Đề tài nghiên cứu mô hình bệnh nhân BHYT chuyển tuyến trong điều trị nội trú theo Quy định của Thông tư số 14/2014/TT-BYT tại Trung tâm y tế Vị Thủy năm 2019 nhằm từng bước nâng cao chất lượng chuyên môn, giảm số lượt chuyển tuyến.
Trang 1SỞ Y TẾ HẬU GIANG TRUNG TÂM Y TẾ HUYỆN VỊ THỦY
ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ
THỰC TRẠNG MÔ HÌNH BỆNH NHÂN BHYT CHUYỂN TUYẾN TRONG ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ THEO QUY ĐỊNH CỦA THÔNG TƯ SỐ
14/2014/TT-BYT TẠI TRUNG TÂM Y TẾ
HUYỆN VỊ THỦY NĂM 2019
Chủ nhiệm đề tài: Trương Minh Diệp
Mã số đề tài: CS/NCTTYTVT/19/……
Vị Thủy, Năm 2019
Trang 2MỤC LỤC
Trang
Đặt vấn đề……… 01
Chương 1: Tổng quan tài liệu……… 03
1 Một số khái niệm……… 03
1.1 Danh mục chuyên môn kỹ thuật trong khám bênh, chữa bệnh… 03 1.2 Các tuyến chuyên môn kỹ thuật……… 04
1.3.Phân hạng và chức năng của bệnh viện (Các đơn vị sáp nhập có chức năng điều trị và dự phòng gọi là Trung tâm y tế)……… 04
1.4 Chức năng nhiệm vụ của bệnh viện hạng III……… 05
1.5 Chuyển tuyến điều trị……… 06
1.6 Các hình thức chuyển tuyến……… 06
1.7 Điều kiện chuyển tuyến……… 06
1.8 Chuyển đúng tuyến, vượt tuyến……… 08
1.9 Thủ tục chuyển tuyến……… 08
1.10 Chỉ đạo tuyến trong lĩnh vực khám chữa bệnh……… 09
1.11 Phân loại quốc tế bệnh tật lần thứ X (ICD – 10) và Bảng phân bệnh của Bộ y tế……… 10
2 Thông tin về địa bàn nghiên cứu……… 12
3 Các nghiên cứu tại Việt Nam……… 13
4 Các nghiên cứu nước ngoài……… 16
Chương 2 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu……… 18
2.1.Đối tượng nghiên cứu……… 18
Trang 3LCK: Liên chuyên khoa
NVYT: Nhân viên y tế
SPSS: Statistical Package for the Social Sciences
TTYT: Trung tâm Y tế
UBND: Uỷ ban nhân dân
Trang 4ĐẶT VẤN ĐỀ
Ở Việt Nam, Bộ Y tế phân chia theo trình độ chuyên môn, kỹ thuật gồm 4 tuyến: Tuyến Trung ương (Phân hạng I ), tuyến tỉnh (Phân hạng II), tuyến huyện (Phân hạng III) và tuyến cơ sở (Phân hạng IV) [3] Trong đó, tuyến Trung ương chỉ đạo tuyến tỉnh, tuyến tỉnh chỉ đạo tuyến huyện, tuyến huyện chỉ đạo tuyến xã Với cách phân tuyến chuyên môn, kỹ thuật như vậy, trong quá trình điều trị và chăm sóc người bệnh, nếu bệnh của người bệnh không phù hợp với năng lực chẩn đoán và điều trị; danh mục kỹ thuật của cơ
sở khám bệnh, chữa bệnh đã được phê duyệt hoặc phù hợp nhưng do điều kiện khách quan, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không đủ điều kiện để chẩn đoán và điều trị thì sẽ chuyển người bệnh lên tuyến liền kề có đủ điều kiện chẩn đoán và điều trị hoặc theo trình tự: Phân hạng IV chuyển lên Phân hạng III; Phân hạng III chuyển lên Phân hạng II; Phân hạng II chuyển lên Phân hạng I [4] Theo Báo cáo tổng quan ngành y tế nhận định: Xã hội càng phát triển thì nhu cầu về khám chữa bệnh của nhân dân ngày càng cao, chuyên môn kỹ thuật của các tuyến huyện, tỉnh chưa tương xứng với quá trình phát triển của xã hội Do đó, tình trạng chuyển tuyến ngày càng nhiều dẫn đến tình trạng quá tải cho các bệnh viện tuyến trên [1]
Trung tâm y tế Vị Thủy theo phân tuyến chuyên môn, kỹ thuật của Bộ
Y tế là Trung tâm y tế đa chức năng, phân hạng III trực thuộc Sở Y tế Hậu Giang Trong những năm gần đây, Ban lãnh đạo TTYT luôn quan tâm và thực hiện các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng khám bệnh, chữa bệnh tại đơn vị: Đầu tư xây dựng thêm cơ sở vật chất, trang thiết bị mới, có chính sách đãi ngộ phù hơp để thu hút và phát triển nguồn nhân lực,…Qua đó chất lượng điều trị đã từng bước được cải thiện nhưng vẫn còn tồn tại một số hạng chế, một trong những hạn chế là tỷ lệ chuyển tuyến tại TTYT vẫn chưa giảm qua hàng năm Theo số liệu Báo cáo của Phòng KHNV Trung tâm y tế Vị Thủy
