, thông qua việc tìm hiểu TTBĐ để thấy được văn hóa ứng xử của con người với môi trường
1.1.2 Ở Việt Nam
1.1.2.1 Hướng nghiên cứu về sản xuất nông, lâm nghiệp với việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên ở miền núi
Vấn đề phát triển nông nghiệp nói chung và nông nghiệp miền núi nói riêng
đã thu hút được sự quan tâm chú ý của các nhà khoa học Tác giả Phạm Bình Quyền
(2003) [68] trong công trình “Hệ sinh thái nông nghiệp và phát triển bền vững” đã
phân tích đặc điểm hệ sinh thái nông nghiệp nương rẫy của các tộc người sống ở vùng núi là hệ sinh thái nông nghiệp phức tạp và đa dạng với nhiều thành phần cây trồng vật nuôi ở từng điều kiện tự nhiên khác nhau Hệ thống canh tác nương rẫy đang được duy trì như một hệ thống nông nghiệp ở vùng nhiệt đới và đóng vai trò quan trọng, bởi vì
nó bao trùm một vùng rộng lớn, chứa đựng sự đa dạng về truyền thống, văn hóa và con người Việc phát triển nông nghiệp ở vùng núi phải được xem xét ở nhiều khía cạnh của mỗi tộc người với những điều kiện tự nhiên và môi sinh khác nhau trong việc khai thác các nguồn lực tự nhiên để phát triển nông, lâm nghiệp
Trang 28Nhóm tác giả Deanna Donovan, A.Terry Rambo, Jefferson Fox, Lê Trọng
Cúc, Trần Đức Viên trong chuyên khảo “Những xu hướng phát triển ở vùng núi
phía Bắc Việt Nam” (1997) [28] đã phân tích những thách thức cơ bản đối với phát
triển nông nghiệp ở vùng núi, đó là: Địa hình dốc và sự chia cắt mạnh; nhu cầu cần thiết để khôi phục lớp phủ thực vật và tổn thất đất đai do xói mòn; giao thông vận tải khó khăn; những vấn đề về các tiêu chuẩn văn hóa và điều kiện xã hội của các cư dân sống ở vùng núi Đó là những khó khăn thách thức chính kiềm chế sự phát triển nông nghiệp nói riêng và kinh tế ở vùng núi nói chung
Lê Trọng Cúc và A.Terry Rambo (2001) [21] trong công trình “Vùng núi
phía Bắc Việt nam một số vấn đề về môi trường và kinh tế - xã hội” đã khảo sát năm
cộng đồng dân tộc tại 5 điểm nghiên cứu điển hình, đặc trưng cho sự đa dạng sinh thái nhân văn của vùng núi Mặc dù,
có điểm chung là canh tác nông nghiệp là chủ yếu, song mỗi dân tộc lại có cách thức kết hợp các loại cây trồng vật nuôi khác nhau tùy theo điều kiện tự nhiên cũng như các nét đặc trưng văn hóa của mỗi dân tộc
Lê Văn Khoa và Trần Thị Lành (1997) [48], trong “Môi trường và phát triển
bền vững ở miền núi” đã nghiên cứu đặc điểm khai thác các nguồn tài nguyên ở
miền núi theo hướng bền vững Hoàng Văn Cường (2005 ) [24] với nghiên cứu “Xu
hướng phát triển kinh tế xã hội các vùng dân tộc miền núi” đã đề cập tới các đặc
trưng thế mạnh cơ bản của miền núi là: Đất rộng và tốt, khí hậu tuy có khác nhau nhưng nhìn chung ẩm và mát, đồng bào các dân tộc miền núi có nhiều kinh nghiệm truyền thống, biết tận dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, có nhiều giống cây trồng vật nuôi có khả năng chống chịu cao và năng suất ổn định Tuy nhiên, tác giả cũng chỉ ra những khó khăn đối với phát triển nông nghiệp miền núi là: địa hình chia cắt và độ dốc lớn, đất bị xói mòn và thoái hóa nghiêm trọng, cơ sở hạ tầng và
cơ sở vật chất kỹ thuật chưa phát triển, trình độ dân trí còn thấp Với những thuận lợi và khó khăn cơ bản trên, ở miền núi đang tồn tại 3 hình thái hệ thống nông nghiệp là: Hệ thống nông nghiệp truyền thống (với đặc điểm cơ bản là du canh); hệ thống nông nghiệp chuyển tiếp - với đặc trưng là những nương rẫy trong phiêng bãi,
kỹ thuật gieo trồng có cải tiến hơn như xen canh, gối vụ; Hệ thống nông nghiệp hiện đại với đặc trưng là các vườn cây công nghiệp của các lâm trường, hợp tác xã
Trang 29Tác giả Phan Sĩ Mẫn (2010) [59], đã khắc họa những đặc điểm chính của sản xuất nông nghiệp truyền thống là:
- Nền kinh tế xã hội có tính cộng đồng, tính tự quản và tương đối biệt lập;
- Nền kinh tế trọng nông và tự cung, tự cấp;
- Nền sản xuất nhỏ lạc hậu, tích lũy thấp và tiết kiệm tiêu dùng;
