Đặng Thị Nhuần– Nguyễn Thị Bình 2016, Tri thức bản địa của dân tộc Thái huyện Thuận Châu tỉnh Sơn La trong hoạt động sản xuất nông nghiệp nhằm sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên đất, Kỷ yếu
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
ĐẶNG THỊ NHUẦN
SẢN XUẤT NÔNG, LÂM NGHIỆP VỚI VIỆC
SỬ DỤNG BỀN VỮNG TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
CỦA DÂN TỘC THÁI Ở TỈNH SƠN LA
Chuyên ngành: Địa lí học
Mã số: 9.31.05.01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ ĐỊA LÍ
Hà Nội – Năm 2020
Trang 2Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Viết Thịnh
Phản biện 1: GS.TSKH Phạm Hoàng Hải
Cơ quan công tác: Viện Địa lý
Phản biện 2: PGS.TS Dương Quỳnh Phương
Cơ quan công tác.Trường Đại học Thái Nguyên
Phản biện 3: PGS.TS Đỗ Thúy Mùi
Cơ quan công tác: Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Trường
họp tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
vào hồi … giờ … ngày … tháng… năm…
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
- Thư viện Quốc Gia, Hà Nội
- Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
- Thư viện Khoa Địa lí, trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Trang 3LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1 Đặng Thị Nhuần (2014), Thực trạng và giải pháp sử dụng tài nguyên đất ở Sơn La, số
107, Tạp chí Thiết bị Giáo dục, tr 61-63( ISSN 1859-0810)
2 Đặng Thị Nhuần (2014), Tìm hiểu tri thức bản địa trong sản xuất nông nghiệp của dân tộc Thái ở Tây Bắc, tập 2, Kỷ yếu Hội nghị khoa học Địa lí toàn quốc lần thứ VIII, Nxb
Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh,tr 648-652
3 Đặng Thị Nhuần (2014), Chuyển dịch cơ cấu cây trồng tỉnh Sơn La giai đoạn 2005 2010,Thông tin Khoa học và Công nghệ, Trường Đại học Tây Bắc, tr92-98
-4 Đặng Thị Nhuần (2015), Tìm hiểu tri thức bản địa của dân tộc Thái vùng Tây Bắc trong việc thích ứng với môi trường tự nhiên, số 120, Tạp chí Thiết bị Giáo dục, tr 92-95( ISSN 1859-0810)
5 Đặng Thị Nhuần, (2016), Nâng cao năng lực và vị thế người phụ nữ Thái trong xây dựng nông thôn mới tại điểm tái định cư ở bản Nhạp xã Chiềng Lao, huyện Mường La, tỉnh Sơn
La, số 7, Tạp chí Khoa học Trường Đại học Tây Bắc tr58-67( ISSN 2354- 1091)
6 Đặng Thị Nhuần– Nguyễn Thị Bình (2016), Tri thức bản địa của dân tộc Thái huyện Thuận Châu tỉnh Sơn La trong hoạt động sản xuất nông nghiệp nhằm sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên đất, Kỷ yếu hội thảo khoa học Địa lí trong sự nghiệp giáo dục – đào tạo và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội, tr206-213
7 Đặng Thị Nhuần (2016), Tìm hiểu phương thức canh tác của dân tộc Thái ở huyện Thuận Châu ,tỉnh Sơn La, tập 2, Kỷ yếu Hội nghị khoa học Địa lí toàn quốc lần thứ IX, Nxb Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Hà Nội, tr266 -273
8 Đỗ Xuân Đức, Đặng Thị Nhuần, (2017), Nâng cao ý thức bảo vệ tài nguyên và môi trường xanh trong các cộng đồng di dân thủy điện Sơn La, tr156 -166, Hội thảo Khoa
học và Công nghệ - Giảng đường xanh- hướng tới bảo vệ môi trường và phát triển bền
vững, Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường, Nxb Lao động, Hà Nội
9 Đặng Thị Nhuần (2017), Tri thức bản địa trong canh tác lúa nước của dân tộc Thái ở tỉnh Sơn La, số 11, Tạp chí khoa học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, tr209-216 ( ISSN 2354-1067)
10 Đặng Thị Nhuần – Nguyễn Thị Hồng Nhung (2018), Tri thức bản địa trong quản lý, bảo
vệ và sử dụng tài nguyên rừng của dân tộc Thái ở tỉnh Sơn La, tập 2, Kỷ yếu Hội nghị
khoa học Địa lí toàn quốc lần thứ X, Nxb Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Hà Nội,
tr271 -281