Trang 5năm 2017 số lược chuyển tuyến trong điều trị nội trú lần lượt là: 245; năm
2018 số lược chuyển tuyến trong điều trị nội trú 293 trường hợp.[12]
Từ khi Bộ Y tế ban hành Thông tư số14/2014/TT-BYTQuy định về việc chuyển tuyến giữa các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, Trung tâm y tế Vị Thủy chưa thực hiện đánh giá thực trạng mô hình bệnh chuyển tuyến trong điều trị nội trú theo các nội dung của Thông tư Trước xu thế chuyển tuyến trong điều trị nội trú tăng dần qua hàng năm nên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
Thực trạng mô hình bệnh nhân BHYT chuyển tuyến trong điều trị nội trú theo Quy định của Thông tư số 14/2014/TT-BYT tại Trung tâm y tế Vị Thủy năm 2019
Mục tiêu chung:
Nghiên cứu mô hình bệnh nhân BHYT chuyển tuyến trong điều trị nội trú theo Quy định của Thông tư số 14/2014/TT-BYT tại Trung tâm y tế Vị Thủy năm 2019 nhằm từng bước nâng cao chất lượng chuyên môn, giảm số lượt chuyển tuyến
Trang 6CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1 Một số khái niệm
1.1 Danh mục chuyên môn kỹ thuật trong khám bệnh, chữa bệnh[3]
Theo Thông tư số: 43/2013/TT-BYT của Bộ Y tếvề việc quy định chi tiết phân tuyến chuyên môn kỹ thuật đối với hệ thống cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.bao gồm 28 chuyên khoa, chuyên ngành được kết cấu theo bảng sau đây:
- Tên các chuyên mục kỹ thuật, tên các kỹ thuật
- Phân tuyến kỹ thuật:
+ Các kỹ thuật thực hiện tại tuyến 1 ( Phân hạng I )
+ Các kỹ thuật thực hiện tại tuyến 2 ( Phân hạng II )
+ Các kỹ thuật thực hiện tại tuyến 3 ( Phân hạng III )
+ Các kỹ thuật thực hiện tại tuyến 4 ( Phân hạng IV )
- Danh mục kỹ thuật ban hành kèm theo Thông tư này là kỹ thuật chuyên môn trong khám bệnh, chữa bệnh được phép thực hiện tại Việt Nam Một kỹ thuật có thể được nhiều chuyên khoa, chuyên ngành thực hiện, nhưng trong Thông tư này được sắp xếp ở chuyên khoa, chuyên ngành phù hợp nhất
- Danh mục kỹ thuật phân theo tuyến chuyên môn kỹ thuật thể hiện mặt bằng kỹ thuật y tế ở mỗi tuyến chuyên môn kỹ thuật Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải thực hiện được đa số kỹ thuật theo tuyến chuyên môn kỹ thuật tương ứng
- Khuyến khích cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phát triển năng lực chuyên môn kỹ thuật, thực hiện các kỹ thuật của tuyến trên Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến trên hạn chế thực hiện các kỹ thuật mà cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến dưới đã thực hiện được
Trang 71.2 Các tuyến chuyên môn kỹ thuật
- Tuyến trung ương (tuyến 1) bao gồm các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh sau đây [3]:
+ Bệnh viện hạng đặc biệt;
+ Bệnh viện hạng I trực thuộc Bộ Y tế;
+ Bệnh viện hạng I trực thuộc Sở Y tế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoặc thuộc các Bộ, ngành khác được Bộ Y tế giao nhiệm vụ là tuyến cuối về chuyên môn kỹ thuật
- Tuyến tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (tuyến 2) bao gồm các
cơ sở khám bệnh, chữa bệnh sau đây:
+ Bệnh viện xếp hạng II trở xuống trực thuộc Bộ Y tế;
+ Bệnh viện hạng I, hạng II trực thuộc Sở Y tế hoặc thuộc các Bộ, ngành khác, trừ Bệnh viện hạng I trực thuộc Sở Y tế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
- Tuyến huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (tuyến 3) bao gồm các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh sau đây:
+ Bệnh viện hạng III, hạng IV, bệnh viện chưa xếp hạng, Trung tâm y
tế huyện có chức năng khám bệnh, chữa bệnh ở địa phương
+ Phòng khám đa khoa, phòng khám chuyên khoa, nhà hộ sinh
- Tuyến xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là tuyến 4) bao gồm các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh sau đây:
Trang 8Thủ tướng Chính phủ quy định về phân loại, xếp hạng các tổ chức sự nghiệp, dịch vụ công lập Bộ Y tế đã ban hành Thông tư Hướng dẫn tiêu chuẩn xếp hạng các đơn vị sự nghiệp y tế Theo đó các đơn vị sự nghiệp y tế thuộc hệ thống y tế nhà nước đều được xem xét xếp hạng Cụ thể, Trung tâm
y tế huyện Vị Thủy được xếp phân hạng III [12]
1.4 Chức năng nhiệm vụ của bệnh viện hạng III
Bệnh viện đa khoa hạng III là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trực thuộc
Sở Y tế tỉnh.Bệnh viện hạng III có đội ngũ cán bộ chuyên môn, trang thiết bị
và cơ sở hạ tầng phù hợp chức năng nhiệm vụ Cấp cứu - Khám bệnh - Chữa bệnh:
- Tiếp nhận tất cả các trường hợp người bệnh từ ngoài vào hoặc các đơn vị y tế cơ sở chuyển đến để cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh nội trú và ngoại trú Tổ chức khám sức khoẻ và chứng nhận sức khoẻ theo quy định Nhà nước Có trách nhiệm giải quyết toàn bộ các bệnh tật thông thường về nội khoa, ngoại khoa; sản phụ khoa và các trường hợp cấp cứu về ngoại khoa
- Tổ chức khám giám định sức khoẻ, giám định pháp y khi Hội đồng giám định y khoa tỉnh, hoặc cơ quan bảo vệ pháp luật trưng cầu Tổ chức chuyển người bệnh lên tuyến trên khi vượt quá khả năng của Trung tâm y tế
- Đào tạo cán bộ y tế: Trung tâm y tế là cơ sở thực hành cho các trường, lớp Trung học y tế Tổ chức đào tạo liên tục cho các thành viên trong Trung tâm y tế và cơ sở y tế tuyến dưới để nâng cấp trình độ chuyên môn và
kỹ năng quản lý chăm sóc sức khoẻ ban đầu
- Nghiên cứu khoa học về y học, tổ chức tổng kết đánh giá các đề tài và chương trình về chăm sóc sức khoẻ ban đầu Nghiên cứu áp dụng y học cổ truyền và các phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc
- Chỉ đạo tuyến dưới về chuyên môn, kỹ thuật, lập kế hoạch và chỉ đạo tuyến dưới ( Phòng khám đa khoa, Trạm y tế) thực hiện các phác đồ chẩn
Trang 9đoán và điều trị, công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu và thực hiện các chương trình y tế Quốc gia, các chương trình y tế địa phương
- Phòng chống dịch bệnh, thường xuyên thực hiện nhiệm vụ phòng bệnh, phòng dịch Tuyên truyền, giáo dục sức khỏe cho cộng đồng
- Hợp tác quốc tế tham gia các chương trình hợp tác với các tổ chức và
cá nhân ở ngoài nước theo quy định của Nhà nước
- Thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của Nhà nước về thu, chi ngân sách của Trung tâm y tế; Từng bước thực hiện hạch toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh
1.5 Chuyển tuyến điều trị
Trường hợp vượt quá khả năng chuyên môn kỹ thuật thì cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế có trách nhiệm chuyển người bệnh kịp thời đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế khác theo quy định về chuyển tuyến chuyên môn kỹ thuật.[4]
1.6 Các hình thức chuyển tuyến
- Chuyển người bệnh từ tuyến dưới lên tuyến trên:
+ Chuyển người bệnh từ tuyến dưới lên tuyến trên liền kề theo trình tự: Tuyến 4 chuyển lên Tuyến 3, Tuyến 3 chuyển lên Tuyến 2, Tuyến 2 chuyển lên Tuyến 1;
+ Chuyển người bệnh không theo trình tự quy định tại Điểm a khoản này nếu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đáp ứng đủ điều kiện theo quy định tại Điểm b khoản 1 Điều 5 thông tư 14/2014/ TT-BYT ngày 14/4/2014
- Chuyển người bệnh từ Tuyến trên về Tuyến dưới
- Chuyển người bệnh giữa các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong cùng tuyến
1.7 Điều kiện chuyển tuyến[4]
Trang 10- Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh chuyển người bệnh từ tuyến dưới lên tuyến trên khi đáp ứng các điều kiện sau:
+ Bệnh không phù hợp với năng lực chẩn đoán và điều trị trong Danh mục kỹ thuật của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đã được cơ quan Nhà nước
có thẩm quyền về Y tế phê duyệt, hoặc bệnh phù hợp với năng lực chẩn đoán
và điều trị, Danh mục kỹ thuật của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nhưng do điều kiện khách quan, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đó không đủ điều kiện để chẩn đoán và điều trị;
+ Căn cứ vào danh mục kỹ thuật đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về Y tế phê duyệt, nếu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến trên liền kề không có dịch vụ kỹ thuật phù hợp thì cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến dưới được chuyển lên tuyến cao hơn;
+ Trước khi chuyển tuyến người bệnh phải được hội chẩn và có chỉ định chuyển tuyến trừ phòng khám và cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến
- Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh chuyển người bệnh từ tuyến trên về tuyến dưới phù hợp khi người bệnh đã được chẩn đoán và điều trị qua giai đoạn cấp cứu, xác định tình trạng bệnh đã thuyên giảm, có thể tiếp tục điều trị
và điều trị
Trang 11+ Bệnh phù hợp với danh mục kỹ thuật của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cùng tuyến dự kiến chuyển đến đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về Y tế phê duyệt
- Chuyển tuyến giữa các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trên các địa bàn giáp ranh để bảo đảm điều kiện thuận lợi cho người bệnh:
+ Giám đốc Sở Y tế hướng dẫn cụ thể việc chuyển tuyến đối với các cơ
sở khám bệnh, chữa bệnh trên địa bàn giáp ranh trong tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thuộc thẩm quyền quản lý
+ Giám đốc các Sở Y tế thống nhất, phối hợp cụ thể việc chuyển tuyến đối với các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trên địa bàn giáp ranh giữa các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thuộc thẩm quyền quản lý
1.8 Chuyển đúng tuyến, vượt tuyến:
- Chuyển đúng tuyến:
Các trường hợp chuyển người bệnh theo Quy định tại các mục trên của điều kiện chuyển tuyến gọi là chuyển đúng tuyến
- Chuyển vượt tuyến:
Các trường hợp chuyển người bệnh không đúng theo các Quy định tại các mục trên của điều kiện chuyển tuyến gọi là chuyển vượt tuyến
+ Ký giấy chuyển tuyến theo mẫu quy định;
+ Trường hợp người bệnh cấp cứu, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cần liên hệ với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh dự kiến chuyển đến, kiểm tra lần cuối
Trang 12cùng tình trạng người bệnh trước trước khi chuyển, chuẩn bị sẵn sàng phương tiện để cấp cứu người bệnh trên đường vận chuyển
+ Trường hợp người bệnh cần sự hỗ trợ kỹ thuật của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh dự kiến chuyển người bệnh đến, cơ sở khám bệnh,chữa bệnh chuyển người bệnh đi phải thông báo cụ thểvề tình trạng người bệnh và những yêu cầu hỗ trợ để cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nơi chuyển đến có biện pháp xử trí phù hợp
+ Bàn giao người bệnh, giấy chuyển tuyến cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nơi chuyển đến
Thông tin về chuyển tuyến được các cơ sở y tế chuyển đi và nơi nhận người bệnh chuyển đến lưu giữ theo quy định của Bộ Y tế
1.10 Chỉ đạo tuyến trong lĩnh vực khám chữa bệnh
Chỉ đạo tuyến là hoạt động hỗ trợ tuyến dưới của các cơ sở khám bệnh chữa bệnh tuyến trên về chuyên môn, nghiệp vụ trong chăm sóc sức khỏe nhân dân, đặc biệt là việc thực hiện các kỹ thuật y tế: Đào tạo, chuyển giao kỹ thuật, hội chẩn, hỗ trợ nhân lực [6] [7]