- Nền kinh tế xã hội nông nghiệp truyền thống vừa lệ thuộc vào tự nhiên vừa cải tạo và thích ứng, hài hòa với tự nhiên
Theo tác giả, mối liên kết giữa hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp truyền thống thể hiện triết lý về quan hệ giữa tự nhiên và con người (Thiên - Địa - Nhân)
Vì vậy, trong nền kinh tế xã hội, nông nghiệp truyền thống, các yếu tố “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” luôn được coi là những yếu tố quan trọng hàng đầu trong phát triển sản xuất và đời sống” Tác giả Phan Sĩ Mẫn cũng cho rằng, ở miền núi các làng bản và dân cư thưa thớt hơn, nhưng nơi đây cũng có nhiều thung lũng màu mỡ, những đồng cỏ, đồi, rừng, với hệ sinh thái động, thực vật và sản vật tự nhiên phong phú, đa dạng Đó là nơi có điều kiện thuận lợi cho phát triển sản xuất và đời sống của dân cư Bên cạnh việc lợi dụng các yếu tố, điều kiện thuận lợi của tự nhiên, thì ngay từ xa xưa, các cộng đồng dân cư cũng luôn phải tìm cách cải tạo các yếu tố tự nhiên, thích ứng và ứng phó với những tác động bất lợi của tự nhiên để bảo vệ sản xuất và cuộc sống Trong quá trình lao động biền bỉ để cải tạo tự nhiên và ứng phó với những bất lợi của tự nhiên, các cộng đồng cư dân nông nghiệp ngày càng
có những hiểu biết và tri thức về tự nhiên, tích lũy kinh nghiệm để chung sống hài hòa với tự nhiên và lợi dụng tốt hơn các điều kiện tự nhiên Kinh nghiệm và
sự hiểu biết về thời tiết, khí hậu, về đất đai, hay mùa vụ phát triển của các loại cây trồng, vật nuôi đã được đúc kết và được áp dụng rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng, đánh bắt thủy sản, săn bắn và khai thác sản vật tự nhiên, đã trở thành kho tri thức bản địa hay tri thức tộc người
Tác giả Trần Bình (2001) [10], trong “Tập quán hoạt động kinh tế của một
số dân tộc ở Tây Bắc Việt Nam” đã phân tích tập quán hoạt động kinh tế - văn hóa
sản xuất thông qua việc tìm hiểu hệ thống tri thức được tích lũy và truyền tải qua các thế hệ của mỗi tộc người Trong đó tác giả phân tích sâu về một số tộc người điển hình ở mỗi dạng địa hình khác nhau ở Tây Bắc là: dân tộc La Hủ, Si La đại
Trang 30diện cho vùng cao; dân tộc Khơ Mú, Xinh Mun đại diện cho vùng giữa; dân tộc Thái đại diện cho vùng thấp (thung lũng chân núi) Mỗi tộc người sinh sống và sản xuất ở những môi trường tự nhiên, xã hội khác nhau, nên họ có cách ứng xử khác nhau với môi trường xung quanh để thích ứng, tồn tại và phát triển Dân tộc Thái sống ở vùng thấp, trong các thung lũng chân núi, có điều kiện thuận lợi cho việc canh tác cây lúa nước, nên dân tộc này lấy việc trồng lúa nước ở các thung lũng làm nguồn sống chính; có nhiều kinh nghiệm trong việc trồng cây lúa nước (đặc biệt là cây lúa nếp) Ngoài ra, họ còn canh tác nương rẫy để có thêm nguồn lương thực và thức ăn cho gia súc, gia cầm
Nghiên cứu của Khổng Diễn (1996) [30], “Những đặc điểm kinh tế - xã hội
các dân tộc miền núi phía Bắc” đã phân tích những đặc điểm về môi trường tự nhiên
và dân số - tộc người của các dân tộc miền núi, một số vấn đề cơ bản về kinh tế truyền thống của các dân tộc sống ở vùng thung lũng chân núi hay vùng rẻo cao và rẻo giữa Các cộng đồng tộc người đều lấy kinh tế trồng trọt làm nguồn sống chính, ngoài ra họ còn chăn nuôi và khai thác nguồn lợi tự nhiên từ rừng và các sông suối, chủ yếu để tự cung tự cấp Tác giả đã phân tích những đặc trưng của các loại hình canh tác truyền thống của mỗi tộc người thể hiện cách ứng xử với môi trường tự nhiên cũng như các tập quán và nếp sống văn hóa khác nhau tùy vào điều kiện môi sinh của mỗi tộc người trên những dạng địa hình canh tác và cư trú khác nhau
Tác giả Trần Ngọc Ngoạn (1999) [60], khi phân tích về hệ thống nông nghiệp đã
đề cập tới phương thức sản xuất đa canh cho ra nhiều loại sản phẩm bao gồm cả sản phẩm của trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy sản, cho phép sử dụng hợp lý và có hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên và lực lượng lao động có sẵn