11 Đặng Thị Nhuần (2018), Sử dụng hợp lý tài nguyên đất và nước trong canh tác nương rẫy truyền thống và hiện đại của dân tộc Thái tỉnh Sơn La, tập 2, Kỷ yếu Hội nghị khoa học Địa lí
toàn quốc lần thứ X, Nxb Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Hà Nội tr175-182
12 Đặng Thị Nhuần (2019), Đánh giá hiệu quả một số mô hình sản xuất nông nghiệp của các hộ dân tộc Thái ở xã Púng Tra, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, tập 2, Kỷ yếu Hội
nghị khoa học Địa lí toàn quốc lần thứ XI, Nxb Thanh Niên, Hà Nội tr720-725
13 Trần Thị Hằng, Đặng Thị Nhuần, (2019), Xác lập không gian trồng cây lâu năm, cây hàng năm cho người Thái ở tỉnh Sơn La, tập 2, Kỷ yếu Hội nghị khoa học Địa lí toàn
quốc lần thứ XI, Nxb Thanh Niên, Hà Nội tr101-106
14 Nguyễn Viết Thịnh, Đỗ Thị Minh Đức, Đặng Thị Nhuần, (2019), Phát triển nông nghiệp của dân tộc Thái ở tỉnh Sơn La theo hướng sử dụng hợp lý tài nguyên và nông nghiệp hàng hóa, tập 1, Kỷ yếu Hội nghị khoa học Địa lí toàn quốc lần thứ XI, Nxb Thanh
Niên, Hà Nội tr443-455
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tài nguyên thiên nhiên là nguồn vốn quan trọng trong đời sống xã hội, là những nguồn lợi quốc gia, dù cho nền sản xuất xã hội có liên tục tiến bộ và đổi mới Sản xuất nông, lâm nghiệp - nền sản xuất cổ xưa nhất của loài người, vốn luôn luôn gắn kết chặt chẽ với các nguồn tài nguyên thiên nhiên, trong đó tầm quan trọng của các nguồn tài nguyên cơ bản nhất: đất, nước, rừng vẫn còn nguyên giá trị từ cổ xưa đến tận ngày nay Trong bối cảnh dân số gia tăng,
sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp, dịch vụ, giá trị và giá trị sử dụng của các nguồn tài nguyên thiên nhiên đã có nhiều thay đổi đòi hỏi phải có cách tiếp cận mới trong phương thức sử dụng tài nguyên theo hướng hiệu quả và bền vững Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội
ở miền núi, sự gia tăng dân số cơ học bởi các chương trình kinh tế mới, các dự án phát triển kinh tế, xã hội như nông thôn mới, thủy điện, giao thông,… đã làm gia tăng áp lực lên tài nguyên thiên nhiên Kết quả là đã ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp của các cộng đồng, nhất là kinh tế hộ gia đình của đồng bào dân tộc ít người trong
đó có dân tộc Thái Sơn La là một tỉnh miền núi phía Bắc, là địa bàn tụ cư của nhiều cộng đồng các dân tộc ít người, trong đó người Thái có số dân đông nhất (chiếm 53,7% dân số của tỉnh) Các hoạt động mưu sinh dựa vào kinh tế nông, lâm nghiệp truyền thống của đồng bào Thái gắn với sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên và điều kiện môi trường sinh thái đặc thù của Sơn La Việc xây dựng các công trình thủy điện lớn như công trình thủy điện Hòa Bình, sau đó là CTTĐ Sơn La - đã buộc dân tộc Thái phải di chuyển khỏi khu vực lòng hồ để tái định cư, dẫn đến chỗ họ tiếp cận nguồn vốn tài nguyên mới trong điều kiện sinh thái phi truyền thống, điều đó cũng đồng nghĩa với việc thay đổi phương thức cơ bản trong sinh kế nông, lâm nghiệp và sử dụng tài nguyên thiên nhiên trong hoàn cảnh mới Do
đó, việc nghiên cứu cơ sở lý luận, so sánh với thực tiễn nhằm tìm ra giải pháp phù hợp đối với với sản xuất nông, lâm nghiệp gắn với việc sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên cho dân tộc Thái ở tỉnh Sơn La trên quan điểm địa lý là lý do thúc đẩy NCS lựa chọn đề tài cho
luận án là: Sản xuất nông, lâm nghiệp với việc sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên của dân tộc Thái ở tỉnh Sơn La
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu
Mục tiêu của luận án là phân tích dưới góc độ địa lý kinh tế - xã hội mối quan hệ giữa sản xuất nông, lâm nghiệp với việc sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên cơ bản ở địa bàn tập trung dân tộc Thái tỉnh Sơn La Từ đó, định hướng xây dựng một số mô hình sản xuất nông, lâm nghiệp hiệu quả và đề xuất các giải pháp phát triển nông, lâm nghiệp theo
hướng sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên
Trang 5- Phân tích thực trạng sản xuất nông, lâm nghiệp ở 103 xã phân bố tập trung người Thái với việc sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên
- Đề xuất định hướng xây dựng một số mô hình sản xuất nông nghiệp hiệu quả và các giải pháp phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp theo hướng sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên ở địa bàn tập trung dân tộc Thái tỉnh Sơn La
3 Phạm vi nghiên cứu
3.1 Về nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu sản xuất nông nghiệp của dân tộc Thái ở
Sơn La bao gồm nông, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản, trong đó chủ yếu là sản xuất nông, lâm nghiệp, còn nuôi trồng thủy sản (trong ao) như là sinh kế bổ sung của người Thái, nuôi cá lồng bè là sinh kế mới của bộ phận dân cư sống ven hồ thủy điện Sơn La Luận án tập trung đánh giá các nhân tố ảnh hưởng và thực trạng của hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp của dân tộc Thái gắn với sử dụng các nguồn tài nguyên cơ bản (đất, nước, rừng) và tri thức bản địa trong phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp truyền thống và hiện đại Nghiên cứu trường hợp về sản xuất nông nghiệp ở các hộ dân tộc Thái ở một số xã để làm rõ mối quan hệ giữa sản xuất nông nghiệp với sử dụng hợp lý, khôn khéo các nguồn tài nguyên
thiên nhiên cơ bản trên Đánh giá những ưu điểm và hạn chế trong việc sử dụng các nguồn
TNTN trong sản xuất nông, lâm nghiệp Từ đó, đề xuất định hướng và các giải pháp để sử dụng bền vững TNTN trong sản xuất nông, lâm nghiệp của cộng đồng dân tộc Thái ở tỉnh Sơn La
3.2 Về không gian: Luận án nghiên cứu tập trung vào 103 xã ở 12 đơn vị cấp huyện thuộc
tỉnh Sơn La, nơi có tỷ lệ người Thái chiếm từ 60 % dân số của xã trở lên, có hoạt động kinh
tế chủ yếu là nông, lâm nghiệp Các địa bàn nghiên cứu điểm thuộc TP Sơn La và hai huyện Thuận Châu và Quỳnh Nhai, trong đó chọn 6 xã để điều tra xã hội học và phỏng vấn sâu
3.3 Về thời gian: các số liệu thổng kê về sản xuất nông, lâm nghiệp chủ yếu trong giai đoạn
2006 - 2016; các tư liệu sơ cấp từ các cuộc điều tra, khảo sát của NCS trong các năm 2015,
2016, 2017
4 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
4.1 Quan điểm nghiên cứu
Luận án được thực hiện trên cơ sở các quan điểm: quan điểm tổng hợp lãnh thổ; quan điểm hệ thống; quan điểm lịch sử; quan điểm phát triển bền vững; quan điểm dân tộc học
Trang 64.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chính: Phương pháp thu thập, hệ thống hóa và xử lý tài liệu thứ cấp; Phương pháp khảo sát thực địa; Phương pháp điều tra xã hội học; Phương pháp chuyên gia; Phương pháp bản đồ và hệ thống thông tin địa lí (GIS); Phương pháp thống kê
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
- Tổng quan có chọn lọc cơ sở lý luận về sản xuất nông lâm nghiệp gắn với sử dụng tài nguyên thiên nhiên ở vùng núi nhiệt đới gió mùa để vận dụng vào địa bàn nghiên cứu
- Làm rõ được những nhân tố ảnh hưởng tới sản xuất nông, lâm nghiệp với sử dụng tài nguyên thiên nhiên của dân tộc Thái ở tỉnh Sơn La Trong đó phân tích được tri thức bản địa trong sản xuất nông nghiệp với việc sử dụng TNTN trước đây và quá trình chuyển đổi
cơ cấu sản xuất, cơ cấu cây trồng, phương thức hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp hiện nay của dân tộc Thái ở tỉnh Sơn La