Công tác chỉ đạo tuyến là một trong những nhiệm vụ quan trọng của ngành Y tế Trong những năm qua, Bộ Y tế đã chỉ đạo các cơ sở khám chữa bệnh thực hiện công tác chỉ đạo tuyến nhằm đưa những dịch vụ kỹ thuật y tế đến gần dân, góp phần thực hiện công bằng và nâng cao chất lượng khám chữa bệnh trong chăm sóc sức khoẻ nhân dân
Quy chế bệnh viện năm 1997 quy định: Chỉ đạo tuyến về khám chữa bệnh, phòng bệnh, nghiên cứu khoa học và đào tạo là trách nhiệm của bệnh viện Nhằm góp phần nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, đưa dịch vụ kỹ thuật
y tế đến gần nhân dân, nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, đảm bảo sự công bằng trong việc tiếp cận dịch vụ y tế và đáp ứng nhu cầu khám bệnh, chữa bệnh ngày càng cao của nhân dân, giảm tình trạng quá tải cho bệnh viện
Trang 13tuyến Trung ương, Bộ Y tế luôn quan tâm, chú trọng chỉ đạo thực hiện nhiệm
vụ chỉ đạo tuyến Trải qua các thời kỳ hình thành, phát triển, ngành y tế luôn coi chỉ đạo tuyến là một nhiệm vụ quan trọng của các bệnh viện
Thực hiện quản lý chuyển tuyến với quy định cụ thể về thông tin hai chiều, phản hồi thông tin người bệnh chuyển tuyến, báo cáo chuyển tuyến giữa tuyến trên và tuyến dưới trong hệ thống khám bệnh, chữa bệnh giúp phát hiện sai sót chuyên môn tuyến dưới, năng lực, trình độ chuyên môn tuyến dưới từ đó có thể xác định nhu cầu đào tạo nâng cao năng lực tuyến dưới Việc thực hiện tốt thông tin hai chiều trong Hệ thống chuyển tuyến nói riêng, hoạt động chỉ đạo tuyến nói chung sẽ đảm bảo được mối quan hệ chặt chẽ giữa các cấp của hệ thống y tế và giúp đảm bảo người dân nhận được sự chăm sóc tốt nhất ngay tại địa phương Sự gắn kết của các tuyến y tế trong hoạt động chỉ đạo tuyến, chuyển tuyến giúp tăng cường hiệu quả của các nguồn lực của bệnh viện và các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu, hỗ trợ cho y tế tuyến dưới nâng cao năng lực và tăng cường tiếp cận chăm sóc chất lượng tốt hơn
1.11 Phân loại quốc tế bệnh tật lần thứ X (ICD – 10) và Bảng phân bệnh của Bộ y tế[2]
Để tạo tính thống nhất trên toàn thế giới về việc xây dựng các thông tin
y tế, Tổ chức y tế thế giới đã xây dựng bảng phân loại quốc tế bệnh tật Qua nhiều lần hội nghị, cải biên, đã chính thức xuất bản Bảng phân loại quốc tế bệnh tật lần thứ X vào năm 1992 Toàn bộ danh mục được xếp thành hai mươi mốt chương bệnh, ký hiệu từ I đến XXI theo các nhóm bệnh:
Chương I: Bệnh nhiễm trùng và ký sinh trùng
Chương II: Khối u (Bướu tân sinh)
Chương III: Bệnh máu, cơ quan tạo máu và các rối loạn liên quan cơ chế miễn dịch
Trang 14Chương IV: Bệnh nội tiết, dinh dưỡng và chuyển hóa
Chương V: Rối loạn tâm thần và hành vi
Chương VI: Bệnh của hệ thần kinh
Chương VII: Bệnh mắt và phần phụ
Chương VIII: Bệnh tai và xương chũm
Chương IX: Bệnh của hệ tuần hoàn
Chương X: Bệnh hệ hô hấp
Chương XI: Bệnh hệ tiêu hóa
Chương XII: Bệnh da và mô dưới da
Chương XIII: Bệnh cơ xương khớp và mô liên kết
Chương XIV: Bệnh hệ tiết niệu và sinh dục
Chương XV: Chửa, đẻ và sau đẻ
Chương XVI: Một số bệnh xuất phát trong thời kỳ sơ sinh
Chương XVII: Dị tật, dị dạng bẩm sinh và bất thường nhiễm sắc thể
Chương XVIII: Triệu chứng, dấu hiệu và những phát hiện lâm sàng, cận lâm sàng bất thường không phân loại ở nơi khác
Chương XIX: Chấn thương, ngộ độc và một số hậu quả khác do nguyên nhân bện ngoài
Chương XX: Nguyên nhân bên ngoài của bệnh tật và tử vong Chương XXI: Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe và tiếp xúc dịch vụ y tế
Trang 15Việc phân loại bệnh tật theo mã giúp chúng ta lưu trữ, khôi phục và phân tích dữ liệu bệnh tật, tử vong một cách dễ dàng hơn:
- Cho phép chúng ta so sánh số liệu giữa các bệnh viện, các tỉnh và các quốc gia với nhau
- Cho phép phân tích mô hình bệnh tật và tử vong theo thời gian