Tác giả Phạm Văn Vang (1981) [122], khi nghiên cứu về “Một số vấn đề
phương thức sản xuất kết hợp nông - lâm nghiệp trên đồi núi Việt Nam” đã phân
tích và chỉ rõ đặc điểm tự nhiên nhiệt đới ở vùng núi Việt Nam tạo điều kiện thuận lợi cho xây dựng phương thức sản xuất nông lâm kết hợp, hỗ trợ nhau tồn tại và phát triển Tác giả đã phân tích những hình thức sản xuất nông lâm kết hợp ở miền núi nước ta và chỉ ra những vấn đề kinh tế, kỹ thuật cũng như các biện pháp để phát triển các mô hình này
Trang 31Trong cuốn giáo trình “Nông lâm kết hợp” do Đặng Kim Vui chủ biên
(2007) [108], đã phân tích những thách thức trong quản lý tài nguyên thiên nhiên bền vững đối với các vùng nông thôn miền núi, trong đó đặc biệt nhấn mạnh tới tính chất mong manh và dễ bị tổn thương của đất và rừng nhiệt đới cũng như tính đa dạng sinh thái tự nhiên (địa hình, đất đai, tiểu khí hậu, đa dạng sinh…) và đa dạng sinh thái nhân văn (về dân tộc và văn hóa, về các hệ thống canh tác truyền thống) của khu vực nông thôn miền núi Trong những thập niên gần đây khu vực nông thôn miền núi còn đang chịu những tác động kinh tế xã hội như áp lực về dân số, việc xây dựng các công trình thủy điện, sự biến động về chính sách, kinh tế thị trường,…
mà khả năng thích ứng của khu vực nông thôn trước các thách thức này còn hạn chế Vì vậy việc phát triển nông, lâm kết hợp được coi như là một phương thức quản lý sử dụng đất bền vững trong phát triển nông nghiệp ở vùng núi
Trong cuốn “Hướng tới một nền lâm nghiệp bền vững, đa chức năng” (2008)
[16] các tác giả Trần Văn Con, Phạm Xuân Hoàn đã phân tích và đánh giá vai trò của rừng cũng như xác định 5 chức năng cơ bản của rừng (sản xuất, bảo vệ, giải trí, môi sinh, bảo vệ loài và các hệ sinh thái), trên cơ sở đó đề xuất các nguyên lý quản
lý rừng bền vững để hướng tới một nền lâm nghiệp bền vững và đa chức năng
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về việc khai thác và sử dụng tài nguyên thiên trong sản xuất nông, lâm nghiệp, trong đó có những công trình sau:
- Tác giả Đoàn Văn Điếm (2012) [29], đã phân tích thực trạng và tiềm năng tài nguyên thiên nhiên cũng như những nguy cơ và nguyên nhân gây nên sự biến đổi nguồn tài nguyên thiên nhiên, những hướng khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên để đảm bảo cho sự phát triển bền vững
- Tác giả Phạm Văn Phê (chủ biên) (2013) [63], đã phân tích những nguyên
lý cơ bản của sinh thái học và những ứng dụng của nó trong sản xuất nông, lâm nghiệp theo hướng phát triển bền vững Đó cũng là cơ sở để vận dụng trong việc sử dụng bền vững và phục hồi các nguồn tài nguyên có khả năng tái tạo và ngăn ngừa
ô nhiễm môi trường
Đề cập tới việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên miền núi, các công
trình nghiên cứu như: “Quản lý tài nguyên thiên nhiên trên cơ sở phát triển cộng
đồng” của Huỳnh Quang Tín (2011) [84] và cuốn “Cải tiến quản lý nguồn tài
Trang 32nguyên thiên nhiên vùng đất dốc miền Bắc Việt Nam” của Trần Đình Long (2005)
[54]; “Kinh tế miền núi và các dân tộc: thực trạng - giải pháp” của Phạm Văn
Vang (1996), [105] Các công trình đã nêu đề cập tới cách thức cộng đồng khai thác
và quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên ở vùng núi, phân tích những cơ hội và thách thức trong phát triển nông nghiệp, đặc biệt là sinh thái nông nghiệp gắn với bảo vệ tài nguyên như việc giữ đất, giữ nước, canh tác bền vững trên đất dốc, cách thức gieo trồng và quản lý hệ thống cây trồng, sử dụng hiệu quả đất đai và chu trình dinh dưỡng trong những hệ sinh thái nông nghiệp địa phương ở vùng vốn rất mong manh và dễ mất cân bằng