- Phân tích được mối liên quan của hoạt động sinh kế trong sản xuất nông, lâm nghiệp với việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên của dân tộc Thái ở tỉnh Sơn La; phân tích, đánh giá việc sử dụng TNTN trước đây và việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất, cơ cấu cây trồng, phương thức hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp hiện nay dựa trên khảo sát các hộ sản xuất nông, lâm nghiệp theo chỉ tiêu đã lựa chọn
- Xác định được các mô hình sản xuất nông nghiệp, trong đó bao gồm các mô hình sản xuất nông nghiệp truyền thống và các mô hình sản xuất mới theo hướng hàng hóa; định hướng phát triển một số mô hình có hiệu quả Đề xuất được các giải pháp sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên trong sản xuất nông, lâm nghiệp của dân tộc Thái ở tỉnh Sơn La
6 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận
án gồm có 4 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học về sản xuất nông, lâm nghiệp với việc sử dụng bền vững tài
nguyên thiên nhiên ở miền núi
Chương 2: Các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất nông, lâm nghiệp với sử dụng bền
vững tài nguyên thiên nhiên của dân tộc Thái ở tỉnh Sơn La
Chương 3: Thực trạng sản xuất nông, lâm nghiệp với sử dụng bền vững tài nguyên
thiên nhiên của dân tộc Thái ở tỉnh Sơn La
Chương 4: Định hướng và giải pháp phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp theo
hướng sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên của dân tộc Thái ở tỉnh Sơn La
Trang 7CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ SẢN XUẤT NÔNG, LÂM NGHIỆP VỚI VIỆC
SỬ DỤNG BỀN VỮNG TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN Ở MIỀN NÚI
1.1 Tổng quan những nghiên cứu về sản xuất nông, lâm nghiệp với việc sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên ở miền núi
1.1.1 Trên thế giới
Nghiên cứu về cách thức con người khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong sản xuất nông lâm nghiệp có nhiều tác giả Tiêu biểu như: Edward B.Barbier
(2005), đã phân tích nhân tố kinh tế chủ yếu chi phối việc sử dụng tài nguyên đất, nước
ở các nước đang phát triển, cũng như mối quan hệ phức tạp giữa sự phụ thuộc tài nguyên Tác giả Fujihara M, Kikuchi T (2005) đã chứng minh những thay đổi nguồn tài nguyên thiên nhiên ở lưu vực sông liên quan đến thay đổi trong mô hình sử dụng đất trong sản xuất nông nghiệp
Nghiên cứu về nông lâm kết hợp: Các tác giả Nair P K R (1985), Sajjaponggse P.J
(1994) đã chỉ ra rằng: trên các đất dốc ở miền núi, phương thức sử dụng đất hiệu quả nhất là nông lâm kết hợp Phương thức canh tác này ngày càng phát triển và mang lại hiệu quả nhiều mặt cho người dân sống ở vùng núi châu Á và nhất là ở Đông Nam Á
Nghiên cứu về mối quan hệ giữa sản xuất với sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên cho thấy Trên quan điểm kinh tế tài nguyên, trước đây trong nền kinh tế nông nghiệp truyền
thống, tài nguyên nông nghiệp chỉ đơn thuần là tư liệu sản xuất, thì ngày nay, trong nền kinh tế thị trường, các nguồn tài nguyên nông nghiệp thể hiện các giá trị kép: vừa là tư liệu sản xuất, sinh kế, vừa là tài sản Theo Frazier, J (1997) mối quan hệ bền vững trong sử dụng tài nguyên thiên nhiên được khuyến cáo như là hành động của con người mô phỏng quy luật của tự nhiên, gồm cả hoạt động bảo vệ tài nguyên và tái sản xuất tài nguyên tiến tới xây dựng hệ thống quản
lý đặc tính thích nghi của các hệ thống tự nhiên trong phát triển KT-XH Trên cơ sở đó, xây dựng các công cụ chính sách và công cụ quản lý hướng tới sự hài hòa giữa bảo tồn đa dạng sinh
học, sinh kế và phát triển KT-XH nhằm tạo lập cân bằng bền vững giữa các bên liên quan