- Giúp cho công tác lập kế hoạch chăm sóc y tế, xây dựng các chương trình y tế can thiệp, định hướng công tác đào tạo nguồn nhân lực
- Chi trả dịch vụ khám chữa bệnh theo nhóm bệnh tật
Vì một số lý do về phương diện thống kê, tính chuẩn xác trong chẩn đoán và để ứng dụng trong phạm vi cả nước, năm 1998 Bộ y tế tạm thời sử dụng bộ mã 03 ký tự, hay nói cách khác là tạm thời thống kê và phân loại đến tên bệnh Với cách phân loại này, có tổng cộng 312 bệnh được ký hiệu từ 001 đến 312
2 Thông tin về địa bàn nghiên cứu
Huyện Vị Thủy có 10 đơn vị hành chính, gồm 09 xã, 01 thị trấn với tổng dân số 104.430 người [9]
Bệnh viện Đa khoa Huyện Vị Thủy được thành lập theo quyết định số: 2688/QĐ-UBT ngày 08/12/2005của UBND tỉnh Hậu Giang Thực hiện quá trình sáp nhập hai đơn vị là Bệnh viện đa khoa Vị Thủy và Trung tâm y tế dự phòng Vị Thủy thành đơn vị mới là Trung tâm y tế Vị Thủy vào tháng 07/2016
TTYT Vị Thủy được giao 180 giường bệnh, hiện tại đã triển khai hoạt động được một số khoa như: Khoa Hồi sức cấp cứu, Khoa Khám bệnh, Khoa Ngoại- sản, Khoa Nội, Khoa y học cổ truyền, Khoa Nhi, Khoa liên chuyên khoa, Khoa Dược, Khoa Cận lâm sàng và Khoa dinh dưỡng, Khoa kiểm soát nhiễm khuẩn Phòng điều dưỡng,Phòng quản lý chất lượng bệnh viện, Khoa
Trang 16Y tế công cộng, Khoa kiểm soát dịch bệnh, Khoa chăm sóc sức khỏe sinh sản, Khoa An toàn vệ sinh thực phẩm…
TTYT Vị Thủy là bệnh viện hạng III với định biên chế 249; giường bệnh là 180 giường Hiện nay biên chế chính thức của đơn vị là 238 biên chế, Khối điều trị có 11 khoa, khối dự phòng có 04 khoa
Tình hình hoạt động khám chữa bệnh của TTYT Vị Thủy trong năm 2018:[12]
- Tổng số người đến khám bệnh trong năm là: 104.887 lượt, đạt 91,2
% kế hoạch
- Tổng số bệnh nhân nhập viện điều trị nội trú là: 9.958 lượt, đạt 102,31% kế hoạch
- Chuyển tuyến trong điều trị nội trú: năm 2017: 233 lượt
- Chuyển tuyến trong điều trị nội trú: năm 2018: 297 lượt
- Số ngày điều trị trung bình là: 5,6 ngày
- Danh mục kỹ thuật được phê duyệt : 3.858 kỹ thuật; đạt 90%
+ Đúng tuyến: 3.373 kỹ thuật;
+ Vượt tuyến: 485 kỹ thuật;
TTYT Vị Thủy luôn phát huy và hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được giao; Tổ chức bộ máy của cơ quan từ trước đến nay có nhiều sự thay đổi, hoạt động ngày càng phát triển mạnh mẽ và không ngừng tiến bộ như: Trang thiết bị y tế, dụng cụ y tế, trang thiết bị tin học ngày càng được trang bị hiện đại, cơ sở hạ tầng khoa, phòng được nâng cấp khang trang hơn Tiếp nhận tất cả các trường hợp người bệnh từ ngoài vào hoặc từ các tuyến y tế cơ
sở chuyển đến để cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh
3 Các nghiên cứu tại Việt Nam
Theo nghiên cứu của Huỳnh Phi Vân và cộng sự (2014) Khảo sát đặc điểm các bệnh nhân được chuyển từ Bệnh viện huyện lên Bệnh viện đa khoa
Trang 17Trung tâm An Giang Kết quả nghiên cứu có 300 bệnh nhân, 62,7% là nam và 37,7% là nữ; tuổi trung bình là 46 ± 21 Tuổi Chuyển bệnh cấp cứu 73%; Lý
do chuyển viện do quá khả năng 92%; Chuyển viện đúng tuyến 39,7%; Bệnh của tuyến huyện nhưng bệnh viện chưa thực hiện được 32,3% Có đến 92% các trường hợp bệnh viện huyện chuyển đến bệnh viện tỉnh với lý do “quá khả năng”, bao gồm: 39,7 % là chuyển đúng tuyến, 32,3 % là thuộc tuyến huyện
và 28 % tuyến huyện có khả năng đảm nhận điều trị được
Các trường hợp loại chấn thương đã được phân tuyến thuộc tuyến huyện, nhưng bệnh viện huyện chuyển viện tuyến trên với lý do quá khả năng Một số khác trong nhóm nầy là những chấn thương đơn giản thông thường như vết thương phần mềm, u nang bao hoạt dịch, đứt gân đơn giản, tổn thương bàn tay, bàn chân đơn giản, trật khớp…là những loại chấn thương tuyến huyện thực hiện dễ dàng Các phương pháp tê-mê để xử trí các loại chấn thương của 32,3% góp phần giảm chuyển tuyến Như vậy nếu có sự hợp tác tích cực hơn của các đơn vị liên quan, thì tỷ lệ chuyển viện sẽ giảm 32,3% [13]