Có thể kể đến những nghiên cứu về tác động tới việc sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên của các mô hình sản xuất như: Lê Trọng Cúc (chủ biên) (1990) [22], Đàm Trung Thuận - Trương Quang Hải (1999) [83] Các công trình nghiên cứu đã đề cập tới các mô hình sản xuất nông nghiệp ở các địa bàn khác nhau nhưng đều có một đặc điểm chung là: cơ sở để hình thành các mô hình do nhiều yếu tố tác động Ở miền núi, việc hình thành các mô hình bị chi phối rất lớn bởi đặc điểm địa hình và đất đai, mặc dù các yếu tố khác như đường lối chính sách, thị trường… ở từng vùng, địa phương có tác động không nhỏ tới phương thức sử dụng các nguồn TNTN Bởi vậy, việc sử dụng bền vững nguồn TNTN ở mỗi mô hình sản xuất hiệu quả phải dựa trên những nghiên cứu phân tích về ưu thế và thách thức hạn chế của nguồn TNTN, để từ đó đề xuất các mô hình sản xuất đạt hiệu quả cao về kinh tế, bảo vệ hệ sinh thái và môi trường
Dưới góc độ Địa lý các công trình nghiên cứu về sản xuất nông nghiệp và sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên có thể kể đến các nghiên cứu tiêu biểu như: Nguyễn Minh Tuệ (2013 ) [91], Nguyễn Minh Tuệ (chủ biên), Nguyễn Viết Thịnh,
Lê Thông (2005) [92] ; Nguyễn Viết Thịnh- Đỗ Thị Minh Đức (2003) [79]; Nguyễn Ngọc Khánh (2018) [46] Trong đó, tác giả Nguyễn Viết Thịnh- Đỗ Thị Minh Đức (2003) đã phân tích các nguồn lực trong phát triển nông nghiệp ở Việt Nam nói chung, cũng như các thế mạnh và hạn chế chính ở Trung du và miền núi cũng như các vùng trên cả nước trong phát triển nông nghiệp
Trang 33Bên cạnh đó các đề tài luận án Địa lý nghiên cứu về sản xuất nông, lâm nghiệp cũng như việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên như: Lê Mỹ Phong (2002) [64], Dương Quỳnh Phương (2007) [66], Vũ Quốc Đạt (2013) [25], Trần Thị Tuyến (2015) [99] Các luận án kể trên thực hiện ở các địa bàn nghiên cứu khác nhau, nhưng đều có điểm chung là vấn đề sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên trong phát triển kinh tế ở miền núi: có các nguồn tài nguyên đa dạng nhưng rất dễ bị suy thoái, “tổn thương”, trong đó đặc biệt là nguồn tài nguyên đất bởi phần lớn được phân bố ở địa hình có độ dốc lớn Hơn thế nữa miền núi cũng là nơi cư trú của nhiều đồng bào dân tộc ít người nên việc áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong phát triển kinh tế vẫn còn nhiều khó khăn và trở ngại
1.1.2.2 Hướng nghiên cứu về tri thức bản địa của các dân tộc về sản xuất nông, lâm nghiệp gắn với sử dụng tài nguyên thiên nhiên
Nghiên cứu về TTBĐ trong những thập niên gần đây được nhiều nhà khoa học trong nước quan tâm nghiên cứu Các nghiên cứu tập trung theo hai hướng chủ yếu: một là, khai thác các giá trị của TTBĐ cho việc sử dụng nguồn tài nguyên trong phát triển kinh tế hướng tới sự bền vững; hai là, TTBĐ trong việc bảo tồn văn hóa
Trong số các công trình nghiên cứu TTBĐ vùng núi phải kể đến Hoàng
Xuân Tý và Lê Trọng Cúc (1998) [101], với nghiên cứu “Kiến thức bản địa của
đồng bào vùng cao trong nông nghiệp và quản lý tài nguyên thiên nhiên” trong đó
có đề cập đến các giống lúa chịu hạn, có khả năng chống được sâu bệnh và cho năng suất ổn định
Phạm Quốc Hùng và Hoàng Ngọc Ý trong “Nghiên cứu tri thức bản địa
của người Mông tại khu bảo tồn thiên nhiên Hang kia - Pà Cò, tỉnh Hòa Bình trong bảo vệ rừng” (2009) [43], đã đánh giá hệ thống TTBĐ của người Mông
địa phương trong việc quản lý và bảo vệ rừng, đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy hệ thống TTBĐ của tộc người này để góp phần quản lý tài
nguyên rừng một cách bền vững Trần Bình trong “Tập quán hoạt động kinh tế
của một số dân tộc ở Tây Bắc Việt Nam,” (2001) [10] đã đề cập đến những tập
quán canh tác và TTBĐ của các tộc người sống ở miền núi Tây Bắc trong các hoạt động sinh kế nông nghiệp
Trang 34Tác giả Phạm Bình Quyền (2003) [68] với nghiên cứu về “Hệ sinh thái nông
nghiệp và phát triển bền vững” đã phân chia TTBĐ trong nông nghiệp thành 2 loại
chính là “tri thức kỹ thuật” và một loại khác có các tên gọi như “luật tục” hay