Nghiên cứu liên ngành trong sản xuất nông lâm nghiệp và sử dụng tài nguyên thiên nhiên Các tác giả tiêu biểu như: Angelstam P,K Andersson và cộng sự (2013), Goudie
Andrew, Viles Heather (2010) đã đề cập mối quan hệ giữa tài nguyên thiên nhiên và con người trong sản xuất nông, lâm nghiệp với cách tiếp cận liên ngành đề cập tới sự thay đổi của hệ thống tự nhiên theo không gian, thời gian, tìm con đường chung giữa phát triển và bền vững,
trong đó có những vấn đề liên quan đến sản xuất nông nghiệp hiện tại và trong tương lai
Nghiên cứu về tri thức bản địa của các dân tộc với các tác giả tiêu biểu như: Louise
Grenier (1998), Madhav Karki và các cộng sự (2007) đã phân tích TTBĐ được thực hành
Trang 8ở các nước đang phát triển từ những thập niên giữa thể kỷ XX đầu thế kỷ XXI theo các hướng cơ bản như: khai thác giá trị của TTBĐ cho phát triển kinh tế bền vững, bảo tồn văn hóa xã hội, thông qua việc tìm hiểu TTBĐ để thấy được văn hóa ứng xử của con người với môi trường
1.1.2 Ở Việt Nam
Nghiên cứu về sản xuất nông, lâm nghiệp miền núi trở thành một trong những nội dung nghiên cứu được nhiều nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực quan tâm, tiêu biểu là các công trình nghiên cứu như CầmTrọng (1978), Phạm Văn Vang (1981), Lê Trọng Cúc (1990), Hoàng Xuân Tý (1998), Trần Bình (2001), Phạm Bình Quyền (2003)
Nghiên cứu về tri thức bản địa trong những thập niên gần đây được nhiều nhà khoa học trong nước quan tâm nghiên cứu như: Lê Trọng Cúc (1990), Cẩm Tú Lan (2005), Đặng Thị Oanh (2015) Các nghiên cứu tập trung theo hai hướng chủ yếu: một là nghiên cứu khai thác các giá trị của tri thức bản địa cho việc sử dụng nguồn tài nguyên trong phát triển kinh
tế hướng tới sự bền vững, hai là hướng nghiên cứu tri thức bản địa trong việc bảo tồn văn hóa, xã hội Các công trình nghiên cứu của các tác giả đều chỉ ra rằng tri thức bản địa đóng góp một phần quan trọng trong phát triển kinh tế miền núi gắn với bảo tồn văn hóa và sử dụng bảo vệ tài nguyên thiên nhiên ở các địa bàn cư trú của các dân tộc thiểu số
1.1.3 Ở tỉnh Sơn La
Các công trình của các tác giả nghiên cứu về sản xuất nông, lâm nghiệp và sử dụng tài nguyên thiên nhiên ở Sơn La được công bố như An Văn Bảy (1996), Phạm Quang Linh (2015), Phạm Văn Lợi (2013)… Các nghiên cứu đã chỉ ra và phân tích với điều kiện địa hình đa dạng như Sơn La (vùng núi, cao nguyên, thung lũng giữa núi) thì các dân tộc cư trú tương ứng ở những điều kiện địa hình khác nhau sẽ có những cách thức nguồn tài nguyên thiên nhiên tương tích để thích ứng với điều kiện môi sinh nhằm đảm bảo phát triển sản xuất và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên nhất là nguồn tài nguyên đất vốn dễ bị xói mòn, bạc màu và thoái hóa
Tóm lại, kết quả tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã giúp
đề tài luận án hình thành hướng tiếp cận và phương pháp luận nghiên cứu phù hợp cho lãnh thổ nghiên cứu là tỉnh Sơn La với các cộng đồng dân cư dân tộc Thái
1.2 Cơ sở lý luận
1.2.1 Một số khái niệm
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cổ xưa nhất của loài người, với hoạt động đặc
thù là trồng trọt và chăn nuôi Tài nguyên thiên nhiên (đất, khí hậu, nguồn nước, sinh vật) luôn là tiền đề cho sự phát triển và phân bố nông nghiệp Các sản phẩm nông nghiệp không chỉ nhằm cung cấp lương thực, thực phẩm cho con người mà còn cung cấp các nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, và nhiều sản phẩm thiết yếu khác cho đời sống Trong sản xuất nông nghiệp, nông gia cần điều khiển quá trinh sinh trưởng, phát triển và
Trang 9cho sản phẩm của cây trồng vật nuôi theo hướng có lợi nhất cả về sản lượng và chất lượng, mùa vụ,…
Sản xuất lâm nghiệp là các hoạt động chăm sóc nuôi dưỡng và bảo vệ rừng; khai