Nghiên cứu của Nguyễn Việt Trí và cộng sự (2015) Đánh giá tình hình chuyển tuyến theo Thông tư 14/2014/TT-BYT, tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Cà Mau kết quả như sau:[11]
Có 1.389 trường hợp chuyển đến, Chuyển đúng tuyến chiếm 96,26%; Chuyển đến theo yêu cầu chiếm 3,74% Chuyển đến có chẩn đoán phù hợp 96,76% và chẩn đoán khác biệt 3,24% Có 05 nhóm bệnh nội trú (phân theo ICD 10) chuyển nhiều nhất:
- Nhóm chiếm tỷ lệ cao nhất: U lành 38 lượt (10,33%)
- Nhóm Viêm phổi, tác nhân không xác định” (ICD: J18) 33 lượt (8,97%)
Trang 18- Nhóm Chăm sóc bà mẹ liên quan đến thai, buồng ối và có thể là các vấn đề khi đẻ có 32 lượt (8,70%)
- Nhóm U ác được chẩn đoán xác định hay nghi ngờ là nguyên phát của các cơ quan xác định, ngoại trừ của mô bạch huyết, mô tạo huyết và mô liên kết với 27 lượt (7,34%)
- Nhóm Bệnh ruột thừa có 18 lượt (4,89%)
- Nhóm Các dị tật bẩm sinh của hệ thống tuần hoàn 198 lượt (17,28%)
- Nhóm U ác được chẩn đoán xác định hay nghi ngờ là nguyên phát của các cơ quan xác định, ngoại trừ của mô bạch huyết, mô tạo huyết và mô liên quan” 168 lượt (14,66%)
- Nhóm U lành có 100 lượt (8,73%) trong đó chuyển tuyến nhiều nhất
là bệnh lý U mạch máu ở trẻ em (ICD: D18) với 62 lượt chuyển
- Nhóm Dị tật bẩm sinh của cơ quan sinh dục với 42 lượt (3,66%) Nghiên cứu của Nguyễn Đăng Nguyên (2016) Thực trạng chuyển tuyến của các bệnh nhân có thẻ bảo hiểm y tế từ bệnh viện huyện lên Bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Bình theo Thông tư 14/2014/TT-BYT Có 408 bệnh nhân và người nhà bệnh nhân bảo hiểm y tế chuyển tuyến đến bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Bình khám và điều trị Trong đó, bệnh nhân nam giới có 200 người chiếm 49%, bệnh nhân nữ giới có 208 người chiếm 51% Về tuổi của đối tượng nghiên cứu cho thấy độ tuổi gặp nhiều nhất là 61-70 tuổi chiếm 27,7%; độtuổi 51-60 tuổi chiếm 25,2% Có 95,8% bệnh nhân có giấy chuyển viện đúng tuyến; 4,2% bệnh nhân chuyển không đúng tuyến Chấn đoán chuyển viện có tỷ lệ nhiều nhất là các bệnh về tim mạch chiếm 45,1%; bệnh về nội tiết chiếm 21,1%; bệnh về tiêu hoá chiếm 10,8%; các bệnh u bướu, ung thư chiếm 8,3%; bệnh cơ xương khớp chiếm 3,2%; còn lại là các bệnh khác.Bệnh viện huyện chẩn đoán khác với bệnh viện tỉnh là 30.9%; Chẩn đoán giống nhau là 69,1%.Đặc điểm thời gian chuyển viện đến bệnh viện tỉnh71,6%
Trang 19bệnh nhân được chuyển vào thời gian làm việc buổi sáng (từ 7 đến 11 giờ); 12,5% bệnh nhân được chuyển vào thời gian làm việc buổi chiều (từ 13 đến 17 giờ); 11,8% bệnh nhân được chuyển viện vào lúc sáng sớm (từ 0 đến
7 giờ); các khoảng thời gian còn lại chiếm tỷ lệ thấp
Người bệnh chuyển tuyến đến bệnh viện tỉnh Ninh Bình chủ yếu vào khoa khám bệnh 91.4%, còn lại 8.6% được đón tiếp tại khoa cấp cứu Có 2,9% bệnh nhân khỏi bệnh hoàn toàn; 88% bệnh nhân có kết quả bệnh tiến triển tốt, bệnh thuyên giảm; có 9,1% bệnh nhân có kết quả bệnh không thuyên giảm hoặc nặng lên [10]
4 Các nghiên cứu nước ngoài
Theo nghiên cứu của Alessandro Lomi (2014), các trường hợp chuyển các tuyến điều trị tại Ý, kết quả nghiên cứu các bệnh chuyển tuyến nhiều nhất trong 01 năm như sau: Độ tuổi trung bình 64,2; nam giới chiếm 59,9%; Bệnh mắc các bệnh thần kinh cơ 39,7%; sau phẫu thuật 21%; Bệnh phổi tắc nghẹn mạn tính ( COPD) 19,5%; Suy hô hấp liên quan đến béo phì 5,3%; các chẩn đoán khác 14,5%.[14]