“tục lệ” Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng, mặc dù trình độ phổ cập giáo dục phổ thông của người dân miền núi thấp hơn so với miền xuôi, song trình độ hiểu biết của họ về sản xuất nông nghiệp thích hợp với sinh thái địa phương có thể khá cao nhờ vào kinh nghiệm đã được tích lũy qua thực tế sản xuất ở địa phương
Lê Trọng Cúc, Kathllen Gillogy, A.Terry Rambo trong công trình nghiên
cứu “Hệ sinh thái nông nghiệp trung du miền Bắc Việt Nam” (1990) [22], đã
phân tích vai trò đặc biệt quan trọng của tri thức địa phương, bởi nó đã được thử thách qua áp lực chọn lọc mạnh mẽ và lâu dài Nhờ có tri thức địa phương người dân có thể xác định được những hạn chế ảnh hưởng tới sản xuất nông nghiệp
Tác giả Đặng Thị Oanh (2015) [62], từ kết quả phân tích TTBĐ của dân tộc Thái trong việc bảo vệ nguồn nước thông qua các biện pháp bảo vệ rừng, xen canh cây trồng, kinh nghiệm ứng xử với tài nguyên nước, đã chỉ ra sự tương đồng về ứng phó với sự biến đổi môi trường, khí hậu hiện nay Nguyễn Hồng Anh, Lô May Hằng (2017) [3], đã tập trung vào việc tìm hiểu TTBĐ của dân tộc Thái trong sản xuất nông, lâm nghiệp và việc vận dụng TTBĐ trong sản xuất hiện nay của người Thái ở huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An
Tri thức bản địa cũng được nghiên cứu trong các luận án tiến sĩ của Dương Quỳnh Phương (2007) [66], Vũ Trường Giang (2009) [34], Mai Văn Tùng (2011) [98], đề cập tới TTBĐ trong việc khai thác, sử dụng và quản lý tài nguyên trong sản xuất và đời sống của cộng đồng các dân tộc sống ở vùng núi khác nhau của Việt Nam
Mối quan hệ giữa sản xuất với văn hóa với các dân tộc, đặc biệt là dân tộc Thái và người Thái ở Tây Bắc được đề cập đến ở nhiều công trình, có thể kể đến
“Nhận diện văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam” của Nguyễn Đăng Duy (2004)
[32], "Văn hóa Thái Việt Nam" của Cầm Trọng- Phan Hữu Dật (1995) [96]; "Người
Thái ở Tây Bắc Việt Nam" của Cầm Trọng (1978) [93] Các công trình trên đã đi
sâu vào nghiên cứu về quan hệ sản xuất nông nghiệp truyền thống trong mối gắn kết với các nguồn lực tự nhiên, những TTBĐ của các dân tộc sống ở vùng núi, trong đó với những phân tích chuyên sâu của dân tộc Thái được vận dụng trong sản xuất
Trang 35nông, lâm nghiệp để thích ứng với điều kiện tự nhiên nhằm hạn chế những khó khăn
và phát huy được hiệu quả sản xuất
Cẩm Tú Lan trong “Tri thức bản địa của phụ nữ Thái Tây Bắc trong nông
nghiệp và quản lý TNTN” (2005) [52] đi sâu tìm hiểu về TTBĐ của phụ nữ Thái ở
Tây Bắc trong việc khai thác, sử dụng các loài cây cỏ thiên nhiên như là nguồn sinh
kế bổ sung, vừa đáp ứng được nhu cầu của các hộ gia đình dân tộc Thái, vừa sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên ở địa bàn cư trú
Các công trình nghiên cứu của các tác giả đều chỉ ra rằng tri thức bản địa đóng góp một phần quan trọng trong phát triển kinh tế miền núi gắn với bảo tồn văn hóa và sử dụng, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên ở các địa bàn cư trú của các dân tộc ít người
1.1.3 Ở Sơn La
Tác giả An Văn Bảy (1996) [7] trong Đề án: ''Nghiên cứu mô hình phát triển
nông, lâm nghiệp cộng đồng nhằm mục tiêu bảo vệ môi trường và phát triển bền vững tại 3 vùng sinh thái tiêu biểu tỉnh Sơn La'' đã nghiên cứu hệ thống canh tác
tổng hợp tại cộng đồng sống ở rừng và dựa vào rừng của 3 vùng sinh thái tiêu biểu:
Ở vùng cao trên 1000m, địa bàn cư trú chủ yếu cho dân tộc Mông; nơi có độ cao trung bình 400m, địa bàn cư trú chủ yếu cho dân tộc Thái; và ở độ cao 250m thuộc huyện Mường La, tiêu biểu là địa bàn của cư dân vùng phòng hộ đầu nguồn sông
Đà Tác giả đã phân tích những tiềm năng tổng hợp tại các vùng sinh sống của các dân tộc ở 3 địa bàn sinh thái với các độ cao - các rẻo văn hóa khác nhau, trong đó chú trọng nghiên cứu những kiến thức của người dân về các giải pháp quản lý tài nguyên bền vững, nhất là tài nguyên rừng