thác, vận chuyển và chế biến các sản phẩm từ rừng; trồng cây, tái tạo rừng, duy trì tác dụng phòng hộ nhiều mặt của rừng
Tài nguyên thiên nhiên đó là các thành phần của tự nhiên (các vật thể và các lực tự
nhiên) mà ở trình độ nhất định của sự phát triển lực lượng sản xuất chúng được sử dụng hoặc có thể được sử dụng làm phương tiện sản xuất (đối tượng lao động và tư liệu lao động)
và làm đối tượng tiêu dùng
Sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên là phương pháp sử dụng hợp lý và tiết kiệm
các nguồn tài nguyên thiên nhiên, kể cả các nguồn tài nguyên tái tạo hay không tái tạo, sao cho đáp ứng đủ nhu cầu của các thế hệ hiện tại nhưng vẫn không ảnh hưởng đến việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai
Tri thức bản địa là toàn bộ những hiểu biết của con người về tự nhiên, xã hội và bản
thân hình thành và tích lũy trong quá trình lịch sử lâu dài của cộng đồng, thông qua trải nghiệm trong quá trình sản xuất, quan hệ xã hội thích ứng với môi trường Nó tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau và truyền từ đời này sang đời khác bằng trí nhớ
1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới sản xuất nông, lâm nghiệp miền núi
Nhân tố VTĐL qui định sự có mặt (thuận lợi) hay (khó khăn) của các hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên là tiền đề cơ bản của quá trình sản xuất nông, lâm nghiệp, nó trực tiếp hình thành, qui mô, tính chất cũng như phương hướng phát triển sản xuất Còn các nhân tố KT- XH như dân cư, tri thức bản địa (TTBĐ) của mỗi dân tộc cũng như cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật, nguồn vốn, thị trường, khoa học công nghệ, chính sách phát triển nông, lâm nghiệp, đóng vai trò quyết định đến phát triển và phân bố sản xuất nông, lâm nghiệp
1.2.3 Một số hình thức tổ chức lãnh thổ sản xuất nông nghiệp
Có nhiều hình thức tổ chức LTSXNN với những đặc trưng khác nhau, nhưng luận án chỉ tập trung vào 2 hình thức chính hiện nay của dân tộc Thái ở Sơn La là hộ gia đình (nông hộ) và hợp tác xã (HTX)
1.2.4 Các chỉ tiêu đánh giá sản xuất nông, lâm nghiệp vận dụng cho dân tộc Thái ở tỉnh Sơn La
Trong luận án sử dụng các chỉ tiêu đánh giá cho một số cây trồng phổ biến của dân tộc Thái ở Sơn La như: Giá trị sản phẩm thu được trên 1 ha đất nông nghiệp; Chi phí sản xuất…Các chỉ tiêu cụ thể vận dụng để đánh giá các mô hình sản xuất nông lâm nghiệp của các hộ dân tộc Thái trong nghiên cứu trường hợp, trong luận án sử dụng một số chỉ tiêu
phản ánh chi phí sản xuất, doanh thu, lợi nhuận…
Trang 10CHƯƠNG 2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SẢN XUẤT NÔNG, LÂM NGHIỆP VỚI VIỆC SỬ DỤNG BỀN VỮNG TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN CỦA
DÂN TỘC THÁI Ở TỈNH SƠN LA
2.1 Vị trí địa lý, phạm vi lãnh thổ
Tỉnh Sơn La nằm ở phía Tây Bắc của Tổ quốc, có diện tích 14.123,5 km2, chiếm 4,2% diện tích cả nước, lãnh thổ trải dài theo chiều vĩ tuyến từ 20031’Bđến 22002’B và theo chiều kinh tuyến từ 10301’Đ đến 105002'Đ Phía bắc giáp tỉnh Yên Bái và Lai Châu; phía nam giáp tỉnh Thanh Hóa và nước CHDCND Lào (chiều dài biên giới là 250 km); phía đông giáp tỉnh Hòa Bình và Phú Thọ; phía tây giáp tỉnh Điện Biên Với vị trí địa lý và phạm vi lãnh thổ đã tạo cho Sơn La những lợi thế nhất định trong giao lưu phát triển kinh tế, nhưng
do bên cạnh đó ở những địa bàn các xã có địa hình núi dốc đã làm giảm đáng kể khả năng thu hút nguồn đầu tư để phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp
2.2 Nhóm nhân tố tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên
2.2.1 Địa hình