Nghiên cứu của Bosk E.A, Veinot T., and Iwashyna T.J, et al (2011), tại Anh báo cáo kết luận tình hình chuyển bệnh đến những bệnh viện có những tiến bộ quan trọng về công nghệ, trước khi chuyển bệnh cần xác định 4 thành phần : (1) Xác định bệnh nhân đủ điều kiện chuyển 94,68%; (2) xác định một bệnh viện đích 98,23%; (3) Đàm phán chuyển tuyến 99,82%; (4) hoàn thành việc chuyển tiền 86% Xắp sếp các bệnh viện tiếp nhận đóng một vai trò quyết định sự an toàn cho người bệnh Sở thích của bệnh nhân và chất lượng bệnh viện không phù hợp với nhau, thảo luận với người bệnh về chất lượng bệnh viện đóng vai trò quan trọng trong quyết định chuyển tuyến Quá trình sắp xếp chuyển bệnh nhân đặt một gánh nặng đáng kể lên đội ngũ nhân viên của các bệnh viện chuyển tuyến Cấu trúc và tổ chức các bệnh viện có
Trang 20các tiến bộ về công nghệ chưa phát triển để đảm bảo rằng bệnh được điều trị tối ưu, dẫn đến tỷ lệ tử vong bệnh chuyển tuyến còn cao.[15]
Trang 21CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Thiết kế nghiên cứu:
Mô tả cắt ngang, thu thập số liệu định lượng và định tính
2.2 Phương pháp chọn mẫu, Cỡ mẫu và đối tượng nghiên cứu:
2.2.1 Chọn mẫu:
Thu thập số liệu bệnh chuyển tuyến nội trú từ 2 phần mềm KCB Viettel
và VNPT, trích lục HSBA các trường hợp bệnh nhân BHYT chuyển tuyến bổ sung thông tin cần thiết cho nghiên cứu khi mẫu thu thập trên phần mềm KCB thiếu thông tin
2.2.2 Cỡ mẫu:
Thuận tiện không xác suất lấy trọn mẫu trong thời gian nghiên cứu sau khi rà soát tiêu chuẩn loại trừ
2.2.3 Đối tượng nghiên cứu
Hồ sơ bệnh án bệnhnhân BHYTcó giấy chuyển tuyến trong thời gian từ ngày 01/01/2019 đến ngày 30/09/2019
* Tiêu chuẩn lựa chọn:
- Hồ sơ bệnh án nội trú chuyển tuyến của 06 khoa lâm sàng: Khoa HSCC, Khoa Nội, Khoa Ngoại - Sản, Khoa Nhi, Khoa Liên chuyên khoa đã chuyển tới phòng Kế hoạch nghiệp vụ lưu trữ HSBA trong thời điểm nghiên cứu
- Số liệu thứ cấp: Kết quả các báo cáo sơ kết quý, 6 tháng, 9 tháng của Phòng kế hoạch nghiệp vụ TTYT
* Tiêu chuẩn loại trừ:
Hồ sơ bệnh án chuyển tuyến theo yêu cầu của người bệnh sẽ loại ra khỏi nghiên cứu vì lý do chuyển tuyến theo yêu cầu của người bệnh không phụ thuộc vào phân hạng bệnh viện cũng như Danh mục kỹ thuật của đơn vị
Trang 222.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Nghiên cứu được thực hiện từ 01/1/2019 đến 30/9/2019
- Địa điểm: tại 6 khoa lâm sàng: Khoa HSCC; Khoa Nội, Khoa Ngoại, Khoa sản, Khoa Nhi, Khoa Liên chuyên khoa
2.4 Phương pháp nghiên cứu, thu thập số liệu
2.4.1 Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu Mô tả cắt ngang, thu thập số liệu định lượng và định tính có 2 mục tiêu:
- Mục tiêu 1: Xác định thực trạng mô hình bệnh nhân BHYT chuyển tuyến BHYT trong điều trị nội trú theo Quy định của Thông tư số 14/2014/TT-BYT
- Mục tiêu 2: Xác định các yếu tố liên quan đến bệnh nhân BHYT chuyển tuyến BHYT trong điều trị nội trú theo Quy định của Thông tư số 14/2014/TT-BYT
Để thực hiện mục tiêu 1 chúng tôi tiến hành lọc dữ liệu trên 02 phần mềm KCB, chọn tất cả bệnh nhân BHYTcó giấy chuyển tuyến đượcTTYT chuyển đi tuyến khác tiếp tục điều trị trong thời gian từ ngày 01/01/2019 đến ngày 30/09/2019 Dữ liệu được lọc và làm sạch đáp ứng các yêu cầu thu thập thông tin của nghiên cứu Mô tả các thông tin về người bệnh chuyển tuyến được tính toán theo tỷ lệ phần trăm được trình bày dưới dạng bảng hoặc biểu
đồ
Để thực hiện mục tiêu 2 các dữ liệu thu thập được lọc, mã hóa và xuất sang phần mềm SPSS 20.0 phân tích so sánh các tỷ lệ tìm hiểu mối liên quan
về chuyển tuyến, sử dụng các thuật toán thống kê để tìm giá trị P
2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
- Số liệu thứ cấp được thu thập qua các nguồn sau:
+ Báo cáo hoạt động của TTYT Vị Thủy năm 2017, 2018
+ Các văn bản liên quan đến công tác chuyển tuyến