Tác giả Phạm Quang Linh (2015) [55] đã đề cập đến việc quản lý và sử dụng tài nguyên đất, những kinh nghiệm trong việc canh tác ở đất ruộng và kinh nghiệm chống xói mòn khi canh tác trên địa hình dốc Bên cạnh đó trong nghiên cứu này tác giả còn đề cập tới những tri thức khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên để phục vụ nhu cầu thiết yếu của cuộc sống (khai thác các loại rau, củ, quả trong rừng)
Tác giả Phạm Văn Lợi (2013) trong “Nghiên cứu những biến đổi điều kiện
sống, đề xuất giải pháp phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội các cộng đồng cư dân
Trang 36khu vực tái định cư thủy điện Sơn La, tỉnh Sơn La” [56] đã đánh giá những biến đổi
về điều kiện tự nhiên và biến đổi xã hội bao gồm: biến đổi tổ chức làng bản, biến đổi hôn nhân gia đình, dòng họ Tác giả còn phân tích sự xuất hiện những khía cạnh
xã hội mới tác động tới ứng xử của cộng đồng dân cư tái định cư với thiên nhiên, từ
đó đề xuất các giải pháp nhằm ổn định đời sống, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của cộng đồng dân tái định cư thủy điện Sơn La
Đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của việc phát triển thủy điện đến tài nguyên
đất canh tác vùng Tây Bắc” do Phạm Anh Tuân làm chủ nhiệm (2015) [90] tập
trung đánh giá biến động tài nguyên đất canh tác do tác động của công trình thủy điện Sơn La và công trình thủy điện Nậm Mức ở tỉnh Điện Biên Tác giả đã tổng hợp kết quả điều tra về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên, kinh tế xã hội ở hai lưu vực thủy điện này và đánh giá ảnh hưởng của công trình thủy điện đến chất lượng tài nguyên đất canh tác trong lưu vực của công trình thủy điện Từ đó, đề tài
đề xuất và kiến nghị những giải pháp sử dụng hiệu quả tài nguyên đất canh tác trên các lưu vực sông của các công trình thủy điện trên
Kết quả tổng luận các nghiên cứu liên quan đến hướng nghiên cứu của đề tài cho thấy:
- Nghiên cứu về sản xuất nông, lâm nghiệp gắn với sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên ở miền núi là vấn đề thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực, được xem là vấn đề nghiên cứu liên ngành, liên lĩnh vực hiện nay Vấn đề sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm đảm bảo phát triển bền vững được nghiên cứu không chỉ ở châu Á, ở Đông Nam Á - nôi của nông nghiệp trồng lúa nước và lúa cạn, mà còn cả ở châu Âu, Bắc Mỹ; vấn đề này cũng rất được quan tâm ở Việt Nam Đây chính là hệ thống tư liệu quan trọng để đề tài luận án hình thành hướng tiếp cận và phương pháp luận nghiên cứu phù hợp
- Ở Việt Nam, trong các nghiên cứu về sản xuất nông, lâm nghiệp, nông lâm kết hợp được coi là giải pháp hữu hiệu nhằm canh tác hợp lý trên đất dốc gắn với sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên Vấn đề sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong sản xuất nông nghiệp đối với các dân tộc sống ở vùng núi đang và cần được quan tâm hơn bởi sự đa dạng của văn hóa tộc người, cùng với sự đa dạng và
Trang 37phong phú, nhưng cũng dễ bị tổn thương của các nguồn tài nguyên Đó là cơ sở để luận án tập trung nghiên cứu sản xuất nông, lâm nghiệp gắn với việc sử dụng nguồn tài nguyên đất, nước, rừng của dân tộc Thái trên địa bàn tỉnh Sơn La
1.2 Cơ sở lí luận
1.2.1 Một số khái niệm
1.2.1.1 Các khái niệm liên quan đến nông nghiệp, lâm nghiệp
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cổ xưa nhất của loài người, với hoạt động đặc thù là trồng trọt và chăn nuôi Tài nguyên thiên nhiên (đất, khí hậu, nguồn nước, sinh vật) luôn là tiền đề cho sự phát triển và phân bố nông nghiệp Các sản phẩm nông nghiệp không chỉ nhằm cung cấp lương thực, thực phẩm cho con người
mà còn cung cấp các nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, và nhiều sản phẩm thiết yếu khác cho đời sống Trong sản xuất nông nghiệp, nông gia cần điều khiển quá trình sinh trưởng, phát triển và cho sản phẩm của cây trồng vật nuôi theo hướng có lợi nhất cả về sản lượng và chất lượng, mùa vụ,…