Sơn La có địa hình đa dạng: địa hình núi, cao nguyên và các thung lũng giữa núi, mỗi dạng địa hình thích hợp với phương thức canh tác khác nhau Địa hình thung lũng với điều kiện thuận lợi cho việc dẫn nước để phát triển cây lúa nước và thâm canh tăng năng suất Với hai cao nguyên Mộc Châu, Nà Sản địa hình tương đối bằng phẳng, thuận lợi cho việc phát triển cây ăn quả lâu năm và chăn nuôi gia súc lớn trên quy mô lớn Địa hình núi cao là địa bàn phát triển rừng Như vậy, thích ứng với điều kiện địa hình đa dạng có thể phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng đa dạng hóa cây trồng và vật nuôi Tuy nhiên, do phần lớn địa hình có độ dốc lớn, chia cắt sâu và chia cắt ngang mạnh, nên diện tích đất canh tác nhỏ, manh mún, gây ảnh hưởng không nhỏ tới sản xuất nông nghiệp, nhất là để chuyển sang sản xuất hàng hóa quy mô lớn và cơ giới hóa
2.2.2 Khí hậu
Khí hậu tỉnh Sơn La mang tính chất chung của khí hậu vùng Tây Bắc Ở những khu vực thấp, mùa đông tương đối ngắn và ấm hơn so với các vùng kế cận (do nằm ở phía sườn khuất gió của địa hình, có hiệu ứng rõ rệt với gió mùa đông bắc, tuy nhiên nền nhiệt chung của toàn vùng vẫn thấp (do ảnh hưởng của độ cao), nắng tương đối nhiều, có sương muối, ít mưa phùn, mùa hè nóng, nhiều gió tây khô nóng, không chịu ảnh hưởng của bão và áp thấp nhiệt đới, mùa mưa gần trùng với mùa nóng
Điều kiện khí hậu đa dạng, cho phép người Thái có thể có nhiều lựa chọn cây trồng
và mùa vụ trên một thửa đất Đồng thời cũng cho phép phát triển các vùng chuyên canh cây trồng và chuyên môn hóa, chăn nuôi phù hợp với từng loại hình sinh khí hậu, ở từng tiểu
Trang 11vùng khí hậu Tuy nhiên, do tác động của biến đổi khí hậu, bên cạnh khô hạn và thiếu nước, một số loại hình thời tiết đặc biệt và cực đoan đã xuất hiện nhiều hơn với cường độ lớn hơn như tố lốc, mưa đá, mưa lớn và lũ quét đã xảy ra thường xuyên hơn và trên diện rộng hơn đã gây nên nhiều thiệt hại đối với sản xuất nông nghiệp và các hoạt động kinh tế khác đối với những bản dân tộc Thái cư trú ven các sông suối
2.2.3 Tài nguyên đất
Địa bàn nghiên cứu có tổng diện tích tự nhiên là 680,7 nghìn ha, trong đó diện tích núi đá
và sông là 52,4 nghìn ha, còn lại các loại đất có diện tích 628,3 nghìn ha với 4 nhóm đất chính với 13 loại đất, trong đó nhóm đất mùn vàng đỏ trên núi chiếm diện tích lớn (chiếm 49% diện tích
tự nhiên) Thứ hai là nhóm đất đỏ vàng có diện tích 283,7 nghìn ha (chiếm 41,7% diện tích tự nhiên), phần lớn diện tích của loại đất này được phân bố ở địa hình đồi và núi trung bình, trên những loại đất này thích hợp cho trồng cây lương thực và cây cây lâu năm, đặc biệt là cây ăn quả Tiếp đến là các nhóm đất phù sa và đất mùn trên núi cao với diện tích không lớn
2.2.4 Tài nguyên nước
Sơn La có hệ thống sông suối khá dày (1,2-18 km/km2), mạng lưới sông suối phân bố không đều giữa các vùng Trong đó có 2 sông lớn là sông Đà và sông Mã Sông Mã chảy qua huyện sông Mã với chiều dài khoảng 70 km, ngoài ra còn có rất nhiều các sông suối lớn nhỏ khác nhau đã tạo cho Sơn La có mạng lưới sông ngòi dày đặc
2.3 Nhóm nhân tố nhân tố kinh tế - xã hội
2.3.1 Dân cư, thành phần dân tộc
Dân số trung bình của tỉnh Sơn La năm 2016 là 1.208,2 nghìn người, mật độ dân số trung bình 86 người/km2, phần lớn dân cư sống ở vùng nông thôn với sản xuất nông nghiệp
là chủ yếu
Trên địa bàn tỉnh Sơn La có 12 dân tộc anh em cùng chung sống, trong đó dân tộc Thái
có dân số đông nhất với 658.908 người (chiếm 53,7 % dân số của tỉnh) ngoài ra còn các dân tộc khác như: Kinh, Mông, Xinh Mun, Dao Các dân tộc phân bố xen kẽ nhau, nhưng trong đó dân tộc Thái với địa vực cư trú chủ yếu ở ven các sông suối và thung lũng giữa núi
2.3.2 Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật
Sơn La có mạng lưới đường giao thông đã được đầu tư cải tạo, nâng cấp, nổi bật là
quốc lộ 6, quốc lộ 4G Quốc lộ 6 là tuyến đường giao thông huyết mạch nối vùng kinh tế
Trang 12trọng điểm Bắc Bộ với vùng núi Tây Bắc, có vai trò thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa dọc theo trục quốc lộ 6 ở Sơn La Bên cạnh đó còn có khoảng 300 km giao thông đường sông với 2 tuyến chính trên địa bàn là tuyến sông Đà dài
230 km và tuyến sông Mã dài 70 km Mạng lưới bưu chính viễn thông trong tỉnh đã và đang được phát triển Đến nay đã có 12/12 huyện, thành phố trong tỉnh được phủ sóng điện thoại
di động Hệ thống lưới điện gồm nhiều cấp điện, lưới điện trung thế có tổng chiều dài 3.015
km, lưới điện hạ thế có tổng chiều dài 2.912 km, hệ thống lưới điện trên đã đáp ứng phần lớn được cho nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của người dân Trong sản xuất nông nghiệp việc đầu tư phát triển các cơ sở công nghiệp chế có vai trò quan trong, công nghiệp chế biến hiện
có 19 cơ sở chế biến chè, 3 cơ sở chế biến cà phê, 1 cơ sở chế biến sắn, 5 doanh nghiệp chế biến lâm sản, 2 nhà máy sản xuất chế biến sữa Các cơ sở chế biến chủ yếu tập trung dọc trục quốc lộ 6 (Thị trấn Mộc Châu, TP Sơn La, TT Hát Lót - Mai Sơn và thị trấn Phù Yên)
ngoài ra còn có nhiều các cơ sở chế biến tư nhân nằm rải rác trên địa bàn tỉnh
Sơn La là tỉnh có nhiều lợi thế cho phát triển các mặt hàng nông sản đa dạng, trong
đó điển hình là cây chè, cây cà phê, cây ăn quả và chăn nuôi Trong những năm gần đây thị trường tiêu thụ những sản phẩm cây công nghiệp lâu năm của Việt Nam nói chung của Sơn
La nói riêng được mở rộng ra nhiều nước thuộc khu vực châu Á, châu Âu, châu Mỹ
2.3.5 Nguồn vốn đầu tư
Nguồn vốn đầu tư cho phát triển nông, lâm nghiệp được tăng cường thông qua các
chương trình dự án như: Tái định cư thủy điện Sơn La; đầu tư thủy lợi; chương trình 134,
135, 193; đầu tư phát triển nông, lâm thủy sản Các nguồn vốn được huy động từ vốn ngân sách Trung ương, vốn ngân sách của tỉnh, vốn doanh nghiệp ngoài nhà nước Nhờ có các nguồn vốn đầu tư phát triển nông, lâm nghiệp, nhiều giống cây trồng vật nuôi có năng suất, chất lượng và giá trị kinh tế cao được mở rộng sản xuất, góp phần làm tăng sức cạnh tranh
của hàng hóa nông sản
2.3.6 Chính sách phát triển nông, lâm nghiệp
Để thực hiện mục tiêu và định hướng phát triển nông lâm nghiệp của tỉnh Sơn La, UBND tỉnh Sơn La và Sở NN&PTNT tỉnh Sơn La đã phê duyệt, chỉ đạo xây dựng và ban hành nhiều chương trình dự án như: Dự án phát triển vùng nguyên liệu chè; Dự án trồng rừng sản xuất; Dự án thủy lợi phục vụ sản xuất…Những chương trình, dự án kể trên tạo đà cho nền
Trang 13nông nghiệp tỉnh Sơn La phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa, năng suất, chất lượng, hiệu quả
2.4 Dân tộc Thái ở Sơn La
2.4.1 Nguồn gốc, phân bố
Dân tộc Thái ở Sơn La có cả ngành Thái đen và Thái trắng thiên di đến và định cư từ lâu đời, nhưng trong đó chủ yếu là ngành Thái đen cư trú tập trung ở các huyện Thuận Châu, Mai Sơn, Sông Mã còn ngành Thái trắng phân bố chủ yếu ở các huyện Quỳnh Nhai, Phù Yên và một phần ở huyện Mộc Châu Ở Sơn La hiện nay dân tộc Thái phân bố ở hầu khắp các huyện, trong đó có các huyện có số lượng dân tộc Thái tập trung đông như: Quỳnh Nhai, Thuận Châu, Mường La, Sông Mã, Mai Sơn
2.4.2 Tri thức bản địa trong sản xuất nông, lâm nghiệp
Trong sản xuất nông, lâm nghiệp dân tộc Thái đã tích lũy được một kho tàng tri thức bản địa phong phú Việc sử dụng TTBĐ trong sản xuất nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi)
và sản xuất lâm nghiệp sẽ là một trong những nhân tố giúp cho việc nâng cao hiệu quả sản xuất và sử dụng hợp lí nguồn tài nguyên thiên nhiên đối với một tỉnh miền núi như Sơn La