Sản xuất lâm nghiệp là các hoạt động chăm sóc nuôi dưỡng và bảo vệ rừng; khai thác, vận chuyển và chế biến các sản phẩm từ rừng; trồng cây, tái tạo rừng, duy trì tác dụng phòng hộ nhiều mặt của rừng Khoa học lâm nghiệp được hiểu như là một “khoa học quản lý các loại rừng nhằm sản xuất ra các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ rừng một cách ổn định, bền vững” (P.S.Baker, 1979) [41]
Phát triển lâm nghiệp bền vững là một loại hình kinh doanh vừa thỏa mãn nhu cầu của người đương đại lại không nguy hại đến việc thỏa mãn nhu cầu của thế
hệ con cháu (Boyle, 1990, dẫn theo [16]) Lâm nghiệp bền vững là bảo tồn lâu dài quá trình sinh thái cơ bản đồng thời cung cấp nhu cầu vật chất dịch vụ cho thế hệ hiện tại và mai sau (Lee, dẫn theo [16]) Như vậy, đề cập tới lâm nghiệp bền vững là nói tới chức năng sinh thái của rừng, mà trong hệ sinh thái có cả con người
1.2.1.2 Các khái niệm liên quan về tài nguyên thiên nhiên
a) Tài nguyên thiên nhiên
Khái niệm được thừa nhận rộng rãi trong các tài liệu địa lý là như sau: Tài nguyên thiên nhiên, đó là các thành phần của tự nhiên (các vật thể và các lực tự nhiên) mà ở trình độ nhất định của sự phát triển lực lượng sản xuất chúng được sử
Trang 38dụng hoặc có thể được sử dụng làm phương tiện sản xuất (đối tượng lao động và tư liệu lao động) và làm đối tượng tiêu dùng [92]
Dưới cách nhìn của các nhà thương mại, thì mọi hàng hóa đều có chứa tài nguyên thiên nhiên (ví dụ, ô tô có chứa quặng sắt) hoặc cần có tài nguyên thiên nhiên trong quá trình sản xuất (ví dụ, cây lương thực cần có đất và nước để phát triển), vì vậy mọi hàng hóa đều có thể phân loại là tài nguyên thiên nhiên Tuy nhiên, các tài nguyên thiên nhiên dù là ở dạng thô, thì để có thể thương mại được hay tiêu thụ được đều cần có sơ chế (chế biến tối thiểu) Vì lý do đó, các tác giả của
“Báo cáo thương mại thế giới 2010: Thương mại tài nguyên thiên nhiên” (WTR2010) đã đưa ra định nghĩa: “Tài nguyên thiên nhiên là nguồn cung cấp các
loại vật liệu vốn tồn tại trong môi trường tự nhiên; những vật liệu này vừa khan hiếm vừa hữu dụng về mặt kinh tế để sản xuất hay tiêu dùng, dù là ở dạng thô (chưa chế biến) hay sau khi được chế biến tối thiểu” (tr.46) Đối với thương mại thế giới, các tài nguyên có vị trí quan trọng là thủy sản, lâm sản, nhiên liệu
và các khoáng sản
Có các cách phân loại TNTN khác nhau [92]:
- Phân loại theo thuộc tính tự nhiên (tài nguyên nước (nước trên mặt và nước dưới đất), tài nguyên đất, tài nguyên thực vật, tài nguyên động vật, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên khí hậu ) Theo cách này, có khái niệm mang tính tập hợp như tài nguyên rừng, tài nguyên biển, công dụng, khả năng tái tạo…
- Phân loại tài nguyên theo mục đích sử dụng, theo các thứ tự ưu tiên trong việc sử dụng tài nguyên Chẳng hạn như phân loại thành nhóm các tài nguyên nông nghiệp, tài nguyên công nghiệp, tài nguyên du lịch Trong tài nguyên khoáng sản lại có thể chia ra nhóm khoáng sản nhiên liệu, nhóm nguyên liệu cho công nghiệp luyện kim, nhóm nguyên liệu cho công nghiệp hóa chất Tuy nhiên, sự phân loại này trong nhiều trường hợp là không thực sự theo đúng nghĩa, vì một tài nguyên riêng biệt có thể xếp vào các nhóm khác nhau
- Phân loại tài nguyên thiên nhiên theo tính có thể bị hao kiệt của tài nguyên trong quá trình con người sử dụng tự nhiên Từ đó có thể chia ra thành hai nhóm chính: Tài nguyên thiên nhiên không bị hao kiệt và Tài nguyên thiên nhiên có thể bị
Trang 39hao kiệt Trong nhóm Tài nguyên thiên nhiên có thể bị hao kiệt lại chia thành hai nhóm nhỏ hơn: Tài nguyên thiên nhiên không tái tạo được (không khôi phục được)
và Tài nguyên thiên nhiên tái tạo được (khôi phục được) Các tài nguyên sử dụng trong nông, lâm nghiệp thuộc nhóm tài nguyên thiên nhiên tái tạo được
b) Sử dụng bền vững TNTN
Sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên là phương pháp sử dụng hợp lý và tiết kiệm các nguồn tài nguyên thiên nhiên, kể cả các nguồn tài nguyên tái tạo hay không tái tạo, sao cho đáp ứng đủ nhu cầu của các thế hệ hiện tại nhưng vẫn không ảnh hưởng đến việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai [29]
Muốn sử dụng bền vững tài nguyên cần phải đạt được những yêu cầu sau:
- Giữ mức khai thác trong phạm vi có thể tái sinh, tái tạo được đối với các nguồn tài nguyên phục hồi được Xác định rõ mức khai thác sản lượng bền vững (mức khai thác vừa đủ để các nguồn tài nguyên có khả năng tái sinh được) và không được phép khai thác quá sản lượng này
- Quản lý tốt các nguồn tài nguyên không phục hồi được, sử dụng những kỹ thuật tiên tiến để giảm hao phí tài nguyên, chống nạn phế thải bừa bãi, thay đổi cách hoạt động và tiêu dùng của con người để giảm bớt sự tiêu dùng các nguồn tài nguyên này, có phương pháp tái sinh và tái sử dụng thích hợp
- Tôn trọng khả năng chịu tải của hệ sinh thái: muốn vậy, phải có các chỉ tiêu đánh giá sức khỏe của hệ sinh thái, từ đó xác định ngưỡng chịu tải, sức chứa của hệ sinh thái Mọi hoạt động của con người phải tôn trọng giới hạn đó
Tóm lại, sử dụng bền vững TNTN trong sản xuất nói chung và trong kinh tế nông, lâm nghiệp nói riêng cũng có nghĩa là đảm bảo cho chúng có một tương lai an toàn và đầy đủ
1.2.1.3 Các khái niệm liên quan về tri thức bản địa
Theo đánh giá của Liên hợp quốc, trên toàn thế giới hiện nay có khoảng 300 triệu nhóm dân cư địa phương, mỗi nhóm sở hữu một hệ thống tri thức riêng của mình Bởi sự đa dạng của các nhóm dân cư địa phương làm cho việc định nghĩa tri thức bản địa vẫn còn một số những quan điểm khác nhau với những cách gọi khác nhau như: “ tri thức truyền thống ”, “tri thức địa phương”, “ tri thức dân gian ”
Trang 40Có nhiều định nghĩa khác nhau về tri thức bản địa Các tác giả của World Bank [136] đã dẫn các định nghĩa của Warren (1991) và Flavier (1995) Theo Warren D M (1991) “Tri thức bản địa là tri thức địa phương - tri thức duy nhất chỉ liên quan đến một xã hội hoặc một nền văn hóa Tri thức bản địa đối lập với hệ thống tri thức quốc tế được tạo ra bởi các trường đại học, các viện nghiên cứu và các cơ quan tư nhân Tri thức bản địa là cơ sở cho việc ra quyết định ở cấp địa phương (cộng đồng) trong lĩnh vực nông nghiệp, chăm sóc sức khỏe, chế biến thực phẩm, giáo dục quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên và một loạt các hoạt động khác trong cộng đồng nông thôn”
Còn theo Flavier et al (1995) “Tri thức bản địa là cơ sở thông tin xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho thông tin liên lạc và ra quyết định Hệ thống thông tin bản địa rất năng động, và liên tục bị ảnh hưởng bởi sự sáng tạo và thử nghiệm trong nội
bộ cộng đồng cũng như qua tiếp xúc với hệ thống bên ngoài”
Trong những năm gần đây ở Việt Nam cũng đã có nhiều nhà nghiên cứu về TTBĐ và họ đưa ra những quan niệm về TTBĐ Tác giả Hoàng Xuân Tý (1998) cho rằng: Kiến thức bản địa còn được gọi là kiến thức truyền thống là hệ thống kiến thức của các dân tộc bản địa, hoặc của cộng đồng tại một khu vực cụ thể nào đó Nó tồn tại và phát triển trong những hoàn cảnh nhất định với sự đóng góp của mọi thành viên trong cộng đồng ở một vùng địa lý xác định [101] Ngô Đức Thịnh (2004) cho rằng: Tri thức bản địa là toàn bộ những hiểu biết của con người về tự nhiên, xã hội và bản thân hình thành và tích lũy trong quá trình lịch sử lâu dài của cộng đồng, thông qua trải nghiệm trong quá trình sản xuất, quan hệ xã hội thích ứng với môi trường Nó tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau và truyền từ đời này sang đời khác bằng trí nhớ [77]
1.2.1.4 Phát triển bền vững
Hiện nay có rất nhiều định nghĩa về phát triển bền vững, trong số đó có thể
đề cập đến một số định nghĩa sau: Ủy ban Thế giới về Môi trường và Phát triển của Liên hợp quốc năm 1987 định nghĩa “Phát triển bền vững là đáp ứng được các nhu